Biến Địa Lang Yên

Lượt đọc: 11 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tổng Kết Vũ Khí Bộ Bịnh Quốc Dân Quân Trong Thế Chiến Ii

❊ ❊ ❊

Vào thời kỳ Thế chiến II, vũ khí của Quốc dân quân (Quốc quân) cực kỳ đa dạng và phức tạp. Nguyên nhân là do vào đầu thời Dân quốc, chính trị phân tán, quân phiệt cát cứ, quân phiệt các nơi có nguồn thu mua vũ khí riêng, vũ khí tự chế lại càng không có tiêu chuẩn định thức, năng lực gia công công nghiệp cũng khác nhau. Ngay cả cùng một chủng loại súng ống nhưng chất lượng do các nơi sản xuất ra lại trồi sụt không đều, cộng thêm việc quân phiệt các nơi căn cứ theo tình hình bản thân mà cải tiến súng ống, dẫn đến tình trạng dù là cùng một kiểu súng nhưng linh kiện và đạn dược do các nơi sản xuất cũng không thể dùng chung. Nếu phân chia chi tiết, chỉ riêng mục súng trường Quốc quân đã có hàng trăm chủng loại, một kiểu súng trường có thể có đến mười mấy biến thể không thể dùng chung. Tình trạng này dẫn đến việc chính Chính phủ Quốc dân cũng không thể thống kê chính xác lúc đó trên khắp Trung Quốc đang trang bị bao nhiêu loại súng ống pháo binh. Cuối cùng vào những năm 1930, Quốc quân bắt đầu chấn chỉnh quân bị, đề xướng dùng vũ khí định thức thống nhất để thay thế các loại vũ khí hỗn tạp, nhưng thực tế không làm nổi. Sau khi chỉnh đốn quân bị, Quốc quân vẫn trang bị hỗn tạp, chỉ riêng súng trường đã có 4 loại khẩu kính khác nhau, hơn nữa dù súng trường có cùng khẩu kính thì đạn dược cũng chưa chắc dùng chung được. Điều này đã trở thành cơn ác mộng đối với công tác bảo đảm hậu cần, khiến sức chiến đấu phối hợp tổng thể của quân đội cực kỳ thấp kém.

Hiện nay có rất nhiều người căn cứ vào số liệu để nói rằng thời kỳ Kháng chiến Quốc quân sở hữu vũ khí thương hiệu nổi tiếng của các nước nên thực lực mạnh mẽ, việc thua nhiều thắng ít trong thời kỳ Kháng chiến thực chất là do bộ đội vô năng và thống soái không có tâm chiến đấu. Họ còn thường lấy ví dụ Quốc quân chỉ riêng trong trận chiến Thượng Hải đã huy động các loại trọng pháo 310mm, 305mm, 300mm, 225mm, 215mm, 203mm, trong khi quân Nhật không hề huy động thiết giáp hạm và tuần dương hạm hạng nặng đời mới tham chiến, pháo hạm của Hải quân Nhật Bản đưa vào có khẩu kính lớn nhất cũng chỉ 200mm, còn pháo binh Lục quân Nhật Bản đưa vào có khẩu kính lớn nhất cũng chỉ 240mm, từ đó cho rằng Quốc quân còn nắm ưu thế về khẩu kính trọng pháo. Ngoài ra, còn có các thuyết như "ưu thế vũ khí bộ binh", "ưu thế khẩu kính trọng pháo", "súng máy Tiệp Khắc vô địch", v.v... Cứ như thể quân Nhật dùng vũ bị và quân lực yếu kém hơn để xâm lược Trung Quốc vậy.

Thực ra, những khẩu trọng pháo có ưu thế khẩu kính đó chẳng qua chỉ là di vật của nhà Thanh. Chúng chủ yếu là các loại pháo thép tiền nạp/hậu nạp Armstrong cùng một số pháo thép Krupp lỗi thời của nước ngoài được mua từ thời kỳ Phong trào Dương vụ nhà Thanh khi xây dựng pháo đài Ngô Tùng ở Thượng Hải. Khẩu pháo thép tiền nạp Armstrong 310mm có tầm bắn xa nhất cũng chỉ đạt tối đa 7 km, hoàn toàn không thể từ pháo đài Ngô Tùng bắn tới trận địa quân Nhật. Hơn nữa nó còn phải nhồi đạn từ miệng nòng, mỗi giờ chỉ bắn được 2 viên, đối với quân Nhật sở hữu tân thức hỏa pháo thì hoàn toàn không tạo thành đe dọa, chưa bắn được viên nào đã bị hỏa lực pháo binh Nhật Bản tiêu diệt toàn bộ. Những khẩu pháo Armstrong và Krupp trên pháo đài này về cơ bản chỉ là thổ pháo đã quá thời, loại trọng pháo được gọi là có ưu thế khẩu kính này đã lỗi thời từ thời Chiến tranh Giáp Ngọ, chẳng qua chỉ là loại pháo pháo đài từ thời tàu buồm hơi nước. Lấy loại thổ pháo cực kỳ lỗi thời này để bốc phét về ưu thế khẩu kính trọng pháo là tráo đổi khái niệm và không thực tế.

Vũ khí của Quốc quân thời Kháng chiến nhìn tổng thể thực chất là hiệu năng trồi sụt không đều, trang bị nát bét không chịu nổi. Sau đây xin liệt kê một số vũ khí định thức của Quốc quân:

1. Súng Carbine

Mẫu súng carbine này là vũ khí biểu tượng của các bộ đội trang bị kiểu Đức của Quốc quân.

