Trong lúc rảo bước quay về thuyền, vừa đi vừa bàn tính chuyện đó, một tiếng nổ lớn đanh gọn bỗng giáng xuống khiến tất cả chúng tôi giật thót.
“Đại bác của tàu U-33!” von Schoenvorts thốt lên.
“Có biến gì chăng?” Olson gặng hỏi.
“Họ gặp nguy hiểm rồi,” tôi nói thay tất cả, “chúng ta phải quay lại ngay. Bỏ con mồi xuống!” tôi ra lệnh cho đám người đang gánh thịt, “mau theo tôi!” Tôi tức tốc lao về hướng vũng tàu.
Chúng tôi cắm đầu chạy gần một dặm mà chẳng nghe thêm động tĩnh nào từ phía vũng nước. Tôi bèn cho giảm tốc độ xuống đi bộ, bởi những đợt gắng sức tột cùng thế này quả là quá tải đối với những kẻ vừa bị giam hãm bấy lâu trong lòng tàu U-33 chật chội. Thở hồng hộc và hổn hển, cả bọn lê bước tiếp, cho đến khi chỉ còn cách vũng tàu chừng một dặm thì một cảnh tượng sập vào mắt khiến tất cả sững sờ chôn chân. Chúng tôi vừa băng qua một vạt rừng rậm rạp hơn bình thường ở vùng này, để rồi bất thần bước ra một khoảng đất trống; sừng sững ngay giữa bãi là một bầy đàn đủ sức làm chùn bước cả những kẻ can trường nhất. Đó là một đám hơn năm trăm sinh vật, quy tụ nhiều giống loài có họ hàng rất gần với loài người. Đám vượn nhân hình và khỉ đột thì tôi nhận ra ngay không chút khó khăn; nhưng cạnh đó là những hình hài tôi chưa từng thấy bao giờ, đến mức tôi chịu chết không rõ chúng là vượn hay là người. Có kẻ trông nhang nhác cái xác chúng tôi từng thấy trên dải bờ hẹp dưới chân vách đá Caprona, song có kẻ lại thuộc đẳng cấp thấp hơn, giống loài vượn nhiều hơn; lại có những kẻ giống người đến rợn gáy, đứng thẳng thon thót, lông lá thưa thớt hơn và hộp sọ có hình thù cân đối hơn hẳn.
Nổi bật trong đàn, hiển nhiên là kẻ cầm đầu, có nét giống kỳ lạ với người Neanderthal ở La Chapelle-aux-Saints mà người ta vẫn miêu tả. Hắn có thân hình thấp đậm, bên trên là một cái đầu to tướng luôn ngoẹo về phía trước theo đúng độ cong của sống lưng; tay ngắn hơn chân, và cẳng chân dưới ngắn hơn nhiều so với người hiện đại; hai đầu gối khuỳnh ra phía trước, chẳng bao giờ duỗi thẳng. Sinh vật này cùng một hai gã khác trông có vẻ kém tiến hóa hơn hắn nhưng vẫn cao đẳng hơn loài vượn, tay cầm những cây gậy gộc nặng trịch; số còn lại chẳng có vũ khí gì ngoài những khối cơ bắp hộ pháp và nanh vuốt săn mồi rợn ngườicủa tự nhiên. Tất cả đều là giống đực, mình trần như nhộng, và ngay cả những kẻ tiến hóa nhất trong số chúng cũng chẳng hề đeo một món đồ trang sức nào.
