Theo những gì tôi có thể xác định được, vào tháng Chín năm 1811, một chiếc xe ngựa bưu điện đã dừng lại trước cửa dinh thự Aswarby, nằm giữa vùng Lincolnshire. Cậu bé là hành khách duy nhất trên xe, vừa dừng bánh đã nhảy phốc xuống, liền đưa mắt quan sát xung quanh bằng vẻ tò mò cao độ trong khoảng thời gian ngắn ngủi giữa lúc tiếng chuông cửa vang lên và cánh cửa lớn được mở ra. Cậu nhìn thấy một ngôi nhà gạch đỏ cao và vuông vắn, được xây dựng dưới triều đại Nữ hoàng Anne; một hiên nhà chống cột đá mang phong cách cổ điển thuần khiết hơn từ năm 1790 đã được cất thêm vào; các ô cửa sổ của ngôi nhà rất nhiều, cao và hẹp, với những tấm kính nhỏ cùng khung gỗ trắng dày. Một chiếc trán tường, có đục một ô cửa sổ tròn, điểm tô phần đỉnh mặt tiền. Hai bên có hai dãy nhà phụ nối liền với khối nhà chính qua những hành lang lắp kính kỳ lạ, được nâng đỡ bởi các hàng cột. Hai dãy nhà phụ này rõ ràng là nơi làm chuồng ngựa và phòng ốc phục vụ cho ngôi nhà. Trên đỉnh mỗi dãy có một mái vòm trang trí cùng chiếc phong hướng bằng vàng.
Ánh nắng chiều rọi xuống tòa nhà, khiến các ô cửa sổ rực lên như những đốm lửa. Phía trước dinh thự, cách xa một quãng là một khoảng công viên bằng phẳng điểm xuyết những gốc sồi và viền quanh bởi những hàng thông nổi bật giữa bầu hồ quang trời. Chiếc đồng hồ trên tháp chuông nhà thờ, ẩn mình trong những tán cây ở rìa công viên – nơi chỉ có con gà trống thời tiết bằng vàng của nó bắt được ánh sáng – đang điểm sáu giờ, và âm thanh ấy theo chiều gió văng vẳng vọng lại dịu dàng. Đó là một ấn tượng tổng thể dễ chịu, dẫu mang chút hoài niệm u buồn thích hợp với một buổi chiều đầu thu, tràn ngập trong tâm trí cậu bé đang đứng ngoài hiên chờ cửa mở.
Chiếc xe ngựa đã đưa cậu đến từ Warwickshire, nơi chừng sáu tháng trước, cậu đã trở thành trẻ mồ côi. Giờ đây, nhờ lời đề nghị rộng lượng của người họ hàng lớn tuổi là ông Abney, cậu đã đến Aswarby để sinh sống. Lời đề nghị ấy hoàn toàn bất ngờ, bởi những ai biết về ông Abney đều xem ông là một kẻ ẩn dật có phần khắc kỷ, kẻ mà trong hộ gia đình tẻ nhạt của cậu bé xuất hiện sẽ mang đến một yếu tố mới mẻ và có vẻ lạc lõng. Sự thật là người ta biết rất ít về sở thích hay tính khí của ông Abney. Người ta từng nghe Giáo sư tiếng Hy Lạp ở Cambridge nói rằng không ai am hiểu về tín ngưỡng tôn giáo của những người ngoại giáo hậu kỳ hơn vị chủ nhân của Aswarby. Chắc chắn là thư viện của ông chứa tất cả các sách vở hiện hành lúc bấy giờ liên quan đến các Mật giáo, thơ ca Orpheus, sự thờ phụng Mithras và phái Tân Platon. Trong sảnh lát đá cẩm thết có một tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp tượng thần Mithras đang giết bò đực, được chủ nhân tốn rất nhiều tiền nhập từ vùng Cận Đông. Ông từng đóng góp một bài mô tả về nó cho tạp chí Gentleman’s Magazine, và viết một loạt bài viết đáng chú ý trên tờ Critical Museum về những điều mê tín của người La Mã thời Đế chế Suy vong. Nói tóm lại, ông được xem là một con người chìm đắm trong sách vở, và hàng xóm của ông vô cùng kinh ngạc khi hay tin ông lại biết đến người họ hàng mồ côi Stephen Elliott, chứ đừng nói đến việc ông tình nguyện đón cậu về làm người sống chung dưới mái nhà Aswarby.
