Tại Sao Phương Tây Vượt Trội

Lượt đọc: 118 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6 Suy tàn và sụp đổ
Tất cả vì sự tốt nhất

❊ ❊ ❊

Giáo sư Pangloss từng lặp đi lặp lại: “Tất cả vì sự tốt nhất trong cái thế giới tốt đẹp nhất của mọi thế giới khả tri.”❖ trong tác phẩm hài kinh điển Candide của Voltaire ở thế kỷ XVIII. Mặc dù mắc bệnh giang mai, mất một mắt và một tai, bị bắt làm nô lệ, bị treo cổ, và dính với không chỉ một mà đến hai trận động đất, Pangloss vẫn trung thành với câu chuyện của mình.

Tất nhiên, Pangloss là một trò đùa nhỏ của Voltaire, chế giễu sự ngớ ngẩn của nền triết học đương đại, nhưng lịch sử đã cho thấy rất nhiều phiên bản đời thực. Các đế chế vĩ đại thống lĩnh hai vùng lõi phương Đông và phương Tây trong vài thế kỷ đầu dường như lại đặc biệt đầy rẫy những nhân vật như thế. Một nhà thơ Trung Hoa viết: “Khi hoàng đế tuần du, mọi thứ đều chói lọi lộng lẫy. Niềm vui vô biên ngự trị suốt vạn năm.”❖ Tại Đế quốc La Mã, nhà hùng biện Hy Lạp Aristides lại càng nhiệt tình hơn. Ông hô vang: “Toàn thể thế giới văn minh cầu nguyện cho sự trường tồn của đế chế, cầu mong thần linh ban phước cho đế chế này và thành phố này hưng thịnh mãi mãi không ngừng nghỉ đến khi nào những tảng đá nổi lên mặt biển và cây cối ngừng đâm chồi nảy lộc mới thôi.”❖

Vậy các nhân vật kiểu Pangloss này hiểu được những gì từ Hình 6.1? Sau khi đạt đỉnh vào khoảng năm 1TCN/CN, phát triển xã hội suy giảm ở cả phương Đông lẫn phương Tây. Đây là sự sụp đổ trên một quy mô hoàn toàn mới. Nó không chỉ lan rộng hơn mọi lần trước đó, ảnh hưởng đến cả hai đầu lục địa Á-Âu, mà còn kéo dài hơn và sâu sắc hơn. Nó kéo dài từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, cắt giảm hơn 10% điểm số phát triển của phương Đông vào khoảng năm 400 và 20% điểm số phát triển của phương Tây vào khoảng năm 500. Điều này diễn ra thế nào dẫn đến sự chấm dứt vị trí dẫn đầu kéo dài 14.000 năm của phương Tây về phát triển xã hội là chủ đề của chương này.

Hình 6.1. Sự suy thoái trên toàn bộ Cựu Thế giới: đỉnh điểm, suy thoái và sụp đổ của các đế chế cổ đại, giai đoạn 100 TCN- 500.

Trật tự thế giới mới

Các đế quốc cổ đại không phải lúc nào cũng đầy ắp những nhân vật Pangloss. Phải mất hàng trăm năm chiến tranh và hàng triệu người chết trước khi nghịch lý về bạo lực mà tôi đã đề cập trong Chương 5 – rằng chính chiến tranh đã mang lại hòa bình và thịnh vượng – tự nó trở nên rõ ràng; và ngay sau khi các cuộc chiến tranh thống nhất vừa kết thúc thì cả hai đế chế thống lĩnh là nhà Tần và La Mã lại lao vào những cuộc nội chiến kinh hoàng. Nước Tần sụp đổ ngay lập tức; còn La Mã thì chậm hơn.

Các thể chế tập trung và hà khắc của nhà Tần gây ấn tượng trong công cuộc chinh phục nhưng thành ra lại thiếu hiệu quả trong cai trị. Sau khi đánh bại những kẻ thù cuối cùng vào năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng vẫn tiếp tục chính sách bắt lính, nhưng bây giờ lại đưa họ đi xây dựng thay vì chiến đấu. Đôi khi họ làm việc rất hiệu quả, như việc xây dựng hàng nghìn kilomet đường sá và kênh mương nhưng đôi khi lại không hiệu quả đến thế. Tư Mã Thiên nói rằng mặc dù tự thuyết phục bản thân về tính thần thánh của mình và tiêu tốn tài sản cho những kẻ bất tài hứa hẹn sẽ giúp ông trở nên bất tử, Tần Thủy Hoàng – có lẽ để bảo đảm cho mình – cũng bắt 700.000 nhân công dành 36 năm xây dựng khu lăng mộ cho riêng mình. (Mộ của hàng trăm người chết tại di chỉ này đã được khai quật).

Khu lăng mộ rộng khoảng 52km2 (hầu hết chưa khai quật) là câu trả lời của Trung Hoa về sự ganh tị Ai Cập. Ngày nay, khu lăng mộ trở nên nổi tiếng với đội quân hơn 6.000 tượng đất nung có kích thước bằng người thật canh giữ khu lăng mộ, được một nhóm công nhân đào giếng tình cờ phát hiện vào năm 1974. Đây là một trong những kỳ quan khảo cổ của thế giới, nhưng một điều đáng ngạc nhiên là khi Tư Mã Thiên mô tả lăng mộ của Tần Thủy Hoàng, thì đội quân bằng đất nung này, vốn làm sững sờ mọi du khách trên toàn thế giới viếng thăm bảo tàng, lại không được nhắc đến. Thay vào đó, ông ta chỉ dành lời cho cung điện bằng đồng dưới lòng đất rộng hơn 365m của khu lăng mộ, bao quanh bởi các dòng sông thủy ngân mô phỏng theo các con sống của vương quốc. (Các cuộc khảo sát địa hóa vào năm 1981 và 2003 khẳng định rằng lớp đất bên trên lăng mộ có nồng độ thủy ngân rất cao). Tư Mã Thiên cũng thêm rằng tất cả các thứ phi không có con với Tần Thủy Hoàng, cộng với tất cả thợ thủ công biết được các bí mật của lăng mộ và có thể hàng trăm quan lại đứng đầu đế chế cũng được chôn cùng với hoàng đế vào năm 210 TCN.

Các chính sách hoang tưởng tự đại của Tần Thủy Hoàng đã tạo ra sự phản kháng ở mọi tầng lớp. Khi giới quý tộc than phiền, ông buộc họ chuyển đến kinh đô của ông; khi tầng lớp trí thức than vãn, ông cho chôn sống 460 người trong số họ; và khi những người nông dân oán trách, ông cho chém họ làm đôi.⦾

Nền cai trị khủng khiếp này bị vỡ vụn hầu như ngay thời điểm Tần Thủy Hoàng qua đời. Câu chuyện kể rằng, một ngày trong năm 209 TCN, trời mưa to đã cản trở hai viên quan chậm chạp chuyển số quân lính mới đến doanh trại đúng kỳ hạn. Tất nhiên, hình phạt cho sự chậm trễ là cái chết. “Trong hoàn cảnh này, chúng ta phải đối mặt với cái chết cho dù có ở lại đây hay bỏ trốn,” Tư Mã Thiên thuật lại lời của một viên quan, “và nếu nổi dậy, chúng ta cũng sẽ đối mặt với cái chết. Do ở tình huống nào chúng ta cũng phải chết, vậy tại sao lại không chết khi chiến đấu (bằng cách nổi dậy) cho đất nước có phải tốt hơn không?”❖

Như đã tiên liệu, cả hai nhân vật nổi loạn này sớm bị tiêu diệt, nhưng phong trào nổi dậy của họ tiếp tục lan rộng. Chỉ trong vòng vài tháng, các chiến quốc đã được khôi phục. Triều đại nhà Tần kết thúc vào năm 206 TCN và các cuộc nổi dậy biến thành trận nội chiến kinh hoàng. Sau bốn năm chém giết lẫn nhau, chỉ có Lưu Bang, một nông dân trở thành tướng quân phiệt, còn đứng vững. Ông tuyên bố thành lập triều đại nhà Hán, chém đầu 80.000 tù binh, ban bố hòa bình khắp thiên hạ, rồi cuối cùng xưng vương, lấy tên hiệu mới là Cao Đế (tức Hán Cao Tổ).⦾

Đế quốc La Mã gặp phải vấn đề ngược lại với nhà Tần. Thay vì tập quyền để cai trị trong hòa bình, các thể chế của nó lại quá phân tán. Viện nguyên lão của giới lớn tuổi giàu có và hội đồng của giới công dân nghèo phát triển để điều hành một thành bang, chứ không phải một đế chế, và không thể giải quyết nổi hàng núi chiến lợi phẩm, các đội quân nô lệ và đám tướng lĩnh siêu giàu do chiến thắng tạo ra. Trong một cuộc tranh cãi về chính sách vào năm 133 TCN, các nguyên lão uy nghiêm đã đập vỡ băng ghế gỗ để ngồi rồi dùng chân ghế đánh nhau cho đến chết, và đến khoảng những năm 80 TCN thì không còn biết chắc ai là người thực sự điều hành đế chế.

Thay vì sụp đổ đột ngột như nhà Tần, La Mã lại trượt sâu vào nội chiến suốt 50 năm. Ngày càng có nhiều đội quân trung thành với các tướng lĩnh hơn với quốc gia, và cách duy nhất mà viện nguyên lão có thể đối phó hiệu quả với các tướng lĩnh là phái họ đi tấn công các nước yếu hơn (điều này lại khiến giới tướng lĩnh ngày càng mạnh hơn) hoặc trao quyền hành cho các tướng lĩnh mới tấn công những viên tướng cũ (điều này chỉ tạo thêm đối thủ mới). Vào năm 45 TCN, Julius Caesar đánh bại mọi đối thủ, nhưng lại bị ám sát sau đó một năm, và thế là bánh xe tiếp tục quay mãi cho đến năm 30 TCN, Octavian lại săn lùng Antony và Cleopatra đến tận Ai Cập, ở đó đôi tình nhân này đã tự sát. Bị kiệt quệ bởi chiến tranh liên miên, tầng lớp quý tộc La Mã bằng lòng làm theo bất cứ điều gì mà Octavian (người tự đổi tên mình thành Augustus, nghĩa là người oai phong nhất) yêu cầu trong khi cứ vờ rằng ông ta chỉ một công dân bình thường. Thế là mọi người đều giữ được thể diện theo sự sắp xếp kỳ quái này, và đến năm 27 TCN, Augustus tuyên bố rằng nền cộng hòa được phục hồi và bắt đầu cai trị như một vị hoàng đế.

Vào khoảng năm 1 TCN, toàn bộ vùng lõi phương Đông và phương Tây đều nằm dưới sự thống lĩnh của các đế chế duy nhất, nhưng điều này cũng không chắc chắn. Cao Đế, người sáng lập triều đại nhà Hán, thỏa thuận chia sẻ vùng lõi phương Đông với kẻ thù cuối cùng của mình vào năm 203 TCN, nhưng không giữ lời hứa, ông giết đối thủ của mình và giành lấy mọi thứ, trong khi đó, vào những năm 30 TCN, dường như vùng Địa Trung Hải cũng tách làm hai, với phía tây dùng ngôn ngữ Latin do Octavian cai trị ở thành Rome, và phía đông dùng ngôn ngữ Hy Lạp do Antony và Cleopatra cai trị ở Ai Cập. Nếu Cao Đế tôn trọng danh dự hơn, hoặc Antony ít sa đọa vào rượu và sắc dục, thì chương này hẳn sẽ khác đi. Ở Nam Á, mọi thứ diễn ra theo cách khác. Các thành bang nhỏ phát triển tại vùng thung lũng sông Hằng giai đoạn năm 1000-600 TCN, sau đó chuyển thành các quốc gia cấp cao giống như ở các nước thuộc vùng lõi phương Đông và phương Tây. Vào thế kỷ III TCN, chúng bị nuốt chửng vào Đế chế Maurya khổng lồ, có lẽ là quốc gia lớn nhất thế giới vào thời đó (mặc dù nước Tần sẽ sớm vượt qua nó). Nhưng thay vì gia tăng sức mạnh như Đế quốc La Mã và Trung Hoa, đế chế này dần dần tan vỡ, khoảng 100 năm sau đó. Vào thời đại của Augustus, Nam Á lại một lần nữa là quê hương của các vương quốc nhỏ bé chen lấn nhau.

Tolstoy có câu nói nổi tiếng: “Mọi gia đình hạnh phúc đều giống nhau, nhưng mỗi gia đình bất hạnh lại có kiểu bất hạnh riêng.”❖ Và các đế chế cũng có số phận giống như vậy. Có vô vàn cách để khiến cho các đế chế tan rã – thất trận, những thống đốc bất mãn, tầng lớp quý tộc không thể kiểm soát, giới nông dân tuyệt vọng, tầng lớp quan lại bất tài – nhưng chỉ có một cách để chung sống với nhau: thỏa hiệp. Những nhà cai trị triều Hán và La Mã đã chứng tỏ tài năng xuất sắc của họ trong vấn đề này.

Cao Đế giành chiến thắng trong cuộc nội chiến năm 202 TCN chỉ vì ông cắt giảm thỏa thuận với các thủ lĩnh quân sự khác, ban tặng cho 10 thủ lĩnh trong số này bằng cách để ⅔ đế chế trở thành những vương quốc bán độc lập nằm dưới sự kiểm soát của họ. Để ngăn ngừa các cuộc nội chiến mới, đế chế cần tiêu diệt các vị vua chư hầu này, nhưng nếu hành động quá nhanh và khiến họ kinh động cũng có thể gây ra những cuộc chiến tranh mà đế chế cần ngăn ngừa – tương tự với hành động quá chậm và để các vị vua chư hầu này trở nên lớn mạnh. Tuy nhiên, các hoàng đế nhà Hán đã chuyển động đúng thời điểm, tiêu diệt các tiểu quốc vào khoảng năm 100 TCN mà chỉ gây ra vài cuộc nổi loạn.

Các hoàng đế nhà Hán không hoang tưởng tự đại như Tần Thủy Hoàng, mặc dù họ cũng có những thời cơ. Chẳng hạn, Hán Cảnh Đế được chôn cất vào năm 141 TCN cùng một đội quân bằng đất nung riêng của mình (gấp sáu lần so với đội quân của Tần Thủy Hoàng dù kích thước chỉ bằng ⅓). Nhưng chỉ với biệt lệ phần nào dành cho nhà chinh phục vĩ đại Vũ Đế, các vị hoàng đế nhà Hán tránh không tuyên bố khẳng định sự bất tử và tính thần thánh của mình, cho dù họ vẫn duy trì vai trò nhân vật trung gian giữa thế giới này và thế giới siêu nhiên.

Họ cân nhắc điều này một cách cẩn thận. Việc giữ sự hòa thuận cùng các dòng họ lớn đòi hỏi phải từ bỏ tính thần thánh của hoàng gia (mặc dù bước đi thực tế ràng buộc sự giàu có của tầng lớp quý tộc vào sự thịnh vượng riêng của triều đình cũng có tác dụng). Việc xoa dịu các học giả quý tộc đòi hỏi phải đưa ngai vàng vào một khuôn mẫu Khổng giáo lý tưởng của một hệ thống có tôn ti (cũng như một động thái thực dụng khác, biến kiến thức kinh điển Nho giáo thay vì các mối quan hệ với tầng lớp quý tộc trở thành con đường tiến thân ở chốn quan trường). Việc duy trì quyền lực hoàng gia ở vùng nông thôn rộng lớn cũng đòi hỏi thêm những điều khác, kết hợp một số tình trạng Thời kỳ tiền-Trục của chế độ quân chủ làm cầu nối với tổ tiên và các vị thần cùng với các biện pháp thế tục hơn như giảm bớt quân dịch, nới lỏng các bộ luật hà khắc nhất của nhà Tần, và thực hiện cắt giảm thuế được tính toán thời điểm cẩn thận.

Thỏa hiệp đã tạo ra hòa bình và thống nhất, dần dần nó đan kết vùng lõi phương Đông thành một thực thể duy nhất. Các nhà cai trị gọi nó là Trung quốc (nghĩa là ở tâm điểm của thế giới) hay Thiên hạ (Mọi lãnh thổ dưới bầu trời vì không nơi nào ngoài biên giới của nó là quan trọng), và ở thời điểm này, ý nghĩa về vùng lõi phương Đông như một thực thể duy nhất bắt đầu hình thành mà những người phương Tây hiện đại, khi phát âm sai từ Qin (Tần), gọi là China (Trung Hoa). Những khác biệt văn hóa lớn vẫn tồn tại trong Mọi lãnh thổ dưới bầu trời, nhưng vùng lõi phương Đông đã bắt đầu trở thành của người Trung Hoa.

La Mã theo đuổi những thỏa hiệp tương tự. Khi các cuộc nội chiến chấm dứt vào năm 30 TCN, Hoàng đế Augustus chiến thắng cho giải ngũ lực lượng quân dịch đồng thời điều động lực lượng quân đội chuyên nghiệp đến vùng biên giới. Cũng như các hoàng đế nhà Hán, ông hiểu rằng quân đội có thể đe dọa chế độ của mình, nhưng trong lúc các nhà cai trị Trung Hoa phản ứng bằng cách nhập tù nhân và người nước ngoài vào lực lượng quân đội của họ nhằm tách biệt giới quân nhân khỏi xã hội bình thường, Augustus và những người kế vị ông lại chọn việc giữ kẻ thù của họ thậm chí còn gần gũi hơn bạn bè. Họ biến quân đội trở thành một định chế xã hội trung tâm, nhưng lại nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của họ.

Chiến tranh đã trở thành một lĩnh vực riêng của các chuyên gia, còn mọi người khác thì hướng đến nghệ thuật hòa bình. Đế quốc La Mã, giống như Trung Hoa, tiếp nhận các vị vua lệ thuộc và ràng buộc sự giàu sang của giới quý tộc với nền thịnh vượng của đế chế. Các hoàng đế rơi vào tình thế chênh vênh như đi trên dây, vờ như mình là người đầu tiên trong số những người cùng địa vị khi ứng xử với tầng lớp quý tộc, là tổng tư lệnh khi ứng xử với quân đội, và giống như thần thánh khi ứng xử với các bộ phận khác của đế chế vốn kỳ vọng các nhà cai trị là những nhân vật thần thánh. Họ thay thế chiến thuật trở-thành-thần-linh-khi-ta-qua đời bằng thỏa hiệp cũ xưa là trở thành thần-linh-trong-một-ngày: lý thuyết này cho rằng các vị hoàng đế chỉ là những người đàn ông ưu tú cho đến khi họ qua đời, và rồi họ được bảo bọc trong vòng tay của thần linh. Một số người, như Hoàng đế Vespasian, nhận thấy điều đó thật lố bịch; khi gần qua đời, ông nói đùa với các cận thần của mình: “Ta nghĩ rằng mình đang trở thành một vị thần.”❖

Vào khoảng thế kỷ I, nền văn hóa hỗn hợp Hy-La bắt đầu phát triển. Những người giàu có thể đi từ sông Jordan đến sông Rhine, dừng lại ở các thành phố giống nhau, ăn bằng những chiếc đĩa vàng cũng giống nhau, xem các vở bi kịch Hy Lạp quen thuộc, và diễn giải những hàm nghĩa khôn khéo dẫn từ Homer và Virgil, ở khắp mọi nơi đều có thể tìm thấy những người đàn ông có chung khuynh hướng và luôn đề cao sự tinh tế của mình. Viện nguyên lão ngày càng chấp nhận các nhân vật quan trọng tỉnh lẻ, những người có tầm ảnh hưởng ở địa phương luôn treo các bảng chữ khắc bằng hai thứ tiếng Latin và Hy Lạp, và ngay cả nông dân làm việc trên các cánh đồng cũng bắt đầu xem mình là người La Mã.

Thỏa hiệp xoa dịu sự phản kháng. Việc trích dẫn một văn bản cổ về vấn đề này có lẽ sẽ thích hợp, nhưng không một văn bản nào tóm tắt điều đó giống như bộ phim hài Monty Python’s Life of Brian (Cuộc sống của Brian) công chiếu năm 1979. Khi Reg (do John Cleese đóng), chủ tịch Mặt trận Nhân dân Judea (một viên quan), cố gắng kích động các tín đồ không-nhiệt-thành-lắm vùng dậy chống lại La Mã, thì ông ta nhận thấy họ chỉ thích nói về các lợi ích của đế chế (đặc biệt là rượu vang). Reg ném lại câu hỏi chắc chắn trở thành nổi tiếng nhất về Đế quốc La Mã: “Được rồi. Ngoài vấn đề vệ sinh, y học, giáo dục, rượu, trật tự công cộng, thủy lợi, hệ thống nước sạch, và y tế công cộng – người La Mã đã làm được gì cho chúng ta?”❖ Những chiến binh chiến đấu cho tự do suy nghĩ trong chốc lát, sau đó một người ngập ngừng đưa tay lên. “Đem lại hòa bình?” Há hốc trước sự ngớ ngẩn này, Reg bèn trả lời: “Ôi, hòa bình… Hãy câm miệng đi!”

