CÔN TRÙNG

Côn Trùng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 0 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tặng Nguyệt, Hằng - Hai Người Bạn Thủa Thiếu Thời Và Những Người Dân Cần Cù Hiền Hòa Quê Tôi. - Phần 1
Phần 1

❊ ❊ ❊

Tôi phải kể ra đây với bà, bởi câu chuyện mà tôi sắp kể thì không thể không kể ra được bà ạ. Từ lâu rồi nó cứ gậm nhấm tâm hồn tôi, nó cứ rỉ rả suốt đêm ngày. Tôi day dứt. Tôi bối rối. Đôi lúc tôi còn cảm thấy cả sự ân hận, hối lỗi đối với những người xung quanh. Nhất là đối với mẹ tôi giờ đang ở cõi vĩnh hằng, nhưng tôi biết, đêm đêm, bà vẫn về bên tôi, vẫn chăm sóc tôi như ngày xưa. Vì tôi vốn là đứa con cưng nhất của- bà. Thưa bác sĩ, nhưng tôi không biết bắt đầu câu chuyện này từ đâu? Nhìn ánh mắt khuyến khích của bà, tôi thấy an tâm hơn. Tôi chắc bà sẽ hiểu tôi, vì đây là nghề của bà. Tôi đã đọc rất nhiều sách và nghe rất nhiều những câu chuyện nói về ngành nghề của bà. Ngày xưa đôi lúc tôi còn chế giễu những người phải tìm đến các bác sĩ tâm lý, là vì dạo ấy tôi không bao giờ có ý nghĩ rằng một ngày nào đó tôi lại phải tìm đến những phòng mạch như của bà đây để điều trị. Đúng là ở đời, nói trước bước không qua. Trong đầu tôi hiện giờ đang bùng nhùng biết bao ý nghĩ. Những ý nghĩ đó cứ đan xen, hòa trộn lẫn nhau. Vâng, chuyện quan trọng nhất tôi sẽ kể cho bà nghe ngay đây. Đấy, bà lại có điện thoại rồi, và tiếng chuông điện thoại đã làm tôi hoảng loạn và câu dạo đầu đầu tiên mà tôi muốn bắt đầu đã lại tan biến đi mất. Tôi phải nói cho bà biết ngay rằng, chuyện tôi sắp kể là một câu chuyện tình. Bà làm ơn có thể tắt điện thoại đi được không, vì điện thoại sẽ làm ngắt mạch câu chuyện của tôi và tôi sẽ lại khó bắt đầu lại từ đầu. Vâng, đây là một câu chuyện tình chẳng giống như bất kỳ một câu chuyện tình nào khác. Và chính nó đã làm tôi trở nên trầm cảm từ bấy lâu nay. Chuyện của tôi đã bắt đầu từ nhiều năm rồi. Chuyện của tôi và người ấy ấy mà. Tôi có buộc phải nói tên người ta ra không? Có à? Có nói ra thì lòng tôi sẽ thanh thản hơn để giãi bày à? Đúng thế, đúng là nghề nghiệp của bà có khác. Mới bắt đầu thì đã thấy có hiệu nghiệm rồi, bởi tôi cứ lấy kinh nghiệm từ mình mà ra. Nếu một ngày tôi cố gắng gọi dù chỉ là gọi thầm tên của người ta thì cả ngày hôm đó tôi sẽ cảm thấy thanh thản và chịu hơn, còn nếu như tôi cứ bắt mình phải quên đi và sống trong sự kìm nén thì tôi sẽ cảm thấy rất ngột ngạt, khó thở. Vâng, anh ấy tên NV . Nhưng chỉ có điều, bà biết không, khi gọi tên anh ấy ra như vậy thì tim tôi lại thổn thức, cả người tôi như có một luồng điện chạy qua vậy, các mạch máu dường như lưu thông nhanh hơn, hơi thở của tôi gấp gáp, các tế bào trên cơ thể tôi lại căng ra, chúng như muốn đón nhận nơi anh từng cử chỉ, vuốt ve, từng ánh mắt, thậm chí chúng còn muốn hít thở hơi thở của anh. Đã bao đêm tôi tập ngồi thiền. Tôi không dám nghĩ về anh bất kỳ lúc nào. Thì tôi đã nói với bà lúc nãy, khi bà đang tra những bệnh án của tôi. Tôi yêu anh ấy, yêu say mê, cuồng nhiệt. Tôi yêu anh bằng con tim run rẩy trắng trong của mình. Khoảng cách xa xôi càng làm cho tình yêu của tôi tăng dần lên theo năm tháng. Mỗi mùa đến rồi lại qua. Mỗi năm đến rồi lại đi. Mỗi mùa đem đến cho tôi những thứ tình cảm khác nhau dành cho anh. Bản chất anh trầm ngâm, chắc anh thích mùa thu. Bây giờ Paris đang là mùa thu, bà thấy đó. Cảnh tượng đẹp thiên thần ngoài kia. Ban nãy, trước khi đến phòng khám của bà, tôi đã đạp xe trên kè sông Seine. Anh sáng vàng xộm, xiên qua những kẽ lá đâm thẳng xuống mặt dường nhựa, chiếu lên những chiếc lá rụng lao xao chạy dọc theo những ngọn gió. Tôi còn thấy những con tàu mousse chạy lờ lững trên dòng sông nổi tiếng toàn cầu, chạy xuyên qua thành phố trái tim của thế giới. Khách du lịch đến từ khắp nơi đều thích dạo dọc sông Seine trên những con tàu mang tầm lịch sử. Dạo sông Seine và ngắm những tòa nhà chọc trời đổ bóng xuống lòng sông! Còn gì đẹp và lãng mạn hơn. Khi đi qua công viên Luxembourg cũng thế, tôi nhìn vào và thấy rất nhiều người đi dạo. Đầu thu rồi nhưng những đám cỏ vẫn xinh xắn, vẫn xanh ngắt. Chúng mới đẹp làm sao khi điểm những chiếc lá vàng vừa rơi từ những cây dẻ xuống đậu là là trên bề mặt. Cuộc đời con người cũng vậy, cũng mong manh quá, cũng như chiếc lá đang rơi kia. Tôi giơ tay ra và bắt được một chiếc. Trên đó cũng có những đường gân chạy ngang dọc như những đường chỉ trong tay tôi đây, hay như trong tay bà vậy. Hai chiếc lá là hai bộ gân khác nhau, cũng như tay tôi khác tay bà. Chiếc lá tôi đang cầm là màu vàng nâu, và đã khô đi. Vậy là nó kết thúc cuộc đời một cách tốt đẹp. Nó đã sản sinh ra bao lượng ô-xi cho chúng ta và đã hút đi bao lượng các-bon-nic để cho trái đất xanh này bớt đi ô nhiễm? Và kia kìa, xa chỗ tôi đứng một chút, có một chiếc lá xanh vừa rụng xuống. Đúng thế, nó còn xanh lắm vậy mà đã phải lìa khỏi cành. Bà thấy cảm cảnh à? Tôi cũng vậy, nhưng trong cuộc đời này còn biết bao điều hệ trọng hơn như thế xảy ra mỗi ngày. Đối với chính loài người chúng ta. Nào tai nạn giao thông. Nào thiên tai. Nào bệnh tật... Và còn chiến tranh nữa. Nhiều vô cùng. Nhưng tôi lan man rồi. Không đi vào câu chuyện chính của mình. Không sao à? Bà ở đây là để nghe tôi nói sao? Và tôi có quyền được kể ra, được nói ra tất cả những gì ẩn chứa trong lòng? Ngay cả những điều mà tôi không dám thổ lộ với ai, kể cả những người thân của mình? Ngày xưa, nếu mẹ tôi còn sống, có lẽ bà sẽ cho tôi những lời khuyên bổ ích. Hay cả người anh trai lớn