Vừa thấy chúng tôi, chúng lập tức nhe nanh gầm gừ đe dọa rồi dàn hàng đối mặt. Không muốn nổ súng trừ phi vạn bất đắc dĩ, tôi bèn dẫn đoàn người đi vòng qua chúng; nhưng người Neanderthal kia vừa đánh hơi thấy ý định của tôi thì dường như lại tưởng chúng tôi hèn nhát khiếp sợ. Hắn thét lên một tiếng man dại rồi vung chày gỗ qua đầu, chồm thẳng về phía chúng tôi. Cả bầy lập tức ùa theo sau; chỉ tích tắc nữa thôi là chúng tôi sẽ bị biển thịt ấy nuốt chửng. Tôi thét lệnh khai hỏa. Ngay loạt đạn đầu tiên, sáu tên đã ngã gục, bao gồm cả gã Neanderthal. Lũ còn lại thoáng chần chừ rồi nháo nhào tháo chạy về phía rừng cây; vài con thoăn thoắt chuyền cành, trong khi số khác lẩn khuất sau những thân cây cổ thụ. Cả von Schoenvorts lẫn tôi đều nhận thấy ít nhất hai kẻ thuộc dạng hình người cao đẳng hơn đã trèo tót lên cây nhanh nhẹn chẳng kém gì loài vượn, trong khi những kẻ có dáng đi và hình dong giống người hơn lại chọn cách chạy trốn trên mặt đất cùng lũ khỉ đột.
Khám xét hiện trường cho thấy năm đối thủ của chúng tôi đã chết tốt, riêng gã Neanderthal thì chỉ bị thương nhẹ: một viên đạn đã sượt qua hộp sọ dày cộp của hắn khiến hắn ngất đi. Chúng tôi quyết định áp giải hắn về trại; nhân lúc hắn chưa tỉnh, cả bọn lấy dây nịt trói quặt hai tay hắn ra sau lưng rồi tròng một sợi thừng quanh cổ. Xong xuôi, chúng tôi quay lại nhặt xác con mồi, bụng đinh ninh rằng người trên tàu U-33 đã có thể dọa đàn thú dữ này chạy tóe khói chỉ bằng một phát đại bác—nhưng khi tới nơi, con hươu đã không cánh mà bay.
Trên đường quay về, Whitely và tôi đi trước cả đoàn chừng một trăm thước với hy vọng săn thêm được thứ gì ăn được, bởi ai nấy đều bực bội và tiếc ngẩn ngơ số thịt hươu vừa mất. Hai chúng tôi dò dẫm tiến bước hết sức thận trọng, và nhờ không phải kéo theo cả đoàn đông đúc, vận may của chúng tôi đã khá khẩm hơn lúc đi: chúng tôi hạ được hai con linh dương lớn chỉ cách vũng tàu chưa đầy nửa dặm. Thế là, vừa có chiến lợi phẩm vừa tóm được tù binh, chúng tôi phấn khởi quay lại chỗ con tàu, thở phào khi thấy mọi người đều an toàn vô sự. Dạt trên bờ về phía bắc vũng neo đậu là xác của hai mươi sinh vật hoang dã; chúng đã liều mạng tấn công nhóm của Bradley lúc chúng tôi vắng mặt, và chính tàn quân của chúng là đám mà chúng tôi đã đụng độ rồi đánh tan tác chỉ vài phút sau đó.
Chúng tôi tin rằng mình đã dạy cho lũ người vượn hoang dã này một bài học đích đáng và từ nay sẽ được yên ổn hơn—ít ra là không bị chúng quấy nhiễu; dẫu vậy, chúng tôi quyết không lơ là cảnh giác dù chỉ một mảy may, bởi ai cũng lờ mờ nhận ra rằng thế giới mới này còn ẩn chứa muôn vàn mối kinh hoàng chưa từng biết tới; và quả nhiên chúng tôi đã chẳng hề lầm.
