Tàng Thư Của Sherlock Holmes

Lượt đọc: 88 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cuộc Phiêu Lưu Về Chiếc Bờm Sư Tử

❊ ❊ ❊

Thật là một điều kỳ lạ khôn cùng khi một vụ án phức tạp và bất thường không kém bất cứ vụ án nào mà tôi từng đối mặt trong suốt sự nghiệp dài dũng mãnh của mình lại tìm đến tôi sau khi tôi đã về hưu; và ngặt nghèo thay, nó lại được đưa đến ngay ngưỡng cửa nhà tôi. Vụ việc xảy ra sau khi tôi chuyển về sống tại ngôi nhà nhỏ ở hạt Sussex, khi tôi đã hoàn toàn đắm mình trong lối sống êm đềm cùng thiên nhiên mà tôi từng hằng mong mỏi suốt những năm dài chìm đắm trong chốn Luân Đôn u ám. Vào giai đoạn này trong đời, anh bạn Watson tốt bụng đã hầu như vượt ra ngoài tầm với của tôi. Thỉnh thoảng lắm tôi mới gặp lại anh ấy vào những dịp cuối tuần. Do đó, tôi buộc phải đóng vai trò là người ghi chép cho chính mình. Chà! Giá như lúc ấy anh ấy ở bên tôi, hẳn anh ấy đã có thể khai thác biết bao điều từ một biến cố kỳ diệu đến thế cùng chiến thắng cuối cùng của tôi trước mọi gian khó! Dù sao đi nữa, tôi vẫn phải kể lại câu chuyện của mình theo cách mộc mạc của riêng mình, dùng lời lẽ để phơi bày từng bước trên con đường gian khổ bày ra trước mắt khi tôi đi tìm lời giải cho bí ẩn về chiếc bờm sư tử.

Biệt thự của tôi nằm trên sườn phía nam của dãy đồi Downs, phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh Ê-lô-gơ-răm (Eo biển Anh). Tại điểm này, đường bờ biển hoàn toàn là những vách đá phấn, chỉ có thể xuống đến chân bằng một lối mòn duy nhất vừa dài, vừa khúc khuỷu, lại dốc đứng và trơn trượt. Dưới chân lối mòn ấy là hàng trăm thước bãi sỏi đá cuội, ngay cả khi thủyỷ triều lên đầy. Tuy nhiên, rải rác đây đó là những khúc quanh và hõm đá tạo thành những hồ bơi tuyệt đẹp, được làm đầy nước trở lại sau mỗi đợt triều cường. Bãi biển tuyệt vời này kéo dài vài dặm về mỗi phía, ngoại trừ một nơi có vũng nhỏ và ngôi làng Fulworth cắt ngang đường bờ.

Ngôi nhà của tôi nằm cô độc. Chỉ có tôi, người quản gia già, và bầy ong là sở hữu trọn vẹn khu đất này. Tuy nhiên, cách đó nửa dặm là trường luyện thi nổi tiếng của Harold Stackhurst. The Gables là một cơ ngơi khá lớn, nơi nuôi dạy chừng hai mươi thanh niên đang chuẩn bị cho các nghề nghiệp khác nhau, cùng một đội ngũ gồm vài giáo viên. Bản thân Stackhurst thời trẻ từng là một tay chèo lừng danh thuộc đội tuyển Oxford/Cambridge (đội Rowing Blue), đồng thời là một học giả uyên bác toàn diện. Anh ấy và tôi luôn giữ mối quan hệ thân thiện kể từ ngày tôi chuyển đến vùng bờ biển này, và anh ấy là người duy nhất có mối thâm tình với tôi đến mức chúng tôi có thể ghé thăm nhau vào buổi tối mà không cần lời mời.

Vào khoảng cuối tháng Bảy năm 1907, có một trận cuồng phong dữ dội, gió thổi ngược eo biển, dồn sóng cuồn cuộn vào tận chân vách đá và để lại một đầm nước lúc thủy triều rút. Vào buổi sáng mà tôi đang nhắc tới, gió đã dịu đi, và vạn vật như vừa được gột rửa, trở nên tươi mới hoàn toàn. Thật không tài nào làm việc nổi trong một ngày đẹp trời như thế, và tôi đã thong thả bước ra ngoài trước bữa ăn sáng để tận hưởng bầu không khí tuyệt diệu. Tôi đi dọc theo con đường mòn trên vách đá dẫn xuống lối dốc ra bãi biển. Khi đang bước đi, tôi nghe tiếng gọi phía sau, và đó chính là Harold Stackhurst đang vẫy tay chào đầy niềm nở.

"Quả là một buổi sáng tuyệt trần, thưa ông Holmes! Tôi đoán thể nào cũng gặp ông ở ngoài này."

"Tôi thấy anh đang định đi bơi đấy chứ."

"Lại giở thói quen cũ rồi đây," anh cười vang, vỗ vào cái túi áo đang phồng lên của mình. "Đúng vậy. McPherson đã đi ra từ sớm, và tôi hy vọng sẽ bắt gặp cậu ấy ở dưới đó."

Fitzroy McPherson là giáo viên khoa học, một thanh niên cao ráo, vạm vỡ nhưng cuộc đời lại bị tàn phế bởi căn bệnh tim dai dẳng sau trận sốt thấp khớp. Dù vậy, anh ấy vốn là một vận động viên bẩm sinh và xuất sắc trong mọi môn thể thao không đòi hỏi quá nhiều sức lực. Dù đông hay hè, anh ấy vẫn đều đặn đi bơi, và vì bản thân tôi cũng là một người thích bơi lội, tôi thường xuyên đi cùng anh ấy.

Ngay lúc đó, chúng tôi nhìn thấy chính nhân vật ấy. Đầu anh ấy ló dạng ngay mép vách đá nơi con đường mòn kết thúc. Rồi toàn bộ thân hình anh hiện ra trên đỉnh, lảo đảo như một kẻ say rượu. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, anh vung hai tay lên, và cùng với một tiếng thét kinh hoàng, anh ngã sấp xuống. Stackhurst và tôi lao tới — khoảng cách lúc đó có lẽ chừng năm mươi thước — và lật ngửa anh ấy lại. Rõ ràng anh ấy đang hấp hối. Đôi mắt đục ngầu trũng sâu cùng gò má tím tái đáng sợ kia không thể mang ý nghĩa nào khác. Một tia sáng sự sống lóe lên trên khuôn mặt anh trong chốc lát, và anh thốt ra hai hay ba từ với vẻ khẩn khoản như muốn cảnh báo. Chúng bị ngọng nghịu và không rõ tiếng, nhưng vào tai tôi thì từ cuối cùng, vốn bùng lên thành một tiếng thét từ đôi môi anh, chính là "bờm sư tử". Nó hoàn toàn chẳng có liên quan gì và chẳng thể tài nào hiểu nổi, thế nhưng tôi không thể bóp méo âm thanh ấy thành ý nghĩa nào khác được nữa. Rồi anh nửa người chồm lên khỏi mặt đất, vung hai tay lên không trung và ngã sấp người sang một bên. Anh đã chết.

Người bạn đồng hành của tôi chết sững vì nỗi kinh hoàng đột ngột ấy, nhưng tôi, như có thể tưởng tượng được, mọi giác quan đều ở trong trạng thái cảnh giác cao độ. Và tôi thực sự cần phải thế, bởi vì nhanh chóng hiển hiện ra trước mắt là chúng tôi đang đối mặt với một vụ án phi thường. Nạn nhân chỉ mặc một chiếc áo khoác ngoài vải Burberry, quần dài, và một đôi giày vải không buộc dây. Khi anh ngã nhào xuống, chiếc áo Burberry vốn chỉ được khoác hờ trên vai liền tuột ra, để lộ phần thân trên. Chúng tôi sững sờ trân trân nhìn vào đó. Lưng anh chằng chịt những lằn đỏ sậm như thể anh vừa bị quất tơi bời bởi một loại roi da mỏng bằng dây thép. Dụng cụ gây ra hình phạt này rõ ràng rất dẻo dai, bởi vì những vết hằn dài, tấy đỏ uốn cong theo bờ vai và xương sườn của anh. Có máu đang rỉ xuống cằm, vì anh đã cắn rách cả môi dưới trong cơn đau đớn tột cùng. Khuôn mặt co rút và biến dạng của anh đã tố cáo sự đớn đau khủng khiếp nhường nào.