nhất của tôi nữa. Anh ấy đã ra đi khi còn quá trẻ và đã có những lúc tôi oán thán anh ấy. Rằng nếu anh còn sống, cuộc sống của tôi có lẽ sẽ thanh thản hơn. Anh cũng sẽ cho tôi rất nhiều lời khuyên. Anh ấy thông minh, kiên nhẫn và hình như chưa tạt tai tôi bao giờ. Bà thấy đấy, khi còn bé, dù là con gái đi nữa, nhưng ai mà chẳng có lúc làm những điều bậy bạ, nghịch ngợm, nhưng anh ấy đã ân cần giảng giải cho tôi. Tôi nhớ rất rõ những lần anh giúp tôi làm bài tập hóa. Trong tất cả các môn, tôi dốt môn này nhất. Khi phải cân bằng những phương trình hóa học là tôi chết tắp lự. Đấy là tôi nói những phương trình khó thôi, còn nếu không thì điểm trung bình môn hóa của tôi cũng đạt được trên trung bình khá kia đấy. Hôm đó, hồi tôi học lớp mười một bà ạ, anh đang say sưa giảng cho tôi về các hợp chất a-xit, hợp chất khí, hay các loại muối, kiềm thì tôi bất chợt hỏi tại sao con người lại cứ gây chiến tranh để tạo ra những cái chết vô nghĩa lý... Anh trai tôi nhìn xuống, lúc ấy tôi chắc phải kinh khủng lắm, như thoát thiền vậy. Ánh mắt tôi xa xăm, nhìn ra ngoài sân lúc ấy cũng đang là mùa thu, ánh nắng cũng lao xao, vài tia nắng len lỏi qua các kẽ ngói chiếu thẳng xuống mặt bàn tôi đang ngồi làm bài tập. Những hạt bụi nhỏ li ti chạy nhảy huyên náo trong đám nắng dệt lên tấm lưới vô hình giăng giăng. Ngày đó trong đầu tôi đã nảy sinh ý nghĩ về sống chết vô thường. Con người sinh ra để yêu thương nhau nhưng rồi cũng để chém giết lẫn nhau. Hồi đó, anh trai cả tôi vừa xuất ngũ. Anh đi làm nghĩa vụ quân sự đúng vào thời kỳ quân Tàu giở mặt tấn công vào biên giới phía bắc Việt Nam. Chắc anh hiểu được nỗi niềm của tôi, bởi những lần anh về phép, tôi hay bắt anh kể cho nghe chuyện binh đao, khói lửa. Anh toàn kể chuyện vui, nhưng có một lần tôi nghe lỏm được, khi đang ngồi học bài sau tấm liếp. Tôi vốn không tò mò, nhưng khi nghe anh đang nói chuyện với mẹ mà lại khóc ấm ức. Anh mà lại khóc ư, chuyện thật lạ! Giỏng tai nghe ngóng, tôi nghe thấy anh kể cho mẹ nghe về chuyện một người bạn thân của anh tháng trước đã tử trận. Anh ấy mới hai mươi tuổi. Chưa một lần có bạn gái, chưa được cầm tay người phụ nữ nào. Trong cuốn nhật ký của anh chỉ có những dòng anh gửi cho một người tên Liên, mà anh tôi vừa đi gặp chiều nay. Buồn quá phải không bà, khi chúng ta đang sổng trong thời đại Internet, hòa mạng chỉ trong giây lát là có thể nói chuyện với người ở bên nửa kia của trái đất. Con gái con trai mới mười hai, mười ba tuổi đầu đã có bạn khác giới xí xa xí xớn rồi đấy. Còn tôi, mấy ngày trước đó, trong giờ học, bọn tôi, hay đúng ra là mấy thằng Hùng, Tiến, Cần, Trường... chúng nó chẳng chịu học, sau đó lại còn vẽ bậy hết lên mặt, viết những câu không thể nghe nổi như mẹ ơi con muốn chết, hận đời khát máu, khiến thầy giận quá. Chúng nó thì làm gì mà đã biết những dư vị đó, trẻ con, vớ vẩn, tự nhiên tôi thấy ghét chúng nó thế, mặc dù thằng Hùng vốn cũng rất tử tế và học giỏi. Hôm đó, thầy đã không dạy mà nói chuyện thâm tình với chúng tôi, như những người bạn, người em. Thầy kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện cũng đại loại như của anh trai tôi. Ngày trước, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thầy cũng có một người bạn chết trận như vậy, rằng người con trai ấy tên là Tâm, chết ngay trên cánh tay của thầy tôi. Trước khi chết chỉ nói được mỗi câu “Cậu mang về cho mẹ tớ cái khăn có thêu con chim hòa bình nhé”. Tất cả những câu chuyện như vậy gieo rắc trong tâm hồn tôi những gì mong manh, dễ vỡ, nên tôi sợ bà ạ. Nhưng rồi những gì tôi sợ cũng xảy ra. Anh tôi mất đột ngột trong một tai nạn hết sức thông thường. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không tin đó là sự thật. Tất cả những gì xảy đến với tôi bao giờ cũng là về đêm. Đó là vào tháng tám, tôi vừa ra trường. Cầm tấm bằng đại học nhỏ nhoi trên tay, tôi biết mình từ đây phải làm gì. Rồi tôi cũng tìm được một công việc làm tạm trong một đoàn nghệ thuật. Tôi sung sướng khi tự tay mình nhận được tháng lương đầu tiên. Nhưng niềm vui chưa kịp tàn thì hôm đó, lúc ấy chừng bốn giờ sáng, tôi nghe thấy tiếng đập cửa dữ dội. Giật mình choàng tỉnh, một người hàng xóm nhà tôi ở quê lên báo anh trai tôi vừa bị tai nạn đêm qua, hiện đang nằm ở bệnh viện Việt-Đức. Tôi luống cuống, thay vội áo quần và chạy đi. Trời Hà Nội còn sớm, các dãy đèn đường vẫn thắp sáng, hòa lẫn với ánh sáng lờ mờ của ngày mới rạng, thành một thứ màu sắc nhợt nhạt bệnh tật. Trên lòng đường loáng thoáng người qua lại, đây đó có bóng xe lao vút đi rất nhanh. Tôi đến viện, nhìn thấy anh tôi hốc hác nằm đó, bất động. Chỉ ánh mắt anh còn đưa đi đưa lại, như muốn nói rằng anh đã nhận ra tôi. Nhưng đó chỉ là những giây phút cuối cùng tôi gặp anh. Do vậy, kể từ đây cứ mỗi khi đêm về tôi lại sợ. Và rồi chính người ấy, vâng chính NV đã lôi tôi ra khỏi những sợ hãi thường nhật ấy. Vì ngày nào mà chẳng có đêm hả bà. Bà nói đúng, nếu tôi được phép ở cạnh NV thì có lẽ chính anh đã chữa cho tôi khỏi căn bệnh quái đản này. Nhưng bà ơi, luật ở đồi làm gì có cái gì cũng có thể theo ý mình. Tôi đã chịu đựng và hàng đêm tôi đã nghĩ về anh. Tôi thấy anh như đang ở cạnh mình, khuyến khích tôi, cổ vũ tôi, đưa tay đỡ mỗi khi tôi gục ngã... Và tôi đã phấn đấu, đã làm việc rất nhiều. Mọi thành công của tôi hình như đều có bóng dáng anh trong đó. Nghĩ về anh, tôi như tìm thấy niềm tin trong cuộc sống. Niềm tin mà tôi cứ ngỡ đã mất đi từ lâu, từ ngày tôi được tin mẹ tôi lìa bỏ trần gian này. Đó là