Thứ bùn nhão nhoét ấy rất nhiều người sợ thì tôi lại thích. Vâng, trong đời người đôi khi lại có những sở thích kỳ quái như thế. Tôi mân mê nắm bùn nhão, bắt con cào cào dính chặt lên đó. Nó bối rối mở to cặp mắt vốn đã lồi ra ngó tôi như muốn nói sao tôi ác thế. Còn tôi thì làm sao hiểu được điều đó vì tôi đang hạnh phúc. Tôi đang đứng đây, giữa cánh đồng bao la. Gió thổi lồng lộng bát ngát. Cả một màu xanh ngút ngàn chạy hút đến tận chân dãy núi Trường Sơn xa xa, nơi có đường chân trời lờ mờ in trong bóng hoàng hôn chạng vạng. Tôi vui vì biết lát nữa, thế nào tôi cũng gặp lại N. Nó không may mắn như tôi, nó bị trượt Đại học Sư phạm và bố nó đã xin cho nó đi học trong một trường Trung cấp Cơ khí gần nhà. Thật tội nghiệp cho nó! Nó đã mơ ước trở thành cô giáo biết bao nhiêu. Đã bao lần tôi thấy nó, mắt sáng long lanh được thấy mình trên bục giảng. Nó có khiếu trong lĩnh vực này. Tôi đã nói là tôi dốt môn Hóa, còn nó lại rất giỏi. Thỉnh thoảng nó hay phải thay thày giảng lại cho tôi. Nhưng cái đầu chứa toàn Zola, Flaubert... của tôi đôi khi không chịu nhường một chút chỗ cho các phương trình hóa học. Nhưng nó kiên trì giảng giải thì tôi lại hiểu được. Còn tôi lại giúp nó những lần chia động từ tiếng Pháp. Nó dốt thế không biết! Tôi bảo nó rằng tiếng Pháp có ba nhóm động từ khác nhau. Hai nhóm có quy tắc và một nhóm thứ ba là bất quy tắc. Nhưng nó lại cho rằng tất cả ba nhóm đều là bất quy tắc vì nó thấy nhóm nào cũng hết sức phức tạp, lại còn vặn vẹo tại sao phải như thế. Nếu là bây giờ thì tôi đã có đủ trình độ giải thích cho nó, nhưng hồi ấy, tôi chỉ giỏi hơn nó khoảng... hai chữ, thì làm sao tôi giải thích cho cái đầu toàn những phương trình của nó hiểu. Nó đã muốn trở thành cô giáo dạy toán hay hóa đều được, vậy mà... Những lũy tre xanh làng tôi đang chìm dần trong các làn khói lam bốc lên từ các bếp lửa hồng. Từng đàn én chao liệng đùa giỡn nhau trên đầu làn sóng lúa dập dờn. Lúa đang thì con gái. Từng gốc lúa to, khỏe mạnh báo hiệu sẽ cho những rảnh đòng đòng mập mạp. Một con cò trắng đơn lẻ từ một bờ ruộng bay vút lên, lẳng vào không trung một tiếng kêu lạc lõng gọi bầy. Lòng tôi lâng lâng, nhảy chân sáo về nhà. Mẹ đã nấu xong cơm. Mẹ biết tôi thích ăn cá kho tương gừng có pha thêm ít thịt ba chỉ, và canh rau mướp nấu cua. Cơm gạo mẹ nấu chín tối, vừa mở nồi đã bốc hơi thơm nức. Một bữa cơm thật đầm ấm. Đã bao năm qua rồi mà tôi vẫn nhớ như in bữa cơm đó: bữa cơm đầu tiên tôi trở về sau một tuần sống ở ký túc xá trường đại học. Ánh trăng đầu tháng chênh chếch đầu ngọn tre. Bà nội, ba mẹ và các chị đến ngồi bên mâm cơm. Tối đó, tôi có cảm giác mình ăn bằng mắt, bằng mũi nhiều hơn. Trước đây, mẹ cũng đã nấu nhiều những bữa cơm như thế, nhưng tôi đã chẳng nhận ra được điều gì khác thường. Còn hôm nay, tôi thấy nó vô cùng đặc biệt. Tôi yêu biết bao cái không khí êm đềm ấy! Tôi chỉ vừa bưng bát thì đã thấy N. thập thò ngoài ngõ. Thì ra, nó cũng nóng ruột muốn gặp tôi. Tôi và vội bát cơm chan đầy nước và loáng một cái đã hết veo, mà tôi lại chẳng thấy đói nữa, mặc dù trước đó mấy phút, tôi đã gào tướng với mẹ là tôi đói muốn chết. Hai đứa tôi cầm tay nhau chạy vút đi, biến mất sau hàng râm bụt. Vâng, tôi hiểu ánh mắt bà muốn nói điều gì rồi. Nếu là bây giờ, trên đất nước Pháp này hay bất cứ nơi đâu thì có lẽ mọi người lại cho chúng tôi là les..., nhưng ngày đó, chúng tôi trong trắng, ngây thơ lắm: “Thế nào!”