Dù hàng xóm có đoán già đoán non thế nào đi nữa, có một điều chắc chắn là ông Abney – cao gầy và khắc kỷ – lại tỏ ra muốn dành cho cậu họ hàng trẻ tuổi một sự đón tiếp ân cần. Ngay khoảnh khắc cánh cửa chính được mở ra, ông lao vút từ phòng làm việc ra, hai tay xoa vào nhau đầy vui thích.
“Cháu khỏe không, cháu trai? – Cháu thế nào? Cháu bao nhiêu tuổi rồi?” – ông nói – “Ý ta là, hy vọng cháu không quá mệt mỏi vì chuyến đi mà không thể ăn tối được chứ?”
“Dạ không, thưa bác, cháu cảm ơn ạ,” cậu ấm Elliott đáp; “cháu vẫn bình thường ạ.”
“Thế thì tốt lắm,” ông Abney nói. “Và cháu bao nhiêu tuổi rồi, cháu trai?”
Có vẻ hơi kỳ lạ khi ông lại hỏi câu đó đến hai lần trong hai phút đầu tiên họ làm quen.
“Dạ, sinh nhật tới là cháu tròn mười hai tuổi, thưa bác,” Stephen đáp.
“Và sinh nhật cháu là ngày nào, cháu yêu? Ngày mười một tháng Chín phải không? Tốt quá – quá tốt rồi. Gần một năm nữa cơ đấy, phải không nào? Ta thích – ha ha! – ta thích ghi chép những chuyện này vào sổ của ta. Cháu chắc chắn là mười hai chứ? Chắc chắn chứ?”
“Dạ vâng, thưa bác, cháu chắc chắn ạ.”
“Thôi được, được! Parkes, hãy đưa nó đến phòng của bà Bunch, và cho nó ăn trà bánh – bữa tối – bất cứ thứ gì đi.”
“Dạ vâng, thưa ngài,” ông quản gia Parkes điềm đạm đáp; rồi dẫn Stephen xuống khu vực tầng dưới.
Bà Bunch là người thoải mái và gần gũi nhất mà Stephen từng gặp ở Aswarby từ trước tới nay. Bà làm cho cậu cảm thấy hoàn toàn tự nhiên như ở nhà; họ nhanh chóng trở thành bạn tốt chỉ trong vòng mười lăm phút: và tình bạn ấy cứ thế bền chặt. Bà Bunch sinh ra ở vùng này khoảng năm mươi lăm năm trước ngày Stephen đến, và thâm niên làm việc tại dinh thự của bà đã được hai mươi năm. Do đó, nếu có ai nắm rõ mọi ngóc ngách trong nhà lẫn trong vùng, thì đó chính là bà Bunch; và bà cũng chẳng ngần ngại gì việc chia sẻ những hiểu biết của mình.
Quả thực, có rất nhiều điều quanh dinh thự và khu vườn mà Stephen, vốn có bản tính tò mò và thích phiêu lưu, rất muốn được giải thích. “Ai đã xây ngôi đền ở cuối lối đi trồng cây nguyệt quế? Ông già có bức tranh treo trên cầu thang, ngồi bên chiếc bàn với một chiếc hộp sọ dưới tay là ai?” Những câu hỏi này và nhiều điểm tương tự khác đã được sáng tỏ nhờ kho tàng tri thức uyên bác của bà Bunch. Tuy nhiên, vẫn có những điều khác mà lời giải thích đưa ra chưa được thỏa đáng cho lắm.
Một buổi tối tháng Mười một, Stephen đang ngồi sưởi ấm bên lò sưởi trong phòng quản gia và suy ngẫm về mọi thứ xung quanh mình.