Sáng hôm sau, chúng tôi bắt tay vào dựng trại, sau khi Bradley, Olson, von Schoenvorts, cô La Rue và tôi đã thức trắng nửa đêm để bàn thảo và phác thảo bản vẽ. Chúng tôi cắt cử người đi đốn cây, chọn loại gỗ jarrah mọc bạt ngàn gần đó, vốn là loại gỗ cứng cáp và chịu được mưa nắng rất tốt. Một nửa số người làm việc trong khi nửa còn lại đứng gác, cứ mỗi giờ lại đổi ca cho nhau, riêng buổi trưa được nghỉ một tiếng. Olson phụ trách điều phối công việc đốn hạ này. Bradley, von Schoenvorts và tôi, cùng sự hỗ trợ của cô La Rue, tiến hành cắm cọc đo đạc các dãy nhà và vòng tường bao ngoài. Khi một ngày kết thúc, chúng tôi đã có cả một đống gỗ tròn được đẽo ngàm cẩn thận, sẵn sàng cho công việc lắp dựng vào sáng mai; ai nấy đều mệt lử, bởi sau khi cắm cọc định vị xong, tất cả chúng tôi đều xắn tay áo vào phụ khuân gỗ—trừ von Schoenvorts. Vốn dòng dõi quý tộc Phổ, hắn đời nào chịu hạ mình làm những công việc chân lấm tay bùn trước mắt thuộc hạ, và tôi cũng chẳng buồn ép, vì đây hoàn toàn là sự tự nguyện của chúng tôi. Hắn dành trọn buổi chiều để gọt một chiếc ba-toong chỉ huy từ cành cây jarrah và trò chuyện với cô La Rue, người lúc này đã đủ mềm mỏng để thèm để mắt tới sự hiện diện của hắn.
Chúng tôi không hề thấy bóng dáng lũ người hoang dã hôm trước, và chỉ duy nhất một lần bị đe dọa bởi những cư dân quái dị của Caprona, khi một cơn ác mộng kinh hoàng từ trên trời sà xuống, chỉ chịu tháo lui sau một tràng đạn chát chúa. Sinh vật ấy có vẻ là một giống thằn lằn bay pterodactyl nào đó; kích thước khổng lồ cùng diện mạo hung dữ tột cùng của nó khiến người ta không khỏi rùng mình khiếp hãi. Lại còn một biến cố khác, mà ít nhất đối với tôi, còn khó chịu hơn nhiều so với cuộc tập kích bất ngờ của loài bò sát tiền sử kia. Hai thủy thủ, đều là người Đức, đang róc cành trên một thân cây vừa ngả. Von Schoenvorts vừa gọt xong chiếc gậy chỉ huy, và hắn cùng tôi đang đi ngang qua chỗ hai người nọ làm việc.
Một người tiện tay hất về phía sau một nhánh cây nhỏ vừa chặt xong, và rủi thay, nhánh cây lại quất trúng mặt von Schoenvorts. Nhánh cây chẳng thể làm hắn đau, bởi nó chẳng để lại vết tích gì; nhưng hắn đùng đùng nổi giận lôi đình, quát lớn: “Nghiêm!” Người thủy thủ lập tức đứng thẳng tắp, quay mặt về phía viên sĩ quan, dập gót giày rồi giơ tay chào. “Đồ lợn!” viên Nam tước gầm lên, rồi vung tay tát thẳng vào mặt gã kia, làm vỡ mũi anh ta. Tôi túm lấy cánh tay von Schoenvorts rồi giật mạnh hắn ra trước khi hắn kịp giáng thêm đòn nữa, nếu hắn thực sự có ý định đó; thế rồi hắn vung chiếc gậy con lên toan đánh tôi. Nhưng trước khi chiếc gậy kịp hạ xuống, nòng súng lục của tôi đã dí sát vào bụng hắn; ắt hẳn hắn đã đọc được trong mắt tôi rằng chẳng có gì làm tôi sướng hơn là có cớ bóp cò. Giống như mọi kẻ cùng loài và những tên bắt nạt khác, von Schoenvorts thực chất chỉ là một kẻ hèn nhát tận trong xương tủy, nên hắn hạ tay xuống bên hông rồi toan quay gót; nhưng tôi giật ngược hắn lại, và ngay trước mặt các thuộc hạ của hắn, tôi tuyên bố rành rọt rằng chuyện này tuyệt đối không được phép tái diễn—rằng không một ai được quyền đánh đập hay trừng phạt người khác ngoài khuôn khổ pháp luật và tòa án mà chúng tôi đã thiết lập. Suốt thời gian đó, người thủy thủ vẫn đứng nghiêm như pho tượng; tôi chẳng thể đoán nổi qua nét mặt anh ta xem anh ta căm ghét cú tát của viên sĩ quan hơn hay căm ghét sự can thiệp của tôi vào giáo điều của dòng giống hoàng đế Đức hơn. Anh ta không hề nhúc nhích cho đến khi tôi bảo: “Plesser, anh có thể về phòng nghỉ và băng bó vết thương.” Đến lúc đó anh ta mới chào một cái rồi cứng đờ bước về phía tàu U-33.