Tôi đang quỳ và Stackhurst đang đứng bên thi thể thì một cái bóng đổ rạp xuống chỗ chúng tôi, và chúng tôi nhận ra Ian Murdoch đã có mặt bên cạnh. Murdoch là giáo viên toán của trường, một người đàn ông cao gầy, da ngăm đen, lầm lì và xa cách đến mức chẳng thể nói ai là bạn của anh ta. Anh ta dường như sống trong một cõi trừu tượng cao siêu nào đó của những căn số và thiết diện nón, với rất ít điểm gắn kết với cuộc sống bình thường. Anh ta bị học sinh coi là một kẻ kỳ cục, và suýt chút nữa đã trở thành trò tiêu khiển cho lũ trẻ, nhưng trong con người ấy ẩn chứa một dòng máu ngoại lai kỳ lạ nào đó, biểu hiện không chỉ qua đôi mắt đen thẫm và làn da sạm nắng, mà còn qua những cơn thịnh nộ bộc phát thỉnh thoảng xuất hiện, chỉ có thể mô tả là dữ tợn. Có bận, bị quấy rầy bởi một con chó nhỏ của McPherson, anh ta đã chộp lấy sinh vật tội nghiệp đó rồi ném thẳng qua khung cửa kính lớn, một hành động mà nếu không vì anh ta là một giáo viên rất có giá trị thì Stackhurst chắc chắn đã sa thải rồi. Đó chính là con người kỳ lạ, phức tạp giờ đây đang hiện diện bên cạnh chúng tôi. Anh ta có vẻ thực sự bàng hoàng trước cảnh tượng trước mắt, mặc dù sự cố về con chó có thể cho thấy giữa người đã khuất và anh ta không hề có sự gắn bó thiện cảm lớn lao nào.

"Tội nghiệp anh ấy! Tội nghiệp anh ấy! Tôi có thể làm gì đây? Tôi giúp được gì nào?"

"Anh có đi cùng anh ấy không? Anh có thể cho chúng tôi biết chuyện gì đã xảy ra không?"

"Không, không, sáng nay tôi đến muộn. Tôi không hề ra bãi biển chút nào. Tôi đi thẳng từ The Gables tới đây. Tôi có thể làm gì đây?"

"Anh hãy mau chạy đến đồn cảnh sát ở Fulworth đi. Báo cáo vụ việc ngay lập tức."

Không nói một lời, anh ta cắm cổ chạy biến đi với tốc độ cao nhất, trong khi tôi tiến hành xử lý sự việc, còn Stackhurst, vẫn còn ngẩn ngơ trước thảm kịch này, ở lại canh giữ thi thể. Nhiệm vụ đầu tiên của tôi dĩ nhiên là quan sát xem có những ai ở trên bãi biển. Từ đỉnh lối mòn, tôi có thể phóng tầm mắt bao quát toàn bộ vùng biển, và nơi đây hoàn toàn vắng tanh, ngoại trừ việc có thể nhìn thấy hai hoặc ba bóng người đen đúa ở đằng xa đang di chuyển về phía làng Fulworth. Sau khi đã tự mình kiểm chứng điểm này, tôi chậm rãi bước xuống lối mòn. Có đất sét hoặc mác-lê mềm lẫn trong lớp phấn trắng, và ở mọi nơi, tôi đều nhận thấy cùng một dấu chân, cả lúc đi lên lẫn lúc đi xuống. Không có bất kỳ ai khác đi xuống bãi biển bằng con đường này vào buổi sáng hôm đó. Ở một chỗ, tôi quan sát thấy vết in của một bàn bàn tay xòe rộng với các ngón tay hướng về phía dốc. Điều này chỉ có thể có nghĩa là tội nghiệp McPherson đã ngã khi anh đang trèo lên. Ngoài ra còn có những vết lõm tròn, gợi ý rằng anh đã phải quỳ gối xuống không chỉ một lần. Dưới chân con đường mòn là đầm nước khá lớn do thủy triều rút để lại. Ngay sát bên cạnh, McPherson đã cởi đồ, vì chiếc khăn tắm của anh đang nằm trên một mảng đá. Nó được gấp gọn gàng và khô ráo, dường như xét cho cùng anh chưa bao giờ xuống nước cả. Một hoặc hai lần khi tôi rà soát khắp bãi sỏi cứng, tôi bắt gặp những vạt cát nhỏ nơi có thể nhìn thấy rõ dấu giày vải cũng như bàn chân trần của anh. Chi tiết sau chứng tỏ rằng anh đã chuẩn bị sẵn sàng để tắm, dẫu cho chiếc khăn tắm cho thấy thực tế anh chưa hề làm điều đó.

Và đây chính là bài toán được định hình rõ ràng — một bài toán kỳ lạ nhất từng đối mặt với tôi. Nạn nhân có mặt ở bãi biển tối đa chưa đầy một phần tư giờ. Stackhurst đã đi theo anh từ The Gables, nên không thể có nghi ngờ gì về điều đó. Anh đã đi tắm và cởi đồ, như những dấu chân trần đã chỉ rõ. Rồi anh đột ngột vội vã mặc lại quần áo — tất cả đều xộc xệch và phanh ngực — và anh quay trở lại mà không tắm, hoặc ít ra là không lau khô người. Và lý do cho sự thay đổi ý định đột ngột ấy là vì anh đã bị trừng phạt theo một cách thức dã man, phi nhân tính nào đó, bị tra tấn cho đến khi cắn rách cả môi trong cơn đau đớn, và chỉ còn đủ sức lết đi để rồi trút hơi thở cuối cùng. Kẻ nào đã làm ra hành động độc ác này? Quả thực có những hang động và hốc đá nhỏ dưới chân vách đá, nhưng ánh nắng buổi sáng chiếu thẳng vào trong đó, và chẳng có chỗ nào để ẩn náu cả. Hơn nữa, lại có những bóng người ở đằng xa trên bãi biển kia. Họ có vẻ ở quá xa để có thể liên quan đến tội ác, và đầm nước rộng mà McPherson định tắm nằm chắn giữa anh và họ, vỗ sóng sát vào những mảng đá. Ngoài khơi xa, hai hoặc ba chiếc thuyền đánh cá cũng đang neo đậu ở khoảng cách không xa lắm. Những người trên thuyền đó có thể được thẩm vấn khi chúng ta thảnh thơi. Có nhiều hướng để điều tra, nhưng chẳng có hướng nào dẫn đến một đích đến rõ ràng trước mắt.

Khi cuối cùng tôi quay trở lại chỗ thi thể, tôi thấy một nhóm người lang thang đã tụ tập xung quanh. Stackhurst đương nhiên vẫn ở đó, và Ian Murdoch vừa mới đến cùng Anderson, viên cảnh sát làng, một người đàn ông to lớn với hàng ria mép màu gừng mang phong cách trầm tĩnh, vững chãi đặc trưng của xứ Sussex — một kiểu người ẩn chứa rất nhiều sự khôn ngoan đằng sau vẻ ngoài nặng nề, kiệm lời. Viên cảnh sát lắng nghe mọi thứ, ghi nhận tất cả những gì chúng tôi nói, và cuối cùng kéo riêng tôi sang một bên.

"Tôi rất cần lời khuyên của ông, thưa ông Holmes. Đây là một vụ việc lớn đối với tôi, và tôi sẽ bị cấp trên ở Lewes quở trách nếu tôi làm hỏng chuyện."