Súng carbine vào những năm 1920 được bán với số lượng lớn vào Trung Quốc, Trung Quốc còn mua bản vẽ về tự sản xuất, gọi là súng trường Trung Chính thức.

Đối thủ chính của khẩu súng này trên chiến trường Trung Quốc là súng trường Kiểu 38 của quân Nhật. So sánh giữa hai loại, súng carbine có ưu thế về tốc độ đầu đạn cũng như uy lực sát thương, nhưng về độ chính xác khi bắn thì súng trường Kiểu 38 của quân Nhật chiếm ưu thế tuyệt đối. Xạ thủ thành thục của hai bên nếu dùng súng trường Kiểu 38 ở khoảng cách 300 mét có thể dễ dàng bắn phát một trúng mục tiêu đơn độc, nhưng dùng súng carbine thì chỉ có thể bắn trúng mục tiêu chính xác ở khoảng cách 200 mét. Còn súng carbine nòng ngắn do Trung Quốc sản xuất thì độ chính xác càng thấp hơn, khoảng cách bắn chính xác chỉ khoảng 150 mét. Do Quốc quân ở thế yếu tuyệt đối về hỏa lực pháo binh, không thể dựa vào pháo hỏa để áp chế quân Nhật từ xa, nên khoảng cách bắn chính xác của súng trường quá ngắn đã dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Trên chiến trường thường có những trường hợp bộ đội Quốc quân còn chưa tiến vào khoảng cách bắn hiệu quả thì đã bị quân Nhật bắn chết và thương vong quá bán. Đặc biệt là từ giữa cuộc chiến trở đi, Quốc quân đã không thể bảo đảm cung cấp đủ đạn đầu nhọn nặng và đạn đầu nhọn nhẹ tiêu chuẩn ×57mm. Đạn tiêu chuẩn chỉ có thể ưu tiên bảo đảm cho súng máy nhẹ không thể dùng đạn tạp, còn súng carbine phải dùng lượng lớn đạn tạp. Lúc đó độ chính xác của súng carbine càng thấp hơn, nhất là loại carbine nòng ngắn, khoảng cách bắn chính xác trên chiến trường thường chỉ khoảng 100 mét, rất khó tạo thành đe dọa cho quân Nhật. Trong phim tài liệu và ảnh thời chiến thường có những cảnh quân Nhật tụ tập năm ba người, nói cười vui vẻ, không tìm chỗ ẩn nấp, ngồi hoặc đứng ngắm bắn về phía trận địa Quốc quân. Nguyên nhân chính là do khoảng cách bắn chính xác súng trường của Quốc quân không đủ. Ở khoảng cách đó, súng trường của quân Nhật vẫn có thể bắn trúng mục tiêu chính xác, còn súng trường Quốc quân nổ súng đánh trả ở khoảng cách đó chỉ vô ích lãng phí đạn dược. Trong tình cảnh không có hỏa lực pháo binh hỗ trợ để lợi dụng, cũng chỉ đành để mặc quân Nhật ngông cuồng.

2. Súng trường Mosin-Nagant M1891/30

Khẩu súng này là vũ khí viện trợ của Liên Xô. Trong thời kỳ Chiến dịch Từ Châu, Liên Xô bắt đầu viện trợ quân hỏa cho Quốc quân, sau đó Quốc quân cũng bắt đầu mua vũ khí Liên Xô. Súng trường M1891/30 được nhập khẩu số lượng lớn vào Trung Quốc. Súng trường M1891/30 sử dụng đạn đầu nhọn gờ đáy nổi ×54mm, chiều dài nòng súng là 730mm, tổng chiều dài súng 1234mm, trọng lượng súng rỗng chỉ...

Độ chính xác khi bắn của loại súng trường này tương đối cao, hầu như có thể sánh ngang với súng trường Kiểu 38 của quân Nhật, nhưng số lượng trang bị không quá lớn, chỉ có vài quân đoàn tinh nhuệ được trang bị. Tiếng nổ khi bắn của loại súng trường này khác với súng trường kiểu Đức. Quân Nhật một khi nghe thấy tiếng nổ của loại súng này phát ra thì thường sẽ cẩn trọng hơn. Điều này có 2 nguyên nhân: Thứ nhất là vì loại súng trường này bắn tương đối chính xác, nếu đối phương dùng loại súng này bắn mà quân Nhật còn lơ đãng để lộ toàn thân trên tiền tuyến thì vô cùng nguy hiểm. Thứ hai là loại súng trường này chủ yếu trang bị cho vài đơn vị tinh nhuệ đã qua nhiều trận mạc. Trên chiến trường nếu chạm chán với bộ đội dùng loại súng trường này thì chứng tỏ đối phương quyết không phải quân yếu, tự nhiên phải cẩn thận đối phó. Loại súng trường này trong thời kỳ Chiến dịch Trường Sa và chiến dịch Hành Dương đã gây ra không ít thương vong cho quân Nhật. Quân đoàn 74 và Quân đoàn 10 của Quốc quân đồn trú tại khu vực Trường Sa - Hành Dương đều sử dụng súng trường Mosin-Nagant M1891/30, đánh giá của quân Nhật đối với loại súng trường này cũng khá tốt, cho rằng đối với kẻ địch cầm súng trường Mosin-Nagant M1891/30 tác chiến thì không thể coi thường, nên cẩn thận đối phó.