vào một ngày tháng chín. Cũng là chớm thu như bây giờ. Tôi còn nhớ như in cái đêm hãi hùng đó, cái đêm đã để lại một dấu ấn không thể phai trong tim tôi. Dù ai có nói gì nhưng tôi xin thề với bà là có thần giao cách cảm. Cả đêm hôm đó tôi đã không ngủ. Tôi thức dậy bồn chồn và trở nên bẳn gắt một cách lạ thường. Bé V. của tôi thấy mẹ ra vào bất ổn, liền muốn ôm hôn mẹ, vậy mà tôi đã mắng cháu một cách vô lý. Tôi cảm thấy như có cái gì đó như sắp tách rời ra khỏi tôi. Nó rất vô hình khiến tôi không sao nắm bắt được. Tôi chới với. Tôi chới với. Tự nhiên tôi thấy lạc lõng bơ vơ, như một đứa trẻ mồ côi vậy. Đây là lần đầu tiên kể từ khi tôi đi xa, sống nơi đất khách mà tôi cảm nhận được tình cảm như thế. Cho đến tận bây giờ, tôi cũng vẫn tin là mẹ đã đến báo tin xấu cho tôi đấy. Cả nhà đã đi ngủ, cả không gian như chìm trong tĩnh lặng. Bầu trời Paris đêm ấy như lặng gió. Ánh đèn pha trên tháp Ep-phen cần mẫn quét sáng ngang dọc trên bầu trời. Tôi còn nhìn thấy rõ ràng- cả những đám mây vần vũ bắt sáng trở thành một màu vàng nghệ, cứ như báo hiệu một cơn giông tố sắp đến. Tôi trở vào, lấy trong túi sắc của mình, nơi tôi vẫn để tất cả những đồ nho nhỏ mà tôi đem theo từ Việt Nam và mỗi năm tôi lại cố gắng làm mới thêm. Tôi run run tra xem hôm dó là ngày bao nhiêu âm lịch. Ngày mùng chín tháng tám bà ạ. Vâng, cái ngày ấy sẽ đi theo tôi trong suốt cả chặng đường còn lại. Tôi mở cửa ra ban công đứng nhìn và lòng trào dâng nỗi nhớ nhà. Nhớ quê hương xứ sở. Chưa bao giờ tôi lại cảm thấy đoạn đường Paris - Hà nội xa vời vợi như vậy. Tôi hết ra lại vào. Trông ngóng một cái đó. Rồi trời bỗng nổi cơn giông thật. Gió thổi ào ào, phững cây trồng trong vườn nhà tôi đổ rạp theo gió. Những cây hoa mà người hàng xóm tốt bụng của tôi đã kỳ công đem về từ một vùng quê miền Tây Nam nước Pháp của bà. Bà đã đi xa được vài năm, nhưng những cây hoa vẫn còn đó, cứ đến mùa lại đâm chồi nảy lộc, trổ hoa, và hàng ngày tôi vẫn cắt tỉa chăm sóc, thì lúc này chúng đang nghiêng ngả theo gió. Từng cánh hoa lả tả rơi xuống, chưa kịp chạm đất đã bị gió cuốn đi, chơi vơi giữa không trung như những vành tang trăng. Đến chừng ba hay bốn giờ sáng, tôi mệt quá nằm phủ phục trên chiếc ghế đệm trong sa lông và thiếp đi. Bỗng tôi nghe thấy tiếng điện thoại réo vang, vùng dậy, tôi nhấc máy. Đó là tiếng anh rể tôi thông báo rằng mẹ vừa mất được mấy phút rồi... Tôi đã hét lên rồi không còn biết trời trăng gì nữa. Chồng con trở dậy, náo loạn. Tôi cũng chẳng giải thích được gì... Khủng khiếp quá đi! Mẹ tôi, người mẹ thân yêu của tôi giờ đã khuất bóng. Cả ngày hôm đó tôi như người mất hồn, đến ngày hôm sau cũng vậy. Tại sao tôi không về à? Tôi về sao được, tôi vừa mới rời quê hương được ba tháng. Tôi đã cho các con về ở cùng với mẹ những ba tháng trời. Mẹ bị ốm đi viện, nhưng mẹ tôi vẫn thế. Cả cuộc đời quá khốn đốn và cực khổ khiến thân xác bà còm cõi, sức khỏe bà hao kiệt. Việt Nam trong những năm chiến tranh. Tôi không thích- từ này, vì đâu đâu, mỗi khi có từ chiến tranh [*] là ở đó có mất mát thương tổn cho cả hai phía. Xưa kia, trong hai cuộc Đại chiến Thứ I và Thứ II, theo bà thì ai thắng ai thua đây? Chẳng có ai thắng cả, mà chỉ thấy toàn những đau thương. Về người. Về của. Khắp nơi trên đất nước Pháp này, không một vùng quê hay một thành phố nào, dù hẻo lánh, mà lại không có tượng đài Tổ quốc ghi công, bia tưởng niệm. Còn trên quê hương tôi, trong hai cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, thử hỏi có xóm nào lại không có những người con bỏ mình trên trận tuyến. Có người chết khi chiến dịch vừa mới bắt đầu, có người lại chết khi đã trải qua bao gian nan, tránh được bao hòn tên mũi đạn và khi chiến thắng đã ở trong tầm tay, họ chết ngay trong cửa ngõ Sài Gòn, hay ngay trên nóc hầm ngầm của tướng thất trận De Castre... trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngay cả người anh họ và chú tôi cũng bỏ mạng trong một trận tấn công vùng Chùa Non Nước trong thời kỳ kháng Pháp mà mỗi lần về tôi đều ghé thăm, nơi đó giờ đây đã trở thành địa điểm tham quan của khách du lịch bốn phương. Còn mẹ tôi, biết bao lần sinh nở và những công việc nặng nhọc lẽ ra là của những người có cơ bắp, mà bà đã làm để đổi lấy hàng bát huân huy chương, nhiều lắm bà biết không. Tôi tôn trọng những thứ đó, vì với mẹ những huân huy chương đó vô cùng thiêng liêng. Biết bao nhiêu quả bom nổ chậm bà đã tham gia gỡ bỏ, biết bao đoạn đường bà đã tham gia lấp hố bom, những cánh cửa gia bảo bằng gỗ lim có không biết từ bao đời cũng được mẹ tôi lấy ra dâng hiến cho cách mạng để lót dường cho xe chạy qua, tất cả vì tiền tuyến! Rồi cả những hạt gạo cuối cùng. Nhiều khi nghe mẹ kể lại chuyện của những năm tháng đó mà tôi, vốn giàu trí tưởng tượng cũng cứ ngỡ như đang mơ, đang sống trong một câu chuyện cổ tích. Chỉ có điều, những câu chuyện cổ tích ấy không có các bà tiên mặc những bộ váy xiêm y lộng lẫy, trên đầu tỏa ra những vầng hào quang sáng bạc với chiếc đũa thần trên tay. Câu chuyện cổ tích mà mẹ tôi kể ấy chỉ rặt toàn những tiếng bom B52 rú gầm, quần đảo ngang dọc trên bầu trời, những chuyến xe chở bộ đội đi B., hay đi những vùng nào đó, những chuyến tàu hỏa chạy hơi xì xì cả ngày xuôi ngược trước cổng làng tôi. Những lớp bình dân học vụ ê a mỗi tối. Câu chuyện cổ tích ấy đã đi vào lịch sử của nhân loại... Bao chuyện đó đã bào mòn dần sức lực của mẹ. Rồi cuộc sống đau buồn sau chiến tranh, con cái học hành. Trong chiến tranh, mọi thứ dường như khác hẳn. Con