Tôi khuyên anh ta nên cho gọi cấp trên trực tiếp của mình tới, cũng như một vị bác sĩ; đồng thời không cho phép di chuyển bất cứ thứ gì, và hạn chế tối đa việc tạo ra các dấu chân mới cho đến khi họ đến nơi. Trong lúc chờ đợi, tôi lục lọi các túi áo của người quá cố. Trong đó có chiếc khăn tay, một con dao lớn, và một chiếc ví đựng danh thiếp bằng bìa cứng nhỏ. Từ trong ví ló ra một mẩu giấy, tôi mở ra và đưa cho viên cảnh sát. Trên đó viết bằng một nét chữ ngoằy ngoèo của phụ nữ: "Em sẽ có mặt ở đó, anh cứ yên tâm nhé.—Maudie." Nội dung đọc lên giống như một chuyện tình, một cuộc hẹn hò bí mật, dẫu cho thời gian và địa điểm thì để trống. Viên cảnh sát nhét lại mẩu giấy vào ví rồi trả nó cùng những thứ khác vào túi chiếc áo Burberry. Sau đó, vì chẳng còn manh mối nào khác xuất hiện, tôi đi bộ trở về nhà ăn sáng, trước đó đã sắp xếp để khu vực chân vách đá được lùng sục thật kỹ lưỡng.

Chừng một hai tiếng sau, Stackhurst ghé qua để thông báo rằng thi thể đã được chuyển về The Gables, nơi cuộc điều tra tử thi sẽ được tiến hành. Anh ấy mang theo một số tin tức nghiêm túc và xác thực. Đúng như tôi dự đoán, chẳng có gì được tìm thấy trong những hang động nhỏ bên dưới vách đá, nhưng anh ấy đã kiểm tra giấy tờ trong bàn làm việc của McPherson, và có một số bức thư cho thấy mối quan hệ thư từ thân thiết với một cô Maud Bellamy nào đó ở Fulworth. Lúc này chúng tôi đã xác định được danh tính của người viết mảnh giấy nhắn.

"Cảnh sát đang giữ những bức thư," anh giải thích. "Tôi không thể mang chúng theo được. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, đó là một mối tình nghiêm túc. Tuy nhiên, tôi không thấy có lý do gì để liên kết nó với thảm kịch kinh khủng kia, ngoại trừ việc người phụ nữ đã có một cuộc hẹn với anh ấy."

"Nhưng khó mà tin được lại hẹn ở một hồ bơi mà tất cả các anh đều hay lui tới," tôi nhận xét.

"Đó chỉ là tình cờ thôi," anh nói, "rằng mấy cậu học sinh hôm đó không đi cùng McPherson."

"Liệu có hoàn toàn là tình cờ không?"

Stackhurst chau mày suy nghĩ.

"Ian Murdoch đã giữ chân bọn trẻ lại," anh nói; "cậu ta cứ khăng khăng đòi giải thích vài bài toán đại số trước bữa sáng. Tội nghiệp, cậu ta bị sốc nặng trước toàn bộ vụ việc này."

"Thế mà tôi cứ tưởng họ không phải là bạn bè."

"Đã có lúc họ không phải vậy. Nhưng từ hơn một năm nay, Murdoch đã trở nên thân thiết với McPherson hết mức có thể với bất kỳ ai. Bản tính cậu ta vốn chẳng phải là người dễ hòa đồng."

"Tôi hiểu rồi. Dường như tôi nhớ anh từng kể cho tôi nghe về một vụ cãi vã liên quan đến việc đối xử tệ bạc với một con chó."

"Chuyện đó qua lâu rồi mà."

"Nhưng có lẽ nó vẫn để lại chút tâm lý thù hằn nào đó."

"Không, không; tôi chắc chắn họ là những người bạn thực sự."

"Chà, vậy thì chúng ta phải tìm hiểu thêm về cô gái này. Anh có biết cô ấy không?"

"Ai mà chẳng biết cô ấy. Cô ta là mỹ nhân của vùng này — một sắc đẹp thực sự, thưa ông Holmes, người có thể thu hút mọi ánh nhìn ở bất cứ đâu. Tôi biết McPherson bị thu hút bởi cô ấy, nhưng tôi không hề ngờ rằng mọi chuyện lại tiến xa đến mức những bức thư kia thể hiện."

"Nhưng cô ta là ai?"

"Cô ta là con gái của lão Tom Bellamy, người sở hữu toàn bộ thuyền bè và các lều tắm ở Fulworth. Lão khởi đầu là một ngư dân nhưng giờ đây là một người có của ăn của để. Lão và cậu con trai William cùng nhau điều hành việc kinh doanh đó."

"Chúng ta có nên đi bộ vào Fulworth để gặp họ không?"

"Với cái cớ gì đây?"

"Ồ, chúng ta dễ dàng tìm được cớ thôi. Suy cho cùng, người đàn ông tội nghiệp này đâu có tự hành hạ bản thân theo cái cách tàn nhẫn ấy. Chắc chắn có bàn tay con người cầm cán chiếc roi kia, nếu quả thực đó là roi đã gây ra những thương tích. Vòng tròn các mối quan hệ của anh ta ở nơi hoang vắng này chắc chắn là rất hạn chế. Hãy cứ lần theo mọi hướng, thế nào chúng ta cũng tìm ra động cơ, và từ đó sẽ dẫn dắt chúng ta đến kẻ thủ ác."

Đó sẽ là một buổi dạo bộ thú vị băng qua những ngọn đồi Downs thơm ngát mùi cỏ xạ hương biết thế nếu tâm trí chúng tôi không bị đầu độc bởi thảm kịch mà mình vừa chứng kiến. Làng Fulworth nằm trong một thung lũng uốn cong hình bán nguyệt ôm lấy vịnh biển. Phía sau khu xóm cổ kính, một số ngôi nhà hiện đại đã được xây dựng trên vùng đất cao hơn. Stackhurst dẫn tôi đến một trong số đó.

"Kia là The Haven, theo cách gọi của lão Bellamy. Căn nhà có cái tháp góc và mái lợp ngói đá phiến đấy. Không tồi chút nào đối với một kẻ tay trắng làm nên — Chà Chúa ơi, hãy nhìn kìa!"

Cổng vườn của The Haven vừa mở ra và một người đàn ông bước ra ngoài. Không thể nhầm lẫn được dáng người cao gầy, khập khiễng và lêu nghêu ấy. Đó chính là Ian Murdoch, nhà toán học. Chỉ một thoáng sau, chúng tôi chạm mặt anh ta trên đường.

"Chào anh!" Stackhurst lên tiếng. Gã đàn ông gật đầu, liếc xéo chúng tôi bằng đôi mắt tối tăm kỳ lạ và định đi ngang qua, nhưng vị hiệu trưởng đã chặn anh ta lại.

"Anh đang làm gì trong đó vậy?" anh hỏi.

"Tôi là cấp dưới của ông, thưa ông, sống dưới mái nhà của ông. Tôi không nhận thấy mình phải có nghĩa vụ giải trình với ông về các hành động cá nhân của mình," mặt Murdoch đỏ bừng vì giận dữ.

Dây thần kinh của Stackhurst vốn đang căng như dây đàn sau tất cả những gì anh đã phải chịu đựng. Nếu không, có lẽ anh đã kiên nhẫn chờ đợi. Đằng này, anh hoàn toàn nổi giận.

"Trong hoàn cảnh này thì câu trả lời của anh hoàn toàn là sự xấc láo, thưa ông Murdoch."

"Câu hỏi của chính ông có lẽ cũng nằm chung một loại với nó đấy."

"Đây không phải là lần đầu tiên tôi phải làm ngơ trước thói vô kỷ luật của anh. Và đây chắc chắn sẽ là lần cuối cùng. Làm ơn hãy tự sắp xếp lại các kế hoạch cho tương lai của mình càng sớm càng tốt."