3. Súng trường Springfield M1903

Mẫu súng trường này là vũ khí viện trợ của Mỹ, bắn đạn đầu nhọn ×63mm, là loại súng trường có uy lực sát thương mạnh nhất mà Quốc quân trang bị. Kích thước mẫu súng trường này không dài nên dễ mang theo, chiều dài nòng súng chỉ 610mm, tổng chiều dài súng 1097mm, trọng lượng súng rỗng..., chỉ bằng kích thước súng carbine. Hơn nữa tuy súng trường M1903 ngắn nhỏ nhưng lại dùng đạn uy lực lớn, theo lý thì độ chính xác khi bắn phải rất tồi tệ, thế nhưng độ chính xác của khẩu súng này lại rất cao, không hề kém súng trường Mosin-Nagant M1891/30 của Liên Xô, lại hoạt động tin cậy, trên chiến trường hầu như không hỏng hóc. Quân Nhật ở giai đoạn đầu Chiến tranh Thái Bình Dương từng thu giữ lượng lớn súng trường M1903 và đã tiến hành thử nghiệm bắn, xác nhận độ chính xác của súng trường M1903 tương đương với súng trường ngắn Kiểu 99 chế tác tinh xảo thời đó của quân Nhật, kết cấu lại chắc chắn, thao tác tin cậy, rất thích hợp sử dụng trong môi trường khắc nghiệt.

Tuy nhiên loại súng trường này vào thời Kháng chiến chỉ có Trung Quốc Viễn Chinh Quân đồn trú tại Ấn Độ và một bộ phận Quốc quân thụ huấn sau này được trang bị, thời gian tham chiến cực muộn nên chưa kịp phát huy nhiều tác dụng.

4. Súng máy nhẹ M26

Khẩu súng này là súng máy nhẹ mua từ Phần Lan. Súng máy nhẹ M26 của Phần Lan vốn sử dụng đạn đầu nhọn gờ đáy nổi ×54mm của Liên Xô, nhưng khi Trung Quốc nhập khẩu súng này thì chưa áp dụng vũ khí Liên Xô, do đó để giản lược hậu cần đã yêu cầu Phần Lan chỉnh sửa súng máy nhẹ M26 xuất khẩu sang Trung Quốc để dùng đạn đầu nhọn nặng ×57mm. Loại súng máy nhẹ này Quốc quân đã đặt hàng 50.000 khẩu, nhưng cuối cùng chỉ nhận được số lượng rất ít, mới hơn 1.300 khẩu, vì vậy vị thế trong chiến tranh không quan trọng.

Tỷ lệ sự cố cơ cấu của súng máy nhẹ M26 rất cao. Quân đội Phần Lan từng phát hiện súng máy nhẹ M26 bị kẹt đạn khi bắn là chuyện như cơm bữa, do đó đã đặt cho nó biệt danh là "súng máy nhẹ Kẹt Đạn 26". Trong khi điều kiện bảo dưỡng của Quốc quân còn tồi tệ hơn quân Phần Lan, tỷ lệ sự cố của súng máy nhẹ M26 trên chiến trường tự nhiên càng cao hơn, độ tin cậy còn kém xa súng máy nhẹ Kiểu 11 của quân Nhật. Tuy nhiên súng máy nhẹ M26 quyết không phải bỏ đi hoàn toàn, tuy tỷ lệ sự cố cao hơn Kiểu 11 của quân Nhật nhưng độ chính xác khi bắn so với Kiểu 11 vốn nổi tiếng về độ chính xác cao thì cũng chẳng hề kém cạnh, là vũ khí khá lợi hại trên chiến trường. M26 cũng giống như Kiểu 11 của quân Nhật, thường xuyên được trưng dụng làm súng bắn tỉa trên chiến trường. Loại súng máy nhẹ này trên chiến trường Liên Xô - Phần Lan đã chứng minh độ chính xác khi bắn của nó cao hơn bất kỳ mẫu súng máy nào khác trên chiến trường Liên - Phần lúc bấy giờ, dù là bắn phát một hay bắn liên hoàn đều có độ chính xác cực cao, nhờ đó phát huy uy lực sát thương to lớn.

Trên chiến trường Trung Quốc, M26 và súng máy Kiểu 11 của quân Nhật về cơ bản là đối thủ ngang tài ngang sức, nhưng số lượng thì kém xa súng máy nhẹ Kiểu 11 của quân Nhật và cũng kém xa súng máy nhẹ ZB-26. Cộng thêm ưu thế tuyệt đối về hỏa lực pháo binh của quân Nhật, tổng chiến quả của súng máy nhẹ M26 Quốc quân tự nhiên xa xa không thể so sánh với súng máy nhẹ Kiểu 11 của quân Nhật cũng như ZB-26 của Quốc quân.