Trời vừa sẩm tối, chúng tôi cho tàu di chuyển ra giữa vịnh, cách bờ chừng một trăm thước rồi thả neo, bởi tôi cảm thấy ở đó sẽ an toàn hơn bất kỳ nơi nào khác. Tôi cũng cắt cử người canh gác suốt đêm và chỉ định Olson làm trưởng ca trực cho toàn bộ đêm hôm đó, bảo anh mang chăn lên boong để tranh thủ chợp mắt lúc có thể. Trong bữa tối, chúng tôi lần đầu tiên được nếm món linh dương Caprona nướng, kèm theo một đĩa rau rừng mà anh nuôi kiếm được dọc bờ suối. Suốt bữa ăn, von Schoenvorts chỉ lầm lì, mặt nặng mày nhẹ.
Cơm nước xong xuôi, tất cả chúng tôi kéo nhau lên boong ngắm nhìn khung cảnh lạ lùng của một đêm Caprona—nghĩa là tất cả, trừ von Schoenvorts. Cảnh vật để nhìn thì ít, nhưng âm thanh để nghe thì bạt ngàn. Từ hồ nước mênh mông sâu trong nội địa phía sau chúng tôi vọng lại tiếng rít và những tiếng thét xé tai của vô số loài thằn lằn cổ đại. Phía trên đầu, chúng tôi nghe thấy tiếng đập cánh phần phật của những đôi cánh khổng lồ, trong khi từ bờ vọng sang cơ man âm thanh hỗn tạp của một khu rừng rậm nhiệt đới—thứ bầu không khí ấm áp, ẩm ướt ắt hẳn từng bao trùm toàn bộ trái đất trong các kỷ Cổ sinh và Trung sinh. Nhưng ở đây, quyện lẫn vào đó lại là những thanh âm của các thời kỳ sau này—tiếng gầm rú của báo, tiếng gầm của sư tử, tiếng tru của bầy sói và cả những tiếng gầm vang như sấm sét mà chúng tôi chẳng thể gán ghép cho bất kỳ loài nào nơi trần thế, nhưng một ngày kia chúng tôi sẽ biết đó là của những quái thú cổ xưa đáng sợ nhất.
Mọi người lần lượt về phòng nghỉ, cuối cùng chỉ còn lại tôi và cô gái, bởi tôi đã cho phép người lính gác xuống dưới nghỉ ngơi ít phút vì biết mình vẫn đang túc trực trên boong. Cô La Rue rất trầm lặng, dẫu cô vẫn đáp lại hết sức nhã nhặn bất cứ điều gì tôi mở lời cần đối đáp. Tôi bèn hỏi xem cô có thấy trong người không khỏe hay chăng.
