Erasmus, danh sĩ vô cùng xứng đáng với sự ngưỡng mộ của hậu thế nhờ những tác phẩm tuyệt vời, kho tàng tri thức uyên bác, lòng chân thành cùng thái độ hòa nhã, và trên hết là vai trò một trong những người tiên phong khôi phục văn phong La-tinh cổ điển ở phía bắc dãy Alps, sinh ngày 28 tháng 10 năm 1467 tại Rotterdam. Tác giả ẩn danh của bản tiểu sở thường được in kèm trong cuốn Colloquies (ấn bản Luân Đôn) có ghi rằng thời điểm ông ra đời apud Batavos (tại vùng Batavi) vốn chưa rõ ràng. Ngay cả nếu chính ông là tác giả bản tiểu sử nằm trước ấn bản Elzevir — được cho là do Erasmo autore (chính Erasmus viết) — thì ông cũng không nêu rõ năm sinh cụ thể mà chỉ ước chừng vào khoảng năm 1467 (circa annum 67 supra millesimum quadringentesimum). Một bản tiểu sử La-tinh khác được in ở đầu ấn bản Luân Đôn kể trên lại xác định năm sinh của ông là 1465, tương tự như văn bia trên mộ ông tại Basil. Tuy nhiên, bài minh khắc trên bức tượng của ông ở Rotterdam, nơi ông cất tiếng khóc chào đời, có lý do để coi là đáng tin cậy nhất, nên chúng tôi dựa theo mốc này. Mẹ ông là con gái của một thầy thuốc ở Sevenbergen, xứ Holland. Cha ông từng quen biết, qua lại với bà dưới lời hứa hẹn hôn nhân và thực tế đã đính ước. Cha ông tên là Gerard, người con út trong một gia đình mười anh em trai không có lấy một cô con gái chen ngang; bởi thế, cha mẹ ông (theo quan niệm mê tín thời bấy giờ) có ý định dâng hiến ông cho Giáo hội. Các anh trai của Gerard rất tán thành điều này, bởi lẽ vào thời điểm đó Giáo hội nắm giữ mọi quyền uy, họ hy vọng nếu ông thăng tiến trên con đường đạo nghiệp thì gia đình sẽ có một chỗ dựa vững chắc để tiến thân; thế nhưng không một lời nài nỉ nào có thể lay chuyển được Gerard đi theo con đường linh mục. Nhận thấy bản thân liên tục bị ép buộc vào một việc trái với ý nguyện và không thể chịu đựng thêm được nữa, ông đành phải bỏ quê hương ra đi, để lại một lá thư cho người thân nhằm giải thích lý do ra đi và tuyên bố sẽ không bao giờ làm phiền họ nữa. Ông rời đi khi người phụ nữ sắp thành vợ mình đang mang thai, rồi tìm đường sang Rome. Vốn là một người có tài thư pháp xuất chúng, ông kiếm sống rất tốt bằng việc chép lại tác phẩm của các tác giả nổi tiếng (bởi thời đó chưa có nghệ thuật in ấn). Ban đầu ông sống khá tự do phóng khoáng, nhưng về sau lao vào học tập miệt mài, đạt nhiều tiến bộ vượt bậc về tiếng Hy Lạp, tiếng La-tinh và dân luật, bởi Rome thời kỳ đó hội tụ rất nhiều bậc hiền triết. Khi người thân biết tin ông đang ở Rome, họ liền tung tin phao truyền sang cho ông rằng người phụ nữ trẻ mà ông từng theo đuổi đã qua đời. Trong cơn u sầu tuyệt vọng, ông đã tiếp nhận thánh chức và dồn toàn bộ tâm trí vào việc nghiên cứu thần học. Khi trở về quê hương, ông đau đớn phát hiện ra mình đã bị lừa dối; song mọi chuyện đã quá muộn để tính tới việc kết hôn, vì vậy ông đành từ bỏ mọi ý định với người nhân ngãi; còn bản thân bà, sau biến cố không may ấy, cũng chẳng chịu lấy ai nữa.