"Tôi cũng đã định làm thế. Ngày hôm nay tôi đã mất đi người duy nhất khiến cho The Gables còn đáng sống rồi."

Anh ta sải bước bỏ đi, trong khi Stackhurst với đôi mắt vằn đọc giận dữ đứng trân trân nhìn theo bóng anh ta. "Hắn ta quả là một con người bất khả xâm phạm và không thể chịu nổi phải không?" anh kêu lên.

Điều duy nhất khắc sâu vào tâm trí tôi lúc này là ông Ian Murdoch đang nắm bắt cơ hội đầu tiên để dọn đường tẩu thoát khỏi hiện trường vụ án. Sự hoài nghi, mơ hồ và mờ mịt, lúc này bắt đầu hình thành rõ nét trong tâm trí tôi. Có lẽ chuyến viếng thăm nhà Bellamy sẽ đem lại thêm chút ánh sáng cho vụ việc. Stackhurst lấy lại bình tĩnh và chúng tôi tiến bước về phía ngôi nhà.

Ông Bellamy hóa ra là một người đàn ông trung niên với bộ râu đỏ rực như lửa. Ông ta có vẻ đang rất giận dữ, và khuôn mặt ông ta chẳng mấy chốc đã đỏ phừng phừng lên y như màu tóc.

"Không, thưa các ông, tôi không muốn biết bất kỳ chi tiết nào hết. Cậu con trai tôi đây" — ông ta hất đầu chỉ về phía một thanh niên lực lưỡng, với khuôn mặt nặng nề, lầm lì đang ngồi ở góc phòng khách — "cũng có chung suy nghĩ với tôi rằng sự quan tâm của anh McPherson đối với Maud là một sự sỉ nhục. Vâng, thưa các ông, từ 'hôn nhân' chưa từng được nhắc đến, thế mà lại có những bức thư, những cuộc gặp gỡ, và vô số thứ khác nữa mà không ai trong chúng tôi có thể chấp nhận nổi. Con bé không có mẹ, và chúng tôi là những người giám hộ duy nhất của nó. Chúng tôi kiên quyết——"

Nhưng lời nói đã bị nghẹn lại bởi sự xuất hiện của chính bóng hồng ấy. Không thể phủ nhận rằng cô thừa sức làm rạng danh bất kỳ buổi tụ hội nào trên thế giới này. Ai có thể tưởng tượng được rằng một bông hoa hiếm hoi như vậy lại có thể mọc lên từ một gốc rễ và trong một bầu không khí thế chứ? Phụ nữ hiếm khi thu hút được tôi, bởi vì lý trí của tôi luôn thống trị trái tim mình, thế nhưng tôi không thể ngắm nhìn khuôn mặt hoàn mỹ, sắc nét của cô, với tất cả sự tươi tắn dịu dàng của vùng đồi Downs thấm đượm trong sắc da tinh tế ấy, mà không nhận ra rằng chẳng có gã thanh niên nào qua đường với cô mà có thể toàn mạng rời đi. Đó chính là người thiếu nữ vừa đẩy cửa bước vào và giờ đây đang đứng đó, với đôi mắt mở lớn đầy mãnh liệt, ngay trước mặt Harold Stackhurst.

"Em đã biết chuyện Fitzroy qua đời rồi," cô nói. "Xin đừng ngại ngần khi kể cho em nghe các chi tiết."

"Người đàn ông khác của con đã cho chúng ta biết tin đó," người cha giải thích.

"Chẳng có lý do gì để lôi em gái tôi vào chuyện này cả," gã con trai gầm gừ. Người em gái quay sang trừng mắt nhìn hắn đầy sắc bén và dữ dội. "Đây là chuyện của tôi, William. Làm ơn để tôi tự giải quyết theo cách của mình. Theo tất cả mọi lời đồn đại thì đã có một tội ác xảy ra. Nếu tôi có thể giúp chỉ ra kẻ đã làm việc đó, thì đó là điều ít nhất tôi có thể làm cho người đã khuất."

Cô lắng nghe bản tường thuật ngắn gọn từ người bạn đồng hành của tôi với một sự tập trung bình tĩnh, điều đó cho thấy cô sở hữu một tính cách mạnh mẽ cũng như một nhan sắc tuyệt trần. Maud Bellamy sẽ mãi mãi đọng lại trong ký ức tôi như một người phụ nữ hoàn mỹ và đáng chú ý nhất. Dường như cô đã biết mặt tôi từ trước, bởi vì cô quay sang phía tôi khi kết thúc câu chuyện.

"Hãy đưa chúng ra trước công lý, thưa ông Holmes. Ông có sự đồng cảm và sự giúp đỡ của tôi, bất kể chúng là ai đi nữa." Có vẻ như cô liếc nhìn cha và anh trai mình đầy thách thức khi nói những lời đó.

"Cảm ơn cô," tôi nói. "Tôi rất coi trọng trực giác của phụ nữ trong những vấn đề thế này. Cô dùng từ 'chúng'. Cô nghĩ rằng có nhiều hơn một kẻ nhúng tay vào sao?"

"Tôi hiểu rõ anh McPherson để biết rằng anh ấy là một người đàn ông dũng cảm và mạnh mẽ. Không một cá nhân đơn độc nào có thể gây ra một hành động tàn bạo như thế lên anh ấy."

"Tôi có thể xin nói chuyện riêng với cô một lát được không?"

"Cha đã bảo con là đừng có dính líu vào chuyện này cơ mà, Maud," người cha giận dữ quát lên.

Cô nhìn tôi với vẻ bất lực. "Em biết phải làm sao đây?"

"Toàn thế giới rồi sẽ sớm biết các sự thật thôi, thế nên chẳng có hại gì nếu chúng ta thảo luận ngay tại đây," tôi nói. "Tôi vốn thích sự riêng tư hơn, nhưng nếu cha cô không cho phép, ông ấy buộc phải cùng tham gia bàn bạc." Rồi tôi nhắc đến bức thư tìm thấy trong túi người quá cố. "Nó chắc chắn sẽ được đưa ra tại cuộc điều tra tử thi. Tôi có thể nhờ cô làm sáng tỏ bất cứ điều gì trong khả năng của cô không?"

"Tôi không thấy có lý do gì phải giấu giếm cả," cô đáp. "Chúng tôi đã đính hôn, và chúng tôi giữ bí mật chỉ vì người chú của Fitzroy, người đã rất già và nghe nói đang hấp hối, có thể truất quyền thừa kế của anh ấy nếu anh kết hôn trái ý ông. Chẳng có lý do nào khác cả."

"Lẽ ra con phải nói cho chúng tao biết chứ," ông Bellamy gầm gừ.

"Con đã làm thế rồi, thưa cha, nếu cha chịu thể hiện chút cảm thông."

"Tôi phản đối việc con bé nhà tôi cặp kè với những kẻ ngoài địa vị của nó."

"Chính định kiến của cha chống lại anh ấy đã ngăn cản chúng con nói ra. Còn về cuộc hẹn này" — cô lục tìm trong váy và rút ra một mẩu giấy nhàu nát — "đó là bức thư hồi âm cho cái này."

"YÊU DẤU CỦA ANH," bức thông điệp viết: "Chỗ cũ ngoài bãi biển ngay sau khi mặt trời lặn vào thứ Ba. Đó là khoảng thời gian duy nhất anh có thể ra ngoài.—F.M."

"Thứ Ba chính là ngày hôm nay, và em đã định gặp anh ấy vào tối nay."

Tôi lật mặt sau của mẩu giấy. "Cái này không hề được gửi qua đường bưu điện. Làm sao cô nhận được nó?"

"Tôi thà không trả lời câu hỏi đó. Nó thực ra chẳng liên quan gì đến vấn đề mà ông đang điều tra cả. Nhưng bất cứ điều gì có dính líu tới vụ án, tôi sẽ sẵn sàng trả lời một cách tự nguyện nhất."