“Không,” cô đáp, “chỉ là em thấy trĩu nặng trước sự khủng khiếp của tất cả những thứ này. Em thấy mình quá đỗi nhỏ bé và bất lực trước muôn vàn biểu hiện của một sự sống bị lột trần đến tận cùng của sự hoang dã và tàn bạo. Chưa bao giờ em nhận ra sinh mạng lại là thứ rẻ rúng và vô giá trị đến nhường này. Cuộc đời dường như chỉ là một trò đùa, một trò đùa tàn nhẫn và cay nghiệt. Ta chỉ là một hạt cát đáng cười hoặc đáng sợ tùy thuộc vào việc ta yếu thế hơn hay mạnh mẽ hơn một dạng sống khác tình cờ ngang qua đường; nhưng theo lẽ thường, ta chẳng có nghĩa lý gì đối với bất cứ thứ gì ngoài chính bản thân mình. Ta chỉ là một bóng hình nực cười nhỏ bé, nhảy nhót từ lúc lọt lòng cho đến ngày xuống lỗ. Phải, vấn đề của chúng ta là ở đó—chúng ta cứ quá coi trọng bản thân; nhưng Caprona có lẽ sẽ là phương thuốc trị dứt điểm căn bệnh ấy.” Cô ngừng lại rồi bật cười.
“Cô vừa đúc kết nên một triết lý tuyệt đẹp đấy,” tôi nói. “Nó lấp đầy sự khao khát khôn nguôi trong lồng ngực con người. Thật trọn vẹn, thật thỏa đáng, và cũng thật cao quý xiết bao. Loài người hẳn đã có thể tiến những bước diệu kỳ đến mức hoàn mỹ nếu như người đầu tiên khai sinh ra nó và nó được lưu truyền cho tới tận bây giờ như một tín điều của nhân loại.”
“Em chẳng thích thói mỉa mai đâu,” cô nói; “nó chứng tỏ một tâm hồn hẹp hòi.”
“Thế thì, cô mong đợi một tâm hồn như thế nào khác từ ‘một bóng hình nực cười nhỏ bé nhảy nhót từ lúc lọt lòng cho đến ngày xuống lỗ’ chứ?” tôi hỏi lại. “Và vả lại, việc cô thích hay không thích thì có gì quan trọng? Cô ở đây chỉ trong chớp mắt thôi, và cô chớ có quá coi trọng bản thân mình làm gì.”
Cô ngước nhìn tôi mỉm cười. “Em đoán là em đang hoảng sợ và u sầu thôi,” cô bảo, “và em biết mình đang nhớ nhà ghê gớm, cô độc vô cùng.” Có tiếng nghẹn ngào gần như thổn thức trong giọng cô khi dứt lời. Đây là lần đầu tiên cô bộc bạch với tôi như thế. Theo một phản xạ tự nhiên, tôi đặt bàn tay mình lên tay cô đang tựa trên lan can.
“Tôi biết tình cảnh của cô khó khăn dường nào,” tôi nói; “nhưng xin đừng cảm thấy mình đơn độc. Vẫn có... có một người ở đây... người sẵn sàng làm bất cứ điều gì trên cõi đời này vì cô,” tôi kết thúc câu một cách vụng về. Cô không rụt tay lại, ngước nhìn thẳng vào mặt tôi với những giọt lệ long lanh trên má, và tôi đọc được trong mắt cô lời cảm tạ mà đôi môi không thể thốt nên lời. Đoạn cô ngoảnh mặt nhìn ra phong cảnh ma mị dưới ánh trăng và buông tiếng thở dài. Rõ ràng mớ triết lý cô vừa tìm thấy đã sụp đổ tan tành quanh tai, bởi dường như cô lại đang quá coi trọng bản thân mình rồi. Tôi muốn ôm chầm lấy cô vào lòng và thổ lộ tôi yêu cô biết bao, bàn tay tôi đã rời khỏi lan can và bắt đầu kéo cô lại gần mình thì Olson vụng về xộc lên boong cùng đống chăn màn.