người nghĩ đến nhau nhiều hơn, chia sẻ nhiều hơn. Nếu tôi được như bây giờ là nhờ một phần cố gắng rất nhiều của mẹ. Làm sao tôi có thể quên những buổi chiều mùa đông đạp xe từ trên ký túc xá trường đại học trở về nhà. Sau hai mươi lăm cây số, trong mưa phùn gió bấc, thật chẳng dễ chịu gì. Nhưng vừa đến cổng, tôi đã thấy mẹ đứng đợi sẵn. Mẹ xoa chân tay cho tôi, đốt lửa cho tôi sưởi. Nhưng ngọn lửa bốc ra từ tấm lòng của mẹ làm tôi ấm lên nhiều hơn so với ngọn lửa rơm đang bập bùng trên bếp kia. Tôi cũng thích nhìn mẹ bận rộn trong những ngày giáp tết, thích nhìn mẹ rửa lá dong, chuẩn bị gạo để gói bánh. Thích ngồi bên mẹ trông nồi bánh chưng đến tận hai, ba giờ sáng. Mẹ thích đợi tôi về để cùng nhau đi chợ. Phiên chợ huyện mỗi tuần họp ba lần, ngày chủ nhật thường là đông hơn cả. Tôi thích đạp xe đưa mẹ đi. Thích gặp những người bạn lâu năm của mẹ mà mẹ vẫn thường thủ thỉ kể cho tôi nghe vào những đêm trăng sáng khi hai mẹ con trải chiếu ngồi bên hiên nhà ngóng ánh trăng. Tiếng mẹ đều đều hòa lẫn tiếng cành tre va vào nhau xào xạc tạo thành như một bài dân ca mà chỉ có tôi mới được nghe. Giọng mẹ thật ấm áp. Ngày xưa mẹ đẹp lắm. Con nhà nghèo nhưng gót chân mẹ bao giờ cũng hồng, bàn tay lao động nhọc nhằn nhưng luôn mềm mại. Bàn tay mẹ tần tảo. Tôi thích theo mẹ ra làm đồng. Bàn chân trần giẫm trên lớp bùn nhầy nhụa khi đen nhẻm, lúc nâu hồng. Với mọi người chắc hẳn kinh khủng lắm, nhưng tôi lại thích thọc sâu bàn tay mình vào trong đó. Chính lớp bùn này đây, với sức lao động khổ công của mẹ đã cho ra những hạt gạo trắng bông nuôi tôi khôn lớn. Lớp bùn có mùi tanh tanh lờm lợm, nhưng mẹ bảo, chất bùn như vậy mới tốt cho lúa. Tôi nhớ cây gạo đứng chơ vơ bên cánh đồng mà buổi trưa nóng bức, nhiều thợ cấy gặt vẫn lên đó ngồi nghỉ, để ăn trưa, hay để đợi cho qua lúc nắng gắt. Người ta bảo cây đó có ma, nhưng tôi chỉ thấy nó che nắng che mưa cho những dân quê tôi. Tôi nhớ bến đò chở khách qua sông Hồng. Dòng sông đỏ phù sa bồi đắp cho bãi quê tôi, khiến cho ngô thêm bắp, đậu thêm mẩy, nhưng nó cũng đã cướp đi của tôi những người thân yêu. Năm đó, vậy mà đã mười năm trôi qua, người em trai tôi tên c. Nó vừa tốt nghiệp đại học loại ưu, đã có những công ty nước ngoài đến tận trường để tuyển sinh và nó đã nằm trong số được tuyển. Họ cho nó hai tuần nghỉ xả hơi để bắt đầu một cuộc sống khác. Nó tinh nghịch, lại thông minh, ít khi chịu thua đám bạn bè cùng trang lứa cho dù chuyện liên quan đến cái đầu hay cơ bắp. Hôm đó, nó cùng hai người bạn rủ nhau về quê, ra bái sông Hồng bơi qua bơi lại hai, ba vòng liền. Đến vòng thứ ba thì trời ơi... tai họa đã giáng lên gia đình tôi. Đứa em của tôi đã không bao giờ trở về. Và chỉ một tuần sau, người ta mới tìm được xác nó vương vào một búi tre ven sông, chắc nó cũng yêu quê hương như tôi, không muốn bị đẩy ra tận biển, nên cứ lẩn quất ở đó. Dòng sông hiền hòa vào mùa cạn giờ đây đối với tôi cũng như là một kẻ thù. Mỗi khi về, tôi không còn muốn xuống đó lội sông như xưa nữa. Dòng sông ấy giờ đây như có nhuốm máu bà ạ. Sinh tử vô thường. Vâng, hôm sau ngày mẹ mất. Vào lúc mà tôi hình dung người ta đưa mẹ ra đồng. Vào lúc tôi hình dung người ta đang hạ quan tài mẹ tôi xuống huyệt. Vào lúc tôi hình dung những xẻng đất đầu tiên rơi xuống... Bà hiểu không, cả người tôi ê ẩm, đau nhói, tôi ngạt thở. Trong tai tôi chỉ nghe thấy những tiếng bình bịch khủng khiếp. Tôi tưởng như chính mình đang bị người ta đổ đất lấp vào. Tai tôi ù đi, mắt tôi hoa lên. Tôi gọi mẹ nhưng mẹ không nghe! Tôi kêu trời nhưng trời đâu có thấu! Chưa bao giờ tôi lại cảm thấy nhỏ nhoi và bất lực nhường ấy. Tôi thấy cơ thể mình như đang tan loãng, hay chí ít thì cũng đang bị cắt ra từng khúc. Chân tay tôi theo nhau chạy khỏi cơ thể. Cả trái tim hình như cũng không còn gì nữa. Và từ đó, tôi đã trở thành một con người khác hẳn. Mẹ ra đi, đã đem theo bao nhiêu hy vọng của tôi. Từ nhỏ, tôi luôn muốn làm hài lòng mẹ. Thủa cắp sách đến trường, tôi muốn học giỏi, được điểm cao để mẹ vui. Mẹ bao giờ cũng là người cổ vũ, động viên tôi. Mẹ vui những lúc thấy tôi vui. Mẹ an ủi những lúc tôi buồn. Cả khi lớn lên, tôi muốn làm việc, tôi muốn thành công, tôi muốn thử sức mình trong nhiều lĩnh vực. Tôi muốn mẹ thấy tôi trưởng thành, thấy tôi lớn lên... Giờ đây, mẹ đi rồi thì còn gì nữa đâu để phấn đấu, còn gì nữa đâu để làm việc... Tôi đã bỏ mặc tất cả. Tôi sống khép mình lại. Lọ hoa bà đặt trên bàn kia là hoa gì vậy? Nó tim tím khiến tôi nghĩ đến tên một loài hoa chỉ chuyên mọc ở những nơi có tuyết. Còn ở quê hương tôi có một loài hoa thủy tiên, đẹp lắm. Cũng màu tím ươn ướt, ló ra từ bụi cây lá xanh ngắt. Loài hoa ấy ăn rất nhiều nước. Ba tôi cũng thích trồng loài hoa này. Ba tôi thích chơi hoa. Ba có một cây quỳnh rất to và lâu năm trồng trong vườn nhà. Ba tôi còn bảo hoa cũng như người, cũng thích có bạn trò chuyện. Quả thế thật, hồi nhỏ, mỗi khi ba tưới hay chăm sóc cây, ba thường thủ thỉ trò chuyện hay lẩm nhẩm đọc thơ Kiều. A, tôi vẫn chưa nói cho bà biết ba tôi là thầy thuốc đông y à? Vâng đó là một nghề rất hay. Tôi nhớ rất rõ câu nói của ba tôi ngày xưa: “Trên đất nước Nam này, chẳng có loài cây cỏ nào là dại cả. Ba không thích các con nói là cỏ dại”. Mỗi cây cỏ đều có một công dụng đặc biệt dưới con mắt ông. Trong vườn nhà tôi trồng đầy những cây thảo dược, từ mạch môn, kinh giới đến đinh lăng... Tôi cũng thích theo ba lang thang ra các bãi tha ma, hay những bãi ruộng bỏ hoang để nhặt “cỏ”. Về nhà lại cùng ba nhặt