“Bà ơi, ông Abney có phải là một người tốt không, và ông ấy có được lên thiên đàng không ạ?” – cậu đột nhiên cất giọng hỏi, mang theo sự tự tin đặc trưng mà trẻ con thường có ở khả năng phân định những vấn đề của người lớn, những việc vốn được tin là thuộc quyền phán quyết của các tòa án tối cao nào khác.
“Tốt ư? – Chúa phù hộ cho đứa trẻ!” bà Bunch thốt lên. “Ngài chủ nhà là một con người nhân hậu nhất mà tôi từng thấy! Chẳng lẽ tôi chưa từng kể cho cháu nghe về cậu bé mà ngài đã đón nhận từ ngoài đường vào, tính ra cũng phải bảy năm về trước rồi sao? Cả cô bé nọ, hai năm sau khi tôi mới đến đây nữa?”
“Dạ chưa ạ. Bà kể cho cháu nghe hết về họ đi, bà Bunch – ngay bây giờ nhé!”
“À,” bà Bunch nói, “cô bé ấy thì tôi không nhớ rõ lắm. Tôi chỉ biết một hôm chủ nhân đưa con bé về cùng từ buổi đi dạo, và dặn dò bà Ellis – lúc đó làm quản gia – rằng phải chăm sóc con bé thật chu đáo. Tội nghiệp, con bé chẳng có họ hàng thân thích nào cả – chính nó đã nói với tôi thế – và nó sống ở chỗ chúng ta được độ chừng ba tuần lễ; rồi chẳng biết trong người nó có mang dòng máu du mục hay gì nữa, mà một sáng nọ, nó lẻn ra khỏi giường trước khi bất kỳ ai trong chúng tôi kịp mở mắt, và từ đó đến nay tôi chẳng còn thấy tăm tích hay dấu vết gì của nó nữa. Chủ nhân đã vô cùng bối rối và cho người mò khắp các ao hồ; nhưng tôi tin chắc rằng nó đã bị bọn du mục bắt đi, bởi vì đêm nó đi, người ta nghe tiếng hát quanh nhà suốt cả tiếng đồng hồ, còn ông Parkes thì quả quyết rằng ông ấy nghe tiếng chúng gọi nhau trong rừng suốt buổi chiều hôm ấy. Ấy chà! Đúng là một đứa trẻ kỳ quặc, mọi cử chỉ đều lầm lì ít nói, nhưng tôi lại rất quý nó, vì nó vô cùng ngoan ngoãn – đến mức đáng ngạc nhiên.”
“Thế còn cậu bé thì sao ạ?” Stephen hỏi.
“À, tội nghiệp cậu bé ấy chứ!” bà Bunch thở dài. “Thằng bé là người ngoại quốc – nó tự gọi mình là Jevanny – và nó ôm đàn thùng quay vòng quanh đường xe chạy vào một ngày mùa đông, chủ nhân lập tức gọi nó vào, hỏi han đủ điều về quê quán, tuổi tác, cách nó bôn ba, họ hàng ở đâu, ân cần chẳng thiếu thứ gì. Nhưng rồi kết cục cũng y như thế. Mấy giống dân ngoại quốc ấy vốn vô kỷ luật, tôi đoán thế đấy, và rồi nó cũng chuồn đi vào một buổi sáng đẹp trời y hệt như con bé kia. Lý do vì sao nó đi và nó đã làm gì là câu hỏi chúng tôi thắc mắc suốt cả năm trời sau đó; bởi vì nó chẳng thèm mang theo chiếc đàn thùng, và giờ nó vẫn nằm kìa trên chiếc kệ.”
Khoảng thời gian còn lại của buổi tối được Stephen dùng để tra hỏi đủ điều với bà Bunch và mày mò gảy ra giai điệu từ chiếc đàn thùng.