5. Súng máy nhẹ DP28

Khẩu súng này là vũ khí viện trợ của Liên Xô, sử dụng đạn đầu nhọn gờ đáy nổi ×54mm, dùng đĩa đạn để cấp đạn. Quốc quân thường dùng đĩa đạn sức chứa 47 viên, cũng có thể lắp đĩa đạn lớn sức chứa 60 viên. Tổng chiều dài súng 1270mm, trọng lượng rỗng... Độ chính xác của súng này ở mức bình thường, sức chứa đạn lớn gấp 1-2 lần các loại súng máy nhẹ khác của Quốc quân, tính liên tục của hỏa lực tốt, hình như rất phù hợp bắn áp chế. Trong Chiến dịch Trường Sa lần thứ 2, súng này bắt đầu được đưa vào thực chiến số lượng lớn, nhưng những vấn đề bộc lộ trong thực chiến cũng khá nhiều, trên chiến trường hoàn toàn không thể chống lại súng máy nhẹ Kiểu 96 mà quân Nhật bắt đầu sử dụng rộng rãi khi đó. Còn trước khi tham chiến số lượng lớn, khi Quốc quân dùng thử cũng không đặc biệt hài lòng. Cuối cùng tổng cộng chỉ mua được 2.500 khẩu, số lượng cũng rất ít. Tuy nhiên đây không phải do Quốc quân không muốn mua nhiều, mà là do Liên Xô sợ cung cấp lượng lớn quân hỏa cho Quốc quân sẽ dẫn đến việc quân Nhật phát động tấn công Liên Xô, do đó có hạn chế số lượng nghiêm ngặt đối với quân hỏa xuất khẩu cho Quốc quân. Vì vậy trang bị kiểu Liên Xô của Quốc quân không nhiều, không thể thay thế vô số trang bị kiểu Đức và trang bị hỗn tạp khác.

Tuy hiệu năng khẩu súng này không bằng súng máy nhẹ Kiểu 96 của quân Nhật, trên chiến trường đối với các mẫu súng máy nhẹ khác của quân Nhật cũng không có ưu thế gì, nhưng giá thành khẩu súng này lại cực kỳ rẻ, chỉ tương đương 1/10 một khẩu súng tiểu liên Thompson do Mỹ chế tạo!!! Trong khi uy lực trên chiến trường thì vượt xa tiểu liên Thompson!!! Điều này cực kỳ thu hút sự chú ý của Quốc quân, thế nên Quốc quân vừa mở miệng đã đòi 100.000 khẩu. Nếu quả thực giao hàng thành công thì DP28 đã thay thế ZB26 trở thành súng máy nhẹ chủ lực của Quốc quân rồi. Nhưng Liên Xô ậm ừ mãi không dám đồng ý cung cấp nhiều quân hỏa đến vậy, tới khi chấm dứt giao dịch quân hỏa với Trung Quốc, trước sau tổng cộng mới cung cấp 2.500 khẩu súng máy nhẹ DP28, 50.000 khẩu súng trường Mosin-Nagant M1891/30 và 2.000 khẩu súng máy Maxim già cỗi.

Do số lượng vũ khí Liên Xô không lớn, Quốc quân đành phải tập trung phân phát vũ khí Liên Xô cho vài quân đoàn tinh nhuệ sử dụng. Trong đợt bộ đội trang bị kiểu Liên Xô đầu tiên có Quân đoàn 74 lừng lẫy tiếng tăm, ngoài ra Quân đoàn 10 cũng trang bị kiểu Liên Xô. Những bộ đội tinh nhuệ trang bị kiểu Liên Xô này đã triển khai đọ sức lâu dài với quân Nhật tại khu vực Hồ Nam. Súng máy nhẹ DP28 cũng vì thế mà tham chiến thường xuyên. Trong các trận ác chiến với quân Nhật, súng máy nhẹ DP28 bộc lộ không ít vấn đề: Đầu tiên là sau khi lắp đĩa đạn súng quá nặng và khó mang theo, không thích hợp cho hành quân, khi hành quân cần tháo đĩa đạn ra, khi gặp tập kích bất ngờ thì tốc độ phản ứng chậm; hơn nữa đĩa đạn không những lắp chậm mà khi gắn trên súng cũng không chắc chắn, không chịu nổi va đập; ngoài ra khi bắn liên tiếp dễ bị kẹt đạn, tỷ lệ sự cố cũng khá cao. Về nguyên tắc, loại súng máy nhẹ này thích hợp sử dụng khi phòng thủ trận địa hơn, nếu tiến hành tác chiến tấn công thì lại không mấy dễ dùng.

Thời kỳ súng máy nhẹ DP28 tác chiến tại Hồ Nam, đối thủ chính gặp phải là súng máy nhẹ Kiểu 96 rất khó nhằn của quân Nhật. Loại súng máy nhẹ này là bản cải tiến của súng máy Kiểu 11, chuyển sang dùng hộp đạn 30 viên để cấp đạn, độ chính xác khi bắn tương đương Kiểu 11, cực kỳ chính xác, độ tin cậy cao không dễ xảy ra sự cố, hơn nữa tốc độ thay hộp đạn nhanh chóng, tính liên tục của hỏa lực tốt. Trong chiến đấu từng có trường hợp quân Nhật cố thủ lô cốt chỉ có 1 người thao tác 3 khẩu súng máy nhẹ Kiểu 96 nạp đạn bắn ngoan cường chống trả suốt mấy tiếng đồng hồ. Nòng súng máy nhẹ Kiểu 96 tản nhiệt tốt không dễ bị đỏ nóng, thay nòng súng cũng rất nhanh, ở trạng thái mang đạn hành quân rất nhẹ nhàng, nên rất hiệu quả khi đối phó tập kích bất ngờ, dù tấn công hay phòng thủ đều đắc thủ. So sánh ra thì súng máy nhẹ DP28 kém xa. Tuy nhiên tác chiến tại Hồ Nam về cơ bản thuộc về tác chiến phòng thủ, súng máy nhẹ DP28 về cơ bản vẫn có thể đáp ứng nhu cầu tác chiến của Quốc quân, phát huy tác dụng không nhỏ.