nhặt, phơi phơi rồi tán, rồi sấy. Vào thời kỳ ba tôi sao thuốc, cả xóm nức mùi thơm, ai đi qua cũng xuýt xoa, khiến tôi rất tự hào. Chỉ báo hại cho mẹ vì không có sân phơi. Những ngày ấy, ngay từ buổi sáng, ba con tôi đã phải kéo nước từ cái giếng đầu ngõ để rửa sân, phải kỳ cọ thật sạch để có thể phơi thuốc của ba mà không sợ bị bẩn. Bây giờ, mỗi lần đi nghỉ trên các vùng núi cao Alpes hay Pyrénée, hay ở vùng biển có những ghềnh đá cheo leo khấp khểnh của đất nước Ai-len xa xôi, hay vùng rừng núi thẳm sâu của xứ Ardenne Pháp... như một thói quen cố hữu, tôi thường đưa mắt quan sát tìm kiếm những cây “cỏ”. Tôi có tìm thấy những cây “cỏ” giống như của ba tôi không ấy à? Có chứ, nhiều khi tôi cũng tìm thấy, và những lúc như vậy, tôi lại buồn, buồn vô hạn bà ạ. Buồn vì đã không chịu theo nghề của ba, buồn vì ba đã đi theo mẹ về cõi vĩnh hằng. Ngày ba tôi mất, thì cũng cùng một kịch bản như với mẹ. Tôi cho các con về thăm quê hương, thăm ông ngoại hai tháng. Tôi gặp lại ba trong hình hài suy sụp, ốm yếu. Ba không còn vẻ đùa vui như trước. Ba tôi là một cây hài, hay pha trò trong gia đình. Ba tôi vốn lúc đó chỉ còn là một ông già bệnh tật. Ba tôi bị nhiều căn bệnh lạ lùng, cũng như người chú của tôi. Chú ấy là một thầy lang giỏi, nhưng rốt cục cũng lại chết vì bệnh. Số phận trớ trêu cứ thử thách tôi mãi. Vừa cho con quay lại Pháp sau mấy tháng chơi với ba, với ông ngoại. Thì vào một buổi sáng tháng năm, khi ấy tôi đang đi nghỉ cùng các con ở miền Nam nước Pháp. Trên vùng núi cao Pyrénée. Quãng bốn giờ sáng, điện thoại di động của tôi réo vang. Tôi giật mình thức giấc. Tim tôi đập loạn xạ, tinh thần tôi bất ổn. Tôi run run mở máy nghe, bởi tôi đã lại linh cảm thấy một điều gì đó không lành lắm. Vâng, đó là một người bạn gọi điện báo tin cha tôi vừa qua đời. Bà biết không, tôi đã chạy ra khỏi nhà, chạy thục mạng vào cánh rừng thưa cách nhà nghỉ khá xa. Tôi cứ chạy mà không biết chạy đi đâu. Tôi đã không khóc được, tôi đã không thể khóc. Những giọt sương đọng long lanh trên các ngọn cỏ, trên các cành cây thông. Một cơn gió thoảng đến, những hạt sương rơi lộp độp lên dầu tôi. Tôi cứ đi như vậy cho đến lúc những tia nắng đầu tiên rọi xuống trần gian. Những hạt sương bắt nắng rực rỡ sắc màu. Lũ chim bắt đầu cất giọng râm ran đón chào ngày mới. Những người ưa thể thao buổi sớm đã dậy dể chạy trong các đường mòn len lỏi trong khu rừng thưa, nơi tôi đang vật vã với số phận của mình không biết đã bao lâu. Nếu tôi đau đớn dữ dội như một phần của cơ thể bị cắt ra, tâm hồn tôi rỉ máu, tinh thần tôi tê liệt, mắt tôi khô kiệt vì khóc quá nhiều khi mẹ tôi mất, thì lần này, tôi lại buồn. Một nỗi buồn mênh mang của nhân tình thế thái. Buồn vì cha tôi ra đi đã đem theo mình cả một kho tàng những bí mật về nghề gia truyền thuốc. Mấy cuốn sách tôi mua kia để tham khảo, cũng chẳng đáng kể gì so với những cuốn sách chữ Hán bằng giấy bản, bìa bọc da mà cha tôi rất quý, thỉnh thoảng trời nắng, ông vẫn đem ra phơi. Tôi đã lỡ hết cả bà ạ! Không à, tôi đã làm được nhiều thứ mà những người ở tuổi tôi nhiều người vẫn chưa làm được! Bà cứ nói vậy để an ủi tôi thôi. Đúng thế, cuộc sống này còn biết bao điều thú vị để khám phá. Bà hoàn toàn có lý, hệt như NV vậy. Anh ấy đã nói với tôi như thế trong những lần gặp lại sau nhiều năm gián đoạn. Sau khi ba tôi mất một thời gian, tôi về nước. Lần này về, tôi như người thất trận. Bao vui sướng của một kẻ xa xứ trở về nơi chôn rau cắt rốn của mình không còn tồn tại nơi tôi nữa. Tôi lại sống trong cảm giác hụt hẫng. Chẳng còn mẹ đun cho tôi nồi nước thơm có pha bồ kết để gội đầu. Chẳng còn mẹ khi tôi về vẫn chải tóc cho tôi. Mái tóc dài của tôi là một niềm tự hào của mẹ. Từ thủa còn thơ, dù có thế nào tôi cũng không bao giờ cắt tóc. Dù trẻ con hàng xóm trên đầu đầy chấy rận, dù cho đầu chúng nó có xác xơ vì đi nắng không nón mũ... thì tôi vẫn óng ả dưới mái tóc dài thướt tha đen nhánh. Tôi chẳng hiểu mẹ đã dùng cách gì mà hình như tôi chưa bao giờ thấy có những loài ký sinh lạ đến ngụ trên đầu mình. Qua tuổi hoa niên, vào đại học, tôi vẫn giữ được mái tóc dài mượt ấy. Bạn bè cùng phòng, cùng lớp thay nhau đi chuốt tóc, cắt đầu tém, đầu tỉa... nhưng cứ chiều thứ bảy, khi tôi đạp xe về đến nhà thì mẹ đã chuẩn bị xong đâu đấy nồi nước bồ kết, có ngâm hương nhu, lá sả, lá tre... Không nói ra nhưng tôi hiểu mẹ muốn tôi giữ mãi mái tóc dài thân thương ấy. Và tôi đã giữ được bà ạ. Bà nhìn đây này. Bà đã nhận ra ngay rồi và rất có ấn tượng với nó ngay từ lần gặp đầu tiên! Ớ nơi trung tâm phồn hoa ánh sáng này, cuộc sống lúc nào cũng vội vã, người ta cứ dùng cả trăm các loại dầu dưỡng tóc sau khi cứ gội đầu bằng các chất hóa học như vậy thì tóc họ làm sao mà đen, đẹp, và óng ả được. Sống giữa lòng Paris đã nhiều năm, nhưng cái mùi hăng hắc của bồ kết, cộng với mùi thơm thoang thoảng của lá sả như đã ăn sâu vào máu của tôi, khiến tôi không sao xa lìa chúng, cứ hệt như người nghiện thuốc lá hay các bà già nghiện trầu vậy. Mỗi lần về Việt Nam hay có người bạn sang Paris, tôi đều chỉ nhờ nếu có thể, họ sẽ mang cho tôi một ki-lô-gam... bồ kết. Nhiều người Hà Nội cho là tôi cỗ lỗ, lạc hậu... nhưng tôi chẳng chấp với họ. Bản chât tôi vốn vậy, khi đã cho việc làm của mình là đúng thì tôi lao vào làm với tất cả những nhiệt huyết. Tôi tin là đúng thì dù thiên hạ có nói thế nào tôi cũng chẳng bận tâm. Tôi tin vào tình yêu của tôi đối với anh thì dù gì tôi sẽ chẳng thay đổi. Tôi tự hào vì tính cách đó của mình. Nó đã qua