Đêm đó, cậu có một giấc ngủ kỳ lạ. Ở cuối hành lăng trên tầng cao nhất của ngôi nhà, nơi có phòng ngủ của cậu, có một phòng tắm cũ đã không còn sử dụng. Nửa trên của cửa phòng được lắp kính và vẫn luôn khóa kín, nhưng vì những tấm rèm muslin từng treo ở đó đã mất từ lâu, nên người ta có thể nhìn thấu vào trong và thấy chiếc bồn tắm lót chì gắn vào bức tường bên phải, với phần đầu quay về phía cửa sổ.
Vào đêm mà tôi đang kể, Stephen Elliott thấy mình như đang nhìn qua cánh cửa kính đó. Ánh trăng chiếu qua cửa sổ, và cậu đang đăm đăm nhìn một hình hài nằm trong bồn tắm.
Mô tả của cậu về những gì mình nhìn thấy làm tôi nhớ lại lần bản thân từng chứng kiến trong những hầm mộ nổi tiếng của Nhà thờ St Michan ở Dublin, nơi có đặc tính kinh hoàng là bảo quản tử thi không bị phân hủy suốt hàng thế kỷ. Một thân hình gầy gò và đáng thương đến nao lòng, mang sắc xám xịt của bụi chì, được quấn trong một lớp vải liệm, đôi môi mỏng mím lại thành một nụ cười nhợt nhạt và rợn người, hai bàn tay áp chặt vào vùng ngực.
Khi cậu nhìn vào đó, một tiếng rên rỉ xa xăm, gần như không thể nghe thấy dường như phát ra từ đôi môi ấy, và đôi tay bắt đầu cử động. Nỗi sợ hãi trước cảnh tượng ấy đẩy lùi Stephen ra phía sau, và cậu bừng tỉnh nhận ra mình thực sự đang đứng trên sàn ván lạnh lẽo của hành lang dưới ánh trăng vằng vặc. Với một lòng dũng cảm mà tôi nghĩ khó có thể tìm thấy ở những đứa trẻ bằng tuổi, cậu tiến đến cửa phòng tắm để xác minh xem hình bóng trong giấc mơ của mình có thực sự ở đó hay không. Không có ai cả, và cậu quay trở lại giường.
Sáng hôm sau, bà Bunch vô cùng ấn tượng trước câu chuyện của cậu, và đã cất công treo lại tấm rèm muslin che kín phần kính của phòng tắm. Hơn nữa, ông Abney – người mà cậu đã tâm sự những trải nghiệm của mình trong bữa sáng – tỏ ra vô cùng thích thú và đã ghi chép lại sự việc vào thứ mà ông gọi là “cuốn sổ của tôi”.
Tiết xuân phân đang đến gần, như ông Abney vẫn thường nhắc nhở người họ hàng trẻ tuổi của mình, đồng thời nói thêm rằng đây luôn được coi là thời điểm nhạy cảm đối với giới trẻ theo quan niệm của người xưa: rằng Stephen nên tự chăm sóc bản thân, và nhớ đóng cửa sổ phòng ngủ vào ban đêm; và rằng Censorinus có một số nhận xét vô cùng giá trị về vấn đề này. Hai sự cố xảy ra vào khoảng thời gian này đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí Stephen.
Sự cố đầu tiên xảy ra sau một đêm trằn trọc và bức bối bất thường mà cậu vừa trải qua – dẫu cậu không thể nhớ lại bất kỳ giấc mơ cụ thể nào.
Vào buổi tối hôm sau, bà Bunch đang bận rộn vá chiếc áo ngủ cho cậu.
“Ôi trời ơi, cậu Stephen!” bà bỗng thốt lên với vẻ hơi bực bội, “sao cậu lại có tài làm rách tả tơi chiếc áo ngủ thế này hả? Nhìn này, thưa cậu, cậu gây ra bao nhiêu việc khổ sở cho mấy người hầu tội nghiệp phải ngồi vá víu sau lưng cậu chứ!”