6. Súng máy nhẹ FN BAR M1930

Khẩu súng này bắn đạn ×57mm, nòng súng dài 550mm, tổng chiều dài súng 1060mm, trọng lượng chiến đấu..., được mua từ Bỉ. Vào những năm 1930, Trung Quốc tuyệt đối là khách hàng trung thành và mối buôn lớn của các hãng chế tạo súng ống Bỉ. Từ Chính phủ Trung ương và quân phiệt các nơi cho đến phú hào dân gian và lưu manh hắc bang đều đặc biệt sốt sắng mua súng ống Bỉ. Không ngoa khi nói rằng, chỉ cần là súng ống do Bỉ sản xuất khi đó, dù cho chỉ là một số bản biến thể, bản cải tiến, bản dân dụng sản xuất ngắn hạn, thì trong tay Trung Quốc chuẩn bị là có. Bạn xem khẩu súng ngắn Browning đó, Bỉ từng sản xuất bao nhiêu khẩu kính, bao nhiêu kiểu dáng thì Trung Quốc đã nhập khẩu bấy nhiêu khẩu kính, bấy nhiêu kiểu dáng, từ bản quân dụng, bản cảnh sát cho đến bản quý ông, bản quý bà, không gì là không có. Khi đó từ sĩ quan đến binh lính, từ quan chức đến phú thương, từ cảnh sát đến lưu manh, từ hương thân đến vũ nữ ở Trung Quốc, không ai là không lấy làm vinh hạnh khi sở hữu 1 khẩu súng do Bỉ chế tạo. Thời đó ở Trung Quốc, mấy chữ "Bỉ Chế Tạo" chính là một tấm biển hiệu vàng chóe kêu giòn giã. Dù là quân nhân hay thổ phỉ, chỉ cần vác súng Bỉ chế tạo, dù là khẩu súng khai hoang già nua đã ngừng sản xuất từ lâu, đi đường cũng phải ngẩng cao đầu hơn. Thấy chưa, hàng trên vai đại gia đây là Bỉ chế tạo đấy nhé! Năm đó "hội cuồng Bỉ" của Trung Quốc quyết không kém gì "hội cuồng Hàn" của Trung Quốc ngày nay.

Quốc quân nhập khẩu mẫu súng máy này từ Bỉ thực ra cũng chẳng có quy hoạch gì, dù sao cứ là súng Bỉ sản xuất thì nhất định tốt, nhất định phải mua một ít. Cộng thêm khẩu súng máy BAR do Bỉ sản xuất này bắn đạn ×57mm, vừa vặn trùng với đạn dược súng ống chủ lực của Quốc quân, thế thì càng tốt lại thêm tốt, tự nhiên càng phải mua. Hơn nữa quân phiệt các nơi cùng xông vào, đã thấy anh mua thì tôi dẫu đập nồi bán sắt cũng phải mua một ít, nên rốt cuộc mua bao nhiêu cũng không có con số chuẩn xác. Tuy nhiên hàng Bỉ sản xuất đã là thương hiệu nổi tiếng kêu giòn giã thì giá cả tự nhiên cũng rất đắt, cho nên tuy Chính phủ Trung ương và quân phiệt các nơi cùng xông vào chạy sang Bỉ mua súng máy, nhưng số lượng mua lại không nhiều, không làm thành quân đội chuyên trang bị hàng Bỉ nổi. Chẳng qua là trang bị cho một số bộ đội vài khẩu súng máy hiệu nổi tiếng này mà thôi. Thứ này không phải loại hàng rẻ tiền như súng ngắn C96 (Bao Tử Pháo) tự động do Bỉ sản xuất theo nhượng quyền của Đức, thực sự muốn mua quy mô lớn thì tiền trong túi không đủ.

Khẩu súng máy nhẹ BAR M1930 do Bỉ sản xuất này sau khi chở tới Trung Quốc, vừa phát xuống bộ đội thì hận không thể phụng thờ như bố đẻ. Lính súng máy mỗi ngày lau chùi nó bóng loáng, thỉnh thoảng vác ra ngoài dạo một vòng đúng là rạng rỡ chói lọi. Sau khi chiến tranh bùng nổ, súng máy nhẹ BAR M1930 cũng lên chiến trường, tuy hiệu năng chiến đấu thực tế cũng chẳng có gì vượt trội hơn người, nhưng vẫn đại biểu được ưa chuộng. Điều này dĩ nhiên có yếu tố tâm lý chuộng thương hiệu nổi tiếng, nhưng khẩu súng máy BAR M1930 của công ty FN Bỉ này cũng quả thực chất lượng vượt trội, trên chiến trường hầu như không hỏng hóc, không cần cố ý bảo dưỡng, lúc nào chỗ nào nhặt lên là bắn được ngay, kết cấu gọn gàng, dù hành quân hay tác chiến mang theo đều tiện lợi, tốc độ phản ứng nhanh, rất thích hợp sử dụng trên chiến trường.