Sáng hôm sau, chúng tôi bắt tay vào công việc xây dựng một cách nghiêm túc, và mọi sự tiến triển rất êm đẹp. Gã Neanderthal là một mối bận tâm không nhỏ, bởi chúng tôi phải cùm hắn suốt ngày, và hắn hung hãn vô cùng mỗi khi có ai lại gần; nhưng sau một thời gian hắn trở nên thuần tính hơn, rồi chúng tôi cố tìm hiểu xem liệu hắn có ngôn ngữ hay không. Lys dành rất nhiều thời gian trò chuyện và cố gợi mở cho hắn; nhưng ròng rã suốt một dạo, cô vẫn không thu được kết quả gì. Chúng tôi mất ba tuần để dựng xong toàn bộ các căn nhà; chúng được xây gần một con suối nước mát lạnh, cách vũng tàu chừng hai dặm.
Chúng tôi đã thay đổi kế hoạch đôi chút khi tính đến việc dựng hàng rào cọc, bởi chúng tôi tìm thấy một vách đá vôi mủn gần đó, nơi có thể lấy bao nhiêu đá phiến phẳng tùy thích để xây dựng; vì thế chúng tôi đã xây một bức tường đá bao bọc hoàn toàn các dãy nhà. Tường đá có hình vuông, với các pháo đài và chòi canh ở mỗi góc cho phép bắn quét dọc theo bất kỳ mặt nào của đồn lũy; chu vi ngoài mỗi cạnh dài khoảng một trăm ba mươi lăm bộ, tường dày ba bộ ở chân, thu hẹp còn chừng một bộ rưỡi ở đỉnh, và cao mười lăm bộ. Phải mất một thời gian dài mới dựng xong bức tường ấy, và tất cả chúng tôi đều xắn tay áo vào làm, ngoại trừ von Schoenvorts—người mà nhân tiện cũng nói luôn, từ sau vụ va chạm nọ đã không hề nói với tôi nửa lời trừ khi là việc công vụ; một trạng thái trung lập vũ trang hoàn toàn vừa ý tôi. Chúng tôi vừa mới hoàn tất nó, những nét hoàn thiện cuối cùng đã xong xuôi trong ngày hôm nay. Tôi đã ngừng việc chân tay cách đây khoảng một tuần và bắt đầu viết cuốn biên niên ký về những chuyến phiêu lưu kỳ lạ này; điều đó giải thích cho bất kỳ sai sót nhỏ nào về mặt niên đại có thể đã lọt vào đây; có quá nhiều tư liệu đến nỗi tôi có thể đã nhầm lẫn đôi chút, nhưng tôi tin chúng chỉ là những lỗi vụn vặt và hiếm hoi.
Đọc lại vài trang trước, tôi nhận thấy mình đã quên không ghi lại việc Lys cuối cùng cũng phát hiện ra gã Neanderthal có ngôn ngữ riêng. Cô đã học nói được tiếng đó, và tôi cũng vậy, ở một chừng mực nào đấy. Chính hắn—hắn xưng tên mình là Am, hay Ahm—đã nói cho chúng tôi hay rằng vùng đất này gọi là Caspak. Khi chúng tôi hỏi lãnh thổ này rộng đến đâu, hắn vung cả hai tay qua đầu trong một cử chỉ bao quát như muốn ôm trọn lấy cả vũ trụ. Hắn giờ đã thuần tính hơn, và chúng tôi chuẩn bị thả hắn ra, bởi hắn đã đoan chắc rằng sẽ không để đồng loại làm hại chúng tôi. Hắn gọi chúng tôi là Galu và bảo rằng chẳng bao lâu nữa hắn cũng sẽ trở thành một Galu. Chúng tôi không hiểu rõ lắm ý hắn là gì. Hắn bảo có rất nhiều người Galu ở phía bắc, và ngay khi trở thành một Galu, hắn sẽ đến sống cùng bọn họ.