Reg không nhận ra điều này: hòa bình làm thay đổi mọi thứ, mang lại sự thịnh vượng cho cả hai đầu lục địa Á Âu. Dân số tăng lên ở cả hai đế chế và nền kinh tế của họ tăng nhanh chưa từng có. Ở mức cơ bản nhất, dù chúng ta tính như thế nào – tổng sản phẩm, sản phẩm trên mỗi đơn vị đất đai, hoặc sản phẩm trên một đơn vị lao động – sản lượng nông nghiệp vẫn gia tăng. Luật lệ của nhà Hán và La Mã mang lại sự đảm bảo hơn cho tài sản của chủ đất và nông dân. Người nông dân thuộc mọi tầng lớp sở hữu đất canh tác mới, mở rộng hệ thống tưới tiêu, mua nô lệ hoặc thuê lao động, và sử dụng nhiều phân bón và công cụ tốt hơn. Các văn bản tiếng Ai Cập cho thấy người nông dân thời kỳ La Mã có thể thu hoạch được khoảng 5kg lúa mì cho mỗi 0,5kg hạt giống gieo xuống, một thành tích ngoạn mục đối với nền nông nghiệp tiền hiện đại. Không có số liệu thống kê nào sót lại từ Trung Hoa, nhưng các phát hiện khảo cổ và các ghi chép trong các sổ tay nông nghiệp cho thấy sản lượng nơi đây cũng rất cao, đặc biệt ở lưu vực Hoàng Hà.

Tuy nhiên trên thực tế điều này diễn ra âm thầm đến nỗi các nhà quý tộc viết những tài liệu còn lưu lại hầu như không nhắc đến nó, những nông dân và thợ thủ công đã đẩy việc hấp thu năng lượng lên đến ngưỡng. Hầu như tất cả năng lượng được sử dụng trước đây trong toàn bộ lịch sử nhân loại đều đến từ cơ bắp hoặc nhiên liệu sinh học, nhưng giờ đây con người đã khai thác bốn nguồn năng lượng mang tính cách mạng: than, khí thiên nhiên, nước và gió.

Hai nguồn năng lượng đầu tiên được sử dụng tối đa – một số thợ rèn Trung Hoa đã sử dụng than đá trong các lò đúc sắt, và những người sản xuất muối ở Tứ Xuyên dẫn khí thiên nhiên qua các ống tre rồi đốt để làm bay hơi nước biển – chứ họ không dùng nguồn năng lượng thứ ba và thứ tư. Ở thế kỷ I TCN, người La Mã và người Trung Hoa khám phá ra bánh xe nước, và sử dụng nó để cung cấp năng lượng cho các nhà máy xay hạt ngũ cốc và ống bễ đốt lò. Ví dụ ấn tượng nhất là nhà máy được xây dựng tại Barbegal, nước Pháp ngay sau năm 100, đã kết nối sáu bánh xe để tạo ra 30 kilowatt điện, tương đương sức kéo của 100 con bò (hoặc hai động cơ Model T Ford chạy với tốc độ tối đa). Hầu hết các bánh xe nhỏ hơn nhiều, nhưng ngay cả một chiếc máy xay La Mã trung bình cũng tạo ra điện năng bằng 10 người đàn ông khỏe mạnh di chuyển để quay các bánh xe.

Dù vậy, việc sử dụng năng lượng gió và nước quan trọng nhất không phải xuất phát từ những bánh xe nước mới toanh mà từ những cải tiến trong kỹ thuật chèo thuyền trước đó. Không ai bận tâm đến việc sản xuất hàng nghìn tấn lúa mì, hàng triệu lít rượu vang và hàng tỉ móng sắt nếu họ không thể di chuyển chúng từ trang trại hoặc lò đúc đến với người mua tiềm năng. Những chiếc tàu lớn hơn, tốt hơn và rẻ hơn (cùng các bến cảng và kênh rạch) đều quan trọng như chiếc cày và bánh xe nước. Thương mại và công nghiệp cùng nhau phát triển.

Hình 6.2. Hàng hóa và dịch vụ: sự gia tăng song song của các vụ đắm tàu ở Địa Trung Hải và ô nhiễm chì ở hồ Penido Velho, Tây Ban Nha. Số lượng tàu đắm và lượng chì đã được chuẩn hóa, vì vậy chúng có thể được so sánh theo cùng một thang độ cao, với số lượng của mỗi loại vào năm 1 TCN được tính là 100.

Hình 6.2 minh họa điều này một cách rõ ràng đối với phương Tây, đánh dấu số lượng tàu đắm ngày càng tăng lên dựa theo mức ô nhiễm chì được ghi chép trong một nghiên cứu về trầm tích ao hồ tại Penido Velho, Tây Ban Nha năm 2005. (Tôi trình bày các vụ đắm tàu vì không có tài liệu ghi chép nào còn tồn tại nói về hoạt động vận chuyển cổ đại, vì vậy – trừ khi các thuyền trưởng không hiểu sao trở nên vụng về, lóng ngóng để tàu va vào đá thường xuyên hơn cùng với thời gian – các vụ đắm tàu là sự minh chứng tốt nhất để biết được số lượng các chuyến hải hành; tôi trình bày mức ô nhiễm chì, sản phẩm phụ của quá trình chế biến bạc, do chì là chất đồng vị đơn giản nhất để các nhà địa hóa học nghiên cứu). Các đường cong cùng tăng lên để vươn tới đỉnh trong thế kỷ I TCN cho thấy hoạt động thương mại và công nghiệp liên kết với nhau mạnh mẽ như thế nào (và rằng La Mã cổ đại không phải là thời kỳ vàng son đối với môi trường).

Chúng ta chưa thể so sánh Hình 6.2 với một biểu đồ tương đương dành cho phương Đông vì các nhà khảo cổ Trung Hoa chưa thu thập được nhiều dữ liệu có thể lượng định. Tuy nhiên, những gì đang có cho thấy rằng nền thương mại cũng bùng nổ ở vùng lõi phương Đông sau năm 300 TCN, nhưng không nhiều như ở vùng lõi phương Tây. Ví dụ, một nghiên cứu gần đây đã kết luận rằng Đế quốc La Mã có số lượng tiền lưu thông gấp đôi nhà Hán và những người La Mã giàu nhất có giá trị tài sản gấp hai lần những người giàu nhất Trung Hoa.

Địa lý có lẽ đã đóng góp rất nhiều cho sự khác biệt về tăng trưởng thương mại. Trong Đế quốc La Mã, 90% người dân sống cách biển Địa Trung Hải trong vòng 16km. Ở thiên niên kỷ thứ hai TCN, việc mở rộng vùng lõi phương Tây vào vùng lưu vực Địa Trung Hải đem lại sự phát triển gia tăng và sự trì trệ ngày càng ngang bằng, nhưng một khi La Mã chinh phục toàn bộ khu vực dọc bờ biển vào thế kỷ I TCN, nó đã đặt dấu chấm hết cho tình trạng trì trệ. Bấy giờ biển cả cho phép vận chuyển đường thủy giá rẻ kết nối hầu hết mọi người, và sự phát triển đã tăng vọt.

Ở đế chế nhà Hán, tỉ lệ dân số sống gần biển hoặc các con sông lớn thấp hơn nhiều, và trong nhiều trường hợp, các con sông không phải lúc nào cũng thích hợp cho tàu bè đi lại. Việc bành trướng về mặt quân sự của La Mã đã tạo ra một vùng biên kinh tế mới, nơi người nông dân áp dụng các kỹ thuật tiên tiến nhất để những vùng đất vừa mới chinh phục có thể bán các loại nông sản nuôi sống các thành phố của Italy và Hy Lạp, nhưng lại không có các tuyến đường thủy giống như ở Địa Trung Hải. Các cuộc chinh phục của nhà Tần và nhà Hán làm điều này chỉ với quy mô nhỏ hơn nhiều. Một số hoàng đế nhà Hán đã làm việc cật lực để cải thiện giao thông bằng cách nạo vét Hoàng Hà, Vị Hà và vòng tránh các đoạn sông khó khăn bằng kênh rạch, nhưng có lẽ phải sau nhiều thế kỷ nữa Trung Hoa mới có thể giải quyết được vấn đề không có biển Địa Trung Hải cho riêng mình.

Hai thế lực khá giống nhau nằm sau sự tăng trưởng kinh tế ở cả phương Đông lẫn phương Tây, một lực hút và một lực đẩy nền kinh tế đi lên. Nhân tố hấp dẫn là sự tăng trưởng của quốc gia. Những nhà chinh phục La Mã và nhà Hán đánh thuế các khu vực rộng lớn, chi tiêu hầu hết thu nhập của họ cho quân đội đóng quân dọc theo các biên giới (có thể khoảng 350.000 quân ở La Mã và ít nhất 200.000 quân ở Trung Hoa) và các thành phố kinh đô khổng lồ (có thể là một triệu người ở thành Rome và một nửa con số đó ở Trường An, kinh đô nhà Hán). Cả hai đều cần phải vận chuyển lương thực, hàng hóa và tiền của từ các tỉnh thành giàu có và nộp thuế đến những khu vực tập trung dân cư đói nghèo, tiêu thụ hoa lợi.

Monte Testaccio (Núi Potsherd), một di chỉ ở vùng ngoại vi thành Rome, minh họa quy mô của nhân tố hấp dẫn này ở phương Tây. Ngọn núi cao 45m mọc đầy cỏ dại cùng những đồ gốm vỡ này ít gây ấn tượng hơn lăng mộ của Tần Thủy Hoàng, nhưng đối với các nhà khảo cổ kiên định thì đó chính là câu trả lời của Italy với sự ganh tị Ai Cập. Hai mươi lăm triệu bình chứa, một con số đáng kinh ngạc, chất đống tại đây suốt ba thế kỷ. Hầu hết chúng được dùng để vận chuyển dầu ô-liu – 200 triệu lít trong số đó – từ miền Nam Tây Ban Nha đến La Mã, nơi người dân thành thị dùng cho thức ăn, làm sạch thân thể⦾ và thắp các ngọn đèn. Đứng trên núi Monte Testaccio mới cảm thấy kính nể những gì con người đói khát có thể làm được. Và đây chỉ là một trong những đồi rác nhân tạo của La Mã.

Thế lực thứ hai, giúp thúc đẩy nền kinh tế đi lên, là sự biến đổi khí hậu quen thuộc. Sự lạnh lên toàn cầu sau năm 800 TCN đã ném các quốc gia cấp thấp vào tình trạng hỗn loạn và mở ra nhiều thế kỷ bành trướng. Vào khoảng năm 200 TCN, những biến đổi quỹ đạo liên tục đã mở ra cái mà các nhà khí hậu học gọi là Thời kỳ Ấm La Mã (Roman Warm Period). Điều này làm suy yếu những cơn gió mùa đông – tin xấu cho nông dân vùng Địa Trung Hải và các vùng thung lũng của các con sông lớn ở Trung Hoa – nhưng các đế chế cấp cao, vốn được tạo ra một phần nhằm đáp ứng với sự lạnh lên toàn cầu trước đây, đã đem đến cho các xã hội phương Đông và phương Tây khả năng phục hồi nhanh chóng để không chỉ vượt qua được tình trạng biến đổi khí hậu mà còn khai thác nó. Những thời điểm khó khăn đã khích lệ sự đa dạng và đổi mới. Người ta tận dụng bánh xe nước và than đồng thời khai thác các lợi thế của khu vực bằng cách vận chuyển hàng hóa đi các nơi; các quốc gia cấp cao cung cấp đường sá và bến cảng để mang lại lợi nhuận cho hàng hóa, đồng thời cung cấp quân đội và luật lệ để đảm bảo an toàn cho các khoản lợi nhuận, dựa trên giả định rất hợp lý rằng các đối tượng giàu có hơn có khả năng đóng thuế nhiều hơn.

Các đế chế cấp cao cũng vượt ra khỏi vùng đất trung tâm cũ để tiến vào các khu vực nơi mà Thời kỳ Ấm đã giúp nền nông nghiệp có năng suất cao hơn – như Pháp, Romania, và nước Anh mưa nhiều ở phương Tây, và Mãn Châu, Triều Tiên và vùng Trung Á ở phương Đông (Hình 6.3). Dù không biết rằng mình đang thực hiện điều này, nhưng các đế chế đã sử dụng chiến thuật phòng ngừa một cách hiệu quả, vì những thay đổi khí hậu gây tổn thương họ ở những vùng ấm hơn lại giúp họ ở những khu vực lạnh hơn. Tại Đế quốc La Mã, nơi biển Địa Trung Hải tạo điều kiện thuận lợi cho các thương nhân vận chuyển hàng hóa giữa các vùng, lợi nhuận chắc chắn là rất lớn; ở Trung Hoa, nơi các con sông lớn ít thuận tiện hơn, khoản lợi nhuận hiển nhiên phải nhỏ hơn, nhưng thực tế thì như nhau.

Kết quả từ mọi cuộc chiến tranh, nô dịch hóa, và thảm sát ở thiên niên kỷ thứ nhất TCN là một thời kỳ sung túc, mà nó đã tạo ra sự nhiệt thành kiểu Pangloss mở đầu chương này. Thành quả của nó được phân bố không đồng đều – có nhiều nông dân hơn triết gia hay vua chúa – nhưng dân số đông hơn so với bất kỳ thời kỳ nào trước đó, tập trung các thành phố lớn hơn, và nhìn chung họ sống lâu hơn, ăn ngon hơn và có nhiều thứ hơn mọi thời kỳ trước đó.

Hình 6.3. Tận dụng thời tiết: phạm vi tối đa của nhà Hán (khoảng năm 100 TCN) và Đế quốc La Mã (năm 117), hợp nhất các khu vực được hưởng lợi từ sự ấm lên toàn cầu.

Khi bắt đầu tiến hành các cuộc khai quật khảo cổ ở nước Anh vào thập niên 1970, tôi có khai quật một số di chỉ La Mã. Đó có thể là công việc cực nhọc khi phải dọn sạch những nền bê tông khổng lồ (một phát minh khác của La Mã) bằng cuốc chim và chạy đua với việc ghi chép một đống các hiện vật tìm thấy. Nhưng sau đó tôi bắt đầu làm luận án tiến sĩ về xã hội Hy Lạp khoảng năm 700 TCN, và vào năm 1983, lần đầu tiên tôi tham gia khai quật một di chỉ cùng niên đại. Đây quả là một cú sốc. Đơn giản những người này chẳng có gì cả. Thậm chí tìm được một vài miếng sắt gỉ cũng là một công việc lớn lao. So với những quần thể cư dân trước đó, người La Mã sống trong một thiên đường tiêu dùng. Mức tiêu thụ bình quân đầu người ở các tỉnh phía tây của Đế quốc La Mã tăng từ mức vừa đủ sống vào khoảng năm 500 TCN lên đến 50% so với mức đó ở 600 đến 700 năm sau.

Các quá trình tương tự cũng đã diễn ra rõ ràng ở phương Đông, mặc dù, như tôi đã đề cập, chúng vẫn chưa được lượng định đầy đủ. Người dân tại cả hai vùng lõi vẫn còn quá nghèo nàn theo tiêu chuẩn hiện đại – một nửa số trẻ em qua đời trước sinh nhật lần thứ năm, ít người sống quá 50 tuổi, và chế độ dinh dưỡng nghèo nàn khiến con người trưởng thành thấp hơn chúng ta 15cm – nhưng so với tất cả những gì diễn ra trước đó, đây là một thời kỳ hoàng kim. Điều kỳ diệu nhỏ bé từ các đế chế cổ đại đang dần thăng tiến cùng những nhân vật lạc quan như giáo sư Pangloss.

Thời kỳ trao đổi Cựu Thế giới

Tuy nhiên, điều mà các Pangloss không thể nhìn thấy là phát triển xã hội gia tăng tại các vùng lõi đã làm biến đổi các thế giới bên ngoài biên giới của các đế chế như thế nào. Khi các đế chế hùng mạnh, chúng áp đặt ý chí lên các dân tộc sống dọc theo các vùng biên giới của đế chế, như khi Darius của Ba Tư ở thế kỷ VI TCN và Tần Thủy Hoàng ở thế kỷ III TCN đặt các vùng đồng cỏ rộng lớn của thảo nguyên Trung Á dưới sự kiểm soát của họ; nhưng khi các đế chế suy yếu, họ lại bị các tộc người du mục đẩy lùi. Ở phương Tây, các quốc gia mới sau này do các tướng lĩnh của Alexander Đại đế xây dựng trên tàn tích của Đế quốc Ba Tư sau năm 300 TCN không bao giờ có thể sánh được với vị vua lừng lẫy trước đó, và chẳng bao lâu sau, người Scythia đã tiến hành các hoạt động đánh phá Bactria và miền Bắc Ấn Độ. Người Parthia, một tộc người Trung Á khác, bắt đầu thâm nhập và đánh phá Iran; và khi các vương quốc thuộc Đế quốc Macedonia sụp đổ trước sức mạnh từ các cuộc tấn công của La Mã sau năm 200 TCN, người Parthia đã tận dụng được mọi lợi thế.

Người Parthia không giống các tộc người du mục trước đây tràn vào vùng lõi phương Tây. Những tộc người du mục, như người Scythia, trở nên giàu có nhờ các hoạt động cướp bóc hoặc tống tiền các đế chế nông nghiệp; về cơ bản, họ là những kẻ cướp, không hề quan tâm đến việc chinh phục các quốc gia cấp cao và quản lý bộ máy chính quyền rắc rối của chúng. Ngược lại, những kỵ sĩ Parthia chỉ là một tộc người bán du mục. Họ đến từ các vùng rìa chứ không phải vùng đất khô cằn giữa thảo nguyên Trung Á, và cùng chung sống với những người nông dân qua nhiều thế hệ. Các thủ lĩnh của họ biết cách làm thế nào để thu thuế từ những người nông dân bị áp bức trong khi vẫn duy trì truyền thống cưỡi ngựa mà sức mạnh quân sự của họ phụ thuộc vào đó; và khoảng năm 140 TCN, họ biến phần lớn Đế quốc Ba Tư già nua trở thành một vương quốc hợp nhất một cách lỏng lẻo của riêng họ.

Các vị vua Parthia thích gọi mình là người kế thừa Cyrus và Darius đồng thời cố gắng hòa nhập với nền văn hóa cao cấp của phương Tây, nhưng trên thực tế, vương quốc của họ luôn là một quốc gia cấp thấp. Họ không thể đe dọa được sự tồn tại của La Mã mặc dù đã từng giáng một cú sốc bất ngờ lên bất kỳ người La Mã nào quên đi sức mạnh của lực lượng kỵ binh du mục. Những kỵ binh người Parthia nổi tiếng với kỹ thuật bắn tên Parthia. Họ giả vờ phi ngựa chạy trốn, nhưng sau đó bất ngờ quay lưng lại và bắn tên vào những người đuổi theo sau. Chiến thuật này đã giúp Parthia tiễn biệt viên tướng Crassus về thế giới bên kia. Crassus mất hết quân đội của mình và thiệt mạng trong một cuộc tấn công bất ngờ vào năm 53 TCN. Người ta mang đầu của ông dâng lên vua Parthia khi ông đang xem một vở bi kịch Hy Lạp; vua Parthia là người ngưỡng mộ văn hóa phương Tây, ông ta được giáo dục tốt đến mức có thể hiểu được ẩn ý lời nói đùa khi người diễn viên chính cố đưa món quà tặng rùng rợn đó vào lời thoại của mình.

Tuy nhiên, những vấn nạn của La Mã với người Parthia ở phía tây vùng thảo nguyên trở nên lu mờ khi so sánh với những rắc rối mà Trung Hoa phải đối mặt với người Hung Nô ở đầu phía đông. Ở đó, cuộc chiến tranh phòng ngừa của Tần Thủy Hoàng đã đưa đến những hậu quả tai hại: thay vì đe dọa các bộ lạc du mục, nó lại khơi mào cho một cuộc cách mạng chính trị trên khắp vùng thảo nguyên, khiến các bộ lạc Hung Nô thù địch tập hợp lại thành một đế chế du mục thực sự đầu tiên trên thế giới. Thay vì thu thuế người nông dân để trả lương cho tầng lớp quý tộc trên lưng ngựa, giống như người Parthia đã làm, thiền vu Mặc Đốn của Hung Nô đã nuôi quốc gia siêu thấp cấp của mình toàn bằng các hoạt động đánh phá và cướp bóc Trung Hoa, và mua sự trung thành của các thủ lĩnh du mục yếu hơn bằng rượu và tơ lụa cướp được.