Người con trai lấy tên cha là Gerard — trong tiếng Đức có nghĩa là đáng yêu — và (theo phong cách của các bậc học giả thời bấy giờ, những người thích biến tấu tên mình theo dạng Hy Lạp hoặc La-tinh) tên ông được đổi thành Erasmus, vốn mang cùng ý nghĩa đó trong tiếng Hy Lạp. Ông là hát nhi trong nhà thờ giáo phận Utrecht cho đến năm chín tuổi, sau đó được gửi đến Deventer để học tập dưới sự chỉ bảo của Alexander Hegius nổi tiếng, người xứ Westphalia. Nhờ người thầy tài năng ấy, ông đã bộc lộ năng khiếu phi thường; đáng chú ý là ông có trí nhớ siêu việt tới mức có thể thuộc lòng toàn bộ các tác phẩm của Terence và Horace. Đến năm mười ba tuổi, ông vẫn luôn sống trong sự chăm sóc chu đáo của người mẹ; nhưng rồi bà qua đời vì trận dịch bệnh hoành hành tại Deventer lúc bấy giờ. Dịch bệnh ngày càng lan rộng và vô tình cướp đi mạng sống của cả gia đình nơi ông trọ học, buộc ông phải trở về nhà. Cha ông, Gerard, vì quá đau buồn trước cái chết của vợ nên lâm vào trầm cảm rồi qua đời không lâu sau đó. Cả cha và mẹ ông khi mất đều chưa qua tuổi bốn mươi là mấy.
Erasmus được giao cho ba người giám hộ, trong đó người đứng đầu là Peter Winkel, hiệu trưởng một trường học ở Gouda; tài sản cha mẹ để lại cho ông hoàn toàn đủ để trang trải cuộc sống nếu những người thừa hành ủy thác trung thực thực hiện nghĩa vụ của mình. Mặc dù ông đã đủ năng lực để vào đại học, những người giám hộ lại không muốn gửi ông đến đó vì họ có ý định hướng ông vào cuộc sống tu trì. Do đó, họ chuyển ông đến Bois-le-duc; nơi đây, theo lời ông kể, ông đã lãng phí gần ba năm sống trong một dòng tu Franciscan. Trưởng bộ môn nhân văn tại tu viện này rất thán phục tài năng đang nảy nở của ông nên ngày ngày thuyết phục ông xuống tóc khoác áo tu sĩ để gia nhập dòng. Erasmus vốn không mấy mặn mà với chốn tu viện; không phải ông ghét bỏ những quy khem khắt khe của đời sống đạo hạnh, mà bởi ông không thể hòa hợp với con đường tu sĩ. Vì vậy, ông lấy lý do tuổi đời còn quá trẻ và mong muốn có thêm thời gian để suy nghĩ kỹ càng hơn. Dịch bệnh lan rộng ở vùng đó, cộng thêm việc phải chống chọi suốt một thời gian dài với cơn sốt rét cách ngày, đã buộc ông phải trở về nhà.
Những người giám hộ đã nhờ vả những người xung quanh dùng đủ mọi lý lẽ để thuyết phục ông gia nhập dòng tu; lúc thì đe dọa, khi lại nịnh hót và dùng những lời lẽ ngon ngọt. Khi Winkel, người giám hộ của ông, nhận thấy không thể làm lay chuyển được quyết tâm của ông, ông ta liền tuyên bố từ bỏ quyền giám hộ ngay từ thời điểm đó. Cậu thanh niên Erasmus đáp lại rằng ông chấp nhận lời tuyên bố ấy, vì giờ đây ông đã đủ lớn để tự lo cho bản thân. Nhận thấy những lời đe dọa không mang lại kết quả, Winkel liền nhờ em trai mình — người giám hộ thứ hai — xem có thể đạt được mục đích bằng biện pháp mềm mỏng hơn hay không. Thế là Erasmus bị bao vây từ mọi phía bởi họ cùng các tay chân. Trong một lần tình cờ, Erasmus đến thăm một tu viện thuộc cùng dòng tu ở Emaus hoặc Steyn, gần Gouda, nơi ông gặp lại Cornelius, một người bạn cũ thời ở Deventer. Mặc dù bản thân Cornelius chưa