Hôm qua Ahm cùng đi săn với chúng tôi và vô cùng kinh ngạc trước sự dễ dàng mà những khẩu súng trường của chúng tôi hạ gục linh dương và hươu nai. Chúng tôi sống cuộc đời sung túc dư dả; Ahm chỉ cho chúng tôi những loại hoa quả, củ và thảo mộc ăn được, và mỗi tuần hai lần chúng tôi lại ra ngoài kiếm thịt tươi. Một phần thịt nhất định được đem sấy khô cất trữ phòng khi hữu sự. Cách thức sấy khô của chúng tôi thực chất là hun khói. Chúng tôi cũng phơi khô được một lượng lớn hai loại ngũ cốc mọc hoang cách đây vài dặm về phía nam. Một trong số đó là loài ngô khổng lồ—một giống cây lâu năm cao vút, thường cao tới năm mươi, sáu mươi bộ, với những bắp ngô to bằng thân người và hạt ngô to bằng nắm tay. Chúng tôi đã phải dựng thêm một nhà kho thứ hai chỉ để chứa lượng ngô khổng lồ đã thu hoạch được.
Ngày 3 tháng Chín năm 1916: Đúng ba tháng trước, quả ngư lôi từ tàu U-33 đã hất văng tôi khỏi boong tàu chở khách êm ả của Mỹ để bước vào chuyến hải trình kỳ lạ rồi kết thúc tại chốn Caspak này. Chúng tôi đã cam chịu chấp nhận số phận, bởi ai nấy đều tin chắc rằng mình sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy thế giới bên ngoài nữa. Những lời quả quyết lặp đi lặp lại của Ahm rằng có những con người giống chúng tôi ở Caspak đã nhen nhóm trong lòng đám đàn ông một niềm khao khát thám hiểm cháy bỏng. Tuần trước, tôi đã phái một đội lên đường dưới sự chỉ huy của Bradley. Ahm, người giờ đây được tự do đi lại tùy thích, đã đồng hành cùng họ. Họ hành quân khoảng hai mươi lăm dặm thẳng về hướng tây, chạm trán nhiều loài thú dữ cùng bò sát gớm ghiếc, và không ít những sinh vật giống người mà Ahm đã xua đuổi đi. Đây là báo cáo của Bradley về chuyến thám hiểm:
Ngày đầu hành quân mười lăm dặm, hạ trại bên bờ một dòng suối lớn chảy về phương nam. Thú săn rất dồi dào và chúng tôi thấy vài chủng loại chưa từng gặp ở Caspak. Ngay trước khi cắm trại, chúng tôi bị một con tê giác lông mượt khổng lồ lao vào tấn công, nhưng Plesser đã hạ gục nó bằng một phát bắn tuyệt hảo. Bữa tối có món bít tết thịt tê giác. Ahm gọi con vật đó là “Atis”. Gần như là một cuộc giao tranh liên miên từ lúc rời đồn lũy cho tới khi đến điểm cắm trại. Trí tưởng tượng của con người khó lòng dung nạp nổi sự thừa mứa của các loài ăn thịt trong thế giới đã mất này; và con mồi của chúng, dĩ nhiên, lại càng đông đúc hơn gấp bội.
Ngày thứ hai, chúng tôi hành quân khoảng mười dặm tới chân các vách đá. Băng qua những khu rừng rậm rạp áp sát chân vách. Bắt gặp những sinh vật dạng người cùng một giống vượn đẳng cấp thấp tụ tập thành một bầy, vài người trong đoàn thề sống thề chết rằng có một người da trắng ở giữa chúng. Ban đầu chúng toan tấn công chúng tôi; nhưng một loạt súng trường đã khiến chúng phải đổi ý. Chúng tôi trèo lên các vách đá cao hết mức có thể; nhưng gần tới đỉnh thì vách dốc đứng như bức tường thành, chẳng có khe nứt hay mỏm đá nào đủ để bấu víu hay đặt chân. Ai nấy đều thất vọng ê chề, bởi chúng tôi khao khát được phóng tầm mắt nhìn ra đại dương và thế giới bên ngoài. Chúng tôi thậm chí còn nuôi hy vọng có thể nhìn thấy và thu hút sự chú ý của một con tàu nào đó đi ngang qua. Chuyến thám hiểm đã xác định được một điều dẫu có lẽ chẳng mấy giá trị đối với chúng tôi và thế giới ngoài kia cũng chẳng bao giờ được nghe tới—miệng núi lửa này xưa kia từng ngập hoàn toàn trong nước. Bằng chứng không thể chối cãi hiện rõ trên bề mặt vách đá.