Sự lựa chọn thời điểm của Mặc Đốn là hết sức tuyệt vời. Ông tiếp quản đất nước Hung Nô vào năm 2009 TCN ngay sau khi Tần Thủy Hoàng qua đời, và trong thời gian chín năm, ông lợi dụng cuộc nội chiến của Trung Hoa để vơ vét và cướp bóc thỏa thích. Năm 200 TCN, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Hán là Hán Cao Đế cho rằng điều gì cũng có giới hạn của nó, nên ông đích thân chỉ huy một đội quân hùng hậu tiến vào thảo nguyên, chỉ để nhận ra một điều rằng chiến đấu với những người du mục khác hẳn với cuộc chiến chống lại các đối thủ tranh giành ngai vàng Trung Hoa. Người Hung Nô rút lui, để lại người Trung Hoa chết đói giữa vùng đất hoang vu, và khi Mặc Đốn quay lại và tiến hành mai phục, khoảng một phần ba quân lính của Hán Cao Đế bị mất các ngón tay do bị tê cóng. Vị hoàng đế Trung Hoa thoát chết kịp thời, nhưng như thường thấy trong chiến tranh, hầu hết quân lính của ông phải gánh chịu số phận bi đát hơn.

Khi nhận ra chiến tranh tiêu hao, thụ động và ngăn chặn đều bị thất bại trước quân Hung Nô, Hán Cao Đế áp dụng chiến lược thứ tư: thiết lập quan hệ thân gia với Mặc Đốn. Kéo người con gái đầu lòng của mình ra khỏi những căn phòng lộng lẫy bằng đá cẩm thạch và những tấm chăn trải giường kết bằng ngọc trai❖⦾ trong cung điện Trường An, Hán Cao Đế gả con mình cho Mặc Đốn để cô công chúa này ngồi nhìn ngày tháng trôi qua trong một căn lều vải trên thảo nguyên. Một nghìn năm sau, các nhà thơ Trung Hoa vẫn còn ngâm những vần thơ về nỗi lòng nát tan của vị công chúa Hán triều đơn độc giữa đám người cưỡi ngựa hung tợn.

Cuộc hôn nhân hoàng tộc này khởi đầu cho cái mà các học giả Trung Hoa gán cho một cái tên mỹ miều là chính sách quan hệ thân tộc thuận hòa, và khi tình yêu vẫn chưa đủ, thì Hán Cao Đế lại mua chuộc Mặc Đốn bằng các món quà tặng hằng năm, gồm vàng bạc và tơ lụa. Thật không may, những món quà tặng cũng không thực sự mang lại hiệu quả. Quân Hung Nô tiếp tục nâng giá, và sau đó lại tiếp tục tiến hành các hoạt động cướp phá với niềm tin rằng khi nào cái giá của sự thiệt hại còn thấp hơn cái giá của việc tiến hành chiến tranh để trừng phạt họ thì các hoàng đế nhà Hán sẽ không làm gì cả.

Mối quan hệ thân tộc thuận hòa kéo dài 60 năm với cái giá ngày càng tốn kém, mãi đến những năm 130 TCN, triều đình nhà Hán mới cắt đứt nó một cách cay đắng. Một số quan lại nhớ đến thảm họa vào năm 200 TCN và thuyết phục nên kiên nhẫn; những người khác thì đòi sử dụng bạo lực. Vào năm 135 TCN, khi người mẹ quá thận trọng của mình qua đời, vị hoàng đế trẻ tuổi Hán Vũ Đế liền ngả theo số đông bạo lực. Mỗi năm trong giai đoạn 129-119 TCN, ông đã phái hàng trăm nghìn quân lính tiến vào vùng đất hoang vu, và mỗi năm chỉ có một nửa con số đó trở về. Cái giá của nhân mạng và tài sản thật là kinh khủng, và những người chỉ trích Vũ Đế – tầng lớp ưu tú có học thức viết sách sử – kết luận rằng cuộc chiến tranh ngăn chặn của ông là một thảm họa.

Tuy nhiên, các chiến dịch của Vũ Đế, giống như những chiến dịch mà vua Darius của Ba Tư đã tiến hành để chống lại người Scythia 400 năm trước (cũng bị những người ghi chép lịch sử đánh giá là thất bại) đã thay đổi hoàn toàn vấn đề người du mục. Bị mất đi nguồn quà tặng và chiến lợi phẩm để chia cho thuộc hạ, và các vùng đồng cỏ chăn nuôi bị đe dọa liên tục, các thiền vu Hung Nô mất quyền kiểm soát đồng minh và bắt đầu đánh nhau. Vào năm 51 TCN, họ thừa nhận sự cai trị của nhà Hán, và khoảng một thế kỷ sau đó, họ đã tách thành hai bộ tộc. Một bộ tộc rút về phương bắc; bộ tộc còn lại định cư bên trong lãnh thổ Đế chế Trung Hoa.

Vào thế kỷ I, cả người La Mã và người Hán đều giành thế chủ động trước các bộ tộc du mục. Người Hán bắt đầu “dùng người man di để chống lại người man di,” theo cách gọi của họ, bằng cách cấp cho người Hung Nô phía nam một vùng đất để sinh sống (cùng quà tặng thường xuyên) để đổi lấy sự phục vụ của họ trong quân đội chống lại các bộ tộc du mục khác. La Mã, may mắn tránh được hầu hết các biến động diễn ra dọc theo Tuyến đường Thảo nguyên nhờ sự che chắn của núi rừng và đồng ruộng ở Đông Âu, chỉ đối đầu trực tiếp với các bộ lạc (bán) du mục ở Parthia; và ngay cả ở đây, La Mã không chỉ đối mặt với họ trên thảo nguyên, nơi các bộ lạc du mục có quá nhiều lợi thế, mà còn ngay tại các thành phố và kênh đào ở vùng Lưỡng Hà. Bất cứ khi nào các hoàng đế cảm thấy tình hình nghiêm trọng thì các binh đoàn La Mã đều đè bẹp sự kháng cự của người Parthia.

Điều này chứng tỏ rằng, cả vùng biên giới phía đông La Mã lẫn phía bắc Trung Hoa chưa bao giờ hoàn toàn ổn định. Vào năm 114, La Mã đánh đuổi người Parthia ra khỏi Lưỡng Hà, nắm quyền kiểm soát toàn bộ vùng lõi phương Tây rồi lại phải từ bỏ vùng đất nằm giữa các con sông này vào năm 117. Trong thế kỷ II, La Mã tràn vào vùng Lưỡng Hà thêm bốn lần để lại rời bỏ nó thêm bốn lần nữa. Mặc dù là một xứ sở giàu có, nhưng Lưỡng Hà lại ở quá xa và quá khó để nắm giữ. Trái lại, Trung Hoa nhận thấy rằng việc đưa người Hung Nô vào bên trong lãnh thổ của họ dần dần biến đổi một đường kẻ trên bản đồ thành một vùng biên giới bất ổn, một miền Bắc hoang vu, nơi mọi người đến và đi tùy thích, mệnh lệnh của nhà cầm quyền hiếm khi có hiệu lực, và một thanh kiếm tốt có ý nghĩa hơn những nguyên tắc luật định.

Các mối quan hệ ngày càng phức tạp giữa các đế chế du mục và nông nghiệp đã thay đổi địa lý của lục địa Á-Âu và thu nhỏ thế giới một phần. Hậu quả rõ ràng nhất là một khu vực rộng lớn có nền văn hóa vật chất chung trải dài từ Ukraine đến Mông Cổ được hình thành, thông qua nó, các thương gia và chiến binh lan truyền tư tưởng, nghệ thuật và vũ khí của phương Đông và phương Tây từ nơi này sang nơi khác. Tuy nhiên, những hàng hóa quan trọng nhất vận chuyển giữa phương Đông và phương Tây là những thứ không ai có thể nhìn thấy.

Suốt hàng nghìn năm kể từ khi những người nông dân của Cựu Thế giới bắt đầu quần tụ lại thành các làng mạc, họ đã tạo ra một loạt các tác nhân gây bệnh khó chịu. Hầu hết là những thứ bệnh rất dễ lây nhiễm; nhiều căn bệnh có thể gây tử vong. Các quần thể dân cư lớn cùng hít thở chung một bầu không khí và chia sẻ các chất dịch cơ thể khiến bệnh tật lây lan nhanh chóng, nhưng số lượng dân cư đông đúc cũng có nghĩa là nhiều người vô tình có được kháng thể thích hợp để chống lại các căn bệnh đó. Trải qua nhiều thiên niên kỷ, những người này đã truyền lại vũ khí phòng thủ của họ thông qua di truyền. Những đột biến ngẫu nhiên vẫn có thể biến các căn bệnh đang ngủ yên thành những sát thủ có thể thiêu rụi cả một cộng đồng người giống như một đám cháy rừng, nhưng các vật chủ và virus sau đó lại tạo ra một sự cân bằng mới, ở đó cả hai đều có thể tồn tại.

Con người ở lần đầu tiếp xúc với các loại vi khuẩn lạ ít có khả năng chống lại những kẻ giết người thầm lặng đó. Ví dụ nổi tiếng nhất là những gì mà nhà sử học-địa lý học Alfred Crosby gọi là Thời kỳ Trao đổi Columbus,❖ một hậu quả kinh khủng và khôn lường trong hành trình tìm kiếm Tân Thế giới của châu Âu kể từ năm 1992. Các ổ bệnh hoàn toàn riêng biệt đã phát triển tại châu Âu và châu Mỹ. Châu Mỹ có những căn bệnh phiền toái riêng của mình, chẳng hạn như bệnh giang mai, nhưng các quần thể dân cư nhỏ bé và thưa thớt ở châu Mỹ không thể cạnh tranh với nguồn vi trùng dồi dào ở châu Âu. Các dân tộc thuộc địa là những người chưa từng trải nghiệm dịch bệnh. Tất cả mọi thứ từ bệnh sởi, viêm màng não cho đến bệnh đậu mùa và sốt thương hàn – và rất nhiều bệnh liên quan – đã xâm nhập cơ thể họ khi người châu Âu kéo đến, chúng phá vỡ tế bào và giết chết người bệnh theo nhiều cách khủng khiếp. Không ai biết rõ có bao nhiêu người đã chết, nhưng Thời kỳ Trao đổi Columbus có thể đã rút ngắn cuộc sống của ít nhất ¾ số dân tại Tân Thế giới. “Rõ ràng dường như Đức Chúa Trời muốn [người bản địa] giao lại vùng đất của họ cho những cư dân mới đến,”❖ một người Pháp ở thế kỷ XVI kết luận.

Dường như một Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới tương tự nhưng cân bằng hơn đã khởi đầu ở thế kỷ II. Các vùng lõi phương Tây, Nam Á và phương Đông tự thân hình thành sự kết hợp các căn bệnh chết người trong hàng nghìn năm kể từ khi nền nông nghiệp bắt đầu, và đến năm 200 TCN, những căn bệnh này phát triển như thể chúng ở trên các hành tinh riêng biệt. Nhưng khi ngày càng có nhiều thương nhân và dân du mục di chuyển dọc theo các vùng chuỗi liên kết các vùng lõi, thì các ổ bệnh này bắt đầu kết hợp lại, gây nên nỗi kinh hoàng mơ hồ cho mọi người.

Các nguồn tài liệu của Trung Hoa ghi nhận rằng những trận dịch bệnh bí ẩn bùng phát trong một đội quân chiến đấu với người du mục tại vùng biên giới phía tây bắc vào năm 161-162 đã giết chết một phần ba số quân lính. Vào năm 165, thư tịch cổ lại nhắc đến dịch bệnh tại các doanh trại quân đội, nhưng lần này là các văn bản ghi chép của La Mã, mô tả trận dịch xảy ra tại các căn cứ quân sự ở Syria trong một chiến dịch chống lại người Parthia, cách điểm bùng phát dịch bệnh của Trung Hoa đến hơn 6.000km. Các trận dịch còn trở lại Trung Hoa thêm năm lần nữa trong khoảng thời gian từ năm 171 đến năm 185, đồng thời cũng tàn phá Đế quốc La Mã gần như thường xuyên trong những năm đó. Ở Ai Cập, nơi các văn bản ghi chép chi tiết vẫn còn lưu giữ cho thấy dịch bệnh rõ ràng đã giết chết hơn ¼ dân số.

Thật khó để xác định các căn bệnh thời cổ đại là gì, một phần vì các loại virus không ngừng tiến hóa suốt 2.000 năm qua, nhưng chủ yếu do các tác giả cổ đại còn miêu tả chúng một cách quá mơ hồ. Cũng giống như các nhà văn đầy tham vọng ngày nay có thể mua những cuốn sách như Screenwriting for Dummies (Nghệ thuật dựng kịch bản phim từ các hình tượng nguyên mẫu), sau đó sản xuất kịch bản phim hoặc chương trình truyền hình theo công thức có sẵn, các tác giả cổ đại biết rằng bất kỳ miêu tả lịch sử tốt đẹp nào cũng cần có chính trị, các trận đánh và dịch bệnh. Độc giả của họ, cũng như chúng ta khi đi xem phim, hiểu rõ các yếu tố cốt truyện phải như thế nào. Những dịch bệnh thì cần có những điềm báo về sự xuất hiện, các triệu chứng đáng sợ, số lượng người chết khủng khiếp, những xác chết thối rữa, sự sụp đổ của luật pháp và trật tự, rồi những góa phụ, cha mẹ, và/hoặc con cái đau khổ.

Cách dễ nhất để viết một cảnh về dịch bệnh là đánh cắp từ một sử gia khác rồi thay đổi tên gọi. Ở phương Tây, nguyên mẫu là một tư liệu miêu tả trận đại dịch tại Athens vào năm 430 TCN của Thucydides, một nhân chứng cùng thời. Năm 2006, một nghiên cứu về DNA cho rằng đó là một dạng sốt thương hàn, mặc dù lời kể của Thucydides hoàn toàn không rõ ràng; và sau khi các nhà sử học khác cải biến lại tư liệu của ông (công nhận là hấp dẫn) trong suốt 1.000 năm, trận đại dịch mà họ miêu tả không còn rõ ràng chút nào.

Bất chấp màn sương mờ này, các nguồn thư tịch của La Mã và Trung Hoa rất tương phản với các nguồn thư tịch của Ấn Độ vốn không hề đề cập đến các trận đại dịch ở thế kỷ II. Điều đó có thể phản ánh các tầng lớp có học vấn ít quan tâm đến những điều gì đó u ám như cái chết của hàng triệu người dân nghèo, nhưng nhiều khả năng dịch bệnh đã bỏ qua Ấn Độ, điều này cho thấy rằng Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới chủ yếu trải dọc theo Con đường Tơ lụa và các vùng thảo nguyên hơn là các tuyến thương mại ở Ấn Độ Dương. Điều đó có lẽ hoàn toàn phù hợp với lý do tại sao các trận đại dịch bùng phát ở Trung Hoa và La Mã, trong các doanh trại quân đội trên các vùng biên giới.

Bất chấp các cơ chế trao đổi vi sinh vật, các trận dịch bệnh khủng khiếp vẫn tái diễn qua mỗi thế hệ từ những năm 180 trở đi. Ở phương Tây, những năm tháng tồi tệ nhất bắt đầu từ năm 251 đến năm 266, khi mà có những thời điểm 5.000 người chết mỗi ngày tại thành Rome. Ở phương Đông, những ngày đen tối nhất nằm trong khoảng thời gian từ năm 310 đến năm 322, bệnh dịch bùng phát trở lại tại vùng tây bắc, ở đó (dựa theo các báo cáo) hầu như mọi người đều chết. Một thầy thuốc sống sót qua trận dịch đã mô tả lại căn bệnh trông rất giống với bệnh sởi hoặc bệnh đậu mùa:

Gần đây có nhiều người bị sưng tấy ở vùng đầu, mặt và thân. Trong một thời gian ngắn, những vết sưng tấy đó lan khắp cơ thể. Bề ngoài trông giống như những nốt phỏng có chứa chất dịch màu trắng. Trong lúc một số mụn mủ đang khô lại thì một nhóm mới lại xuất hiện. Nếu không được điều trị sớm, bệnh nhân thường sẽ chết. Những người vượt qua được căn bệnh thì cơ thể của họ bị biến dạng bởi những vết sẹo có màu hơi đỏ tía.

Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới đã để lại những hậu quả tai hại. Các thành phố bị thu hẹp, thương mại suy thoái, nguồn thu thuế giảm sút và ruộng đồng bị bỏ hoang. Và có vẻ tất cả những điều trên vẫn chưa đủ, mọi nguồn chứng cứ – các bãi than bùn, trầm tích đáy hồ, lõi băng, vòng sinh trưởng cây, tỉ lệ nguyên tố stronti với canxi tại các rạn san hô, ngay cả đặc tính hóa học của tảo – cho thấy cả thời tiết cũng chống lại loài người, dẫn đến chấm dứt Thời kỳ Ấm La Mã. Nhiệt độ trung bình giảm khoảng 1°C từ năm 200 đến năm 500, và kể từ khi những mùa hè mát mẻ của thời kỳ mà các nhà khí hậu học gọi là Thời kỳ lạnh giá của kỷ nguyên đen tối làm giảm sự bốc hơi từ các đại dương và làm suy yếu các đợt gió mùa, thì lượng mưa vì thế cũng giảm xuống.

Ở những hoàn cảnh khác, các vùng lõi phương Đông và phương Tây hưng thịnh có thể đã ứng phó với biến đổi khí hậu một cách hiệu quả giống như họ đã làm khi Thời kỳ Ấm La Mã bắt đầu vào thế kỷ II TCN. Nhưng lần này bệnh tật và biến đổi khí hậu – hai trong năm kỵ sỹ Khải huyền được khắc họa đặc biệt nổi bật ở Chương 4 – đã cùng nhau phi nước đại. Điều muốn nói ở đây, việc ba kỵ sỹ khác là nạn đói, di dân và sự sụp đổ của quốc gia có tham gia cùng họ hay không, sẽ phụ thuộc vào cách con người phản ứng.

Không còn sự ủy thác của Thiên Đế

Giống như mọi thể chế, Đế chế nhà Hán và La Mã đã phát triển để giải quyết các vấn đề cụ thể. Họ đã học được cách đánh bại mọi đối thủ, cai trị các vùng lãnh thổ rộng lớn và các quần thể dân cư đông đúc bằng những kỹ thuật đơn giản, đồng thời vận chuyển thực phẩm và các nguồn thu nhập từ các tỉnh giàu có đến các lực lượng quân đội đóng ở các vùng biên giới và dân chúng ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, mỗi đế chế thực hiện những việc này theo những cách tương đối khác nhau, và sự khác nhau đó đã xác định cách họ ứng phó với Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới.

Điều quan trọng nhất là phương thức mà mỗi đế chế đối phó với quân đội của mình. Để đối đầu với quân Hung Nô, từ những năm 120 TCN trở đi nhà Hán đã xây dựng các lực lượng kỵ binh hùng hậu, được tuyển mộ ngày càng nhiều từ chính các bộ lạc du mục, và khi đã hoàn thiện chính sách dùng người man đánh người man ở thế kỷ I, họ cho nhiều người du mục trong số đó định cư bên trong lãnh thổ của đế chế. Việc làm này đã mang lại một kết quả kép, đó là quân sự hóa vùng biên giới, nơi các chiến binh Hung Nô sinh sống dưới sự giám sát không đáng kể của nhà Hán và việc phi quân sự hóa vùng nội địa. Rất ít lực lượng quân đội có mặt tại khu vực trung tâm của Trung Hoa, ngoại trừ kinh đô, và rất ít người được tuyển mộ vào quân đội. Các nhà quý tộc Trung Hoa nhận thấy họ ít được hưởng lợi từ việc chỉ huy những người man di đóng quân cách xa kinh đô. Chiến tranh đã trở thành thứ gì đó do những người ngoại quốc xa xôi thay mặt hoàng đế tiến hành.

Mặt tích cực đối với các hoàng đế đó là họ không còn lo lắng rằng giới quý tộc quyền lực sẽ sử dụng quân đội để chống lại họ. Còn nhược điểm chính là các hoàng đế không còn chiếc gậy để trừng trị những quý tộc gây phiền toái. Do đó, khi độc quyền về sức mạnh quốc gia bị suy yếu, các nhà quý tộc cảm thấy dễ dàng bắt nạt người nông dân địa phương, nuốt chửng đất đai của họ để lập nên những điền trang khổng lồ được các chủ đất quản lý như những thái ấp tư. Lượng thặng dư vơ vét được từ nông dân ngày càng hạn chế, và khi chủ đất ở quá gần và hoàng đế ở quá xa, lượng thặng dư chảy về các thủ lĩnh địa phương ngày càng nhiều dưới hình thức cho thuê mướn đất đai và lượng thặng dư chuyển đến Tràng An dưới hình thức thuế ngày càng giảm đi.