khoác áo tu sĩ, anh ta vẫn liên tục ca ngợi những lợi ích của đời sống tu hành, như sự tiện lợi của những thư viện đồ sộ, cơ hội trao đổi tri thức với các bậc học giả, sự thanh tịnh tránh xa khỏi những ồn ào và phù phiếm của thế thái nhân tình. Thế là cuối cùng ông đã bị thuyết phục chọn tu viện này. Khi ông gia nhập, người ta hứa hẹn với ông đủ điều để khuyến khích ông tiếp nhận thánh phục; và mặc dù ông nhận thấy hầu như mọi thứ đều không như mong đợi, song hoàn cảnh túng thiếu cùng những lời đe dọa về hậu quả nếu từ bỏ dòng tu đã buộc ông, sau một năm thử thách, phải chính thức tuyên thệ trở thành tu sĩ của dòng. Không lâu sau đó, ông có vinh dự được biết đến Henry a Bergis, Giám mục giáo phận Cambrai. Vì vị giám mục này đang hy vọng có được chiếc mũ Hồng y nên cần một người thông thạo tiếng La-tinh bậc thầy để đảm nhận việc giao thiệp giúp mình; với mục đích đó, Erasmus được nhận vào gia đình giám mục và mặc tu phục của dòng tại đây. Tuy nhiên, do không đạt được nguyện vọng tại Rome, vị giám mục trở nên thay đổi thất thường và phai nhạt tình cảm; vì vậy Erasmus đã thuyết phục ông gửi mình đến Paris để tiếp tục học tập tại ngôi trường đại học nổi tiếng nơi đó, với lời hứa trợ cấp hằng năm — khoản tiền mà thực tế chưa bao giờ được chi trả. Ông được nhận vào Đại học Montague, nhưng thể trạng ốm yếu buộc ông phải trở về với vị giám mục và được đón tiếp nồng hậu. Nhận thấy sức khỏe đã phục hồi, ông thực hiện một chuyến đi đến Holland với ý định định cư tại đó, nhưng lại được thuyết phục sang Paris lần thứ hai. Tại đây, do không có người bảo trợ giúp đỡ, chính ông tự nhận rằng mình chỉ ráng sức xoay sở để sống qua ngày chứ khó có thể coi là nghiên cứu học thuật. Tiếp đó ông sang thăm Anh quốc và được đón tiếp vô cùng trọng thị; qua nhiều bức thư của ông, có thể thấy ông coi trọng nơi đây chỉ sau quê hương chôn nhau cắt rốn. Trong một bức thư gửi cho Andrelinus nhằm mời bạn sang thăm Anh quốc, ông ca ngợi hết lời vẻ đẹp của các thiếu nữ Anh và mô tả sự tự do hồn nhiên của họ như sau: "Khi bạn bước vào nhà một quý tộc, bạn được phép trao hôn chào hỏi, và khi chia tay cũng vậy." Ông đặc biệt thân thiết với Sir Thomas More, Colet — Viện trưởng nhà thờ Saint Paul, Grocinus, Linacer, Latimer và nhiều nhân vật kiệt xuất khác thời bấy giờ; ông cũng sống vài năm tại Cambridge. Trên đường sang Pháp, ông gặp tai nản khi bị trấn lột sạch sẽ tài sản; nhưng ông không trả thù mối bất công này bằng bất kỳ lời lẽ phỉ báng cay nghiệt nào dành cho đất nước đó. Do không tìm được vị trí như kỳ vọng, ông thực hiện một chuyến đi sang Ý, nơi thời bấy giờ về mặt học thuật chẳng kém cạnh là bao so với thời kỳ hoàng kim Augustan. Ông nhận bằng Tiến sĩ Thần học tại Đại học Turin; lưu lại khoảng một năm tại Bologna; sau đó đến Venice và cho xuất bản cuốn sách Adages nổi tiếng tại nhà in của Aldus lừng danh. Ông chuyển đến Padua và cuối cùng là Rome, nơi tiếng thơm của ông đã lan truyền tới từ lâu trước khi ông đặt chân đến. Tại đây, ông tranh thủ được tình bằng hữu của tất cả các nhân vật trọng yếu trong