Cô ấy giữ đúng lời hứa, nhưng chẳng có thông tin nào hữu ích cho cuộc điều tra của chúng tôi cả. Cô không có lý do gì để nghĩ rằng vị hôn phu của mình có kẻ thù giấu mặt nào, nhưng cô thừa nhận rằng mình từng có vài người ngưỡng mộ tha thiết.

"Tôi xin phép được hỏi liệu ông Ian Murdoch có phải là một trong số đó không?"

Cô đỏ mặt và có vẻ bối rối.

"Đã từng có thời gian tôi nghĩ là có. Nhưng mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn khi anh ấy hiểu rõ mối quan hệ giữa tôi và Fitzroy."

Một lần nữa, cái bóng bao trùm quanh con người kỳ lạ này lại có vẻ định hình rõ ràng hơn trong tâm trí tôi. Hồ sơ của hắn phải được kiểm tra. Phòng của hắn phải được lục soát bí mật. Stackhurst là một cộng tác viên nhiệt tình, bởi vì trong tâm trí anh ấy những nghi ngờ cũng đang bắt đầu hình thành. Chúng tôi rời khỏi chuyến viếng thăm The Haven với niềm hy vọng rằng một đầu mối gỡ rối của cuộn chỉ rối rắm này đã nằm trong tay chúng tôi.

Một tuần trôi qua. Cuộc điều tra tử thi không đưa ra được ánh sáng nào và đã phải hoãn lại để chờ thêm bằng chứng. Stackhurst đã tiến hành những cuộc thăm dò kín đáo về người cấp dưới của mình, và căn phòng của hắn đã bị lục soát qua loa, nhưng chẳng thu được kết quả gì. Về phần mình, tôi đã xem xét lại toàn bộ hiện trường, cả về mặt thực tế lẫn trong tâm trí, nhưng không rút ra được kết luận mới nào. Trong số tất cả các vụ án của tôi, độc giả sẽ chẳng tìm thấy vụ nào đẩy tôi đến sát giới hạn năng lực của mình triệt để đến thế. Ngay cả trí tưởng tượng của tôi cũng không thể hình dung ra nổi một giải pháp nào cho bí ẩn này. Và rồi sự cố về con chó xảy ra.

Chính người quản gia già của tôi là người đầu tiên nghe được chuyện đó qua thứ sóng vô tuyến kỳ lạ mà nhờ đó những người như bà thường thu thập tin tức ở vùng quê.

"Câu chuyện buồn này, thưa ngài, về con chó của ông McPherson ấy ạ," bà nói vào một buổi tối.

Tôi vốn không khuyến khích những cuộc trò chuyện kiểu này, nhưng mấy từ đó đã thu hút sự chú ý của tôi.

"Con chó của ông McPherson làm sao?"

"Nó chết rồi, thưa ngài. Chết vì đau buồn nhớ thương chủ."

"Ai nói với bà chuyện này?"

"Thì thưa ngài, ai nấy ở đây đều đang bàn tán. Nó đã vô cùng suy sụp, và suốt một tuần chẳng ăn uống gì. Rồi ngày hôm nay, hai cậu thanh niên bên The Gables đã phát hiện nó chết — ngay dưới bãi biển, thưa ngài, chính tại cái nơi mà chủ của nó đã bỏ mạng."

"Ngay tại chính nơi đó." Những từ ngữ ấy hiện lên rõ mồn một trong trí nhớ tôi. Một nhận thức lờ mờ rằng vấn đề này mang tính sống còn bỗng trỗi dậy trong tâm trí tôi. Việc con chó chết thì đúng với bản chất trung thành, nghĩa tình của loài chó. Nhưng 'ngay tại chính nơi đó'! Tại sao bãi biển hoang vắng này lại mang đến cái chết cho nó? Liệu có khả năng nào chính nó cũng đã trở thành vật tế thần cho một mối thù hằn trả thù nào đó không? Liệu có khả năng nào ——? Phải, nhận thức ấy hãy còn mơ hồ, nhưng điều gì đó đang dần hình thành trong tâm trí tôi. Chỉ vài phút sau, tôi đã trên đường đến The Gables, nơi tôi tìm thấy Stackhurst trong phòng làm việc của anh ấy. Theo yêu cầu của tôi, anh đã cho gọi Sudbury và Blount, hai cậu sinh viên đã tìm thấy con chó.

"Vâng, nó nằm ngay bên mép hồ nước," một trong hai cậu nói. "Chắc nó đã lần theo dấu vết của người chủ đã khuất."

"Tôi đã nhìn thấy sinh vật trung thành tội nghiệp ấy, một con chó sục Airedale, được đặt nằm duỗi thẳng trên tấm thảm chùi chân ở sảnh. Thân hình nó cứng đờ, đôi mắt lồi ra, và các chi quắp lại. Sự đớn đau hằn lên trong từng đường nét của nó."

Từ The Gables, tôi đi bộ xuống hồ bơi tắm. Mặt trời đã lặn và bóng của vách đá lớn đổ một màu đen kịt ngút ngàn trên mặt nước, thứ ánh sáng lung linh đục ngầu như một tấm chì. Nơi đây vắng tanh và chẳng có dấu hiệu sự sống nào ngoại trừ hai con chim biển đang lượn lờ và kêu é é trên đầu. Trong ánh sáng chạng vạng đang lụi tàn, tôi lờ mờ nhận ra dấu vết của chú chó nhỏ trên lớp cát quanh chính tảng đá từng đặt chiếc khăn tắm của chủ nhân nó. Đứng đăm chiêu suy ngẫm suốt một hồi lâu trong lúc bóng tối vây quanh ngày một đặc quánh. Tâm trí tôi ngập tràn những ý nghĩ chạy đua. Chắc bạn cũng từng biết cảm giác lạc vào một cơn ác mộng, nơi bạn cảm thấy có một điều cực kỳ quan trọng nào đó mà mình đang tìm kiếm, biết chắc chắn là nó ở đó, dù cho nó cứ mãi nằm ngoài tầm với. Đó chính là cảm giác của tôi vào buổi tối hôm đó khi đứng đơn độc bên chốn đoạn trường này. Rồi cuối cùng tôi quay người chầm chậm bước về nhà. Tôi vừa đặt chân lên đến đỉnh lối mòn thì ý nghĩ ấy vụt đến. Như một tia chớp, tôi nhớ ra thứ mà mình đã vất vả tìm kiếm trong vô vọng. Bạn sẽ biết rõ, hoặc nếu không thì Watson đã viết ra trong vô ích rằng, tôi nắm giữ một kho tàng khổng lồ những kiến thức kỳ quặc, chẳng theo một hệ thống khoa học nào cả, nhưng lại vô cùng hữu dụng cho nhu cầu công việc của tôi. Tâm trí tôi giống như một căn phòng kho chật chội với đủ loại bưu kiện được chất đống trong đó — nhiều đến mức rất có thể tôi chỉ có một nhận thức mơ hồ về những gì nằm bên trong. Tôi từng biết rằng có một thứ gì đó có liên quan đến vụ việc này. Nó vẫn còn mơ hồ, nhưng ít nhất tôi biết cách làm cho nó sáng tỏ. Thật quái dị, khó tin, nhưng nó luôn là một khả năng hiện hữu. Tôi sẽ kiểm tra nó đến cùng. Có một căn gác mái lớn trong ngôi nhà nhỏ của tôi, chất đầy sách vở. Chính nơi đó là chỗ tôi lao vào và lục lọi suốt một tiếng đồng hồ. Hết khoảng thời gian ấy, tôi bước ra với một cuốn sách nhỏ bìa màu sô-cô-la viền bạc. Háo hức lật tìm chương sách mà tôi còn láng mang nhớ tới. Vâng, quả thực đó là một giả thuyết xa vời và khó xảy ra, nhưng tôi chẳng thể an lòng cho đến khi tự mình kiểm chứng xem liệu mọi chuyện có thực sự đúng là như thế hay không. Trới đã khuộn khi tôi đi nghỉ ngơi, trong lòng ngóng chờ công việc của ngày hôm sau.