kiểm nghiệm và được xác định bằng cả cuộc đời của mẹ. Và bằng cả đoạn đời trước đây của tôi nữa. Tôi về lần ấy, không còn mẹ xoa bóp cho bắp chân sau một ngày chạy chân trần trên những luông đất cày đang mùa để ải. Tôi muốn được chạy tung tăng đuổi bắt những con châu chấu cào cào tinh nghịch nhảy nhót ở đó. Nhất là sau ngày tôi đậu đại học. Cả tuần chật vật với những bài giảng khó chết người của thầy cô giáo, mà buổi đầu tiên, trên giảng đường về, vứt cặp sách, tôi đã ngã vật ra giường và khóc nức nở. Quá khó, quá khó. Tôi sợ mình sẽ không thể theo kịp. Bài học thì học bằng vi-đê-ô, bằng đài cát-sét. Tôi làm gì đã biết những thứ ấy khi còn ở trường phổ thông. Chẳng ai nói cho tôi biết trước. Tôi không chuẩn bị gì cho chuyện này. Trong khi các bạn trong lớp tôi lao nhao trả lời, còn tôi thì cứ ngồi im. Đầy cay đắng. Chẳng lẽ bao công sức khổ luyện để vượt qua kỳ thi đại học khó khăn nhường ấy, kết quả lại là thế này ư. Tôi tuyệt vọng. Căn phòng ký túc xá chật chội chừng 16m2 mà chứa đến mười hai, mười bốn cô gái. Cứ ra khỏi cửa là chạm mũi vào người khác. Mùi toa lét nồng nặc, nước lúc nào cũng lép nhép trên hành lang. Quần áo giăng giăng tứ phía. Ẩm thấp. Đồ đạc không cẩn thận là bị mất trộm. Không phải bạn bè lấy của nhau, mà là có một đám du côn từ bên ngoài vào, thấy cái gì sơ hở là chúng xoáy luôn. Từ cái xô, cái chậu, hay chiếc quần bò mới của ai đó... Vậy mà tôi đã tồn tại ở nơi đó trong khoảng năm năm trời. Năm năm đèn sách vất vả. Năm năm, cứ chiều thứ bảy mẹ tôi lại ra ngóng tôi về. Chiếc xe đạp một phanh, không garde- chaine, không garde-boue ấy của tôi mà H. vẫn cứ trêu đùa khi nhìn thấy tôi vắt vẻo trên đó về làng “tất cả đều kêu, trừ chuông” hay “tất cả đều dừng, trù phanh”, nếu ở trên đất nước Pháp này thì nó có lẽ sẽ được vinh danh đấy. Nhưng ở thời kỳ đó, có được cái xe như tôi là may mắn lắm rồi, làm sao tôi còn đòi hỏi gì hơn. Tôi về lần ấy không có ba tôi để vui đùa như ngày trước. Tôi còn nhớ, hồi tôi còn bé lắm, các anh chị tôi cũng vậy. Một hôm ba đã ra câu đố, và hứa ai giải được sẽ thưởng một buổi đi chơi Hà Nội. Hà Nội, ôi! hai từ đó đối với chúng tôi từ những năm tám mươi sao mà xa xôi thế, cho dù nhà tôi chỉ cách đó có hai mươi lăm cây số. Đi Hà Nội, để được đến nhà ông bà ngoại nằm trên phố Hai Bà Trưng, gần hồ Hoàn Kiếm có Tháp Rùa nằm oai nghiêm thanh bình giữa hồ ư!. Có mà mơ ấy chứ. Cả năm, chỉ khi ai trong số anh em tôi học giỏi, được giấy khen thì may ra mới có diễm phúc đó. Nay chỉ vì giải được câu đố của ba mà được đi Hà Nội thì... Đứa nào cũng tranh nhau háo hức giải đố. Câu đố ba đưa ra ngày ấy là như thế này: Sinh con rồi mới sinh cha. Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông. Khó hiểu quá phải không bà. Nhưng thực ra câu đố vô cùng dễ dàng với những ai hiểu nó thôi. Còn tôi ngày đó mới chưa đầy mười tuổi đầu, các anh chị tôi cũng chỉ mười bốn, mười lăm thì làm sao hiểu nổi ý nghĩa sâu xa của nó được. Ai bảo ba tôi làm thầy nho làm gì kia chứ! Và rồi, chẳng ai giải được câu đố đó. Thay vì một đứa được đi chơi Hà Nội thì cả nhà được mẹ nấu cho một nồi chè đỗ xanh thơm phức, có mùi dầu dừa. Cuộc sống thay dổi quá nhanh. Cả nhận thức cũng vậy giữa các thế hệ. Các con tôi giờ đây, chúng còn bé tý, bảy, tám tuổi đã sử dụng các loại máy tính thành thạo. Nhìn trên bản đồ thế giới, chỉ ba mươi giây, chúng đã tìm được các nước hiện hữu trên đó. Chỉ cần ta nói tên nước và tên thủ đô của nước đó. Cả những đất nước nhỏ bé mất hút trong vùng sa mạc Phi châu xa xôi, hay đất nước tý xíu nằm trong vùng biển Thái Bình Dương. Còn tôi ngày đó, tôi còn nhớ như in. Vâng, khổ thế, trí nhớ, ký ức của con người đôi khi cũng mang đến cho ta những rầy rà trong cuộc sống. Có những điều ta muôn quên hẳn đi thì chúng lại cứ như ăn sâu vào tiềm thức của ta, đi theo ta đến mọi nơi, mọi ngóc ngách cuộc đời. Chuyện là thế này, khi tôi còn bé, chừng bốn hay năm tuổi gì đó. Hôm đó là ngày dì tôi lên xe hoa đi lấy chồng. Nhà chồng dì ở phố Hàng Bông. Còn nhà ông bà ngoại tôi thì ở phố Hai Bà Trưng như hồi nãy tôi đã nói. Ông bà ở trên gác. Căn hộ chật hẹp nhưng tấm lòng ông bà không chật hẹp bao giờ. Mẹ cho tôi đên đó. Rồi công việc cỗ bàn cưới xin của dì tôi đã thu hút mẹ. Tôi đương nhiên là thơ thẩn một mình. Cứ nghĩ như ở nhà, tôi sẽ tìm được một đứa trẻ nào đó để chơi cùng. Tôi lần xuống cầu thang. Cái cầu thang bộ nhỏ tý tẹo, cũ kỹ, mòn vẹt, hai người tránh nhau cũng không nổi, nên cứ có người đi trên đó là phải đánh tiếng trước. Tôi xuống cầu thang rồi đi ra phố. Lúc ấy trời đã về chiều, và chắc là giờ tan tầm. Tôi nhìn thấy vô số người xuôi ngược trên đường. Tàu điện chạy kêu leng keng. Xe đạp nhiều như mắc cửi. A, bà nói là năm ngoái bà có đi Hà Nội và có rất nhiều mô tô và xe hơi? Vâng, tôi không nói là bà bịa chuyện đâu. Hà Nội trong ba mươi năm đã thay đổi quá nhiều. Giá như bà biết được Hà Nội của ba mươi năm về trước nhỉ! Làm sao tôi có thể miêu tả hết được cho bà, vì ngày đó tôi còn bé tý, tôi chỉ còn giữ lại được một vài hình ảnh lờ mờ về Hà Nội của những năm tháng đó thôi. Nhưng hình ảnh này thì tôi nhớ lắm. Đó là, khi ra khỏi nhà ông bà ngoại, tôi cứ đi mãi, đi mãi. Chợt đến một ngã tư, nơi ấy có đèn xanh đèn đỏ đổi màu liên tục. Tôi không biết làm thế nào để đi tiếp, đành cứ liều mình bước qua. Vâng, hồi đó tôi mới lên bốn hay năm tuổi gì đó. Tôi mặc một chiếc áo trắng điểm hoa nhỏ và chiếc quần yếm màu xanh công nhân, chân đi dép quai hậu. Tóc được mẹ buộc thành hai