Quả thực, trên chiếc áo có một chuỗi những vết cắt hoặc vết rạch trông rất cố ý và vô cùng tàn phá, chắc chắn sẽ cần đến một cây kim khéo léo mới có thể sửa lại được. Chúng chỉ tập trung ở phần ngực bên trái – những vết rạch dài, song song, dài khoảng sáu inch, một vài vết thậm chí chưa rách hẳn qua lớp vải lanh. Stephen chỉ biết bày tỏ sự hoàn toàn không biết gì về nguồn gốc của chúng; cậu chắc chắn rằng đêm hôm trước chúng chưa hề có ở đó.
“Nhưng,” cậu nói, “bà Bunch ơi, chúng hệt như những vết cào ở bên ngoài cửa phòng ngủ của cháu vậy; và cháu chắc chắn là chưa từng nhúng tay vào việc tạo ra chúng.”
Bà Bunch trân trối nhìn cậu há hốc miệng, rồi chộp lấy một ngọn nến, vội vã rời khỏi phòng và nghe tiếng bước chân đang hối hả lên lầu. Chỉ vài phút sau, bà quay xuống.
“Thưa cậu Stephen,” bà nói, “tôi thực sự thấy lạ lùng làm sao mà mấy vết cào vết xước ấy lại có thể xuất hiện ở đó được – nó quá cao để mèo hay chó có thể cào tới, huống hồ là chuột: trông hệt như móng tay của người Trung Hoa mà ông chú buôn trà của tôi từng kể cho chúng tôi nghe hồi còn nhỏ. Nếu tôi là cậu, thưa cậu Stephen yêu quý, tôi sẽ chẳng nói nửa lời với chủ nhà đâu; và cứ xoay khóa cửa lại khi đi ngủ nhé.”
“Cháu vẫn luôn làm thế mà, bà Bunch, ngay sau khi đọc kinh xong ạ.”
“À, thế là đứa trẻ ngoan: hãy luôn đọc kinh cầu nguyện, rồi sẽ chẳng ai có thể làm hại cậu được.”
Nói đoạn, bà Bunch lại cặm cụi vá chiếc áo ngủ bị hỏng, đan xen những khoảng trầm tư suy nghĩ cho đến tận giờ đi ngủ. Đó là tối thứ Sáu vào tháng Ba năm 1812.
Vào buổi tối hôm sau, sự kết hợp quen thuộc giữa Stephen và bà Bunch bỗng có thêm sự góp mặt đột ngột của ông quản gia Parkes – người thường ngày hay thu mình trong phòng đựng đồ của riêng ông. Ông không nhận ra Stephen đang ở đó; hơn nữa, ông có vẻ bấn loạn và nói năng trôi chảy hơn ngày thường.
“Chủ nhà có thể tự xuống lấy rượu của mình vào buổi tối, nếu ngài thích,” đó là câu nói đầu tiên của ông. “Hoặc là tôi làm việc đó vào ban ngày, hoặc là không làm gì cả, bà Bunch ạ. Tôi chẳng biết đó là cái quái gì nữa; rất có thể là lũ chuột, hoặc gió lùa vào tầng hầm; nhưng tôi không còn trẻ trung như trước, và tôi không thể kham nổi công việc như đã từng làm đâu.”
“Thưa ông Parkes, ông biết dinh thự này nổi tiếng là nhiều chuột mà.”
“Tôi đâu có phủ nhận điều đó, bà Bunch; và quả thực, không ít lần tôi nghe câu chuyện từ những người thợ ở xưởng tàu kể về con chuột biết nói. Trước đây tôi chẳng bao giờ tin tưởng chuyện đó; nhưng tối nay, nếu tôi hạ mình áp tai vào cửa chiếc thùng chứa rượu ở trong cùng, thì suýt chút nữa tôi đã nghe được chúng đang nói gì rồi.”
“Ôi dào, ông Parkes, tôi hết chịu nổi mấy cái trò tưởng tượng của ông rồi! Chuột nói chuyện trong hầm rượu cơ đấy!”
“Thưa bà Bunch, tôi chẳng có ý đôi co với bà làm gì: tất cả những gì tôi nói là, nếu bà chịu khó ra cái thùng ở trong cùng và áp tai vào cửa, bà có thể kiểm chứng lời tôi ngay phút này đấy.”