thành phố, và chắc chắn đã gặt hái được sự nghiệp lẫy lừng nếu không vì bị xiêu lòng trước những lời hứa hẹn lớn lao từ bạn bè ở Anh để trở lại nơi đó khi Henry VIII lên ngôi vương. Ông được Warham, Tổng giám mục giáo phận Canterbury, ban dung chiếu và ban cho giáo xứ Aldington ở Kent; thế nhưng liệu do Erasmus thiếu kỹ năng lấy lòng Wolsey, hay do vị Hồng y này nhìn ông bằng ánh mắt đố kỵ vì ông là sủng thần của Warham — người vốn có xung đột gay gắt kéo dài với Wolsey — thì chúng ta không được rõ; dù sao thì sau khi thất vọng, Erasmus đã sang Flanders và nhờ sự can thiệp của Đại pháp Sylvagius, ông được bổ nhiệm làm cố vấn cho Charles của Áo, người sau này là Hoàng đế Charles V của Đế quốc La-mã Thần thánh. Ông cư ngụ nhiều năm tại Basil; nhưng khi lễ Misa bị bãi bỏ tại thành phố này do phong trào Cải cách, ông lui về Friberg ở Alsace và sống ở đó bảy năm. Sau một thời gian dài bị bệnh gút hành hạ, ông rời Friberg để trở lại Basil. Tại đây, căn bệnh gút sớm thuyên giảm, nhưng ông lại mắc phải chứng kiết lỵ cấp tính, và sau một tháng chống chọi với bệnh tật, ông đã qua đời vào ngày 22 tháng 7 năm 1536 tại nhà của Jerome Frobenius, con trai nhà in John nổi tiếng. Ông được an táng trọng thể, và thành phố Basil cho đến nay vẫn dành sự kính trọng cao nhất cho hương linh của một vĩ nhân như ông.
Erasmus là người dí dỏm nhất và cũng là nhà phê bình vĩ đại nhất trong thời đại của mình. Ông vừa thực hiện cuộc cải cách trong học thuật, vừa thúc đẩy sự phát triển của tôn giáo; ông cổ vũ cho sự trong sáng của văn phong cũng như sự giản dị trong nghi thức thờ phụng. Điều này đã chuốc lấy sự thù hận từ giới tu sĩ, những kẻ vốn bám chấp vào sự hủ lậu trong ngôn ngữ và triết học chẳng kém gì sự mê tín cùng các nghi lễ xa hoa hợm hình trong tôn giáo; họ công kích ông trong những luận thuyết diễn đạt ngô nghê, phỉ báng ông trong những bài giảng đạo thảm hại, và trong nỗ lực thâm độc cuối cùng nhằm hạ bệ ông, họ đã chèn những thứ dơ bẩn của chính mình vào các tác phẩm của ông — điều mà chính ông đã than phiền trong một bức thư gửi các nhà thần học ở Louvain. Ông công khai vạch nếp sống hủ hóa và sự thối nát trong chính Giáo hội của mình với thái độ hết sức thẳng thắn, song chưa bao giờ bị thuyết phục từ bỏ sự gắn kết với Giáo hội. Giáo hoàng có lẽ đã chẳng bao giờ chịu đựng một sự chỉ trích và lên án tự do không kiềm chế đến thế đối với những thói dâm dực của mình, nếu không rơi vào hoàn cảnh bị Luther tấn công công khai khiến Giáo hội buộc phải khôn khéo không làm mất lòng bạn bè, nhằm tập trung sức mạnh đoàn kết chống lại kẻ thù chung; và vì thế họ đã nhẫn nại chịu đựng những điều mà ở bất kỳ thời điểm nào khác chắc chắn sẽ bị trừng phạt tàn khốc. Có lẽ không một ai để lại cho công chúng số lượng tác phẩm hữu ích nhiều như tác gia của chúng ta; mặc dù một số tác phẩm được gán cho ông thực chất không phải do ông viết. Cuốn Colloquies của ông đã trải qua nhiều ấn bản hơn bất kỳ tác phẩm nào khác: Moreri kể lại rằng một nhà sách ở Paris từng bán hết sạch hai mươi nghìn bản chỉ trong một lần in.