Tuy nhiên độ chính xác khi bắn liên thanh của khẩu súng này không tốt, trừ khi kẻ địch tiếp cận đến khoảng cách cực gần, bằng không thường không dùng bắn liên thanh. Hơn nữa dung lượng hộp đạn nhỏ, khó đảm đương nhiệm vụ bắn áp chế của súng máy, dùng trên chiến trường ngược lại giống như một khẩu súng trường bắn nhanh. Tổng thể nhìn nhận, thể hiện của súng máy nhẹ BAR M1930 trên chiến trường không có hiệu năng chiến đấu nào nổi bật, không đặc sắc bằng súng máy nhẹ M26, nhưng đặc điểm chắc chắn bền bỉ, không kén đạn của nó trên chiến trường lại khiến tất cả các đơn vị sử dụng thích không nỡ rời tay. Khẩu BAR M1930 này chỉ cần là đạn ×57mm thì đều dùng được, từ đạn đầu nhọn nặng, đạn đầu nhọn nhẹ, đạn đầu tròn bắn được tất, giống như súng trường lên đạn bằng tay không hề kén đạn. Trong khi súng máy Tiệp Khắc kiều diễm thì chỉ dùng được một loại đạn, giữa một đống đạn tạp nham không tìm ra nổi vài viên dùng được, để duy trì sức chiến đấu của súng máy Tiệp Khắc đã khiến bộ đội đau hết cả đầu. Vào thời kỳ khó khăn khi đạn tiêu chuẩn của bộ đội không đủ, chủ yếu dùng đạn cũ tạp nham thậm chí đạn tái chế, đạn tự chế, thì tính năng không hỏng hóc không kén đạn của súng máy BAR M1930 vô nghi ngờ là ưu điểm lớn nhất của nó.

7. Súng máy nhẹ Hotchkiss M1922

Mẫu súng máy nhẹ này nhập khẩu từ Pháp, số lượng trang bị khá lớn, hiệu năng cũng không tệ, theo lý trên chiến trường phải phát huy tác dụng rất lớn. Nhưng thực tế trong chiến tranh, khẩu súng máy này có thể nói là làm Quốc quân tổn thương sâu sắc, đến giữa cuộc chiến thì rất ít khi nhìn thấy nữa. Khẩu súng máy này đơn thuần xét về hiệu năng thì rất tốt, nhưng điều chết người là đạn của nó cực kỳ khó kiếm. Mẫu súng máy này ngoài Quân Trung ương ra thì quân phiệt các nơi cũng có không ít. Sau năm 1934, vũ khí Quốc quân bắt đầu đi theo lộ trình định thức hóa, súng trường của quân đội chính quy từ 13 loại khẩu kính rút xuống còn 4 loại khẩu kính. Vốn dĩ súng trường khẩu kính kiểu Pháp số lượng không nhỏ nên không bị loại bỏ, nhưng khẩu súng máy nhẹ Hotchkiss M1922 này lại có các biến thể bắn 4 loại đạn dược khác nhau cùng lúc phục dịch trong Quốc quân, hơn nữa cũng không có loại nào chiếm đa số tuyệt đối, số lượng đều na ná như nhau. Chết người hơn là nòng súng máy này tự sản xuất rất khó khăn, mà súng máy Hotchkiss M1922 bắn đạn khác nhau thì kích thước linh kiện bên trong lại khác nhau, không thể lắp lẫn, do đó không thể cải tiến thành súng máy bắn cùng 1 loại đạn. Không chỉ có thế, đạn vũ khí quân Pháp toàn bộ dùng thuốc súng không khói làm thuốc phóng, mà khẩu súng máy nhẹ Hotchkiss M1922 này cũng chỉ thích hợp bắn đạn dùng thuốc súng không khói làm thuốc phóng. Mà sản lượng thuốc súng không khói của Trung Quốc khi đó vừa nhỏ vừa có chất lượng không ổn định, cho nên đạn của khẩu súng máy này cơ bản toàn bộ dựa vào nhập khẩu.

Mẫu súng máy này phục dịch trong Quốc quân có loại bắn đạn 8mm, có loại bắn đạn..., có loại bắn đạn... Loại đạn súng trường Pháp này trong Quốc quân nhiều nhất chính là đạn..., mà điều làm người ta nhức đầu là loại đạn... này lại có hai loại ×57mm và ×54mm. Một loạt súng trường khẩu kính 75 của Quốc quân cũng như vậy, có loại dùng ×57mm, có loại dùng ×54mm, vốn nhìn đã nhức đầu rồi, mà khẩu súng máy nhẹ Hotchkiss M1922 này lại có biến thể bắn 4 loại đạn khác nhau cùng phục dịch trong Quốc quân, đạn dược lại khó tự sản xuất. Một số bộ đội ngoài vài khẩu súng máy nhẹ Hotchkiss M1922 ra thì không còn loại súng nào dùng đến những loại đạn này nữa. Vì vậy trước chiến tranh khẩu súng này đã khiến người ta cảm thấy phiền phức khi sử dụng, nên loại bỏ. Đến khi chiến tranh bùng nổ, súng vừa lên chiến trường tự nhiên trở thành loại súng có đạn dược cung ứng phiền phức nhất. Vì vấn đề đạn dược cho bộ đội trang bị loại súng này, bộ phận cung ứng hậu cần bận đến mức náo loạn cả lên. Ráng chống đỡ đến giữa cuộc chiến, Quốc quân không thể chịu đựng thêm được nữa, số súng máy này cái thì tổn thất, cái thì thay thế, không phụng thờ vị đại gia này nữa. Cùng với khẩu súng máy này, súng trường khẩu kính 75 của Quốc quân về cơ bản cũng đều bị thay thế hết.