“Ông nói năng nhảm nhí gì thế, ông Parkes – có phù hợp cho trẻ con nghe đâu! Bộ ông định dọa cho cậu Stephen đây hồn vía lên mây à?”
“Sao cơ! Cậu Stephen á?” Parkes nói, chợt nhận ra sự hiện diện của cậu bé. “Cậu Stephen thừa biết khi nào tôi đang đùa giỡn với bà mà, phải không bà Bunch?”
Thực ra, cậu ấm Stephen hiểu rõ hơn ai hết rằng ngay từ đầu ông Parkes chẳng hề có ý đùa cợt nào cả. Cậu cảm thấy tò mò, dù không mấy dễ chịu trước tình hình hiện tại; nhưng mọi câu hỏi của cậu đều không thể gặng ra thêm bất kỳ chi tiết nào từ vị quản gia về những trải nghiệm của ông dưới hầm rượu.
Bây giờ chúng ta đã đến ngày 24 tháng Ba năm 1812. Đó là một ngày đầy những trải nghiệm kỳ lạ đối với Stephen: một ngày gió thổi ào ào, náo động, mang lại cho ngôi nhà và khu vườn cảm giác bất an không yên. Khi Stephen đứng bên hàng rào khuôn viên và phóng tầm mắt nhìn ra công viên, cậu có cảm giác như một đoàn người vô hình vô tận đang lướt qua cậu theo chiều gió, bị cuốn đi một cách bất định và cưỡng ép, vô vọng giãy giụa để dừng lại, để bám lấy thứ gì đó có thể níu giữ chuyến bay của họ và đưa họ trở lại với thế giới của những người sống mà họ từng thuộc về. Sau bữa trưa hôm đó, ông Abney nói:
“Stephen, cháu trai của ta, cháu nghĩ tối nay mình có thể đến phòng làm việc của ta lúc muộn, tầm mười một giờ được không? Ta sẽ bận rộn cho đến lúc đó, và ta muốn cho cháu xem một vài điều liên quan đến cuộc đời tương lai của cháu mà việc biết được là vô cùng quan trọng. Cháu không được nhắc chuyện này với bà Bunch hay bất kỳ ai khác trong nhà; và tốt nhất cháu cứ về phòng ngủ vào giờ giấc bình thường.”
Một sự hào hứng mới lại được thêm vào cuộc sống: Stephen chớp lấy cơ hội được thức đến mười một giờ một cách đầy háo hức. Trên đường lên lầu tối hôm đó, cậu ngó vào cửa thư viện và nhìn thấy một cái lò sương than mà cậu vẫn thường thấy ở góc phòng đã được dời ra trước lò sưởi; một chiếc cốc bằng bạc dát vàng cũ đặt trên bàn, chứa đầy rượu đỏ, và vài tờ giấy viết tay nằm ở bên cạnh. Ông Abney đang rắc chút trầm hương lên lò sương từ một chiếc hộp bạc tròn khi Stephen bước ngang qua, nhưng dường như không để ý đến bước chân của cậu.
Cơn gió đã lặng, đêm về tĩnh mịch và ánh trăng sáng tỏ. Khoảng mười giờ, Stephen đang đứng bên cửa sổ phòng ngủ mở tung, phóng tầm mắt ngắm nhìn vùng nông thôn. Dù đêm tĩnh lặng là thế, cư dân huyền bí của những khu rừng ngập ánh trăng đằng xa vẫn chưa chịu chìm vào giấc ngủ. Thỉnh thoảng, những tiếng kêu kỳ lạ tựa như của những kẻ lang thang lạc lõng và tuyệt vọng lại vang lên từ bên kia hồ nước. Đó có lẽ là tiếng của loài cú hoặc chim nước, nhưng chúng lại không hoàn toàn giống bất kỳ âm thanh nào. Chẳng phải chúng đang đến gần hơn sao? Giờ thì chúng vang lên từ phía gần hơn của mặt nước, và chỉ một lát sau, chúng dường như đang văng vẳng bay lượn giữa những lùm cây cảnh. Rồi chúng im bặt; nhưng đúng lúc Stephen đang định đóng cửa sổ và đọc tiếp cuốn Robinson Crusoe, cậu chợt nhìn thấy hai bóng người đang đứng trên sân hiên lát sỏi chạy dọc theo phía vườn của dinh thự – hình bóng của một cậu bé và một cô bé, trông có vẻ là thế; họ đứng cạnh nhau, ngước nhìn lên các cửa sổ. Một nét gì đó trong hình hài của cô bé gợi nhắc không thể cưỡng lại giấc mơ của cậu về nhân vật trong bồn tắm. Cậu bé thì mang lại cho cậu nỗi sợ hãi sâu sắc hơn.