Các vị hoàng đế phản ứng lại bằng cách hạn chế diện tích đất đai và số lượng nông dân sống dựa vào đó mà giới quý tộc có thể sở hữu, tái phân phối đất đai cho các tiểu nông (và phải đóng thuế) đồng thời tăng nguồn tiền thu về từ độc quyền quốc gia đối với những mặt hàng thiết yếu như sắt, muối và rượu. Nhưng vào năm thứ 9, sự xung đột giữa hoàng đế và địa chủ lên đến đỉnh điểm khi một đại quan triều đình tên là Vương Mãng chiếm lấy ngai vàng, quốc hữu hóa toàn bộ đất đai, bãi bỏ chế độ nô lệ và giai cấp nông nô, đồng thời tuyên bố rằng từ nay trở đi chỉ có nhà nước mới có quyền sở hữu vàng. Chế độ tập quyền gần giống chủ nghĩa tập quyền theo kiểu Mao Trạch Đông của ông sụp đổ ngay lập tức, đồng thời các cuộc khởi nghĩa nông dân khiến cho đế chế rơi vào tình trạng hỗn loạn, và vào những năm 30, khi trật tự được vãn hồi, chính sách của nhà Hán lại trải qua một sự thay đổi mạnh mẽ.

Hoàng đế Quang Vũ (Guangwu) (trị vì từ năm 25 đến năm 57), người thay thế Vương Mãng, xuất thân từ một gia đình giàu có, chứ không phải từ một gia tộc thu vén quyền lực nhờ liên kết với triều đình cũ. Để khôi phục quyền lực của nhà Hán, Quang Vũ buộc phải kết hợp chặt chẽ với những người có thế lực, và ông đã quyết định gắn bó số phận của mình với họ, điều này đã mở ra thời kỳ hoàng kim cho giới địa chủ. Trở nên giàu có như đế vương và thống lĩnh hàng nghìn nông dân, giới quý tộc này hầu như không quan tâm đến nhà nước và những viên quan thu thuế khó chịu. Trước đây, các hoàng đế nhà Hán đưa các địa chủ gây phiền hà đến Trường An để họ có thể dễ dàng giám sát, ngược lại, Quang Vũ lại chuyển kinh đô về Lạc Dương (Hình 6.4), nơi có các chủ đất mạnh nhất và những người có thế lực có thể giám sát triều đình.⦾

Tầng lớp quý tộc bắt đầu giảm bớt quyền lực của triều đình và dần dần thoát khỏi khoản ngân sách lớn nhất của triều đình là quân đội. Cuối thế kỷ I, khi quân Hung Nô không còn là mối đe dọa chính, lực lượng kỵ binh hùng hậu, được thành lập trước đây để chống lại quân Hung Nô, giờ đây bị bỏ mặc để tự lo liệu, điều này khiến họ quay sang cướp bóc những người nông dân mà họ có bổn phận phải bảo vệ. Khoảng năm 150, bộ tộc Nam Hung Nô, về mặt lý thuyết là chư hầu, đã ít nhiều trở nên độc lập.

Triều đình cũng không nỗ lực tái cấu trúc quân đội để ứng phó với các mối đe dọa mới từ tộc người Khương, tên gọi được người Trung Hoa dùng để chỉ những người nông dân và chăn nuôi gia súc trên vùng biên giới phía tây của họ. Có lẽ nhờ thời tiết ôn hòa của Thời kỳ Ấm La Mã mà dân số của tộc người Khương đã tăng nhanh qua nhiều thế hệ, và rồi những nhóm người nhỏ bắt đầu di chuyển đến các tỉnh phía tây, ở đó họ chiếm giữ đất đai bất kỳ khi nào có thể, hoặc đánh nhau và cướp bóc những lúc họ không thể chiếm lấy đất đai. Để kiểm soát tình hình này, vùng biên giới cần phải có lực lượng quân đội đồn trú chứ không phải các lực lượng kỵ binh du mục, nhưng các chủ đất ở Lạc Dương lại không muốn trả tiền cho họ.

Hình 6.4. Sự kết thúc triều đại nhà Hán, từ năm 25 đến năm 220: các địa điểm được đề cập trong bài viết.

Một số quan lại đề xuất từ bỏ các tỉnh phía tây và bỏ mặc người Khương để tự họ xoay xở, nhưng một số khác thì lại sợ một hiệu ứng dây chuyền. Một viên quan triều đình biện bác: “Nếu các ngài để mất Lương Châu thì ba châu quận còn lại sẽ là biên giới của các ngài. Nếu người dân ba châu quận di chuyển sâu vào nội địa, thì Hoằng Nông sẽ là biên giới. Nếu người dân Hoằng Nông di chuyển vào bên trong nội địa, thì Lạc Dương sẽ là biên giới. Nếu các ngài cứ tiếp tục như thế này, các ngài sẽ tiến đến bờ Đông Hải, và đó cũng sẽ là biên giới của các ngài.”❖

Bị thuyết phục, triều đình quyết định ngăn chặn tiến trình này và chi tiêu một khoản tiền khổng lồ, nhưng hoạt động thâm nhập vẫn tiếp tục. Vào năm 94 và tiếp một lần nữa vào năm 108, các nhóm người Khương đã chiếm giữ các vùng đất rộng lớn ở những châu quận phía tây. Năm 110, một cuộc tổng nổi dậy của người Khương nổ ra, và khoảng năm 150, người Khương đã nằm ngoài sự kiểm soát của Lạc Dương giống như người Hung Nô trước đây. Tại cả hai vùng biên giới phía tây và phía bắc, các chủ đất địa phương phải tự bảo vệ mình, họ biến những người nông dân phụ thuộc thành lực lượng dân quân, và các thống đốc, được triều đình phải đến đó rồi bị lãng quên, cũng thành lập các lực lượng quân đội riêng (đồng thời tiến hành cướp bóc các châu quận của họ để trả lương cho quân đội).

Không khó để kết luận rằng nhà Hán đã mất đi sự ủy thác của Thiên Đế, và vào năm 145, có đến ba cuộc nổi dậy riêng lẻ đòi hỏi phải có một triều đại mới. Tuy nhiên, đối với tầng lớp quý tộc sở hữu nhiều đất đai, trong cái rủi vẫn có cái may. Đế chế bị thu nhỏ, khoản thu thuế giảm xuống, và quân đội, ở khía cạnh nào đó, được tư nhân hóa, nhưng đất đai của họ lại có năng suất cao hơn bao giờ hết, những viên quan thu thuế của đế chế bỏ mặc họ, và chiến tranh chỉ là một tin đồn xa xôi. Suy cho cùng thì đó cũng là điều tốt.

Những Pangloss của Trung Hoa bị sốc khi Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới đột ngột xuất hiện vào những năm 160. Dịch bệnh đã tàn phá vùng tây bắc, nơi tộc người Khương tiến vào bên trong đế chế, và lan rộng khắp mọi vùng đất. Và thay vì ứng phó với tình hình bằng sự lãnh đạo mạnh mẽ, triều đình lại bị sụp đổ.

Về lý thuyết, hàng trăm triều thần nắm giữ các chức vụ trong cung điện tại Lạc Dương sống chỉ để đưa các ước muốn của hoàng đế vào thực tiễn, nhưng trên thực tế (giống như giới công chức trong nhiều thời đại) họ cũng có những lợi ích riêng. Hầu hết đều xuất thân từ các gia đình sở hữu nhiều đất đai, và có vẻ như rất giỏi trong việc kiếm cớ để không làm những điều mà giới địa chủ không vừa ý (như việc huy động ngân sách cho chiến tranh). Bất kỳ hoàng đế nào có các ý tưởng riêng cũng phải né tránh họ. Một số hoàng đế bổ nhiệm họ hàng thân thích của mình, đặc biệt là ngoại thích để đảm đương việc triều chính; một số hoàng đế khác lại hướng đến các thái giám, họ có những lợi thế mà tôi đã đề cập ở Chương 5. Những hoàng đế khôn ngoan lại sử dụng cả hai thành phần này một cách rất hiệu quả; tuy nhiên, những con người này cũng có những mục đích riêng của mình, và cố gắng đảm bảo rằng các hoàng đế đều không đủ sắc sảo khôn ngoan. Trên thực tế, họ đã xếp đặt các vấn đề theo cách mà sau năm 88, không một hoàng tử nào trên 14 tuổi còn sống sót để lên ngôi. Chính trị cung đình thoái hóa thành những âm mưu bí mật giữa giới đại thần, thái giám và ngoại thích của các hoàng đế nhỏ tuổi.

Vào năm 168, ngay chính thời điểm nhà Hán ở Trung Hoa cần đến sự lãnh đạo nhất, các thái giám trong triều đã tiến hành một cuộc đảo chính chống lại phe ngoại thích của vị hoàng đế 12 tuổi mới được đưa lên ngôi là Linh Đế. Suốt gần 20 năm, trong lúc dịch bệnh hoành hành, người Hung Nô và người Khương đánh phá, triều đình lại tiến hành các cuộc thanh trừng và phản thanh trừng, khiến hàng nghìn người chết và chính quyền bị tê liệt. Tình trạng tham nhũng và thiếu năng lực lên đến những tầm cao mới. Sự bất công châm ngòi cho các cuộc nổi dậy, và, vì không thể huy động hoặc chỉ huy quân đội, những người điều hành triều chính của Linh Đế đã ủy quyền cho những người có thế lực ở địa phương huy động quân đội và làm những gì mà họ cho là cần thiết.

Người dân kêu cầu những lý giải cho tình trạng hỗn loạn đột ngột này, và trong khi lễ nghi Nho giáo hay chủ nghĩa thần bí của Đạo giáo không cung cấp những gì họ mong muốn, thì những người tự cho là có tầm nhìn xa trông rộng đã khỏa lấp khoảng trống này. Tại vùng thung lũng Hoàng Hà, một thầy thuốc được nhiều người ủng hộ khi thuyết giảng rằng, tội lỗi đã gây nên bệnh tật và sự xưng tội sẽ mang lại sức khỏe. Vào thập niên 170, ông lại tiến thêm một bước xa hơn khi kết luận rằng chính triều đại này là căn nguyên của tội lỗi và bệnh tật. Nó phải ra đi. Ông tuyên bố: “Khi một chu kỳ 60 năm mới bắt đầu, thì sự thịnh vượng sẽ đến với thế giới.”❖

Nhưng sự thịnh vượng đã không đến. Thay vào đó, khi một chu kỳ lịch mới bắt đầu vào ngày 3 tháng 4 năm 184, mọi thứ lại trở nên tồi tệ hơn. Mặc dù các lực lượng quân đội tôn phù nhà Hán đàn áp những người nổi dậy (được biết đến với cái tên là giặc Khăn Vàng vì họ quấn khăn màu vàng trên đầu, màu vàng là biểu tượng của thời đại mới) nhưng những kẻ tiếp bước họ đã xuất hiện khắp Trung Hoa. Dường như Thiên Đế cũng tỏ ra không hài lòng khi Hoàng Hà gây lũ lụt nghiêm trọng, buộc 365.000 người nông dân phải rời bỏ nơi sinh sống của mình. Một phong trào Năm đấu thóc (hứa hẹn loại trừ bệnh tật cho những ai thú nhận tội lỗi của mình và nộp năm đấu thóc) đã biến Tứ Xuyên thành một nhà nước thần quyền theo Đạo giáo độc lập; người Khương tận dụng tình trạng hỗn loạn này và tiến hành các hoạt động cướp phá miền tây Trung Hoa một lần nữa; các tướng chỉ huy đặc biệt đại diện triều đình ngăn chặn những mối đe dọa này đã tự biến mình thành nhà quân phiệt độc lập; và khi triều đình thực sự hành động, thì điều đó chỉ khiến mọi thứ thêm tồi tệ hơn.

Vào năm 189, Hán Linh Đế triệu hồi tướng quân phiệt hùng mạnh nhất là Đổng Trác (Dong Zhuo), nhưng ông không về mà lại viết thư trả lời: “Tất cả quân lính người Hán và người man dưới sự chỉ huy của thần đã kéo đến và nói… ‘các nguồn lương thực cung cấp cho quân binh chúng tôi sẽ bị cắt, và vợ con của chúng tôi sẽ chết vì đói rét.’ Họ kéo cỗ xe của hạ thần lại và không cho hạ thần đi.”❖ Khi Hán Linh Đế tiếp tục nài nỉ, Đổng Trác lừa phỉnh lại bằng cách trở về Lạc Dương nhưng lại dẫn theo quân đội của mình. Hán Linh Đế qua đời đúng vào lúc quân Đổng Trác đang tiến gần đến Lạc Dương, các quan cận thần thuộc phe chính hậu của Hán Linh Đế (những người ủng hộ một đứa trẻ 13 tuổi làm hoàng đế mới) và các hoạn quan (những người ủng hộ một đứa trẻ khác 8 tuổi) bắt đầu âm mưu tàn sát lẫn nhau. Đổng Trác tiến quân vào kinh thành Lạc Dương, tiêu diệt các hoạn quan, giết chết vị hoàng tử lớn tuổi, và lập hoàng tử nhỏ tuổi hơn làm hoàng đế, lấy tên hiệu là Hán Hiến Đế. Sau đó, ông phong tỏa Lạc Dương và tính toán những điều cần làm tiếp theo.

Nhà Hán không còn nắm quyền kiểm soát, nhưng cả Đổng Trác cũng thế, vì trong khi quyền lực điều hành cấp cao của các hoàng đế sụp đổ, thì quyền lực cấp thấp có tính thần thánh của họ vẫn tiếp tục tồn tại. Không ai dám tự xưng mình là hoàng đế khi Hán Hiến Đế còn sống, và cũng không ai dám giết vị hoàng đế nhỏ tuổi này. (Tuy nhiên, các tướng quân phiệt lại là mục tiêu tấn công; Đổng Trác bị ám sát vào năm 192.) Trong khi những kẻ môi giới quyền lực còn tranh cãi nhau và sử dụng Hán Hiến Đế như một vật thế chấp, thì đế chế bị phá vỡ thành những thái ấp, người Hung Nô và người Khương chiếm giữ các vùng biên giới, và các thể chế cấp cao tưởng chừng như vững chắc đã tan thành tro bụi.

“Ta đã mặc áo giáp quá lâu đến nỗi rận sinh sôi trong đó,”❖ vị đế vương kiêm thi sĩ nghiệp dư Tào Tháo đã viết như thế vào khoảng năm 197.

Vô số gia tộc đã bị diệt vong,

Xương trắng phủ dày các cánh đồng,

Đi ngàn dặm lý vẫn không nghe thấy tiếng gà gáy.

Chỉ có một trong một trăm người còn sống sót,

Nghĩ về nó, lòng ta quặn đau.

Tuy nhiên, Tào Tháo đã kiềm chế nỗi buồn của mình đủ lâu để giành lấy Hán Hiến Đế và thao túng vị hoàng đế nhỏ tuổi bằng cách biến ông thành nhân vật chính tại miền Bắc Trung Hoa.

Tào Tháo là một con người phức tạp. Có thể ông cố gắng khôi phục triều đại nhà Hán trong vai trò của một quân sư khôn ngoan. Nhìn thấy giới địa chủ làm suy yếu quốc gia cấp cao trước đây, ông đã nỗ lực giải quyết vấn đề quân sự bằng cách ổn định cuộc sống của quân lính tại các thuộc địa, ở đó sẽ có những người chuyên lo canh tác, còn những số khác thì được huấn luyện để chiến đấu, và giải quyết vấn đề chính trị bằng cách phân loại tầng lớp quý tộc thành chín cấp bậc, xác định vị trí của họ theo chế độ nhân tài. Cũng giống như Tiglath-Pileser ở Assyria 1.000 năm trước, ông ta loại các nhân vật có thế lực ra khỏi bức tranh chính trị, và đến năm 208, có vẻ như Tào Tháo sẽ lại thống nhất Trung Hoa một lần nữa nếu lực lượng thủy quân của ông không bị tiêu diệt trong trận Xích Bích.

Thế nhưng, bất chấp những nỗ lực này, Tào Tháo (phần lớn nhờ bộ tiểu thuyết đồ sộ ở thế kỷ XIV là Tam quốc diễn nghĩa) vẫn được nhớ đến như một người tàn bạo đã hủy diệt nhà Hán. Trong Kinh kịch ở thế kỷ XX, các diễn viên đeo mặt nạ Tào Tháo với trang điểm khuôn mặt màu trắng và đôi mắt có viền đen luôn là một nhân vật phản diện bị khán giả căm ghét, và đến những năm 1990, Tào Tháo đi vào lĩnh vực công nghệ cao, và nhảy lên màn hình vi tính như một hình mẫu xấu xa trong vô số trò chơi điện tử. Ông ta còn thâm nhập vào màn hình rộng hơn trong vai một nhân vật phản diện của bộ phim truyền hình Tam quốc chí (84 tập), đồng thời xuất hiện trên màn ảnh rộng trong bộ phim đắt giá nhất châu Á từng được thực hiện, Xích Bích (với chi phí 80 triệu USD; phần một được công chiếu trùng với Thế vận hội Bắc Kinh 2008).

Tiếng xấu của Tào Tháo liên quan nhiều đến những gì xảy ra sau cái chết của ông hơn là những việc ông đã làm. Sau trận chiến Xích Bích, sự cân bằng được tạo ra giữa ba nhà quân phiệt lớn, và sau năm 220, khi con trai của Tào Tháo yêu cầu Hán Hiến Đế thoái vị, đất nước Trung Hoa phân chia thành ba vương quốc. Tuy nhiên, vương quốc do Tào Tháo lập nên luôn mạnh nhất. Vương quốc này tiêu diệt một trong số các đối thủ của mình vào năm 264, đổi tên nước thành nhà Tấn⦾, và vào năm 280, nhà Tấn xây dựng một lực lượng quân đội và chiến thuyền hùng mạnh để hoàn tất việc tái chinh phục Trung Hoa.

Trong thập niên tiếp theo, sự sụp đổ của nhà hậu Hán giống như một phút sai lầm, có thể sánh với những gì đã xảy ra tại vùng lõi phương Tây sau năm 2200 hoặc 1750 TCN, khi sự biến đổi khí hậu, tình trạng di cư và nạn đói khiến các nhà nước sụp đổ nhưng ít tác động đến phát triển xã hội. Xem ra, sự sụp đổ của nhà Hán cũng khá giống với sự sụp đổ của phương Tây khoảng năm 1200 TCN với những hậu quả nặng nề kéo dài.

Các chiến thắng trên chiến trường có thể giảm số lượng các chư hầu còn sống sót xuống còn một, nhưng nó không thể thay đổi các vấn đề cơ bản của Trung Hoa. Tầng lớp quý tộc vẫn mạnh như thuở nào và nhanh chóng làm suy yếu các thuộc địa quân sự và chế độ đãi ngộ nhân tài của Tào Tháo. Dịch bệnh lan tràn, và Thời kỳ lạnh giá của kỷ nguyên đen tối khiến cuộc sống không chỉ khó khăn hơn đối với những người nông dân ở vùng thung lũng Hoàng Hà mà còn đối với người Hung Nô và người Khương. Khoảng thời gian từ năm 265 đến năm 287, 250.000 người dân Trung Á định cư bên trong lãnh thổ Đế chế nhà Tấn. Có những lúc, nhà Tấn chào đón nguồn nhân lực do họ cung cấp; ở những thời điểm khác, chính quyền không thể kháng cự lại họ.

Trong bối cảnh này, những điều nhỏ nhặt như đời sống tình cảm của hoàng đế tỏ ra rất quan trọng. Chẳng hạn, hoàng đế nhà Tấn có đến 27 người con trai, và khi ông băng hà vào năm 289, một số hoàng tử thuê những bộ tộc du mục man rợ nhất để đánh lẫn nhau. Người du mục không phải là những kẻ ngốc, họ sớm nhận ra rằng họ không nhất thiết phải chấp nhận khoản lương được trả: họ có thể yêu cầu bất cứ giá nào họ muốn. Vào năm 304, khi một thủ lĩnh Hung Nô không nhận được cái giá mà ông đưa ra, ông đã gây áp lực bằng cách tuyên bố thành lập vương quốc mới. Nhưng nhà Tấn vẫn không ban cho ông ta tất cả những gì ông muốn, kết quả là con trai của ông thiêu hủy Lạc Dương vào năm 311, mạo phạm lăng mộ gia tộc nhà Tấn đồng thời bắt hoàng đế làm tù binh và hầu rượu trong các bữa tiệc. Do không nhận được chiến lợi phẩm mà họ nghĩ rằng mình xứng đáng có được, vào năm 316, quân Hung Nô tiếp tục hủy diệt Trường An, và bắt hoàng đế mới của nhà Tấn làm tù binh phụ trách việc rửa chén bát và hầu rượu. Nhàm chán với trò chơi chỉ sau vài tháng, quân Hung Nô giết chết vị hoàng đế cùng họ hàng thân thích của ông ta.