bím vẵt vẻo hai bên tai. Khi thấy tôi liều mình bước qua đường như thế thì có một cô công an. Trông cô ấy oai lắm. Cô mặc đồng phục vàng, trên đó có rất nhiều túi. Bên hông lủng lẳng một khẩu súng ngắn, đầu đội mũ gắn sao, chân đi giày đen, đánh xi, mỗi bước đi của cô lại vang lên những tiếng lộp cộp. Tóc cô chắc dài lắm, vì tôi thấy tết thành hai dải sam gọn gàng đậu ở hai bên ngực. Cô có nụ cười đôn hậu và có nốt ruồi bên dưới cánh mũi trái. Chiếc răng khểnh khiến cô lúc nào cũng như đang cười. Cô bế tôi lên tay và hỏi tôi đi đâu? Cháu đi tìm bạn để chơi. Bạn cháu tên gì? Cháu có nhiều bạn lắm. Cái Nguyệt, cái Hằng, thằng Cường, thằng Hòa... Cháu học ở trường nào? Lởp cháu học ở đình làng cô ạ. Cái đình ấy to lắm, có ao sen đằng trước, và ở cổng có hai cây đại, đến mùa nở hoa rất thơm, cô có biết không? Đoán chừng tôi là một đứa trẻ nhà quê ra chơi và bị lạc. Cô liền hỏi: Bố mẹ cháu tên gì? làm nghề gì? Mẹ cháu tên H., Ba cháu tên D., mẹ cháu đi cấy, còn ba cháu sao thuốc để chữa bệnh cho mọi người. Cháu ra đây đi chơi với ai. Cháu với mẹ ra nhà ông bà ngoại để ăn cưới dì cháu. Ngày mai, dì cháu sẽ đi lấy chồng đấy. Tin tưởng vào nhận định của mình, cô tiếp tục: Nhà ông bà ngoại cháu ở đâu, số nhà bao nhiêu? Tôi hớn hở, vì điều này thì tôi biết rõ như ban ngày, và là niềm tự hào của tôi trước lũ bạn ở quê, vì tụi nó, chẳng đứa nào có ông bà ngoại ở trong những căn nhà như vậy, lại ở thành phố hẳn hoi, nên tôi đĩnh đạc trả lời cô công an: - Ông bà ngoại cháu ở số nhà trên gác. Rồi chẳng biết cách nào, cô công an đã tìm được cách trao tôi lại cho mẹ. Đó là kỷ niệm đầu đời đầu tiên mà tôi còn giữ mãi được. Đôi lúc tôi thấy sợ cho các con tôi. Ớ thời buổi này, trẻ con bị lạc như vậy, liệu còn có thể tìm được đường về? Hôm đó, tôi cùng các con về quê. Lúa đang thì con gái. Đậu bắt đầu ra hoa. Tôi cho các con ra viếng mộ ba mẹ tôi. Cả cánh đồng bao la vào giờ nghỉ trưa im ắng. Những ngôi mộ to nhỏ, sang hèn, cũ mới nối đuôi nhau chạy theo hàng thẳng tắp. Ba vòng khăn trắng nổi lên giữa cánh đồng xanh. Mùi hương trầm tôi đốt lan dài đi trong gió. Những đám mây trắng trôi lững lờ trên bầu trời. Mấy con chim lạc bầy bay nháo nhác gọi bạn. Trên cành cây đại cổ kính đầu nghĩa trang, tiếng lũ chim non đói bụng líu ríu gọi mẹ vẳng lại nơi mẹ con tôi đang đứng. Giữa không khí trang nghiêm ấy, tôi biết, ba mẹ tôi đang bay lượn đâu đây. Mẹ sẽ mỉm cười nhìn tôi cùng các cháu. Ba tôi có vẻ như hơi dỗi. Đứng phía xa và đang hý hoáy tìm một cây “cỏ” nào đó. Con đã về đây, ba ơi, mẹ ơi. Tôi đã kêu lên như thế, rồi nhắc các con cúi lạy hai ngôi mộ, cỏ mọc rậm rì bao quanh. Mộ của mẹ nằm sát bên con mương nhỏ. Đầu quay về phương Nam, bên cạnh có một cây nhãn, không biết ai trồng, giờ đã cao quá đầu người. Tỏa bóng xuống che cho mẹ, cho các con tôi lúc đó. Tội nghiệp chúng, chẳng hiểu gì cả. Bé V. của tôi thấy mẹ buồn, nước mắt chảy lã chã trên mặt trên má, thì nó cũng chỉ biết ôm mẹ thật chặt bằng đôi tay trẻ thơ của nó. Còn bé HH. thì cứ luôn miệng hỏi mẹ ông bà ngoại đi đâu, và sao lần này nó về lại không ra đón nó. Tôi nghe văng vẳng trong gió có tiếng chuông vọng tới từ một ngôi chùa xa xa. Tiếng gà xao xác từ những ngôi nhà bìa làng vọng tới. Tiếng chó sủa. Tiếng con tàu Bắc Nam, thường vẫn chạy qua đầu làng tôi... Gió vẫn thổi, mây vẫn bay trên bầu trời kia, và ba mẹ tôi, đang ngồi sát cạnh tôi đây... dưới sâu ba tấc đất, nhưng sao lại xa cách quá chừng. Viếng mộ ba mẹ xong, tôi sang thắp hương cho anh trai tôi. Qua làn khói hương mỏng, di ảnh anh trang nghiêm trong bộ quân phục. Bức ảnh anh chụp khi còn trong quân ngũ. Nụ cười anh vẫn tươi và nhân hậu như ngày nào. Mắt nheo nheo như mỗi lần anh trêu chọc khi thấy tôi khóc nhè. Tôi như đang nghe thấy tiếng anh nói: “Này cô bé, khóc nhè chi vậy, lớn rồi, ai lại khóc sướt mướt thế kia hả?”. Tôi vốn hay khóc, anh vẫn biết vậy còn gì. Chỉ cần gặp một cảnh ngộ éo le, xem một bộ phim ai oán hay đọc một cuốn sách viết về những cuộc đời bất hạnh là tôi lại khóc. Nhưng những cảnh mà tôi đang sống đây, có đáng để khóc không? Có đáng để viết thành một thiên truyện không? Những nhân vật sống động, bằng xương bằng thịt, thật chẳng cần phải hư cấu hay tưởng tượng gì. Cách đây không lâu lắm, ba người đang yên nghỉ dưới lớp đất sâu kia, còn vui vầy bên tôi, tôi vẫn còn nghe giọng nói đầy yêu thương của họ thì giờ đây, tất cả những gì tôi nghe thấy chỉ là gió, và gió. Tôi lại nhận ra một điều. Đất không phải chỉ như mẹ nói đâu. Đất không chỉ cho quả ngọt, trái sai, đất không chỉ đem đến những bông lúa, đọt khoai... mà đất còn lấy đi cả những người tôi yêu thương. Tôi buộc phải làm quen với cái thết! Sống làm người cứ phải tập quen với quá nhiều thứ bà nhỉ. Xưa kia, mỗi lần nói về cái thết, tôi cứ nghĩ đó là chuyện của người khác, thứ ngờ đâu, một ngày nó cũng đến gõ cửa nhà tôi! Con mương nhỏ giáp ngã ba cuối làng da, tôi cũng có rất nhiều kỷ niệm với nó. Ngày xưa, tôi và N. tối tối khi học bài xong hay ra đó chơi. N. người bạn chí thân tuổi hiếu thời của tôi và cho đến mãi bây giờ, mặc dù không gặp nhau thường xuyên do thời gian, lo khoảng cách chia xa, nhưng chúng tôi vẫn nhớ về nhau với một tình cảm chân thành nhất. Tình bạn của chúng tôi đã được qua trải nghiệm. Nhà N. giàu hơn nhà tôi. Bố nó làm công nhân bậc 6/7 ở một nhà máy cơ khí. Mẹ nó làm kế toán trên xã. Nhưng chẳng có rào cản nào ngăn cách được tình bạn suốt những lăm tháng trẻ thơ ấy cho đến khi ngồi trên ghế nhà trường trung học. Trong nhóm còn có một người bạn nữa tên H., nhưng nó lại khác, nó không thể vượt qua nổi sức ép của bố mẹ nó. Nhưng tuổi trẻ thật dễ bỏ qua cho nhau. Ba chúng tôi ở cùng xóm học cùng khối nhưng lại ở ba lớp. Chúng tôi đua nhau học, và hình như đứa nào cũng đứng đầu lớp. Tôi nhớ, N. giỏi Toán Hóa Sinh, nó thích thi khối B, nó muốn trở thành cô giáo. H. học khá Toán, Hoá, Sinh, nó muốn thi trường Y để trở thành bác sĩ. Còn tôi, nói thế nào nhỉ, tôi học giỏi cả ba môn Toán, Văn và Ngoại ngữ. Tôi muốn thi khối D, đó là khối con nhà giàu. Tôi biết gia đình mình không giàu, còn mẹ tôi lại thích tôi trở thành bác sĩ, hay chí ít cũng làm cô giáo. Cái nghề có dính dáng đến Ngoại ngữ ấy, đối với mẹ là cả một khung trời xa lạ. “Con học ngành ấy thì sau này đi mài chữ ra mà ăn à?”