Trong khi cô bé đứng yên, mỉm cười nhẹ với hai bàn tay đan trước ngực, thì cậu bé – một dáng hình gầy guộc với mái tóc đen và quần áo rách rưới – giơ cao đôi tay lên không trung với vẻ đe dọa cùng một sự khao khát và thèm thuồng khôn cùng. Ánh trăng chiếu rọi lên đôi bàn tay gần như trong suốt của nó, và Stephen nhìn thấy những chiếc móng tay dài đáng sợ và ánh sáng xuyên qua cả chúng. Khi cậu đứng đó với đôi tay giơ cao như vậy, nó phơi bày một cảnh tượng kinh hoàng. Ở phần ngực bên trái của nó lộ ra một vết rách đen ngòm và hoác hoác; và vọng vào tâm trí Stephen, hơn là vào tai cậu, là ấn tượng về một trong những tiếng kêu đói khát và hoang tàn mà cậu đã nghe vang vọng khắp những khu rừng ở Aswarby suốt buổi tối hôm đó. Chỉ giây lát sau, cặp đôi đáng sợ ấy đã lướt đi nhanh chóng và không một tiếng động trên lớp sỏi khô, và cậu không còn nhìn thấy họ nữa.
Dù vô cùng hoảng sợ, cậu vẫn quyết định cầm nến đi xuống phòng làm việc của ông Abney, bởi giờ hẹn gặp của họ đã cận kề. Phòng làm việc hay thư viện mở ra từ sảnh chính ở một bên, và Stephen, bị thôi thúc bởi nỗi sợ hãi, chẳng mất bao lâu để đến nơi. Việc vào trong lại không hề dễ dàng gì. Cậu chắc chắn là cửa không khóa, vì chìa khóa vẫn nằm ở bên ngoài như thường lệ. Tiếng gõ liên hồi của cậu không nhận được lời đáp. Ông Abney đang bận: ngài đang nói chuyện. Cái gì cơ! Sao ngài lại cố kêu lên? Và tại sao tiếng thét ấy lại bị bóp nghẹn trong cổ họng? Phải chăng ngài cũng đã nhìn thấy những đứa trẻ huyền bí kia? Nhưng giờ đây mọi thứ đều tĩnh lặng, và cánh cửa đã nhường bước trước cái đẩy đầy hoảng loạn và sợ hãi của Stephen.
Trên bàn trong phòng làm việc của ông Abney, người ta tìm thấy một số tài liệu giải thích rõ tình hình cho Stephen Elliott khi cậu đủ tuổi để hiểu chúng. Những câu quan trọng nhất như sau:
“Đó là một niềm tin được nắm giữ vô cùng mạnh mẽ và phổ biến bởi những bậc hiền triết thời cổ đại – những người mà sự khôn ngoan trong các vấn đề này đã mang lại cho tôi trải nghiệm đủ để đặt niềm tin vào lời khẳng định của họ – rằng bằng cách thực hiện một số nghi thức nhất định, vốn đối với chúng ta ngày nay mang vẻ ngoài có phần dã man, người ta có thể đạt được sự khai sáng đáng chú ý về các năng lực tâm linh ở con người: chẳng hạn như, bằng cách hấp thụ nhân dạng của một số đồng loại nhất định, một cá nhân có thể giành được quyền thống trị hoàn toàn đối với các bậc thực thể tâm linh đang kiểm soát các thế lực nguyên tố trong vũ trụ của chúng ta.