Nước Tấn sụp đổ. Các nhóm người Hung Nô và người Khương cướp bóc thỏa thích khắp miền Bắc Trung Hoa, triều đình nhà Tấn cùng một triệu thần dân nối đuôi nhau chạy nạn về Kiến Khang (Jiankang – Nam Kinh ngày nay) bên bờ sông Dương Tử. Các vùng đất phía bắc mà họ từ bỏ là quê hương của một trong những nền nông nghiệp tiên tiến nhất thế giới, nhưng do bị ảnh hưởng kép của tỉ lệ tử vong cao (vì dịch bệnh tràn lan) và tình trạng di cư mạnh, giờ đây vùng đất màu mỡ đó hầu như biến thành nơi hoang địa. Điều này thích hợp với những người du mục đến từ các vùng thảo nguyên, nhưng đối với các công đồng nông nghiệp còn lại, điều này cũng có nghĩa là nạn đói cũng đang sau lưng họ. Vào những thời kỳ no ấm hơn, giới quý tộc địa phương hoặc nhà nước có thể đã can thiệp giúp đỡ, nhưng lúc này thì không có ai. Để hoàn tất nỗi khốn khổ, những trận dịch châu chấu đã tàn phá toàn bộ mùa màng của người nông dân. Những dịch bệnh mới, có lẽ do những người nhập cư từ vùng thảo nguyên mang đến, càng gây thêm nhiều tai ương cho cộng đồng dân cư vốn đã bị suy yếu. Bệnh đậu mùa có lẽ xuất hiện lần đầu tiên tại Trung Hoa vào năm 317, một năm sau khi Trường An bị thiêu hủy.

Các cuộc chiến tranh do các thủ lĩnh người Hung Nô và người Khương tiến hành trên vùng đất cằn cỗi này trông giống như những cuộc cướp bóc nô lệ quy mô hơn là các cuộc đụng độ giữa các quốc gia cấp cao. Những kẻ cai trị bố ráp người nông dân, mỗi lần hàng chục nghìn người, và lùa họ đến các vùng đất xung quanh các kinh đô mới, ở đó người nông dân trồng trọt trên các cánh đồng để cung cấp nguồn lương thực cho các lực lượng kỵ binh chính quy. Trong khi đó, kỵ binh du nhập các loại vũ khí mới từ vùng thảo nguyên – gồm những bộ yên cương, bàn đạp (ở yên ngựa), và những con ngựa to lớn hơn có thể phi nhanh và tấn công khi được phủ giáp và đèo thêm những hiệp sĩ mặc giáp trụ – điều này khiến lực lượng bộ binh hầu như trở nên lỗi thời. Những nhà quý tộc Trung Hoa không chạy nạn về phía nam thì lẩn trốn vào các vùng rừng núi, những nông dân lệ thuộc vào họ tập trung lại thành những thế lực lớn tạo nơi trú ẩn duy nhất tránh những tên lính kỵ binh cướp bóc.

Các quốc gia mới hình thành ở miền Bắc Trung Hoa (“Mười sáu vương quốc của năm tộc người man di” hay “Ngũ Hồ thập lục quốc,” như các sử gia Trung Hoa đã gọi một cách khinh miệt) hết sức bất ổn. Chẳng hạn, vào năm 350, một quốc gia đã bị sụp đổ trong một cuộc thanh trừng sắc tộc với việc người Trung Hoa bản địa tàn sát người Nội Á. “Có hơn 200.000 người chết,” lịch sử vương triều chính thức ghi chép lại. “Các thi thể chất thành đống bên ngoài tường thành, và bị lũ chó rừng, chó sói và chó hoang ăn thịt.”❖ Các thủ lĩnh khác chen lấn vào khoảng trống quyền lực do sự kiện này tạo ra. Vào năm 383 xuất hiện một chư hầu có vẻ như muốn thống nhất toàn thể Trung Hoa; nhưng khi ông ta tiến gần đến Kiến Khang, một thất bại nhỏ đã biến thành thảm bại kinh hoàng, và đến năm 385, toàn bộ vương quốc của ông ta không còn tồn tại.

Những người tị nạn chạy về hướng nam khi Trường An bị tiêu diệt lập ra nhà nước Đông Tấn⦾ tại Kiến Khang vào năm 317. Không giống như các vương quốc chuyên cướp bóc ở miền Bắc Trung Hoa, vương quốc này tự hào về một triều đình xa hoa lộng lẫy, tinh tế và duy trì các chuẩn mực về lối sống hoàng tộc Trung Hoa. Triều đình còn phái sứ thần đến Nhật Bản và Đông Dương, phát triển một nền văn chương và nghệ thuật hết sức ấn tượng, và điều đặc biệt nhất là vương quốc này đã tồn tại suốt một thế kỷ.

Nhưng đằng sau vẻ hào nhoáng bên ngoài, nhà Đông Tấn cũng bị chia rẽ sâu sắc như mọi quốc gia ở miền Bắc. Những người có thế lực ở miền Bắc chạy trốn về phía nam ít quan tâm đến mệnh lệnh của hoàng đế. Một số quý tộc tị nạn tụ tập tại Kiến Khang, trở thành những kẻ vô công rỗi nghề sống bám triều đình; những quý tộc khác chiếm giữ vùng lưu vực sông Dương Tử và gây dựng cơ nghiệp tại vùng đất mới có khí hậu nóng ẩm này. Họ xua đuổi người dân bản địa đi nơi khác, chặt phá rừng, tiêu nước các vùng đầm lầy, và ổn định cuộc sống cho những nông dân tị nạn để họ làm việc cho mình như những nông nô.

Xung đột thường xuyên diễn ra ở mọi giai tầng xã hội. Những quý tộc mới chạy trốn từ miền Bắc có hiềm khích với các gia tộc miền Nam định cư lâu năm; giới quý tộc thuộc mọi thành phần đấu tranh chống lại tầng lớp trung lưu quyền thế, người giàu có lẫn thành phần ưu tú trung lưu thì chèn ép người nông dân; người Trung Hoa thuộc mọi giai cấp đẩy người bản địa vào vùng rừng núi; và tất cả mọi người đều chống lại triều đình đang đối mặt với nhiều vấn đề tại Kiến Khang. Mặc dù viết ra những bài thơ đau buồn về vùng đất miền Bắc đã mất, các địa chủ ở miền Nam Trung Hoa vẫn không hề muốn nộp thuế hay phục tùng các thế lực mới để có thể giúp tái chiếm vùng đất đã bị mất. Sự ủy thác của Thiên Đế không còn nữa.

Cuộc cách mạng phi thường

Không giống với cuộc khủng hoảng ở thế kỷ XII TCN, cuộc khủng hoảng do Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới châm ngòi đã lan rộng khắp lục địa Á-Âu, và thành tố phương Tây của nó đã tạo cảm hứng cho tác phẩm được xem là kiệt tác đầu tiên của lịch sử hiện đại, cuốn Decline and Fall of the Roman Empire (Sự Suy tàn và Sụp đổ của Đế quốc La Mã) của Edward Gibbon. Gibbon tuyên bố rằng chủ đề của ông là một “cuộc cách mạng phi thường,”❖ một cuộc cách mạng “sẽ được nhớ đến mãi mãi, và nó vẫn còn [vào những năm 1770] được cảm nhận bởi các quốc gia trên trái đất.”❖ Ông đã đúng: chỉ trong quãng đời của ông, phát triển xã hội của phương Tây đã vươn đến những đỉnh cao chói lọi mà nó từng đạt được dưới thời Đế quốc La Mã.

Các hoàng đế La Mã và nhà Hán thời kỳ đầu cũng đối mặt những vấn đề tương tự, nhưng họ lại áp dụng những giải pháp khác nhau. Lo sợ nội chiến, những nhà cai trị Trung Hoa vô hiệu hóa quân đội, nhưng sau đó họ lại không đủ vũ khí để chống lại các chư hầu quyền lực; trái lại, những người cai trị La Mã nắm giữ quân đội, họ bổ nhiệm người thân vào các vị trí chỉ huy, còn binh lính là những người dân thường. Điều này khiến thường dân khó có thể bất tuân mệnh lệnh của hoàng đế, nhưng lại dễ dàng hơn đối với binh lính.

Quản lý hệ thống này cần phải có kỹ năng, và vì nhiều nhà cai trị La Mã có tâm thần bất ổn, nên tình trạng sụp đổ thường xuyên là điều không thể tránh khỏi. Những trò điên loạn của Caligula và việc phong con ngựa của mình làm quan chấp chính tối cao đã quá đủ tồi tệ, nhưng việc Nero có sở thích yêu cầu các thành viên ở viện nguyên lão đứng hát nơi công cộng và giết chết bất cứ ai làm phiền ông ta thì đúng là quá lắm. Vào năm 68, ba phái khác nhau trong quân đội tuyên bố các tướng chỉ huy của họ là hoàng đế và một cuộc nội chiến tàn bạo đã nổ ra để giải quyết các vấn đề. Sử gia Tacitus ghi lại: “Giờ đây, bí mật của đế chế đã được tiết lộ, các hoàng đế có thể được lập bên ngoài La Mã.”❖ Bất cứ nơi nào có binh lính, ở đó có thể có một vị hoàng đế mới.

Tuy nhiên, giải pháp La Mã lại bảo tồn được vùng biên giới (Hình 6.5). Tộc người German phía bên kia sông Rhine và Danube, giống như người Khương dọc theo biên giới phía tây Trung Hoa, cũng trải qua sự gia tăng dân số ở những thế kỷ đầu tiên. Họ giải quyết vấn nạn này bằng cách đánh nhau, giao thương với các thị trấn La Mã, và vượt sông để tiến vào đế chế. Để đối phó với những hoạt động này, việc tổ chức dân chúng thành những cộng đồng lớn hơn cùng với những vị hoàng đế mạnh mẽ hơn sẽ rất có ý nghĩa. Giống như nhà Hán, La Mã đối phó với các vùng biên giới ngày càng bất ổn bằng cách xây dựng các tường thành (nổi tiếng nhất là bức tường thành xây dựng dọc theo nước Anh dưới thời Hoàng đế Hadrian), giám sát thương mại và đánh trả.

Hình 6.5. Cuộc khủng hoảng của La Mã ở thế kỷ III. Các vùng có dấu chấm cho thấy nơi các cuộc đánh phá của người German, Goth, và Ba Tư diễn ra thường xuyên.

Vào năm 161, khi Marcus Aurelius Antoninus trở thành hoàng đế, La Mã xem ra vẫn còn hùng mạnh, và Marcus chuẩn bị theo đuổi niềm đam mê của mình – triết học. Nhưng thay vì thế, ông phải đương đầu với Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới. Trận dịch bệnh nghiêm trọng đầu tiên đã bùng phát trong các doanh trại quân đội tại vùng biên giới tây bắc Trung Hoa vào năm ông lên ngôi, và cùng năm đó cuộc xâm lược của người Parthia ở Syria buộc Marcus phải tập trung quân đội ở đó. Các doanh trại đông đúc đã tạo môi trường lý tưởng cho bệnh tật lây lan, và vào năm 165, một trận đại dịch (bệnh đậu mùa? bệnh sởi? các nguồn tư liệu vẫn luôn mơ hồ) hoành hành và tàn phá các doanh trại đó. Dịch bệnh lan đến La Mã vào năm 167, ngay khi các dòng người di chuyển xa hơn về phía bắc và đông thúc đẩy các liên bang mới và hùng mạnh của tộc người German vượt qua bên kia sông Danube. Marcus đã dành phần còn lại của cuộc đời mình – 13 năm – để chiến đấu với dịch bệnh.⦾

Không giống như Trung Hoa, La Mã giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh biên giới ở thế kỷ II. Nếu không, La Mã – giống như nhà Hán – có thể đã lâm vào khủng hoảng vào những năm 180. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, các chiến thắng của Marcus chỉ ảnh hưởng đến tốc độ của sự thay đổi, chứ không phải kết quả của nó, điều này cho thấy chỉ riêng quân đội không thể ngăn chặn sự sụp đổ. Số người chết vì dịch bệnh quá lớn đã đẩy nền kinh tế rơi vào hỗn loạn. Giá lương thực và tiền lương nông nghiệp tăng vọt, điều này khiến dịch bệnh trở thành một mối lợi cho những người nông dân còn sống sót, họ có thể bỏ các đồng ruộng kém năng suất và tập trung vào những vùng đất tốt nhất; nhưng khi nông nghiệp bị thu hẹp, nguồn thu thuế và tiền thuê giảm xuống, nền kinh tế lớn hơn lại lâm vào tình trạng rơi tự do. Số vụ đắm tàu ở Địa Trung Hải giảm mạnh sau năm 200, và ô nhiễm trong lõi băng, trầm tích hồ và đầm lầy diễn ra sau năm 250 (Hình 6.6). Lúc đó mọi người đều sống trong cảnh thiếu thốn. Xương gia súc, lợn và cừu trở nên nhỏ hơn và khan hiếm tại các khu dân cư sau năm 200 cho thấy mức sống đã giảm xuống, và vào những năm 220, người dân thành thị giàu có ít xây dựng các công trình lớn và văn bia hơn.

Hình 6.6. Suy tàn và sụp đổ: số vụ đắm tàu ở Địa Trung Hải và mức ô nhiễm chì ở đáy hồ tại Penido Velho, Tây Ban Nha trong thiên niên kỷ đầu tiên. Các đường dốc hướng xuống phản chiếu các đường dốc đi lên ở thiên niên kỷ thứ nhất TCN được minh họa trong Hình 6.2. Như trong Hình 6.2, số lượng các vụ đắm tàu và lượng chì đã trở lại bình thường, vì vậy chúng có thể được so sánh trên cùng thang đo dọc, Với khối lượng của mỗi loại vào năm 1 được tính là 100.

Năm mươi năm sau các chiến thắng của Marcus, La Mã cũng mất quyền kiểm soát các vùng biên giới của đế chế. Tương tự những chiến thắng trước người Hung Nô vào thế kỷ I TCN đã gây khó khăn cho nhà Hán trong việc kiểm soát các vùng biên giới của họ, một loạt thành công của La Mã làm suy yếu trầm trọng đất nước Parthia đến nỗi chế độ này phải sụp đổ trước cuộc nổi dậy của người Ba Tư vào những năm 220. Triều đại Sassanid mới xuất hiện xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh hơn rất nhiều, và vào năm 244 họ đánh bại một đạo quân La Mã và giết chết vị hoàng đế chỉ huy đạo quân này.

Việc vội vã triển khai quân đội và tiền bạc để chống đỡ mặt trận phía đông đang sụp đổ khiến La Mã không thể bảo vệ tốt các vùng biên giới dọc theo sông Danube và sông Rhine. Thay vì lén lút vượt qua biên giới theo từng tốp nhỏ để trộm cắp gia súc, lúc này các nhóm vũ trang lớn mạnh với hàng trăm hoặc hàng nghìn người đã chọc thủng các phòng tuyến bỏ trống để đốt phá, cướp bóc và bắt nô lệ. Người Goth, vừa mới di cư đến vùng Balkans từ bờ biển Baltic, đã tiến hành các hoạt động đánh phá mãi tận Hy Lạp, và vào năm 251 họ đánh bại và giết chết một hoàng đế La Mã khác. Vào thời kỳ đó, nhiều trận dịch bệnh bùng phát, có lẽ do những dòng người di cư mang đến. Sau cùng, khi La Mã tập hợp một đội quân khác để chống lại Ba Tư, vào năm 259, đế chế này lại rơi vào tình trạng tồi tệ hơn: Hoàng đế Valerian bị bắt và bị nhốt trong một chiếc cũi, ông phải sống trong đó suốt một năm, ăn mặc rách rưới như nô lệ và chịu đựng những nỗi đau đớn kinh khủng. Người La Mã khẳng định rằng sự kiên cường của Valerian đã gây ấn tượng với những kẻ bắt ông, nhưng dường như thực tế là người Ba Tư, giống như người Hung Nô khi bắt các hoàng đế Trung Hoa, cuối cùng cũng thấy nhàm chán. Họ lột da Valerian và treo bộ da của ông trên tường thành ở kinh đô của mình.

Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới và sự nổi lên của Đế quốc Sassanid (Tân Đế quốc Ba Tư) đã làm thay đổi vị thế của La Mã. Ngay tại thời điểm dân số đang suy giảm và nền kinh tế chao đảo, các hoàng đế lại cần nhiều tiền và quân đội hơn bao giờ hết. Ý tưởng đầu tiên của họ (không thông minh lắm), đó là trả lương cho các đội quân mới thành lập bằng đồng tiền đã bị giảm giá trị, điều này chỉ khiến cho đồng tiền càng mất giá và nền kinh tế sụp đổ nhanh hơn. Hốt hoảng trước những thất bại của chính quyền trung ương, quân đội tự đứng ra giải quyết vấn đề bằng việc dựng lên các hoàng đế mới với tốc độ khó lường. Trái ngược hẳn với các hoàng đế trước đây, những người này chẳng biểu lộ chút dấu hiệu thần thánh nào cả. Hầu hết chỉ là những chiến binh gan dạ, và một số lại là những tên lính trơn mù chữ. Ít người tồn tại được trên hai năm, và tất cả đều chết dưới lưỡi kiếm.

Vì các phe phái quân đội dành nhiều thời gian để đánh nhau hơn là bảo vệ các tỉnh thành nên những người có thế lực ở địa phương đi theo con đường giống như những người Trung Hoa đồng cấp với họ đã làm, nghĩa là biến nông dân thành người lệ thuộc và tổ chức họ lại thành các nhóm dân quân. Thành phố buôn bán Palmyra ở Syria đã cố gắng đẩy lùi quân Ba Tư, về lý thuyết là đại diện cho La Mã, nhưng nữ hoàng chiến binh Zenobia của thành phố (người trực tiếp chỉ huy quân đội của mình và thường xuyên mặc giáp khi tham dự các hội nghị của thành phố) sau đó chống lại La Mã, xâm chiếm Ai Cập và Anatolia. Ở đầu kia của đế chế, một thống đốc vùng sông Rhine tuyên bố một Vương quốc của người Gaul độc lập, chiếm giữ xứ Gaul (nước Pháp hiện đại), Anh quốc và Tây Ban Nha.

Khoảng năm 270, La Mã trông khá giống với Trung Hoa vào năm 220, nghĩa là chia thành ba vương quốc. Mặc dù xảy ra tình trạng hỗn loạn, nhưng tình hình của La Mã thực sự ít đáng sợ hơn. Bằng việc tiếp nhận Ba Tư và người German vào những năm 260, Palmyra và Gaul đã mua được một khoảng thời gian dưỡng sức cho đế chế, và các thành phố quanh Địa Trung Hải – xương sống tài chính của đế chế – vẫn khá an toàn. Chừng nào hàng hóa tiếp tục di chuyển bằng đường biển thì tiền vẫn tiếp tục chảy vào kho bạc của đế chế, đồng thời giới quân nhân mới và cứng đầu đang ngồi trên ngai vàng có thể phục hồi và tái thiết. Thay thế các bộ râu triết gia và mái tóc rũ dài của các hoàng đế trước đây bằng những chiếc cằm cạo nhẵn và mái tóc cắt ngắn, họ bắt đầu tăng thuế ở những khu vực đang kiểm soát, xây dựng lực lượng tấn công bên cạnh lực lượng kỵ binh mặc giáp, sau đó bất ngờ tấn công kẻ thù của họ. Họ tiêu diệt Palmyra vào năm 202, Gaul năm 274, và hầu hết các nhóm vũ trang người German vào năm 282. Đến năm 297, La Mã còn trả thù được phần nào cho Valerian bằng cách bắt giữ các phi tần trong hậu cung Ba Tư.

Hoàng đế Diocletian (trị vì từ năm 284 đến năm 305) tận dụng sự đảo ngược tình thế này để cải cách hành chính, tài chính và quốc phòng nhằm giúp đế chế có khả năng ứng phó với thế giới mới. Quân đội hầu như tăng gấp đôi về quy mô. Các khu vực biên giới không bao giờ hoàn toàn ổn định, nhưng giờ đây La Mã đã giành chiến thắng nhiều hơn thất bại, từng bước làm suy yếu và vô hiệu hóa các cuộc đột kích của người German bằng chiến lược phòng thủ dày đặc và làm tiêu hao quân Ba Tư trong các cuộc bao vây phong tỏa. Để điều hành mọi hoạt động này, Diocletian phân chia công việc của mình thành bốn phần, với một thống đốc và một phó thống đốc cai quản các tỉnh phía tây, và một thống đốc và phó thống đốc khác cai quản các tỉnh phía đông. Điều có thể dự đoán được là nhiều nhà cai trị trong một đế chế sẽ đấu đá nhau trong các cuộc nội chiến hai, ba hoặc bốn bên thường xuyên như họ chiến đấu với kẻ thù bên ngoài, nhưng so với cuộc nội chiến 27 phe trong Đế chế nhà Tấn ở Trung Hoa vào những năm 290 thì đây quả thực là một sự ổn định.