Nhưng công việc ấy lại gặp phải một sự gián đoạn đầy phiền toái. Tôi vừa mới nuốt xong ngụm trà sớm và đang định ra bãi biển thì nhận được chuyến viếng thăm từ Thanh tra Bardie thuộc lực lượng cảnh sát hạt Sussex — một người đàn ông điềm đạm, vững chãi, mang dáng vẻ chất phác với ánh mắt trầm ngâm, giờ đây đang nhìn tôi bằng một biểu cảm vô cùng lo lắng.

"Tôi thừa biết bề dày kinh nghiệm vô biên của ông, thưa ông Holmes," anh ta nói. "Chuyện này hoàn toàn mang tính cá nhân thôi, đương nhiên thế, và sẽ không đi xa hơn đâu. Nhưng tôi thực sự đang bị dồn vào chân tường trong vụ McPherson này rồi. Vấn đề là, tôi có nên tiến hành bắt giữ hay không?"

"Ý anh là ông Ian Murdoch chứ gì?"

"Vâng, thưa ông. Thực ra chẳng còn ai khác khi suy xét kỹ càng mọi chuyện. Đó chính là lợi thế của sự cô độc này. Chúng ta thu hẹp nó lại trong một phạm vi rất nhỏ. Nếu không phải hắn làm, thì là ai chứ?"

"Anh nắm được những bằng chứng gì chống lại hắn ta?"

Anh ta đã thu thập được những manh mối dọc theo chính những luống cày mà tôi từng đi qua. Đó là nhân cách của Murdoch và sự bí ẩn dường như bao trùm lấy con người ấy. Những cơn thịnh nộ bùng nổ của hắn, thể hiện qua vụ việc con chó. Việc hắn từng có hiềm khích với McPherson trong quá khứ, và thực tế là có một số lý do để nghĩ rằng hắn có thể tỏ ra bực bội trước sự theo đuổi của McPherson đối với cô Bellamy. Anh ta có tất cả các điểm nghi vấn giống tôi, nhưng chẳng có điểm nào mới mẻ hơn, ngoại trừ việc Murdoch dường như đang chuẩn bị mọi thứ sẵn sàng cho việc rời đi.

"Tình thế của tôi sẽ ra sao nếu để sổng mất hắn cùng với ngần ấy bằng chứng chống lại chứ?" Người đàn ông lực lưỡng, điềm tĩnh ấy đang vô cùng dằn vặt tâm can.

"Hãy cân nhắc," tôi nói, "tất cả những lỗ hổng cốt lõi trong vụ án của anh. Vào buổi sáng xảy ra án mạng, hắn hoàn toàn có thể chứng minh được bằng chứng ngoại phạm. Hắn đã ở bên các học trò của mình cho đến phút chót, và chỉ vài phút sau khi McPherson xuất hiện, hắn đã từ phía sau bước đến chỗ chúng ta. Rồi hãy ghi nhớ sự bất khả thi tuyệt đối rằng một mình hắn có thể gây ra tội ác này lên một người đàn ông khỏe mạnh ngang ngửa hắn. Cuối cùng, chính là câu hỏi về hung khí đã gây ra những thương tích này."

"Nó có thể là gì ngoài roi da hoặc một loại roi dẻo nào đó chứ?"

"Anh đã kiểm tra các vết thương chưa?" tôi hỏi.

"Tôi đã thấy chúng rồi. Bác sĩ cũng vậy."

"Nhưng tôi đã kiểm tra chúng rất kỹ lưỡng bằng kính lúp. Chúng có những điểm đặc thù."

"Chúng là gì vậy, thưa ông Holmes?"

Tôi bước tới bàn làm việc và lấy ra một bức ảnh đã được phóng lớn. "Đây là phương pháp của tôi trong những trường hợp như thế này," tôi giải thích.

"Ông quả thực luôn làm mọi việc một cách triệt để, thưa ông Holmes."

"Tôi sẽ chẳng thể là tôi nếu không làm thế. Giờ hãy xét đến vết hằn quấn quanh vai phải này. Anh có quan sát thấy điều gì đáng chú ý không?"

"Tôi không dám chắc là có."

"Chẳng phải quá hiển nhiên là cường độ của nó không đều nhau hay sao? Có một chấm máu tụ ở đây, và một chấm khác ở đằng kia. Có những dấu hiệu tương tự ở vết hằn khác dưới này nữa. Điều đó có thể có nghĩa gì chứ?"

"Tôi chịu. Còn ông thì sao?"

"Có lẽ tôi biết. Có lẽ không. Tôi có thể sẽ nói được nhiều hơn sớm thôi. Bất cứ thứ gì xác định được vật đã tạo ra vết tích đó sẽ đưa chúng ta tiến một đoạn đường dài hướng tới kẻ thủ ác."

"Đó dĩ nhiên là một ý nghĩ vô lý," viên cảnh sát nói, "nhưng nếu một tấm lưới dây kim loại nung đỏ được đặt vắt ngang lưng, thì những điểm in rõ hơn này sẽ đại diện cho nơi các mắt lưới đan chéo vào nhau."

"Một sự so sánh rất tài tình. Hay chúng ta có thể gọi nó là một chiếc roi chín khúc cực kỳ cứng với những nút thắt nhỏ cứng ngắc trên đó?"

"Trời ơi, thưa ông Holmes, tôi nghĩ ông đã đoán trúng phóc rồi đấy."

"Hoặc có thể có một nguyên nhân nào đó hoàn toàn khác, thưa ông Bardie. Nhưng vụ án của anh còn quá yếu để tiến hành một vụ bắt giữ. Hơn nữa, chúng ta vẫn còn những lời cuối cùng ấy — 'Bờm sư tử'."

"Tôi vẫn tự hỏi liệu có phải Ian ——"

"Vâng, tôi đã cân nhắc điều đó. Nếu từ thứ hai mang bất kỳ sự tương đồng nào với tên Murdoch — nhưng nó lại không hề giống. Cậu ta thốt ra gần như bằng một tiếng thét. Tôi chắc chắn đó là từ 'Bờm'."

"Ông không có phương án thay thế nào sao, thưa ông Holmes?"

"Có lẽ là có. Nhưng tôi không thích thảo luận về nó cho đến khi có cái gì đó chắc chắn hơn để bàn bạc."

"Và khi nào thì điều đó diễn ra?"

"Trong một tiếng nữa — có lẽ nhanh hơn."

Viên Thanh tra đưa tay xoa cằm và nhìn tôi đầy hoài nghi.

"Ước gì tôi đọc được suy nghĩ trong đầu ông, thưa ông Holmes. Có lẽ đó là những chiếc thuyền đánh cá kia chăng?"

"Không, không; chúng ở quá xa."

"Vậy thì, có phải là lão Bellamy và cậu con trai to xác của hắn không? Họ đâu có ưa gì ông McPherson. Liệu họ có làm hại cậu ta không?"

"Không, không; anh đừng có moi thông tin từ tôi cho đến khi tôi sẵn sàng," tôi mỉm cười nói. "Nào, thưa Thanh tra, mỗi chúng ta đều có việc phải làm của riêng mình. Có lẽ anh có thể gặp tôi ở đây vào lúc giữa trưa chứ ——?"

Mới đi đến đó thì một sự gián đoạn kinh hoàng xảy ra, đánh dấu sự khởi đầu của hồi kết. Cửa ngoài nhà tôi bị đẩy văng ra, có những tiếng bước chân lộn xộn vang lên ngoài hành lang, và Ian Murdoch lảo đảo bước vào phòng, mặt cắt không còn giọt máu, đầu tóc bù xù, quần áo xộc xệch điên cuồng, tay gầy guộc bấu víu vào đồ đạc để cố đứng vững. "Brandy! Brandy!" hắn thều thào, rồi ngã quỵ rên rỉ trên ghế sô-pha.