“Người ta ghi chép lại rằng Simon Magus có khả năng bay lượn trên không trung, tàng hình, hoặc giả dạng thành bất kỳ hình hài nào ông ta muốn, nhờ vào linh hồn của một cậu bé mà – sử dụng cụm từ vu khống của tác giả bộ Clementine Recognitions – ông ta đã ‘sát hại’. Hơn nữa, tôi tìm thấy những ghi chép với độ chi tiết đáng kể trong các tác phẩm của Hermes Trismegistus rằng những kết quả tốt đẹp tương tự có thể đạt được bằng cách hấp thụ trái tim của không dưới ba con người dưới độ tuổi hai mươi mốt. Để kiểm chứng tính chân thực của phương thuốc này, tôi đã dành phần lớn thời gian trong hai mươi năm qua để chọn làm vật thí nghiệm những kẻ có thể dễ dàng loại bỏ mà không gây ra một khoảng trống đáng kể nào trong xã hội. Bước đầu tiên tôi thực hiện bằng cách loại bỏ Phoebe Stanley, một cô bé gốc du mục, vào ngày 24 tháng Ba năm 1792. Bước thứ hai, bằng cách loại bỏ một thiếu niên lang thang người Ý tên là Giovanni Paoli, vào đêm ngày 23 tháng Ba năm 1805. ‘Nạn nhân’ cuối cùng – để dùng một từ vô cùng ghê tởm đối với cảm xúc của tôi – phải là họ hàng của tôi, Stephen Elliott. Ngày của nó phải là ngày 24 tháng Ba năm 1812 này.
“Phương pháp tốt nhất để thực hiện việc hấp thụ mong muốn là lấy trái tim ra khỏi cơ thể sống, thiêu thành tro, và hòa chúng với khoảng một pint rượu đỏ, tốt nhất là rượu vang port. Những phần còn lại của hai đối tượng đầu tiên, ít nhất là vậy, tốt hơn hết nên được giấu đi: một phòng tắm không dùng đến hoặc hầm rượu sẽ rất tiện lợi cho mục đích đó. Có thể sẽ gặp một chút phiền toái từ phần tâm linh của các đối tượng, mà ngôn ngữ đại chúng thường gọi một cách trang trọng là những hồn ma. Nhưng kẻ có tâm tính triết gia – kẻ duy nhất thích hợp với cuộc thí nghiệm này – sẽ ít khi bận tâm đến những nỗ lực yếu ớt của các thực thể này nhằm trút giận lên mình. Tôi vô cùng mãn nguyện khi nghĩ đến sự tồn tại được mở rộng và giải thoát mà cuộc thí nghiệm này, nếu thành công, sẽ mang lại cho tôi; không chỉ đưa tôi vượt ra ngoài tầm với của công lý loài người (cái gọi là công lý), mà còn loại bỏ phần lớn viễn cảnh về chính cái chết.”
Người ta tìm thấy ông Abney ngồi trên ghế, đầu ngả ra sau, khuôn mặt hằn lên biểu cảm của sự tức giận, kinh hoàng và nỗi đau đớn cận kề cái chết. Ở phần ngực bên trái của ông là một vết thương rách rưới kinh hoàng, để lộ cả trái tim. Không có chút máu nào trên tay ông, và con dao dài đặt trên bàn hoàn toàn sạch sẽ. Một con mèo rừng hung dữ có thể đã gây ra những vết thương đó. Cửa sổ phòng làm việc đang mở, và theo quan điểm của vị pháp quan khám nghiệm tử thi, ông Abney đã bỏ mạng do sự tấn công của một loài thú hoang nào đó. Nhưng qua việc nghiên cứu các tài liệu mà tôi vừa trích dẫn, Stephen Elliott đã đi đến một kết luận hoàn toàn khác.