8. Súng máy nhẹ ZB26

Mẫu súng máy nhẹ này nhập khẩu từ Tiệp Khắc, do giá thành tương đối thấp nên số lượng nhập khẩu rất lớn, cộng thêm kết cấu đơn giản, yêu cầu mô phỏng không cao, trong nước các nơi đều có sản xuất mô phỏng. Chỉ tính riêng thời kỳ chiến tranh, sản lượng trong nước đã hơn 40.000 khẩu, cộng thêm lượng nhập khẩu thời chiến, thời bình và số lượng mô phỏng trước chiến tranh, tổng số lượng trang bị lên tới 100.000 khẩu, tuyệt đối là khẩu súng máy chủ lực xứng đáng của Trung Quốc khi đó. Do số lượng cực lớn, bất kể là quân chính quy hay quân địa phương cùng bảo an dân đoàn đều có trang bị, trên tất cả các chiến trường nam bắc sông Hoàng Hà, dọc ngang sông Trường Giang đều có tiếng gầm rú của súng máy nhẹ ZB26. Súng máy nhẹ ZB26 tự nhiên trở thành vũ khí biểu tượng của quân đội Trung Quốc.

Súng máy nhẹ ZB26 có nòng súng dài 602mm, tổng chiều dài 1165mm, nặng 9kg, sử dụng hộp đạn thẳng 20 viên để cấp đạn, bắn đạn đầu nhọn nặng ×57mm, khi cần thiết cũng có thể bắn đạn đầu nhọn nhẹ ×57mm, nhưng khi bắn đạn đầu nhọn nhẹ ×57mm thì chớp lửa nòng súng rõ rệt, hơn nữa khó kiểm soát, độ chuẩn kém hơn. Đặc tính chiến đấu của khẩu súng này rất giống với súng máy nhẹ BAR M1930 của công ty FN Bỉ. Ưu điểm là kết cấu súng gọn gàng, chắc chắn bền bỉ, rất ít xảy ra sự cố, hành quân tác chiến mang theo tiện lợi, tốc độ phản ứng tác chiến nhanh, rất thích hợp sử dụng trên chiến trường. Nhưng cũng tồn tại nhược điểm khi bắn liên thanh kéo dài thì khó kiểm soát, độ chính xác thấp. Ngoài ra súng máy nhẹ ZB26 chỉ thích hợp dùng đạn đầu nhọn nặng ×57mm, nếu bắn đạn đầu nhọn nhẹ ×57mm thì hiệu năng sụt giảm. ZB26 khá kén đạn, chỉ có thể bắn đạn tiêu chuẩn, đạn tái chế cũng như đạn sản xuất chất lượng kém, quy cách không đạt chuẩn là không thể sử dụng, còn đạn đầu tròn của Hán Dương Tạo càng không thể dùng tạm được. Điểm này thì rõ ràng không bằng súng máy nhẹ BAR M1930 của công ty FN Bỉ.

Súng máy nhẹ ZB26 khi bắn phát một hoặc bắn điểm loạt ngắn có độ chính xác rất cao, rất có uy lực, nhưng khi bắn liên thanh kéo dài do khó kiểm soát nên độ chính xác kém hơn. Ngoài ra hiệu năng tản nhiệt của súng máy nhẹ ZB26 có khuyết điểm, khi bắn quét liên thanh kéo dài, bắn chưa được mấy hộp đạn thì nòng súng đã quá nhiệt. Sau khi nòng súng quá nhiệt, đạn bắn ra sẽ mất đi tính ổn định, bay loạn xạ không chút độ chuẩn, hơn nữa bay không được bao xa đã rơi xuống đất, hầu như không tạo thành đe dọa cho kẻ địch. Tuy nòng súng máy nhẹ ZB26 có thể nhanh chóng thay thế, nhưng trên chiến trường việc thay nòng súng thường xuyên là chuyện rất phiền nhiễu, mà Quốc quân làm gì có nhiều nòng súng dự phòng phát cho lính súng máy để thay thường xuyên trên chiến địa. Cho nên lính súng máy huấn luyện thuần thục khi thao tác súng máy nhẹ ZB26 tác chiến đều rất chú ý điểm này, bình tĩnh ngắm bắn, chỉ bắn phát một hoặc điểm loạt ngắn đối với kẻ địch, như vậy nòng súng không bị quá nhiệt, lại bắn chuẩn, hiệu quả sát thương tốt mà tiết kiệm đạn. Đây cũng trở thành căn cứ để quân Nhật phán đoán trên chiến trường xem kẻ địch trước mặt có phải bộ đội được huấn luyện thuần thục hay không. Nếu quân Nhật thấy lính súng máy đối diện vừa có động tĩnh đã dùng súng máy nhẹ ZB26 bắn quét liên thanh kéo dài, thì có thể phán đoán bộ đội Trung Quốc trước mặt là bộ đội đầy tân binh thiếu huấn luyện, không có kinh nghiệm chiến đấu, có thể dễ dàng giành chiến thắng; ngược lại thì phải cẩn thận đối phó.

Tổng thể nhìn nhận, súng máy nhẹ ZB26 cũng giống súng máy nhẹ BAR M1930 của công ty FN Bỉ, không thích hợp bắn áp chế, cũng mang hiệu năng của một khẩu súng trường bắn nhanh, và còn khó chiều hơn súng máy nhẹ BAR M1930. ZB26 tuyệt đối không phải khẩu súng máy nhẹ có hiệu năng tốt nhất của Quốc quân, càng không có hiệu năng cao vượt trội gì, chỉ vì giá rẻ, dễ kiếm, mới khiến một Trung Quốc thiếu hụt tài chính, năng lực công nghiệp lạc hậu lựa chọn nó làm súng máy nhẹ chủ lực. Nói một câu, không phải vì súng máy nhẹ ZB26 có hiệu năng tốt nhất, mà là khi đó Trung Quốc không còn lựa chọn nào khác.