. Mẹ đã hỏi tôi như vậy khi tôi quyết định làm hồ sơ thi đại học ngành Ngoại ngữ. Khi ấy tôi không biết mình sẽ làm gì “để ăn” sau này. Trong tôi chỉ hiển hiện những áng văn chương bất hủ của Zola, của Flaubert, của Camus... mà tôi đọc qua các bản dịch bằng tiếng Việt. Tôi thích thứ ngôn ngữ đó, chuẩn xác và thanh cao, tình tứ. Chẳng gì mà người ta đã vinh danh nó, tiếng Pháp là ngôn ngữ của tình yêu, của lãng mạn trữ tình. Tôi mơ màng trong các tác phẩm của Marcel Pagnon, của Annatone France. Tôi thích thứ ngôn ngữ khi phát âm, nó trong trẻo ngân nga. Thứ ngôn ngữ đó cứ như hút hồn tôi, với những kiểu cách chia động từ, ngôi thứ. Biết mình không phải con nhà giàu, nhưng mặc kệ, tôi vẫn không nản. Bao nhiêu tiền mẹ cho ăn sáng, tôi dành hết để mua sách. Ngày đó, mua sách tiếng Pháp đắt lắm. Hồi ấy, trong xóm tôi có một gia đình bác X. hay đem hàng thêu ra Hà Nội cất, tôi lân la làm quen, vì chỉ có họ mới có thể giúp được tôi. Hồi đầu thật khó nói, vì dù sao cùng là làm phiền người ta. Tôi mon men đến nhà bác khi biết ngày mai bác có buổi đi cất hàng. Tôi rụt rè nhờ bác rẽ qua cửa hàng sách nằm trên phố Tràng Tiền để tìm cho tôi những cuốn sách mà tôi đã cẩn thận ghi rõ ở một tờ giấy nhỏ gấp tư mà tôi chìa ra. Được cái, bác ấy tốt bụng, thấy tôi ham học, bác chấp nhận ngay lời thỉnh cầu của tôi. Chỉ có điều, sách quá đắt, hôm đó tôi đã không có được những cuốn sách mà mình đặt bao niềm hy vọng. Nghe bác nói đến giá sách, tôi giật nảy mình, một cuốn sách mà đáng giá cả năm yến thóc của mẹ! Chắc đọc được niềm tuyệt vọng lộ rõ trong mắt tôi, bác an ủi và nói lần sau sẽ cố gắng tìm ở những nơi khác có thể sẽ rẻ hơn?! Nhưng với tôi, lúc ấy là hết, hy vọng vừa le lói trên bầu trời ước mơ của tôi thì đã phụt tắt. Nhưng lạy Đức Phật Thích ca mô ni lòng lành, vào một buổi chiều xẩm tối, tôi vừa cùng mẹ đi làm đồng về thì thằng Chiến, con bác X. chạy đến thầm thì vào tai tôi rằng bố nó bảo tôi đến gặp ngay. Tim tôi dập thình thịch, chưa dám đoán có chuyện gì, nhưng lòng mừng khấp khởi, bác ấy gọi đến, nghĩa là có chuyện vui rồi. Vừa thập thò đến cửa, bác gọi ngay tôi vào và đem ra một bọc sách gói cẩn thận trong các lớp giấy báo cũ. Bác nói đây là món quà bác dành cho tôi, và bảo tôi giở ra xem. Tôi run run bóc lớp giấy báo. Trời ơi, tôi cứ ngỡ như trong mơ, đó là sáu cuốn sách mà tôi đã tìm kiếm trong tuyệt vọng. Cho dù đó chỉ là những cuốn sách đã dùng rồi. Bác nói, hôm ấy bác đang lang thang trên phố chuyên bán sách cũ của những bà hàng đồng nát, bác chợt nhìn thấy trên gáy các cuốn sách có ghi dòng chữ tiếng Pháp. Bác xấn ngay tới hỏi và bà ta đã bán mớ cho bác. Khi tôi muốn thanh toán tiền, thì bác bảo đó là món quà bác dành cho tôi. Rằng nếu tôi muốn trả nợ thì hãy cố gắng thi đậu vào được đại học, và khi ấy món nợ của tôi coi như đã được thanh toán cho bác. Bác X. bây giờ đã già lắm, mỗi khi về quê, tôi đều ghé thăm. Bác đã rất vui khi tôi đậu đại học. Sau này, khi có trong tay hàng tỷ đồng, mua những món quà đắt giá hàng ngàn đô la Mỹ, nhưng tôi không bao giờ cảm thấy chúng quý giá như những cuốn sách cũ của tôi hôm đó. Những cuốn sách đã chắp cánh cho ước mơ của tôi. Cuốn Từ điển Pháp-Việt, cuốn Ngữ pháp Tiếng Pháp, cuốn Cách chia các động từ bất quy tắc... cả cuốn Ôn thi Đại học Tiếng Pháp. Cả đời chưa được làm con nhà giàu, tôi sẽ cố gắng một lần xem sao. Rồi trời không phụ công tôi, tôi đã trúng tuyển. Bà không thể hình dung nổi đâu, khi tôi cầm tờ giấy báo nhập học. Tôi đứng đó mà cứ ngỡ có thể bê được cả trái đất này đặt sang một bên. Vâng nếu ngày đó, tôi không cố gắng thì bây giờ có lẽ tôi sẽ chẳng ngồi đây với bà. Nếu tôi nghe lời mẹ để trở thành bác sĩ hay một cô giáo thì cuộc sống của tôi sẽ hiền hòa biết bao. Sẽ trôi đi êm ả như bao cuộc đời khác. Rồi tôi sẽ lấy chồng, sẽ sinh con đẻ cái trên một miền quê nào đó và sẽ chẳng bao giờ có cơ hội gặp lại anh. Con mương nhỏ nằm gần ngã ba đi vào cuối làng kia đã chứng kiến biết bao câu chuyện tâm sự của tôi và N. Nhất là hôm tôi trở về nhà sau tuần đầu tiên khoác áo sinh viên. Chiều thứ bảy đó, khi đạp xe về đến nhà thì ngày bắt đầu tàn. Hoàng hôn đang buông xuống. Tôi bỏ xe, bỏ dép và chạy chân trần ra cánh đồng làng. Tôi như sống lại khoảng khắc tự do của mình sau khi thoát khỏi ký túc xá, thoát khỏi cảnh sống đô hội mà mới chỉ một tuần, tôi vẫn chưa thể quen ngay được. Tôi sung sướng được chạy chân trần trên các bờ cỏ, cảm nhận gan bàn chân mình áp sát mặt đất.

Lê Thị Hiệu Tiểu thuyết —★— CÔN TRÙNG ebook©MotSAch —★— TVE-4u©VCTVEGROUP Nhà xuất bản: Phụ Nữ
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Lê Thị Hiệu

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.