Hắn không đi một mình. Phía sau hắn là Stackhurst, đầu không đội mũ, thở hồng hộc, vẻ mặt hoảng loạn chẳng kém gì người bạn đồng hành.

"Vâng, vâng, brandy!" anh kêu lên. "Hắn ta đang hấp hối rồi. Tôi đã phải cố gắng hết sức mới đưa được hắn đến đây. Hắn ngất đi hai lần dọc đường đấy."

Nửa ly rượu mạnh nguyên chất đã mang đến một sự thay đổi kỳ diệu. Hắn chống một tay chồm người lên và giật tung chiếc áo khoác khỏi vai. "Vì ơn Chúa! Dầu, thuốc phiện, morphium!" hắn thét lên. "Bất cứ thứ gì để làm dịu cơn đau đớn thấu xương này!"

Viên Thanh tra và tôi cùng kêu lên khi nhìn thấy cảnh tượng đó. Ở đó, đan chéo trên bờ vai trần của người đàn ông, chính là cái hoa văn lưới chằng chịt gồm những đường kẻ đỏ sậm, tấy lên y hệt như dấu vết tử thần trên người Fitzroy McPherson.

Cơn đau rõ ràng là vô cùng khủng khiếp và lan rộng khắp cơ thể, bởi vì nhịp thở của nạn nhân thỉnh thoảng lại ngừng bặt, khuôn mặt tái sạm đi, rồi sau những tiếng thở dốc lớn, hắn ôm chầm lấy ngực trong khi trán túa ra những giọt mồ hôi hột. Hắn có thể bỏ mạng bất cứ lúc nào. Rượu brandy tiếp tục được rót vào cổ họng hắn, mỗi liều lượng mới lại kéo hắn trở về với sự sống. Những miếng bông gòn thấm đẫm dầu ô-liu dường như đã xoa dịu đi phần nào sự đớn đau từ những vết thương kỳ lạ ấy. Cuối cùng, đầu hắn nặng nề rơi xuống chiếc gối tựa. Bản năng sinh tồn kiệt quệ đã tìm nơi ẩn náu trong kho dự trữ sinh lực cuối cùng. Đó là trạng thái nửa ngủ nửa ngất, nhưng ít ra thì nó cũng mang lại sự nhẹ nhõm khỏi cơn đau.

Việc tra hỏi hắn lúc này là điều bất khả thi, nhưng ngay khi chắc chắn về tình trạng của hắn, Stackhurst liền quay phắt sang tôi.

"Chúa tôi!" anh thét lên, "chuyện gì thế này, ông Holmes? Chuyện gì vậy?"

"Anh tìm thấy hắn ở đâu?"

"Dưới bãi biển. Chính xác là nơi tội nghiệp McPherson đã bỏ mạng. Nếu tim của gã này mà yếu ớt như McPherson thì hắn đã chẳng còn ngồi ở đây lúc này rồi. Đã hơn một lần tôi tưởng hắn tắt thở trên đường dìu lên. Khoảng cách về The Gables quá xa, nên tôi đành đưa hắn đến chỗ ông."

"Anh có thấy hắn ở bãi biển không?"

"Tôi đang đi dạo trên vách đá thì nghe tiếng kêu cứu. Hắn đang ở mép nước, lảo đảo như một kẻ say rượu. Tôi chạy xuống, khoác vội ít quần áo lên người hắn rồi dìu lên. Vì ơn Chúa, ông Holmes, hãy dùng mọi khả năng ông có và đừng quản ngại khó khăn để dỡ bỏ lời nguyền khỏi chốn này, bởi vì cuộc sống ở đây đang trở nên không tài nào chịu nổi. Với danh tiếng lừng lẫy khắp thế giới của mình, chẳng lẽ ông không thể làm gì cho chúng tôi sao?"

"Tôi nghĩ là tôi có thể, Stackhurst. Hãy đi với tôi ngay bây giờ! Và cả anh nữa, Thanh tra, đi cùng chúng tôi nào! Chúng ta sẽ xem liệu có thể giao nộp kẻ sát nhân này vào tay anh hay không."

Để mặc người đàn ông bất tỉnh trong sự chăm sóc của người quản gia, cả ba chúng tôi đi xuống đầm nước chết chóc. Trên bãi sỏi, một đống khăn tắm và quần áo nhỏ do nạn nhân để lại đang chất đống ở đó. Tôi chậm rãi rảo bước quanh mép nước, các đồng đội lầm lũi nối đuôi nhau theo sau. Phần lớn hồ nước khá nông, nhưng sát dưới chân vách đá nơi bãi biển lõm vào thì nó sâu chừng bốn đến năm thước. Chính phần này là nơi một người bơi lội sẽ tự nhiên hướng tới, bởi vì nó tạo thành một hồ nước màu lục trong vắt tuyệt đẹp trong suốt tựa pha lê. Một dải đá nằm vắt ngang phía trên sát chân vách đá, và tôi dẫn đường dọc theo đó, chăm chú dán mắt nhìn xuống dòng nước sâu thẳm bên dưới. Tôi đã tiến đến vũng sâu nhất và tĩnh lặng nhất thì đôi mắt tôi bắt gặp thứ mình đang tìm kiếm, và tôi bật thốt lên một tiếng hô đắc thắng.

"Cyanea!" tôi kêu lên. "Cyanea! Hãy nhìn kìa, chiếc bờm sư tử!"

"Vật kỳ lạ mà tôi chỉ tay vào quả thực trông giống như một búi tóc rối được giật ra từ bờm của một con sư tử. Nó nằm trên một gờ đá cách mặt nước chừng ba thước, một sinh vật lông lá kỳ lạ đang uốn lượn, rung rinh với những sợi bạc đan xen giữa những lọn tóc vàng óng. Nó nhấp nhô theo từng nhịp co giãn chậm rãi, nặng nề."

"Nó đã gây ra đủ thứ tội ác rồi. Thời của nó chấm dứt tại đây!" tôi hét lên. "Giúp tôi nào, Stackhurst! Hãy cùng chấm dứt cuộc đời của kẻ sát nhân này vĩnh viễn."

Có một tảng đá lớn nằm ngay phía trên gờ đá, và chúng tôi hợp sức xô đẩy cho đến khi nó rơi tõm xuống nước với một tiếng động vang trời. Khi những gợn sóng tan đi, chúng tôi nhìn thấy tảng đá đã nằm gọn trên gờ đá bên dưới. Một mép màng màu vàng đang phấp phới cho thấy nạn nhân của chúng tôi nằm ngay bên dưới nó. Một lớp váng dầu đặc sệt rỉ ra từ bên dưới tảng đá làm vẩn đục vùng nước xung quanh, từ từ nổi lên mặt nước.

"Chà, cái này thì vượt quá sự hiểu biết của tôi rồi!" viên Thanh tra thốt lên. "Nó là cái quái gì thế, thưa ông Holmes? Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng này, nhưng chưa từng thấy thứ như thế bao giờ. Nó không thuộc về vùng Sussex."

"Cũng may cho Sussex đấy," tôi nhận xét. "Có lẽ cơn cuồng phong Tây Nam đã cuốn nó trôi lên đây. Cả hai người hãy quay về nhà tôi, tôi sẽ kể cho nghe trải nghiệm kinh hoàng của một kẻ có lý do chính đáng để ghi nhớ cuộc đụng độ của chính mình với hiểm họa tương tự của biển cả."

Khi chúng tôi bước vào phòng làm việc, Murdoch đã hồi phục đến mức có thể ngồi dậy. Tâm trí hắn vẫn còn ngẩn ngơ, và chốc chốc lại bị hành hạ bởi một cơn đau buốt. Bằng những từ ngữ đứt quãng, hắn giải thích rằng hắn không hề hay biết chuyện gì đã xảy ra với mình, ngoại trừ việc những cơn đau dữ dội bất ngờ bủa vây lấy hắn, và hắn đã phải dùng hết can đảm mới lết được vào đến bờ.