Một đế chế mới hình thành. Rome tự thân không còn là kinh đô nữa, vì quyền quyết định ở các tỉnh phía tây được chuyển đến các căn cứ tiền phương gần biên giới, và quyền quyết định ở các tỉnh phía đông được chuyển đến một thành phố mới rộng lớn ở Constantinople. Nhưng cuối cùng, không một cải cách nào có thể giải quyết được các vấn đề cơ bản của đế chế. Hội nhập kinh tế được xây dựng trải nhiều thế kỷ qua đã bị lung lay. Các tỉnh phía đông hồi sinh ở thế kỷ IV với hoạt động buôn bán ngũ cốc, rượu vang, và dầu ô-liu một lần nữa lan tỏa sự thịnh vượng ra khắp hệ thống, nhưng các tỉnh phía tây dần dần dạt ra khỏi vòng quay này. Các địa chủ lớn ở Tây Âu vẫn nắm chặt phần lớn quyền lực mà họ đã có được ở thế kỷ III bằng cách trói chặt những người nông dân của họ vào đất đai và che chắn họ khỏi bị đóng các khoản thuế nhà nước. Khi các điền trang ngày càng có xu hướng tự cung tự cấp, các thành phố xung quanh nó thu hẹp dần, các hoạt động thương mại và công nghiệp cũng giảm theo; và các vấn đề phức tạp nhất đã vượt quá khả năng giải quyết của hoàng đế. Nhiệt độ và lượng mưa tiếp tục giảm xuống bất chấp các nhà cai trị nói gì hay làm gì; dịch bệnh vẫn tiếp tục giết chết con người; và các dân tộc sống trên vùng thảo nguyên vẫn tiếp tục di chuyển.

Khoảng năm 350, một tộc người gọi là người Hung di chuyển về phía tây xuyên qua Kazakhstan, và họ đã xô đổ các quân cờ domino ra mọi hướng (Hình 6.7). Nhưng lý do tại sao họ lại gây nên nỗi kinh hoàng như thế vẫn đang còn tranh cãi. Các nhà văn cổ đại nguyền rủa sự khủng khiếp của họ, còn các học giả hiện đại thường đề cập đến những cây cung uy lực mà họ sử dụng. Một lần nữa, chúng ta chỉ có thể xem xét những hậu quả của chúng. Những người du mục chạy trốn người Hung phải tràn vào Ấn Độ và Iran hoặc rút lui về phía tây đến vùng đất ngày nay là Hungary. Điều này khiến cuộc sống của người Goth thêm khó khăn hơn. Họ vốn là những người đã định cư và canh tác ở vùng đất ngày nay là Romania sau khi tiến hành các cuộc đánh phá đế chế ở thế kỷ III. Sau những cuộc tranh luận nội bộ gay gắt, người Goth đề nghị La Mã cho trú ngụ bên trong đế chế.

Vấn đề này không có gì mới mẻ. La Mã đã phát triển một chính sách tương tự như người Hán sử dụng người man chống người man, bằng cách thường xuyên tiếp nhận người nhập cư, chia thành các nhóm nhỏ, sau đó tuyển mộ vào quân đội, bố trí nơi ở cho họ tại các điền trang hoặc bán họ như những người nô lệ. Điều này cùng lúc giảm áp lực cho các vùng biên giới, tăng quân số và cả dân số phải đóng thuế. Theo tự nhiên, những người nhập cư thường có những ý tưởng khác, họ thích định cư theo cộng đồng trong đế chế và tiếp tục sống như trước đây. Để ngăn chặn điều này, La Mã cần phải luôn có đủ lực lượng quân đội trong tay để trấn áp tinh thần những người nhập cư.

Sự xuất hiện người Goth tại lưu vực sông Danube vào mùa hè năm 376 là một tín hiệu khó khăn đối với Hoàng đế Valens, người cai trị các tỉnh thành phía đông từ Constantinople. Một mặt, quá nhiều người Goth sẽ gây lo lắng và nguy hiểm; mặt khác, lợi ích tiềm tàng từ việc chấp nhận thật nhiều người nhập cư là rất lớn, và việc ngăn chặn họ trong mọi trường hợp có thể là rất khó, đặc biệt khi quân đội thiện chiến nhất của Valens đang chiến đấu với quân Ba Tư ở xa. Ông quyết định chấp nhận người Goth, nhưng hầu như ngay sau khi họ băng qua sông, các viên tướng chỉ huy của ông trên bộ, vì quan tâm đến việc trục lợi hơn là phân tán người nhập cư, đã mất kiểm soát.

Hình 6.7. Sự trừng phạt của Chúa: sự xuất hiện người Hung và sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã, 376-476. Bản đồ cho thấy ba nhóm người xâm chiếm chính (người Hung: các đường liên tục, người Goth: các đường đứt đoạn; người Vandal: đường chấm) cùng với ngày tháng di chuyển chính của họ. Cũng có vô số cuộc di cư nhỏ hơn.

Rồi những người Goth đói khát nổi dậy, họ bắt đầu cướp phá vùng đất ngày nay là Bulgaria và yêu cầu một khu tự trị bên trong đế chế. Một cách cứng rắn, Valens từ chối thương lượng. Ông triệt thoái quân đội khỏi mặt trận Ba Tư và vội vã trở lại vùng Balkan – chỉ để đưa ra một quyết định tồi tệ khác, đó là tiến hành chiến tranh ngay thay vì chờ lực lượng của người đồng cấp ở phía tây đến trợ giúp.

Khoảng 15.000 quân La Mã (nhiều binh lính trong số này là người German nhập cư) chiến đấu với khoảng 20.000 quân người Goth tại Adrianople vào tháng 8 năm 378. Hai phần ba quân số La Mã, kể cả Valens, đã chết trong một cuộc tháo chạy tán loạn. Nếu vào thời của Augustus, việc tổn thất khoảng 10.000 quân hầu như ít được để ý và La Mã có lẽ sẽ huy động thêm nhiều quân đoàn và tiến hành các đợt báo thù kinh hoàng. Tuy nhiên, khoảng năm 378, đế chế bị dàn trải quá mỏng đến mức những người lính này không thể thay thế được. Người Goth ở bên trong đế chế và không thể kiểm soát được.

Tình hình bất ổn đặc biệt gia tăng. Người Goth không phải là những người du mục giống như Hung Nô, chỉ trộm cắp tài sản rồi sau đó rút về vùng thảo nguyên, cũng không phải là những người theo chủ nghĩa đế quốc như người Ba Tư, đến để thôn tính các vùng lãnh thổ. Người Goth muốn tạo lập một vùng đất riêng của họ bên trong đế chế. Nhưng vì không có vũ khí công thành để đánh chiếm các thành phố và không có chính quyền để điều hành chúng, nên họ cần sự hợp tác của La Mã; và khi điều này không xảy ra, họ bắt đầu hoành hành khắp bán đảo Balkan, đe dọa và ép buộc Constantinople phải ban cho họ một vương quốc riêng. Do không đủ quân đội để đánh đuổi họ, vị hoàng để cai trị Đông La Mã viện cớ đói nghèo, mua chuộc người Goth, và có những cuộc đụng độ nhỏ lẻ với họ, cho đến khi, vào năm 401, ông thuyết phục họ rằng họ sẽ được lợi hơn nếu di cư về phía tây, và thế là họ lại trở thành vấn đề của vị hoàng đế ngang vai vế với ông.

Tuy nhiên, tất cả chính sách ngoại giao thông minh này đã không còn ý nghĩa vào năm 405, khi người Hung tiếp tục hành trình tiến về hướng tây. Thêm nhiều quân cờ domino bị xô ngã và thêm nhiều bộ tộc German tạo áp lực lên các vùng biên giới của La Mã. Các quân đoàn La Mã, phần lớn là người German nhập cư và được chỉ huy bởi một vị tướng mang một nửa dòng máu German, đã làm họ suy yếu trong các cuộc tấn công đẫm máu, và các nhà ngoại giao còn làm cho vấn đề trở nên phức tạp hơn, và vào giao thừa năm 406, cuối cùng La Mã đã mất kiểm soát khi hàng nghìn người German tràn qua sông Rhine đang đóng băng. La Mã không còn quân đội để ngăn chặn họ. Những người nhập cư tỏa ra khắp nơi và lấy đi mọi thứ. Nhà thơ Sidonius, nằm trong nhóm người giàu nhất trong số những người giàu, mô tả những nỗi nhục mà ông phải chịu đựng khi một nhóm người tiến vào điền trang của ông ở xứ Gaul. Ông viết trong lá thư gửi người bạn sống ở Rome như sau: “Tại sao yêu cầu một bài ca ngợi Nữ Thần Venus khi tôi bị mắc kẹt giữa một đám người tóc dài hung tợn, buộc phải nghe ngôn ngữ người German, giữ cho khuôn mặt nhìn thẳng về phía trước trong lúc phải tán dương những bài hát từ một kẻ ở vùng Burgundi thô lỗ, mái tóc đẫm đầy mùi bơ đã ôi thiu?… Bạn không phải chịu đựng mùi hành tỏi hôi thối tích tụ từ 10 bữa ăn sáng ợ ra mỗi sáng sớm.”❖ Tuy nhiên, vẫn có nhiều người ganh tị với Sidonius. Một nhân chứng khác nói thẳng thừng: “Toàn xứ Gaul bị phủ đầy khói của một giàn hỏa thiêu.”❖

Quân đội ở Anh dấy loạn và tự đảm trách việc bảo vệ, và vào năm 407, phần còn lại của các đội quân ở vùng sông Rhine gia nhập vào lực lượng này. Cho đến thời điểm đó mọi thứ đang sụp đổ. Cố gắng khơi dậy sự chú ý của vị hoàng đế Tây La Mã giữa quá nhiều thảm họa, người Goth xâm chiếm Italy vào năm 408, và năm 410 họ tiến hành cướp phá ngay chính thành Rome. Cuối cùng, họ đạt được thỏa thuận vào năm 416, với việc hoàng đế đồng ý nếu người Goth giúp ông đánh đuổi người German và những kẻ tiếm quyền ra khỏi xứ Gaul và Tây Ban Nha, họ có thể chiếm giữ một phần lãnh thổ.

Các vùng biên giới của La Mã, giống như Trung Hoa, đã trở thành nơi các bộ tộc man di (tên gọi các bộ tộc bên ngoài đế chế) định cư và sau đó nhận lương của đế chế để bảo vệ đế chế chống lại các bộ lạc man di khác đang nỗ lực tiến vào. Đối với các hoàng đế, đó là tình huống các bên cùng thua. Khi người Goth gốc German (đang chiến đấu cho La Mã) đánh bại người Vandal gốc German (đang chống lại La Mã) ở Tây Ban Nha vào năm 429, thì người Vandal chạy đến Bắc Phi. Điều này có vẻ khó tin, nhưng vùng đất ngày nay là sa mạc Sahara của Tunisia lúc đó là vựa lúa mì của La Mã với 26km2 đồng ruộng được tưới tiêu và xuất khẩu nửa triệu tấn ngũ cốc sang Italy mỗi năm. Nếu không có nguồn thực phẩm này, thành phố Rome sẽ chết đói; nếu không có nguồn thuế từ ngũ cốc, La Mã không thể trả lương cho người German của họ để chiến đấu chống lại người German của kẻ thù.

Trong 10 năm tiếp theo, các tướng lĩnh và nhà ngoại giao La Mã xuất sắc (thường có dòng dõi German) cố gắng kiểm soát người Vandal và đảm bảo sự trung thành của xứ Gaul và Tây Ban Nha, nhưng vào năm 439, tất cả đều sụp đổ. Người Vandal tàn phá các vùng đất nông nghiệp nằm sâu trong lãnh thổ Carthage, và kịch bản về một tình huống xấu nhất của La Mã đột nhiên trở thành hiện thực.

Những người cai trị tại Constantinople thường rất vui mừng khi thấy các kẻ thù tiềm tàng của họ ở Rome đánh nhau, nhưng triển vọng các vùng đất phía tây của đế chế thực sự bị sụp đổ đã cảnh báo Hoàng để Theodosius II ở Đông La Mã đủ mạnh để ông ta huy động một lực lượng hùng hậu giúp giải phóng vùng đất mà ngày nay là Tunisia. Nhưng vào năm 441 khi quân đội của ông tập trung, một tai họa khác đã giáng xuống. Vị vua mới của người Hung là Attila – Sự trừng phạt của Chúa, như các tác giả La Mã gọi ông – lại xuất hiện tại vùng Balkans, ông ta không chỉ chỉ huy lực lượng kỵ binh thiện chiến mà còn sở hữu loại vũ khí công thành hiện đại. (Có thể những người tị nạn từ Constantinople đã trao cho ông công nghệ này; một sứ thần của Hoàng đế Theodosius mô tả cuộc gặp gỡ với một kẻ đào tị đến từ đó ở triều đình của Attila vào năm 449).

Khi các thành phố của ông sụp đổ dưới sức mạnh của những cỗ xe công thành của người Hung, Theodosius hủy bỏ việc tấn công người Vandal. Ông đã cứu được Constantinople – đúng – nhưng đó là những ngày đen tối của Rome. Thành phố vẫn có khoảng 800.000 cư dân vào thời điểm năm 400; nhưng đến năm 450, ¾ dân số đã bỏ đi. Nguồn thu thuế cạn kiệt, quân đội lụi tàn, và những điều tồi tệ hơn đã xảy ra, những kẻ tiếm quyền cố chiếm ngai vàng. Attila chọn thời điểm này để vắt kiệt vùng đất Balkans rồi quay về phía tây. Tướng chỉ huy các đội quân ở Đế quốc Tây La Mã mang nửa dòng máu người Goth cố thuyết phục người Goth rằng Attila cũng là kẻ thù của họ, và với việc chỉ huy một lực lượng hầu hết là người German, ông đã khiến cho Attila phải chịu thất bại duy nhất trong sự nghiệp của mình. Attila đã chết trước khi có thể trả thù. Bị vỡ mạch máu trong một tiệc rượu mừng đám cưới không biết lần thứ mấy của mình, người có biệt danh Sự trừng phạt của Chúa cuối cùng cũng đi gặp vị Chúa tạo ra mình.

Không còn Attila, đế chế Hung đã tan rã, các hoàng đế ở Constantinople được tự do đưa đế chế phương tây trở lại tình trạng như trước đây, nhưng mãi cho đến năm 467, mọi yêu cầu – tiền bạc, tàu thuyền, và một người hùng La Mã đáng được ủng hộ – mới trở nên sáng tỏ. Vét sạch kho bạc của mình, vị hoàng đế Đông La Mã phái Đô đốc Basiliskos cùng 1.000 chiến thuyền tái chiếm Bắc Phi để hàn gắn xương sống tài chính của các tỉnh phía tây.

Cuối cùng, Số phận của đế chế cũng trôi đi theo ngọn gió. Mùa hè năm 468, khi Basiliskos tiến gần đến Carthage, những cơn gió lẽ ra phải thổi về hướng tây dọc theo bờ biển Bắc Phi và đẩy các chiến thuyền của Basiliskos theo hướng đó. Nhưng vào giây phút cuối, gió chuyển hướng khiến hạm đội bị mắc kẹt tại bờ biển. Người Vandal đẩy những con thuyền đang bốc cháy vào các chiến thuyền La Mã đang bị dồn động, đây chính là chiến thuật mà người Anh áp dụng để chống lại Hạm đội Tây Ban Nha năm 1588. Những chiếc thuyền cổ, với dây thừng làm bằng bùi nhùi khô, sàn gỗ và những cánh buồm vải có thể biến thành biển lửa trong phút chốc. Bị chất chồng lên nhau, và hốt hoảng dùng những cây sào để đẩy những chiếc thuyền lửa ra xa, và vì không có chỗ để trốn thoát, quân La Mã rơi vào tình trạng hỗn loạn. Người Vandal chỉ việc đến tàn sát, và tất cả thế là kết thúc.

Trong Chương 5, tôi đã nói về thuyết anh hùng tạo lịch sử, cho rằng chính những thiên tài độc đáo như Tiglath-Pileser của Assyria, chứ không phải các thế lực siêu nhiên, như Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới, tạo nên sự kiện lịch sử. Mặt trái của đồng tiền anh hùng tạo lịch sử là thuyết kẻ ngốc phá hủy lịch sử: Chúng ta phải tự vấn điều gì sẽ xảy ra nếu Basiliskos nhanh trí xử lý để đoàn tàu không bị mắc kẹt ở bờ biển?⦾ Có thể ông ta sẽ tái chiếm Carthage, nhưng liệu điều đó có thể khôi phục lại trục tài chính Italy-Bắc Phi? Có thể người Vandal hiện diện tại châu Phi không quá 40 năm, và Đế quốc La Mã có khả năng tái thiết các cấu trúc kinh tế một cách nhanh chóng. Hoặc có thể không. Odoacer, vua của người Goth, nhân vật hùng mạnh nhất ở vùng Tây Âu, bắt đầu dòm ngó Italy. Năm 476, ông viết thư cho Zeno, hoàng đế tại Constantinople, nhận xét rằng thế giới không còn cần đến hai vị hoàng đế. Odoacer nói rằng vinh quang của Zeno là đủ cho tất cả mọi người, và ông đưa ra một đề xuất: ông sẽ cai trị Italy – tất nhiên với lòng trung thành – thay mặt cho Zeno. Dù Zeno hiểu rõ rằng thật ra Odoacer muốn tuyên bố xâm chiếm Italy, nhưng ông cũng thừa biết rằng việc tranh cãi về điều này không còn giá trị gì nữa.

Cuối cùng, thì sự kết thúc của La Mã đã đến, không phải với một tiếng nổ lớn mà là một âm thanh rên rỉ. Liệu Hoàng đế Zeno có được đặt ở một vị thế tốt hơn để bảo vệ Italy nếu Basiliskos tái chiếm Carthage so với hoàn cảnh thực tế của ông vào năm 476? Tôi hoài nghi điều đó. Tại thời điểm này, việc bảo vệ một đế chế trải rộng khắp Địa Trung Hải đã vượt quá khả năng của bất cứ ai, và những thủ đoạn, những cuộc vận động chính trị và giết chóc điên cuồng ở thế kỷ V ít có khả năng thay đổi được thực tế của sự suy thoái kinh tế, sụp đổ chính trị và tình trạng di cư. Thế giới cổ đại đã kết thúc.

Những thế giới nhỏ hơn

Vùng lõi phương Đông và phương Tây mỗi nơi được chia thành hai phần. Ở Trung Hoa, triều đại Đông Tấn cai trị phần phía nam của đế chế cũ, nhưng xem mình là những người kế vị toàn bộ vương quốc một cách hợp pháp. Tương tự, ở phương Tây Đế quốc Byzantine (được gọi như thế vì kinh đô của nó, Constantinople, được xây dựng trên nền thành phố Byzantium trước đây của Hy Lạp) cai trị phần phía đông của Đế quốc La Mã cũ nhưng vẫn tuyên bố sở hữu toàn đế quốc (Hình 6.8).

Các đế quốc Đông Tấn và Byzantine vẫn là những nhà nước cấp cao, với hệ thống hành chính, thuế khóa, và quân đội được trả lương. Mỗi đế quốc đều tự hào về những thành phố to lớn cũng như những học giả uyên bác của mình, và các điền trang ở vùng thung lũng sông Nile và sông Dương Tử trở nên giàu có hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, không đế chế nào có thể so sánh với Đế quốc La Mã và nhà Hán trong thời hoàng kim của nó. Các thế giới của họ bị thu hẹp khi miền Bắc Trung Hoa và Tây Âu trượt ra khỏi vùng lõi.

Dịch bệnh, di cư, và chiến tranh làm tan rã các mạng lưới của các nhà quản lý, thương gia, và tiền bạc, mà mỗi thành tố này đã kết dính các đế chế thành một tổng thể vững chắc. Các vua chúa mới của miền Bắc Trung Hoa ở thế kỷ IV và của Tây Âu ở thế kỷ V chắc chắn là những vị vua cấp thấp, họ chè chén say sưa cùng các chư hầu tóc dài tại các dinh thự mà họ chiếm được. Những vị vua này vui vẻ nhận các nguồn thu thuế từ những nông dân bị chinh phục, nhưng vì không có các lực lượng quân đội ăn lương, nên họ không thực sự cần nguồn thu này. Các vị vua trở nên giàu có; và họ cũng thật sự hùng mạnh; nhưng đồng thời việc cố gắng quản lý bộ máy hành chính và thu các khoản thuế định kỳ từ người dân bất tuân thường mang lại nhiều rắc rối hơn giá trị thực của nó.

Nhiều gia đình quý tộc cũ và giàu có ở miền Bắc Trung Hoa và Đế quốc Tây La Mã phải chạy nạn về Kiến Khang hay Constantinople cùng với tài sản của họ, nhưng ở lâu giữa những tàn dư của các đế chế cũ, có lẽ họ phải che mắt làm ngơ mọi điều xấu xa giống như Sidonius và thực hiện bất kỳ thỏa thuận nào mà họ có thể đạt được với các chủ nhân mới.