9. Sơn pháo Bofors M1930 75mm

Một trong những hỏa pháo áp chế tân tiến nhất của Quốc quân thời kỳ Kháng chiến, là sản phẩm của công ty Bofors Thụy Điển, hiệu năng của nó đủ sức xếp vào hàng các loại sơn pháo 75mm tiên tiến nhất thế giới thời đó. Chính phủ Quốc dân trước sau đã đặt mua hơn 100 khẩu, chuyên môn thành lập 2 lữ đoàn pháo binh là Lữ đoàn Pháo binh 1 và Lữ đoàn Pháo binh 2 tập trung sử dụng những bảo bối này, cung cấp hỗ trợ hỏa lực cho các tập đoàn quân tinh nhuệ của Quốc quân. Trong chiến tranh tuy tổn thất rất lớn nhưng tác dụng phát huy không nhỏ, trong tất cả các loại pháo áp chế của Quốc quân thì mẫu hỏa pháo này có chiến quả lớn nhất. So với loại sơn pháo Kiểu 94 75mm đời mới tương ứng của quân Nhật, sơn pháo này có ưu thế tầm bắn tối đa nhỉnh hơn gần 300 mét, nhưng trọng lượng cũng nặng hơn pháo Nhật 200 kg, song vẫn đáp ứng được yêu cầu di chuyển trên chiến trường của Quốc quân. Khi chạm trán với sơn pháo Kiểu 94 75mm hoặc dã pháo Kiểu 38 75mm của quân Nhật trên chiến trường, trong điều kiện chênh lệch số lượng không lớn, nếu đơn thuần pháo chiến thì không rơi vào thế yếu. Sơn pháo Bofors M1930 75mm sử dụng thân nòng L20, tầm bắn tối đa 9150m, toàn pháo nặng 785kg, hiệu năng khá tốt.

10. Lựu đạn pháo LeFH18 105mm

Loại lựu đạn pháo 105mm tân tiến nhất của Quốc quân trong thời kỳ chiến tranh, số lượng cực kỳ thưa thớt. Lựu đạn pháo LeFH18 105mm là loại pháo mới do Đức chế tạo, nhưng giá cả đắt đỏ, chỉ mua được hơn 30 khẩu biên chế thành 1 trung đoàn pháo binh độc lập, dùng để hỗ trợ các binh đoàn tinh nhuệ của Quốc quân tác chiến, tầm bắn tối đa 12325m, trọng lượng 1955kg, đầu đạn nặng... Do số lượng quá ít, cộng thêm việc là đối tượng chăm sóc trọng điểm của pháo binh và không quân Nhật Bản, nên trong chiến tranh đã tổn thất sạch sẽ. Đơn thuần xét về hiệu năng, hiệu năng của lựu đạn pháo LeFH18 105mm rất tốt, đủ sức đối kháng với dã chiến lựu đạn pháo Kiểu 91 105mm của quân Nhật, nhưng không thể ứng phó với dã chiến trọng pháo của quân Nhật. Khẩu pháo này số lượng ít, lại nổi bật, quân Nhật vừa phát hiện sự tồn tại của pháo này liền tập trung hỏa lực tấn công, do đó tổn thất rất lớn, nhanh chóng tổn thất sạch sẽ.

11. Lựu đạn pháo FH18 150mm

Khẩu pháo này là đại pháo dã chiến hiện đại nhất, có uy lực nhất của Quốc quân tính đến giữa những năm 1950, số lượng cực kỳ thưa thớt. Khẩu pháo này là hỏa pháo đặc chế nhập khẩu từ Đức, do giá cả đắt đỏ nên số lượng mua cũng cực kỳ thưa thớt giống như lựu đạn pháo LeFH18 105mm, chỉ có 36 khẩu vừa đủ biên chế 1 trung đoàn trọng pháo. Khẩu pháo này phía Đức đã tiến hành một số sửa đổi theo yêu cầu của Quốc quân, nòng pháo dài hơn loại pháo cùng kiểu mà quân Đức sử dụng, buồng đạn cũng được mở rộng hơn, do đó tầm bắn xa hơn loại pháo cùng kiểu trang bị cho quân Đức, tầm bắn tối đa đạt tới 15000m. Lựu đạn pháo FH18 150mm tổn thất rất lớn trong chiến tranh, nhưng vẫn có một số ít khẩu sống sót đến sau chiến tranh, trong thời kỳ chiến tranh cũng từng phát huy tác dụng nhất định. Tầm bắn của lựu đạn pháo FH18 150mm tuy tương đối xa nhưng không thể đối kháng với dã chiến trọng pháo và trọng pháo của quân Nhật, hơn nữa trên chiến trường một khi động dụng tất nhiên sẽ đặc biệt thu hút sự chú ý của quân Nhật, cho nên lựu đạn pháo FH18 150mm khi vận dụng trên chiến trường có đe dọa hỏa lực pháo tầm xa của quân Nhật mạnh mẽ thì bắt buộc phải cực kỳ cẩn thận, việc lựa chọn trận địa và thời cơ nổ súng phải hết sức thận trọng, ngoài ra các khoản hỗ trợ như phòng không cũng không thể thiếu.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.