"Đây là một cuốn sách," tôi nói, cầm lấy cuốn sách nhỏ lên, "thứ đầu tiên mang lại ánh sáng cho một chuyện vốn có thể chìm trong bóng tối vĩnh viễn. Đó là cuốn Ngoài trời (Out of Doors), của nhà quan sát nổi tiếng J. G. Wood. Bản thân Wood suýt chút nữa đã thiệt mạng khi tiếp xúc với sinh vật ghê tởm này, thế nên ông ấy viết với một sự hiểu biết rất tường tận. Cyanea Capillata là tên đầy đủ của kẻ thủ ác này, và nó có thể nguy hiểm đến tính mạng, đồng thời gây đau đớn hơn nhiều so với vết cắn của rắn hổ mang. Xin phép được trích dẫn ngắn gọn đoạn này."

"'Nếu người bơi lội nhìn thấy một khối màng và sợi màu nâu vàng lỏng lẻo, hơi giống với nắm bờm sư tử và giấy bạc rất lớn, hãy cẩn thận, vì đó chính là loài sinh vật đốt đáng sợ, Cyanea Capillata.' Có thể mô tả người quen tai họa của chúng ta rõ ràng hơn được nữa không?"

"Ông ấy tiếp tục kể về cuộc chạm trán của chính mình với một con khi đang bơi ngoài khơi bờ biển Kent. Ông phát hiện ra rằng sinh vật này tỏa ra những sợi tơ gần như vô hình ở khoảng cách lên tới năm mươi thước, và bất kỳ ai nằm trong vòng tròn bán kính đó tính từ trung tâm chết chóc đều gặp nguy hiểm đến tính mạng. Ngay cả ở khoảng cách xa, tác động đối với Wood cũng gần như là chí mạng. 'Những sợi tơ chằng chịt tạo ra những đường màu đỏ tươi trên da, khi quan sát kỹ hơn sẽ phân giải thành những chấm hoặc mụn mủ nhỏ li ti, mỗi chấm tựa như được nạp một cây kim nung đỏ đang đâm xuyên qua các dây thần kinh.'"

"Cơn đau cục bộ, như ông ấy giải thích, là phần nhỏ nhất trong sự tra tấn tinh tế đó. 'Những cơn đau nhói xuyên qua lồng ngực, khiến tôi ngã quỵ xuống như thể bị trúng đạn. Nhịp đập ngừng lại, và rồi trái tim đập thình thịch sáu hay bảy nhịp như muốn phá tung lồng ngực mà nhảy ra ngoài.'"

"Nó suýt giết chết ông ấy, mặc dù ông chỉ phải đối mặt với nó ở vùng đại dương sóng gió chứ không phải trong vùng nước tĩnh lặng chật hẹp của một hồ bơi tắm. Ông nói rằng sau đó bản thân khó mà nhận ra chính mình nổi, bởi vì khuôn mặt quá trắng bệch, nhăn nheo và teo tóp. Ông đã tu ừng ực rượu brandy, cả một chai đầy, và dường như nó đã cứu mạng ông. Cuốn sách đây, thưa Thanh tra. Tôi để lại nó cho anh, và anh không thể nghi ngờ gì nữa khi nó chứa đựng lời giải thích đầy đủ cho thảm kịch của tội nghiệp McPherson."

"Và tiện thể minh oan cho tôi luôn," Ian Murdoch lên tiếng với một nụ cười méo mó. "Tôi không trách anh đâu, thưa Thanh tra, hay cả ông nữa, thưa ông Holmes, bởi vì những nghi ngờ của các ông là điều hiển nhiên. Tôi cảm thấy rằng ngay trước thềm bị bắt giữ, tôi chỉ tự chứng minh được sự trong sạch của mình bằng cách chia sẻ chung số phận với người bạn tội nghiệp."

"Không, thưa ông Murdoch. Tôi đã sớm lần theo dấu vết rồi, và giá như tôi ra ngoài sớm như dự định, rất có thể tôi đã cứu anh khỏi trải nghiệm khủng khiếp này."

"Nhưng làm sao ông biết được chứ, thưa ông Holmes?"

"Tôi là một kẻ đọc sách tạp nhan với một trí nhớ lưu trữ vô cùng kỳ lạ đối với những chuyện vụn vặt. Cụm từ 'Bờm sư tử' cứ ám ảnh mãi trong tâm trí tôi. Tôi biết mình từng nhìn thấy nó ở đâu đó trong một bối cảnh bất ngờ. Các anh đã thấy rằng nó mô tả chính xác sinh vật này. Tôi không nghi ngờ gì nữa rằng nó đang trôi nổi trên mặt nước khi McPherson nhìn thấy, và cụm từ đó là cách duy nhất anh ấy có thể truyền tải cho chúng ta một lời cảnh báo về sinh vật đã mang lại cái chết cho mình."

"Vậy thì ít ra tôi cũng đã được giải oan," Murdoch nói, chầm chậm đứng dậy. "Có một hoặc hai lời giải thích mà tôi nên đưa ra, bởi vì tôi biết hướng điều tra của các ông đã đi đến đâu. Quả thực tôi yêu người phụ nữ này, nhưng kể từ ngày cô ấy chọn người bạn McPherson của tôi, mong muốn duy nhất của tôi là giúp cô ấy tìm thấy hạnh phúc. Tôi hoàn toàn bằng lòng đứng sang một bên và đóng vai trò là kẻ trung gian cho họ. Thường xuyên tôi mang những thông điệp của họ, và chính vì tôi nắm giữ sự tin tưởng của họ cũng như vì cô ấy quá đỗi thân thương đối với tôi nên tôi đã vội vã báo tin cái chết của bạn mình cho cô ấy, kẻo có ai đó nhanh chân hơn tôi theo một cách bất ngờ và nhẫn tâm hơn. Cô ấy đã không nói với ông, thưa ông, về mối quan hệ của chúng tôi vì sợ ông phản đối và tôi sẽ phải chịu thiệt thòi. Nhưng xin phép các ông cho tôi cố gắng quay trở lại The Gables, chiếc giường lúc này thực sự là nơi đáng mong chờ biết mấy."

Stackhurst đưa tay ra. "Dây thần kinh của tất cả chúng ta đều đã căng như dây đàn," anh nói. "Hãy tha thứ cho những chuyện đã qua đi, Murdoch. Chúng ta sẽ hiểu nhau hơn trong tương lai." Họ bước ra cùng nhau với những cánh tay quàng qua vai nhau đầy thân thiện. Viên Thanh tra ở lại, trân trân nhìn tôi trong im lặng với đôi mắt tròn xoe như mắt bò.

"Chà, ông đã làm được rồi!" cuối cùng anh ta thốt lên. "Tôi từng đọc về ông, nhưng chưa bao giờ dám tin. Thật là tuyệt diệu!"

Tôi đành phải lắc đầu. Chấp nhận những lời khen ngợi đó chẳng khác nào hạ thấp tiêu chuẩn của chính mình.

"Tôi đã chậm trễ ngay từ phút ban đầu — chậm trễ một cách đáng trách. Giá như thi thể được tìm thấy dưới nước thì có lẽ tôi đã không bỏ sót nó. Chính chiếc khăn tắm đã đánh lừa tôi. Người đàn ông tội nghiệp ấy chưa từng nghĩ đến việc lau khô người, và vì thế tôi lại bị dẫn dắt để tin rằng anh chưa bao giờ xuống nước cả. Vậy thì, cớ sao cuộc tấn công của bất kỳ sinh vật dưới nước nào lại có thể gợi lên trong tâm trí tôi chứ? Đó là điểm mà tôi đã đi chệch hướng. Thường thì, thưa Thanh tra, tôi hay dám trêu chọc các anh bên lực lượng cảnh sát, nhưng loài Cyanea Capillata suýt chút nữa đã trả thù thay cho Scotland Yard rồi đấy."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.