Hình 6.8. Phương Đông và phương Tây được phân chia: (a) nước Đông Tấn và các vương quốc chính của dân nhập cư ở Trung Hoa, vào khoảng năm 400; (b) Byzantium và các vương quốc chính của dân nhập cư ở châu Âu, vào khoảng năm 500.

Họ thay đổi những chiếc áo choàng lụa để mặc những chiếc quần len, từ bỏ thi ca cổ điển để chuyển sang săn bắt, và thích nghi với những thực tế mới.

Một số thực tế đó hóa ra lại khá tốt. Các nhà quý tộc siêu giàu thời trước có điền sản nằm rải rác khắp Đế chế nhà Hán hoặc La Mã đã biến mất, nhưng ngay cả khi điền sản của họ bị giới hạn trong một vương quốc duy nhất, thì một số điền chủ ở thế kỷ IV và thế kỷ V vẫn giàu có một cách đáng kinh ngạc. Các thành phần quý tộc La Mã và Trung Hoa kết hôn với những người xâm chiếm, và họ di chuyển từ những thành phố đổ nát đến các điền trang rộng lớn ở các vùng nông thôn.

Khi sự dịch chuyển theo hướng nhà nước cấp thấp gia tăng ở thế kỷ IV tại miền Bắc Trung Hoa và thế kỷ V tại Tây Âu, các vua chúa đã cho phép giới quý tộc giữ lại những khoản thặng dư dưới dạng tiền thuê mà trước đây nông dân nộp cho viên chức thu thuế. Nếu như thế thì các khoản thặng dư này có khả năng tăng lên khi dân số giảm xuống và người nông dân có thể tập trung nỗ lực vào những vùng đất màu mỡ nhất. Người nông dân mất đi một số kỹ năng mà họ đã học được qua nhiều thế kỷ nhưng lại bổ sung những kỹ năng mới. Các kỹ thuật tiêu nước ở châu thổ sông Dương Tử và hệ thống thủy lợi tại vùng thung lũng sông Nile được cải thiện sau năm 300; những chiếc cày do bò kéo đã được nhân rộng khắp miền Bắc Trung Hoa; và công việc làm luống gieo hạt, chiếc cày lưỡi diệp và cối xay nước được phổ biến khắp Tây Âu.

Thế nhưng, bất chấp mọi sự phô trương của tầng lớp quý tộc và sự khéo léo của người nông dân, việc các tầng lớp quý tộc, thương nhân và người quản lý vốn từng phát triển mạnh mẽ dưới triều đại Hán và Đế quốc La Mã liên tục giảm dần cho thấy các nền kinh tế lớn hơn tiếp tục thu hẹp ở cả hai đầu lục địa Á-Âu. Những đối tượng này thường dễ bị mua chuộc và không đủ năng lực, nhưng họ thực sự đã thực hiện một dịch vụ: với việc di chuyển hàng hóa đi khắp nơi, họ đã tận dụng lợi thế của các khu vực khác nhau, và khi không còn những người trung gian này, các nền kinh tế càng trở nên địa phương hóa và hướng tới tự cung tự cấp.

Các tuyến đường thương mại bị giảm xuống và các thành phố bị thu nhỏ. Du khách ở miền Nam bị sốc bởi sự suy sụp của các thành phố ở miền Bắc Trung Hoa, và tại một số khu vực của Đế quốc La Mã cổ đại, sự suy tàn cũng diễn ra nhanh chóng và đột ngột đến mức các nhà thơ tự hỏi liệu những tàn tích đá to lớn đổ nát xung quanh họ có phải do con người xây dựng hay chăng. Một bài thơ tiếng Anh được viết khoảng năm 700 diễn tả: “Những chiếc xà ngang gãy đổ, những ngọn tháp đang lung lay, công trình của những người khổng lồ, sương giá [nấm mốc] ăn mòn các tháp cổng, sương giá trên vôi vữa; những tấm che buồng tắm vỡ nát, những mái nhà sụp đổ. Chúng đang bị thời gian gặm nhấm.”❖

Ở thế kỷ I, Hoàng đế Augustus khoe rằng ông đã biến La Mã từ một thành phố bằng gạch đá thành một thành phố bằng cẩm thạch, nhưng vào thế kỷ V, châu Âu lại biến thành một thế giới bằng cây rừng, với những lán trại sơ sài được dựng lên vội vàng ngoài trời giữa đống đổ nát của những ngôi nhà La Mã cũ xưa. Ngày nay chúng ta biết khá nhiều về những ngôi nhà xập xệ này, nhưng khi tôi bắt đầu công việc khai quật ở Anh quốc vào những năm 1970, các nhà khai quật vẫn đang vất vả tìm cách phát triển các kỹ thuật khai quật cẩn thận để phục hồi bất kỳ dấu vết nào của chúng.

Trong một thế giới đơn giản hơn này, tiền tệ, công việc tính toán và chữ viết đã không còn hữu dụng. Do không còn ai khai thác mỏ để cung cấp đồng cho các xưởng đúc tiền, ban đầu các vua chúa ở miền Bắc Trung Hoa thử giảm hàm lượng kim loại của đồng tiền (đến mức, mà một số người cho rằng, đồng tiền nhẹ đến nỗi có thể nổi trên mặt nước)❖ và sau đó ngừng hẳn việc phát hành đồng tiền kim loại. Công việc tính toán và thống kê bị thu hẹp và các thư phòng bị mục nát. Đó là một tiến trình bất bình thường và kéo dài qua nhiều thế kỷ, nhưng khắp hầu hết miền Bắc Trung Hoa và Tây Âu, dân số giảm xuống, cúc dại và rừng rậm xâm lấn ruộng đồng, và cuộc sống trở nên ngắn ngủi và khốn khổ hơn.

Nhẫn nhục và cam chịu

Điều này có thể đã diễn ra như thế nào? Với hầu hết người phương Đông và phương Tây, câu trả lời là rất rõ ràng: những phương thức cũ và các vị thần cũ xưa đã thất bại.

Ở Trung Hoa, ngay sau khi các vùng biên giới bị sụp đổ, những người chỉ trích đã cáo buộc nhà Hán không còn nhận được sự ủy thác của Thiên Đế, các giáo phái chữa bệnh tin vào sự thay đổi xã hội toàn diện đã làm chấn động vùng đất này, và những bộ óc sáng tạo nhất trong giới quý tộc có học vấn bắt đầu hồ nghi những khẳng định của Nho giáo. Trúc lâm thất hiền, một nhóm các nhà tư tưởng tự do ở thế kỷ III, đã trở thành những biểu tượng của một cảm xúc mới mẻ, được kể là đã dành trọn thời gian của mình để đàm luận, ngâm vịnh, đàn ca, uống rượu thay vì tập trung nghiên cứu học thuật và phục vụ nhà nước. Có một câu chuyện kể rằng, hiền nhân Nguyễn Tịch, bị bắt gặp trong một trường hợp vi phạm lễ nghi đáng hổ thẹn (đi dạo với chị dâu của mình mà không có người khác đi kèm), chỉ cười lớn: “Chắc hẳn các vị không có ý áp dụng lễ cho ta đấy chứ?” Ông triển khai chủ đề của mình:

Bạn đã bao giờ nhìn thấy lũ rận sống trong hai ống quần? Chúng nhảy vào đường nối giữa hai mảnh vải, giấu mình trong lớp vải đệm, và tin rằng chúng có một nơi dễ chịu để ở. Khi đi, chúng không dám vượt quá mép đường may; khi di chuyển, chúng cẩn thận để không lộ diện dưới chân ống quần; và chúng nghĩ rằng chúng đã tuân theo các quy tắc của lễ nghi. Nhưng khi chiếc quần được ủi, những ngọn lửa lan tỏa ra các khu vực… và lũ rận sống trong hai ống quần không thể trốn thoát.

Vậy sự khác biệt giữa một quý tộc sống trong một thế giới chật hẹp và con rận sống trong ống quần là gì?

Ngày nay, thế hệ mới cho rằng sự trang nghiêm phẩm hạnh của các nhà thơ cung đình nhà Hán thời đó trông có vẻ lố bịch khi lui về điền dã, làm thơ trữ tình tả cảnh điền viên, hoặc thậm chí trở thành ẩn sĩ. Những người theo chủ nghĩa duy mỹ quá bận rộn không thể quy ẩn các vùng núi xa có thể đóng vai những ẩn sĩ trong các khu vườn tại điền trang của họ, hoặc – như Vương Đạo, tể tướng triều đình ở Kiến Khang khoảng năm 300 – thuê người làm ẩn sĩ thay mặt họ. Các họa sĩ bắt đầu tôn vinh cảnh núi non hoang dã, và ở thế kỷ IV, họa sĩ Cố Khải Chi (Gu Kaizhi) đã nâng tranh phong cảnh lên vị trí của một loại hình nghệ thuật chính. Trúc Lâm thất hiền và các học giả khác thì đề cao hình thức hơn nội dung bằng cách tập trung nghiên cứu kỹ thuật vẽ và viết chữ hơn là thông điệp đạo đức mà họ muốn chuyển tải.

Sự nổi loạn chống lại truyền thống ở thế kỷ III này là tương đối tiêu cực, nó nhạo báng và phủ nhận lệ tục nhưng lại không đưa ra được những thay thế tích cực, nhưng về cuối thế kỷ thì điều này đã thay đổi. Tám trăm năm trước đó, khi Nho giáo và Đạo giáo chỉ mới xuất hiện tại Trung Hoa, thì Phật giáo đã lan tỏa khắp vùng Nam Á. Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới đã hướng sự chú ý của Trung Hoa đến Phật giáo, có lẽ khi các thương nhân Đông Á và Nam Á gặp nhau tại các ốc đảo vùng Trung Á, và Phật giáo được nhắc đến lần đầu tiên trong một thư tịch Trung Hoa vào năm 65. Một số học giả theo chủ nghĩa thế giới đã chấp nhận Phật giáo, nhưng suốt một thời gian dài, nó vẫn chỉ là một trong nhiều tư tưởng triết học ngoại lai du nhập vào Trung Hoa từ vùng thảo nguyên.

Nhưng vào cuối thế kỷ III, điều đó đã thay đổi, phần lớn nhờ vị tu sĩ kiêm dịch giả người Trung Á tên là Dharmaraksa (Trúc Pháp Hộ). Do thường xuyên đi lại giữa Trường An và ốc đảo Đôn Hoàng (Dunhuang), ông đã thu hút các học giả Trung Hoa bằng các bản dịch mới của kinh sách Phật giáo, diễn giải quan niệm của Ấn Độ theo ý nghĩa ngôn ngữ Trung Hoa. Giống như hầu hết các nhà hiền triết thời kỳ tư tưởng Trục, Đức Phật không viết bất cứ thứ gì, điều này đã để lại một không gian vô tận cho sự tranh luận về thông điệp của Đức Phật. Những hình thái sơ khai của Phật giáo nhấn mạnh thiền định có kỷ luật và sự tỉnh thức, nhưng diễn giải mà Dharmaraksa đưa ra, còn gọi là Phật giáo Đại thừa, làm cho sự giải thoát ít đòi hỏi nỗ lực hơn. Dharmaraksa giới thiệu hình ảnh Đức Phật không phải là một con người tìm kiếm tâm linh mà là một hiện thân của một nguyên tắc vĩnh hằng về sự giác ngộ. Dharmaraksa nhấn mạnh, Đức Phật nguyên thủy chỉ là vị Phật đầu tiên trong một chuỗi các vị Phật trên thế giới này và các thế giới khác. Và xung quanh những vị Phật này là vô số các nhân vật khác ở thượng giới, đặc biệt là các vị Bồ Tát, là những con người đang trên con đường tiến đến giác ngộ nhưng chưa nhập Niết bàn để cứu độ và giúp đỡ chúng sinh hoàn thiện bản thân và thoát khỏi vòng luân hồi và khổ đau.

Phật giáo Đại thừa có thể trở nên cực đoan. Hầu hết các tông phái Phật giáo đều tin rằng Đức Phật Di Lặc (Vị Phật Tương lai) một ngày nào đó sẽ dẫn dắt chúng sinh đi đến giải thoát, nhưng khởi đầu vào năm 401, một nhóm tín đồ Trung Hoa cuồng tín tự nhận mình là những vị Phật rồi hợp sức với những tên cướp, với những người nông dân nổi loạn, và/hoặc với những quan lại bất mãn, họ đã tiến hành các cuộc nổi loạn nhằm đem lại sự giải thoát cho tất cả mọi người ngay tức thì. Tất cả đều kết thúc với cảnh máu chảy đầu rơi.

Tuy nhiên, đóng góp quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa là việc đơn giản hóa những yêu cầu nặng nề của Phật giáo truyền thống và mở rộng sự giải thoát đến tất cả mọi người. Ở thế kỷ VI, tất cả những gì mà Giáo lý Niết bàn-Con người yêu cầu là các tín đồ đi vòng quanh các tượng Phật và Bồ Tát, thờ cúng các xá lợi (đặc biệt là những chiếc răng, xương và bình bát khất thực được cho là của Đức Phật), tụng kinh, hành động từ bi, lòng vị tha và tuân theo Ngũ giới (không được: sát sinh, trộm cắp, ngoại tình, uống rượu, hoặc nói dối). Những người truyền dạy giáo lý thừa nhận rằng điều này không hẳn dẫn đến Niết bàn, nhưng nó có thể mang lại sức khỏe, sự thịnh vượng và đầu thai ở cõi cao hơn. Tịnh Độ Tông đi xa hơn khi tuyên bố rằng khi những tín đồ qua đời, Bồ Tát Quán Thế Âm, hiệp lực với Đức Phật A Di Đà, sẽ chấm dứt vòng luân hồi và tiếp dẫn họ trở về Tây Phương Cực Lạc, nơi họ có thể hướng đến cõi Niết bàn và tránh xa những tục lụy của thế giới này.

Những người Ấn Độ tìm kiếm Niết bàn thường đi khất thực trên đường. Những người mộ đạo lang thang (tương phản với các ẩn sĩ và thi sĩ giàu có) rất xa lạ với truyền thống Trung Hoa, và không được mọi người ưa chuộng, nhưng một đường lối Ấn Độ thứ hai hướng tới sự giác ngộ – tu tập ở tự viện – lại được mọi người đón nhận. Khoảng năm 365, Đạo An (Daoan) – một tu sĩ Phật giáo người Trung Hoa từng được giáo dục theo Khổng giáo, chứ không phải một di dân Trung Á– đã soạn ra một bộ giới luật tu tập để phù hợp với xã hội Trung Hoa. Các nhà sư phải cạo đầu, và các tăng ni đều phát nguyện giữ trinh bạch, tuân thủ giới luật, kiếm sống bằng lao động trong lúc theo đuổi sự giải thoát thông qua cầu nguyện, thiền định, và tu học. Đường lối tu tập ở tự viện có thể cũng cực đoan như phái Phật giáo tin vào sự chuyển hóa xã hội: nhiều tăng ni tự gây tổn thương cho mình bắt chước theo – ở quy mô nhỏ – đức vô ngã của các vị Bồ Tát, và thậm chí một số nhà sư còn tự thiêu, đôi khi trước hàng nghìn người, để giải thoát người khác khỏi vòng tội lỗi. Tuy nhiên, sự đóng góp to lớn của Đạo An là đưa lối sống tu hành ở tự viện thành một thể chế tôn giáo có thể phần nào giúp khỏa lấp khoảng trống tổ chức ở Trung Hoa do sự sụp đổ các thể chế nhà nước vào thế kỷ IV. Tu viện và nhà tu kín cũng xây dựng cối xay nước, gây quỹ, và thậm chí có tổ chức phòng vệ. Là những trung tâm tín ngưỡng, các tu viện này trở thành những ốc đảo của sự bình ổn và thậm chí là những khu vực tách biệt giàu có vì những người mộ đạo lo cho họ đất đai và tá điền, và những người nông dân bị tước đoạt đất đai tìm đến sự che chở của họ. Hàng nghìn tu viện xuất hiện ở thế kỷ V; một viên quan đã viết vào năm 509: “Ngày nay, không nơi nào là không có tu viện.”❖

Việc Phật giáo chinh phục Trung Hoa là điều đáng chú ý. Vào năm 65, ở Trung Hoa có thể chỉ có khoảng vài trăm Phật tử; nhưng đến thế kỷ VI, hầu hế người Trung Hoa – khoảng 30 triệu người – là những tín đồ Phật giáo. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên ở đây là, ở đầu kia của lục địa Á-Âu, một tôn giáo mới, Ki-tô giáo, cũng đang phát triển, thậm chí còn nhanh hơn.

Các truyền thống cổ điển ở phương Tây cũng không sụp đổ sớm như ở phương Đông. Có lẽ vì các vùng biên giới của La Mã duy trì lâu hơn, và mặc dù các giáo phái chữa bệnh ở phương Tây đã xuất hiện sau những trận đại dịch ở những năm 160, người dân vẫn không chuộng các hình thức cách mạng bạo lực phổ biến như ở các phiên bản Trung Hoa. Tuy nhiên, sự hỗn loạn ở thế kỷ III cũng làm đảo lộn những lề thói cũ ở phương Tây. Những pho tượng được điêu khắc khắp đế chế là chứng nhân câm lặng cho một phương thức mới với sự từ bỏ các chuẩn mực trang nghiêm của nghệ thuật cổ điển để cổ xúy cho các khuôn mẫu có tỉ lệ kỳ lạ với những đôi mắt mở to hướng lên trời, như thể đang hướng đến một nơi tốt đẹp hơn. Các tôn giáo mới từ các vùng biên ở phía đông đế chế – như Isis từ Ai Cập, Mặt trời bất khả chiến bại (Sol Invictus) từ Syria, Mithras (mà tín đồ của nó đầm mình trong máu bò ở các căn phòng dưới lòng đất) có lẽ từ Iran và Ki-tô giáo từ Palestine – hứa hẹn cho con người cuộc sống vĩnh hằng. Và con người thì cầu xin sự giải thoát khỏi thế giới hỗn loạn này chứ không đòi hỏi việc giải thích hợp lý.

Một số triết gia phản ứng lại sự khủng hoảng các giá trị bằng cách cố gắng chứng minh rằng nền học thuật của những thế kỷ vừa qua vẫn còn phù hợp. Vào thời của mình, các học giả như Porphyry và Plotinus (người thứ hai có lẽ là nhà tư tưởng phương Tay lớn nhất kể từ thời Aristotle), những nhân vật đã diễn giải lại truyền thống triết học Plato cho phù hợp với thời kỳ hiện đại, là những tên tuổi lớn nhất ở phương Tây; nhưng ngày càng có nhiều nhà tư tưởng đi tìm kiếm những câu trả lời hoàn toàn mới.

Ki-tô giáo mang đến điều gì đó cho tất cả mọi người trong thời kỳ hỗn loạn này. Giống như Phật giáo Đại thừa, Ki-tô giáo là một khúc quanh mới trên một ý tưởng cũ của Thời Trục, nó đưa ra một phiên bản của tư tưởng Trục phù hợp với nhu cầu của thời đại. Ki-tô giáo tiếp nhận các kinh sách của Do Thái giáo và tuyên bố rằng người sáng lập Ki-tô giáo, Chúa Jesus, là Đấng Messiah, nhân vật đã được tiên đoán trong các kinh sách đó. Chúng ta có thể gọi Phật giáo Đại thừa và Ki-tô giáo là các tôn giáo hướng Trục thuộc làn sóng thứ hai. Hai tôn giáo này mang đến các hình thức giải thoát mới cho nhiều người hơn những tôn giáo thuộc làn sóng thứ nhất trước đó và làm cho con đường đi đến giải thoát trở nên dễ dàng hơn. Một điều không kém quan trọng là cả hai tôn giáo mới đều phổ cập toàn thế giới. Chúa Jesus lẫn Đức Phật đều không phải là những kẻ được chọn; họ đến để cứu rỗi con người.