Chặng đường về mất hai ngày và cũng đầy rẫy hiểm nguy như thường lệ. Tất cả chúng tôi đều đang quen dần với những cuộc phiêu lưu. Nó bắt đầu trở nên nhạt nhẽo rồi. Không có thương vong và không ai đau ốm.
Tôi không khỏi bật cười khi đọc báo cáo của Bradley. Trong bốn ngày đó, chắc chắn anh đã trải qua nhiều biến cố hiểm nghèo hơn cả đời một thợ săn thú lớn ở châu Phi, vậy mà anh gom tất cả lại chỉ trong vài dòng ngắn ngủi. Phải, chúng tôi đang quen dần với hiểm nguy. Chẳng ngày nào trôi qua mà không có một vài người trong chúng tôi phải đối mặt với tử thần ít nhất một lần. Ahm đã dạy chúng tôi một số điều hết sức bổ ích, giúp tiết kiệm được nhiều đạn dược—thứ vốn dĩ vô ích nếu đem lãng phí vào việc gì khác ngoài kiếm cái ăn hoặc tự vệ trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Giờ đây, mỗi khi bị loài bò sát bay khổng lồ tấn công, chúng tôi chui ngay vào dưới những tán cây xòe rộng; khi dã thú săn mồi trên cạn uy hiếp, chúng tôi trèo tót lên cây; và chúng tôi đã học được cách không bao giờ nổ súng vào bất kỳ con khủng long nào trừ phi có thể tránh xa tầm với của chúng ít nhất hai phút sau khi bắn trúng não hoặc tủy sống, hoặc năm phút sau khi bắn thủng tim—chúng dai chết đến thế đấy. Bắn vào chỗ khác thì chỉ tổ hoài công vô ích, vì chúng dường như chẳng hề bận tâm, và chúng tôi đã nhận ra rằng những phát đạn như thế chẳng thể giết hay thậm chí làm chúng suy suyển.
Ngày 7 tháng Chín năm 1916: Đã có nhiều chuyện xảy ra kể từ lần cuối tôi viết nhật ký. Bradley lại lên đường trong một chuyến thám hiểm khác tới các vách đá. Anh dự tính sẽ đi trong vài tuần và men theo chân vách để tìm một điểm có thể trèo lên được. Anh dẫn theo Sinclair, Brady, James và Tippet. Ahm đã biến mất. Hắn đã đi khoảng ba ngày nay; nhưng điều chấn động nhất mà tôi ghi nhận được là von Schoenvorts và Olson trong lúc đi săn hôm nọ đã phát hiện ra dầu mỏ, cách chúng tôi khoảng mười lăm dặm về phía bắc, bên kia những vách đá sa thạch. Olson bảo ở đó có một mạch dầu phun trào, và von Schoenvorts đang chuẩn bị các công đoạn để lọc dầu. Nếu hắn thành công, chúng tôi sẽ có phương tiện để rời khỏi Caspak và trở về với thế giới của mình. Tôi gần như không dám tin đó là sự thật. Tất cả chúng tôi đều sướng rơn như đang ở trên chín tầng mây. Cầu Chúa cho chúng tôi không phải thất vọng.
Tôi đã đôi ba lần cố ướm lời thổ lộ tình yêu của mình với Lys; nhưng nàng không chịu lắng nghe.