Chúa Jesus, giống như Đức Phật, không viết một kinh sách nào, và ngay từ những năm 50, sứ đồ Paul (người chưa bao giờ gặp Chúa Jesus) đã phải vất vả thuyết phục các tín đồ Ki-tô giáo đồng ý về một số điểm cốt lõi của Ki-tô giáo. Hầu hết các tín đồ chấp nhận rằng họ phải được làm lễ rửa tội, cầu nguyện Chúa, từ chối các vị thần khác, dùng bữa cùng nhau vào ngày Chúa Nhật, và làm những việc tốt, nhưng ngoài những nền tảng căn bản này, hầu như mọi thứ khác đều có thể. Một số người cho rằng Thiên Chúa trong Kinh Thánh Hebrew là nhân vật cuối cùng (và thấp nhất) trong một loạt các vị thần trước đó. Những người khác thì nghĩ rằng thế giới là xấu xa và Đấng Sáng tạo cũng phải xấu xa. Hoặc có thể có hai Thiên Chúa, một Thiên Chúa Do Thái ác tâm và một Đức Chúa Cha thiện tâm của Chúa Jesus (nhưng bất khả tri). Hoặc có hai Chúa Jesus, một vị Chúa Linh hồn, không bị đóng đinh trên cây thập giá và một vị Chúa Thân xác, người đã chết trên cây thập giá. Một số người còn cho rằng có thể Chúa Jesus là nữ, và nữ giới có thể bình đẳng với nam giới. Có thể những mặc khải mới thay thế những mặc khải trước đây. Có thể sự trở lại lần thứ hai của Chúa Jesus sắp xảy ra, trong trường hợp này, các Ki-tô hữu không nên quan hệ tình dục; cũng có thể sự sắp xảy ra đó có nghĩa là các Ki-tô hữu nên thực hành yêu đương tự do; hoặc có thể chỉ những người tuẫn đạo bằng những cách khủng khiếp mới được lên thiên đường, trong trường hợp này, thì tình dục là không thích hợp.

Nhiều người tin rằng Đức Phật là người rất thực tế về tính siêu việt, vì ngài khuyên mọi người sử dụng bất kỳ ý tưởng nào của ngài mang lại lợi ích và bỏ qua những ý tưởng còn lại. Có nhiều con đường để dẫn tới Niết bàn. Tuy nhiên, đối với Ki-tô hữu, việc bước vào thiên đường phụ thuộc vào sự hiểu biết Đức Chúa Trời và Chúa Jesus là ai và làm theo những gì họ muốn, vì vậy, sự lộn xộn trong cách diễn giải khiến các tín đồ mải mê đưa ra lời giải thích và định nghĩa cho riêng mình. Vào cuối thế kỷ II, hầu hết mọi người đều đồng ý rằng cần phải có các giám mục, được cho là những hậu duệ của các sứ đồ đầu tiên có quyền phán xét ý nghĩa về Chúa Jesus. Những tu sĩ thuyết giáo có ý tưởng lệch lạc thì bị nguyền rủa và quên lãng, Kinh Tân Ước kết tinh, và cánh cửa Khải huyền đã đóng lại. Không ai có thể sửa đổi Kinh Thánh và không ai có thể nghe được từ Đức Thánh Linh trừ khi các giám mục xác nhận; và không ai buộc phải từ bỏ đời sống tình dục hôn nhân hay tử vì đạo, trừ phi họ muốn.

Vẫn còn rất nhiều điểm tranh cãi, nhưng đến khoảng năm 200, Ki-tô giáo đã trở hành một đức tin có kỷ luật với các quy tắc (khá) rõ ràng về sự cứu rỗi. Giống như Phật giáo Đại thừa, Ki-tô giáo đủ đặc biệt để thu hút sự chú ý, đem đến những con đường thiết thực dẫn đến sự cứu rỗi trong những thời kỳ hỗn loạn, nhưng vẫn đủ gần gũi để mọi người có thể hiểu được. Thậm chí các học giả Hy Lạp cho rằng, xét cho cùng thì Ki-tô giáo hướng Trục thuộc làn sóng thứ hai cũng không quá khác biệt với triết lý hướng Trục làn sóng thứ nhất: Plato (một số người gọi ông là tiên tri Moses của thành Athens) đã suy luận con đường đi đến chân lý theo cách riêng của mình, còn các Ki-tô hữu có được chân lý từ mặc khải, nhưng tất cả đều cùng chung một chân lý.

Khi các thể chế nhà nước cấp cao bắt đầu sụp đổ, các giám mục được đặt ở vị trí thuận lợi để bước vào khoảng trống quyền lực, họ huy động tín đồ xây dựng lại tường thành của thị trấn, sửa sang đường sá, và đàm phán với những kẻ xâm lược người German. Tại các vùng quê, những tín đồ nhiệt thành, trước đây chối bỏ thế giới một cách mạnh mẽ như bất kỳ Phật tử nào, nay lại trở thành những người lãnh đạo địa phương. Một nhà tu khổ hạnh được cả đế chế biết đến khi ông sống trong một ngôi mộ tại sa mạc Ai Cập, ăn chay, chiến đấu với quỷ Satan, và lúc nào cũng mặc chiếc áo lông thú. Người ủng hộ ông mạnh mẽ nhất nhấn mạnh: “Ông ta không bao giờ tắm bằng nước để làm sạch cơ thể, và cũng không bao giờ rửa chân.”❖ Một tu sĩ khác ngồi trên một chiếc cột cao 15m suốt 40 năm ở Syria, trong khi những người khước từ thế gian khác thì mặc da thú và chỉ ăn cỏ, sống (nói một cách vắn tắt) như những kẻ mộ đạo xuẩn ngốc.

Tất cả những cách làm này khiến giới quý tộc La Mã khó tính xem họ như những con người kỳ dị, và ngay cả các Ki-tô hữu cũng lo lắng về những con người rồ dại này vì họ truyền cảm hứng cho các tín đồ cuồng tín và không nghe lời bất cứ ai ngoại trừ Đức Chúa Trời. Năm 320, một tu sĩ người Ai Cập tên Pachomius đã tìm ra giải pháp, đó là đưa các ẩn sĩ địa phương vào tu viện Ki-tô giáo đầu tiên, ở đó họ theo đuổi sự cứu rỗi thông qua lao động và cầu nguyện với kỷ luật khắt khe. Tu sĩ Pachomius và nhà sư Đạo An của Trung Hoa chắc chắn không biết gì về nhau, nhưng các tu viện của họ giống nhau một cách kỳ lạ và tạo ra những hệ quả xã hội tương tự. Ở thế kỷ V, các tu viện và nhà tu kín Ki-tô giáo thường là nơi neo giữ nền kinh tế địa phương khi các cấu trúc lớn hơn bị phá vỡ, là những trung tâm tu học khi nền học thuật cổ điển suy tàn, và cung cấp các lực lượng dân quân tu sĩ để gìn giữ hòa bình.

Ki-tô giáo lan truyền thậm chí còn nhanh hơn cả Phật giáo. Khi Chúa Jesus qua đời, khoảng năm 32, ngài chỉ có vài trăm tín đồ, nhưng đến khoảng năm 391, khi Hoàng đế Theodosius tuyên bố Ki-tô giáo là tôn giáo hợp pháp duy nhất, hơn 30 triệu người La Mã đã cải đạo, tuy nhiên, cải đạo là một từ có ý nghĩa không chặt chẽ lắm. Trong lúc một số người có học vấn cao bị nỗi hoài nghi dày vò đang cố gắng giải quyết những hàm ý tín ngưỡng bằng lý luận với sự tập trung cao độ trước khi chấp nhận đức tin mới, thì xung quanh họ, các đám đông lên đến hàng nghìn người mạnh khỏe có thể dễ dàng bị những người làm nên kỳ tích của Ki-tô giáo và Phật giáo lôi kéo chỉ trong một buổi chiều. Do đó, mọi thống kê đều không chính xác, chúng ta đang làm nghệ thuật điêu khắc cưa xẻ một lần nữa. Đơn giản là chúng ta không biết, và có lẽ không bao giờ biết chính xác khi nào và ở đâu tốc độ cải đạo gia tăng, đồng thời khi nào và ở đâu tốc độ cải đạo giảm xuống, nhưng vì chúng ta biết rằng cả Ki-tô giáo và Phật giáo đều bắt đầu với vài trăm tín đồ và cuối cùng dẫn đến hơn 30 triệu tín đồ, Hình 6.9 cho thấy tốc độ phát triển trung bình của mỗi tôn giáo qua các thế kỷ này, được truyền bá thuận lợi rộng khắp Trung Hoa và Đế quốc La Mã. Bình quân, tín đồ Phật giáo Trung Hoa tăng trưởng 2,3% mỗi năm, có nghĩa là cứ mỗi 30 năm, số tín đồ của nó tăng lên gấp đôi, nhưng Ki-tô giáo tăng đến 3,4%, nghĩa là cứ mỗi 20 năm thì số tín đồ lại tăng lên gấp đôi.

Các đường đồ thị trong Hình 6.9 đi lên, trong khi các đường đồ thị biểu thị sự phát triển xã hội ở Hình 6.1 đều đi xuống. Câu hỏi hiển nhiên – liệu có một mối liên kết nào không? – đã tự nó gợi đến Edward Gibbon ở năm 1781. Ông nhận xét: “Chúng ta có thể nghe được mà không có bất kỳ sự ngạc nhiên hay xấu hổ nào rằng sự ra đời của… Ki-tô giáo, đã ít nhiều ảnh hưởng đến sự suy tàn và sụp đổ của Đế quốc La Mã.” – nhưng đó không phải là thứ ảnh hưởng, Gibbon tiếp tục, mà chính các Ki-tô hữu muốn tin. Ông cho rằng nói chính xác thì Ki-tô giáo đã làm yếu dần sức mạnh của đế chế:

Giới giáo sĩ đã thuyết giảng thành công các giáo lý về sự nhẫn nại và cam chịu; các đức tính tích cực của xã hội không được khuyến khích; và những phần còn lại của tinh thần quân đội đã bị chôn vùi trong các tu viện: phần lớn tài sản của nhà nước và tư nhân được hiến tặng cho những nhu cầu sai lệch của lòng bác ái và sự sùng kính; và tiền lương của người lính bị chi tiêu hoang phí cho quá nhiều người vô tích sự thuộc cả hai giới tính, những người chỉ có thể vin vào các giá trị của sự kiêng nhịn và trinh bạch.

Hình 6.9 Thống kê tín đồ: Sự phát triển của Ki-tô giáo và Phật giáo Trung Hoa, giả định rằng các tỉ lệ thay đổi bất biến. Tỉ lệ dọc tính theo logarít, như trong Hình 3.6 và Hình 3.7, do đó tỉ lệ tăng trưởng trung bình bất biến (3,4% mỗi năm đối với Ki-tô giáo, 2,3% đối với Phật giáo) tạo ra các đường thẳng.

Nhẫn nhục và cam chịu là những đức tính của tín đồ Phật giáo cũng như tín đồ Ki-tô giáo; vì vậy, liệu chúng ta có thể mở rộng lập luận của Gibbon và kết luận rằng những ý kiến – tôn giáo chiến thắng chính trị, mặc khải chiến thắng lý luận – đã kết thúc thế giới cổ đại, đẩy phát triển xã hội đi xuống qua từng thế kỷ và cũng thu hẹp khoảng cách giữa phương Đông và phương Tây?

Câu hỏi không thể bị xem nhẹ, nhưng tôi nghĩ câu trả lời là không. Giống như tư tưởng Trục thuộc làn sóng thứ nhất, các tôn giáo hướng Trục làn sóng thứ hai là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân của những thay đổi trong sự phát triển xã hội. Do Thái giáo, triết học Hy Lạp, Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, và Kỳ Na giáo xuất hiện trong khoảng năm 600-300 TCN khi phát triển xã hội vượt thang điểm (khoảng 24 điểm) mà vùng lõi phương Tây sụp đổ vào khoảng năm 1200 TCN. Các tôn giáo này chính là sự phản ứng đối với sự tái cơ cấu và sự vỡ mộng về thế giới của các quốc gia cấp cao. Tôn giáo hướng Trục làn sóng thứ hai là hình ảnh phản chiếu của điều này: khi Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới gây bất ổn cho các quốc gia cấp cao, con người nhận thấy tư tưởng của làn sóng thứ nhất chưa hoàn thiện, và các tôn giáo cứu rỗi đã lấp đầy lỗ hổng đó.

Trừ khi tỉ lệ phát triển được tính trung bình ở Hình 6.9 là quá thiếu chính xác, Ki-tô giáo và Phật giáo Trung Hoa chưa có ảnh hưởng quan trọng trước Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới. Tuy nhiên, đến năm 250, đã có khoảng một triệu tín đồ Ki-tô giáo (cứ 40 người La Mã thì có một tín đồ Ki-tô giáo), đó rõ ràng có thể là một điểm bùng phát. Giờ đây Ki-tô giáo bắt đầu gây rắc rối nghiêm trọng cho các hoàng đế; nó không chỉ cạnh tranh về nguồn thu ở những thời điểm đen tối nhất của La Mã, đồng thời vị Chúa đố kỵ của tôn giáo này còn loại bỏ cả thỏa hiệp trở thành-thần-linh-khi-chết-đi vốn từng giúp các nhà cai trị biện minh cho quyền lực của họ suốt một thời gian dài. Hoàng đế Decius bắt đầu tiến hành các đợt bức hại lớn trong năm 250, ngay trước khi ông bị người Goth giết chết. Năm 257, Hoàng đế Valerian bắt đầu một cuộc tàn sát khác, rồi cũng bị người Ba Tư giết chết.

Bất chấp những tấm gương đáng sợ và thực tế rõ ràng rằng sử dụng vũ lực để đe dọa những người mà mục tiêu cao nhất của họ là đón nhận một cái chết khủng khiếp như Chúa Jesus chắc chắn là lời xác nhận thua cuộc, các hoàng đế vẫn tiếp tục các hoạt động đó trong 50 năm tiếp theo để quét sạch Ki-tô giáo. Nhưng với các giáo đoàn phát triển trung bình 3,4% mỗi năm, phép màu của lãi kép đã đưa con số thành viên giáo hội lên đến khoảng 10 triệu tín đồ, một phần tư dân số của đế chế vào những năm 310. Điều đó dường như cũng là điểm bùng phát thứ hai: vào năm 312, giữa lúc cuộc nội chiến đang diễn ra, Hoàng đế Constantine đã tìm thấy Chúa. Thay vì cố gắng chặn đứng Ki-tô giáo, Constantine đưa ra một thỏa hiệp mới, giống những người tiền nhiệm của ông cách đây nửa thiên niên kỷ đưa ra thỏa hiệp với tư tưởng Trục làn sóng thứ nhất vốn cũng có tính chất khích động. Constantine chuyển một khối tài sản lớn cho giáo hội, miễn thuế cho họ, và công nhận hệ thống giáo hội. Đổi lại, giáo hội công nhận vương vị của Constantine.

Hơn 80 năm tiếp theo, những người dân còn lại đã trở thành tín đồ Ki-tô giáo, đồng thời giới quý tộc cũng gài người nắm quyền lãnh đạo giáo hội, để rồi giáo hội và nhà nước cùng nhau cướp phá các ngôi đền ngoại giao của đế chế – có lẽ đây là sự tái phân bố của cải lớn nhất mà thế giới từng chứng kiến. Ki-tô giáo là một tư tưởng đến lúc gặp thời. Vua xứ Armenia trở thành tín đồ Ki-tô giáo vào thập niên 310, và vua Ethiopia cũng làm như thế vào những năm 340. Những quốc vương Ba Tư không theo Ki-tô giáo, nhưng có lẽ do Bái Hỏa giáo của Iran đang phát triển cùng hướng với Ki-tô giáo.

Phật giáo Trung Hoa dường như đã trải qua các điểm bùng phát khá giống như thế. Trong Hình 6.9, nó đã đạt tới cột mốc một triệu tín đồ vào khoảng năm 400, nhưng vì các điều kiện ở miền Bắc và miền Nam Trung Hoa rất khác biệt, nên sự phát triển đức tin cũng có những kết quả khác nhau ở từng khu vực. Ở khu vực miền Bắc bất ổn, các tín đồ Phật giáo có xu hướng tập trung tại các thành phố kinh đô vì sự an toàn, điều này khiến họ rất dễ bị tổn thương trước áp lực của triều đình. Năm 400, Bắc Ngụy, vương quốc hùng mạnh nhất, thành lập một bộ phận chuyên giám sát các tín đồ Phật giáo, và vào năm 446, triều đình bắt đầu bức hại các tín đồ Phật giáo. Ngược lại, ở miền Nam Trung Hoa, thay vì tập trung tại kinh đô Kiến Khang, các tu sĩ Phật giáo sống rải rác khắp vùng thung lũng sông Dương Tử, ở đó họ dễ được các quý tộc có thế lực bảo vệ khỏi sự bức hại của triều đình, và họ có thể buộc các hoàng đế phải nhượng bộ. Năm 402, một hoàng đế thậm chí còn cho phép các nhà sư khỏi phải cúi đầu trước mặt mình.

Hình 6.9 cho thấy rằng có thể có tới 10 triệu tín đồ Phật giáo ở Trung Hoa vào năm 500, và khi tôn giáo mới này đạt đến điểm bùng phát thứ hai, những nhà cai trị (ở miền Bắc cũng như miền Nam Trung Hoa) đã đưa ra những quyết định tương tự như Constantine đã làm là tặng nhiều tài sản, miễn thuế và ban tước hiệu cho các lãnh đạo tôn giáo này. Ở miền Nam, hoàng đế mộ đạo Lương Vũ Đế đã ủng hộ các đại lễ Phật giáo, cấm hiến tế động vật (người dân buộc phải sử dụng các con vật được làm từ bột nhồi để thay thế) và phái các sứ thần đến Ấn Độ để sưu tầm kinh sách. Đổi lại, giới lãnh đạo Phật giáo công nhận Vũ Đế là Bồ Tát, Đấng Cứu Độ chúng sinh. Các hoàng đế Bắc Ngụy còn đạt được một giao dịch tốt hơn, qua đó họ đòi quyền chọn các vị hòa thượng của riêng mình và sau đó yêu cầu các vị hòa thượng đó tuyên bố rằng vua là hóa thân của Đức Phật. Hoàng đế Constantine hẳn phải rất ganh tị với họ.

Nhẫn nhục và cam chịu không phải là nguyên nhân dẫn đến sự suy tàn và sụp đổ của phương Đông hay phương Tây. Nghịch lý của sự phát triển xã hội đã làm điều đó. Ở một mức độ nào đó, sự suy tàn và sụp đổ đi theo kịch bản đã được viết tại phương Tây vào khoảng năm 1200 TCN, khi vùng lõi mở rộng sẽ gây ra một chuỗi các sự kiện mà không ai có thể kiểm soát được, nhưng đến một chừng mực nào đó, chính quy mô phát triển xã hội vào khoảng năm 160 đã viết lại kịch bản với sự thay đổi địa lý bằng cách kết nối phương Đông và phương Tây với nhau xuyên qua khu vực Trung Á và tạo ra Thời kỳ Trao đổi Cựu Thế giới qua vi trùng và người di cư.

Khoảng năm 160, các đế chế của thế giới cổ đại phát triển lớn hơn và hùng mạnh hơn nhiều so với các vương quốc của vùng lõi phương Tây vào năm 1200 TCN, và những sự trì trệ và gián đoạn mà phiên bản toàn cầu hóa sơ khai gây ra cũng lớn hơn. Các đế chế cổ đại không thể chống chọi với các lực lượng mà họ đã tạo ra. Phát triển xã hội trượt dốc qua từng thế kỷ. Chữ viết, thành phố, thuế khóa, và quan chức không còn giá trị, và khi những điều chắc chắn trước đây không còn ý nghĩa gì nữa thì 100 triệu người đã tìm kiếm sự giải thoát khỏi một thế giới lầm lạc bằng cách đưa những thay đổi mới vào trí tuệ cổ đại. Giống tư tưởng Trục thuộc làn sóng thứ nhất, những tư tưởng làn sóng thứ hai cũng nguy hiểm, thách thức quyền lực của chồng đối với vợ, của người giàu đối với người nghèo, và của vua chúa đối với bề tôi, nhưng một lần nữa, kẻ mạnh lại làm lành với những người muốn lật đổ bằng cách cùng lúc tái phân bố quyền lực và của cải. Đến khoảng năm 500, các quốc gia yếu hơn và các giáo hội trở nên mạnh hơn, nhưng cuộc sống vẫn tiếp tục.

Nếu giới hạn nội dung cuốn sách này trong khoảng năm 500, tôi có thể đã trở thành nhà lý thuyết chốt khóa dài hạn. Tôi quan sát thấy cứ mỗi thiên niên kỷ hay khoảng chừng đó thời gian, phát triển xã hội lại hủy hoại chính nó, và cứ hai hoặc ba bước đi tới thì sẽ có một bước lùi. Tình trạng trì trệ và gián đoạn ngày càng lớn hơn, và bấy giờ đã ảnh hưởng đến phương Đông lẫn phương Tây, nhưng mẫu hình thì đã rõ ràng. Trong những bước tiến về phía trước, phương Tây bỏ xa phương Đông; trong những bước thụt lùi, khoảng cách bị thu hẹp lại; và quá trình đó vẫn tiếp tục, trong một loạt các đợt sóng, mỗi đỉnh sóng mới lại cao hơn đỉnh sóng trước đó với vị trí dẫn đầu của phương Tây luôn biến đổi nhưng lại bị chốt khóa.

Và nếu tôi viết cuốn sách này sau đó một thế kỷ, mọi thứ có thể sẽ hoàn toàn khác.

Người dịch Nguyễn Thanh Xuân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.