. N. lên tiếng trước, “học ngoài đó có thích không? - Thích khỉ gì! Nhớ nhà thấy mồ. Học lại khó nữa. - Nhớ nhà thì rõ rồi, chứ còn học thì làm sao mà khó. Ấy học giỏi thế...". Thế là tôi được dịp xả ra hết cho nó nghe. Như thể, nếu xả hết được những thứ ứ đọng trong đầu tôi ra thì tuần sau tôi sẽ tiếp thu được bài vở nhanh hơn. Còn N. thì cứ tròn to cặp mắt nghe tôi kể. Ừ, thì nó làm sao hình dung nổi tôi phải học bằng cát-sét, bằng vi-đê-ô. Thầy giáo đứng từ xa để điều khiển màn hình... Vâng, bà ngạc nhiên quá, tôi muốn lưu ý bà điều này. Dạo đó, cả làng tôi chỉ có độc một cái ti vi đen trắng, chạy bằng ắc-quy. Chủ nhà rất tử tế, họ thường đặt ti vi ra ngoài hiên, và bà con chòm xóm đến xem ngồi đông đủ dưới sân. Dạo đó, đài truyền hình phát bộ phim dài tập của Brésil Nô tỳ Izauda. Đó là một câu chuyện tình vô cùng lãng mạn, nhưng phức tạp, được chiếu vào các buổi tối thứ ba, thứ bảy và chủ nhật. Chúng tôi hầu như không trật buổi nào cả. Vậy mà, tối đó, chỗ ngồi quen thuộc của chúng tôi đã bỏ trống. Buổi tối đầu thu, trời se lạnh, ánh trăng bàng bạc bao trùm lên tất cả vạn vật. Không gian yên tĩnh, người ta chỉ còn nghe thấy tiếng xào xạc của những cành lá tre xô nhau mỗi khi có cơn gió thoảng tới. Hiện lên sừng sững giữa bầu trời là hai cây đại to nằm ở cổng nghĩa trang. Người làng nói hai cây đó thiêng lắm, đêm về thỉnh thoảng có ma mẹ ngồi võng hát ru con, tiếng à ơi vẳng tới tận những ngôi nhà nằm sát rìa làng. Tối đó, chúng tôi đã chẳng nghe thấy tiếng ma ru con, chỉ có tiếng dế rỉ rả than vãn và tiếng chúng tôi thủ thỉ tâm sự với nhau rất nhiều về những ước mơ, dự định sau này. Tôi muốn ra trường làm thông dịch viên, còn N. muốn trở thành cô công nhân thợ hàn giỏi như bố nó. “ - À này, tớ học cùng khóa với Hoa hậu báo Tiền phong đấy. Tớ khoa Pháp, chị ấy khoa Tiếng Anh. - Ô, nó lại tròn xoe mắt kinh ngạc, thế à, chị ấy có xinh không? - Nói chán bỏ xừ, nếu hoa hậu mà không xinh thì để cho tớ và ấy xinh à! - Dưới con mắt tớ, ấy là xinh nhất đấy. Hay sang năm, ấy viết đơn xin thi hoa hậu đi. Tớ chắc chắn cậu sẽ được giải". Lại đến lượt tôi tròn mắt nhìn nó. Nhưng qua ánh mắt và khuôn mặt, tôi nhận ra là nó không hề đùa. Cho đến tận bây giờ, cho dù bao năm đã qua đi. Vật đổi sao dời. Cảnh cũ người xưa đã thay đổi. Nhưng mỗi khi có dịp ghé quê, tôi lại tìm đến con mương ấy. N. của tôi rốt cuộc đã toại nguyện với nghề của nó. Những gì chúng tôi nói với nhau đêm ấy đã gần như được thực hiện hoàn toàn. Chỉ có điều, năm sau đó tôi đã không dám viết đơn xin dự thi Hoa hậu. “Gì cơ? Chuyện tôi và NV . đã bắt đầu như thế nào ấy à?”, bà đã hỏi thì tôi xin nói. Thực ra chuyện đã bắt đầu từ lâu lắm rồi. Vào một buổi chiều chủ nhật đầu đông năm ấy, tôi lên trường bằng cái xe đạp “cà khổ” của mình. Đi được nửa đường thì bỗng dưng nó bị kẹt xích. Hai bàn tay lấm lem. Trời rét, nhưng trán tôi vẫn lấm tấm mồ hôi. Nửa giờ trôi qua mà tôi vẫn không sao lôi được cái xích chết tiệt ấy ra. Trời đã xập xoạng tối, tôi ngán ngẩm ngẩng lên và nhìn thấy hai chiếc xe máy sà tới. Tôi tuyệt vọng đưa tay lên vẫy nhưng chẳng hy vọng họ đỗ lại. Vậy mà họ lại đỗ lại thật bà ạ. Và chiếc xe của tôi cứ như phải vía họ, người đàn ông vừa đụng vào thì chiếc xích đã ra khỏi nơi nó kẹt từ nãy. Đương nhiên là tôi rối rít cám ơn họ, rồi nhìn vào hai bàn tay đầy dầu mỡ của mình, giữa đường thế này thì biết làm sao. Như đoán được ý tôi, người ấy rút từ trong chiếc túi treo sau xe ra một chiếc khăn rửa mặt trắng tinh vẫn còn hơi ẩm, và đưa cho tôi. Tôi bối rối không nhận vì ngại. Anh cố nài tôi cầm, rồi bảo tôi hãy mau lên xe về trường kẻo trời sắp tối. Tôi lại luống cuống cám ơn mà cũng chẳng thèm hỏi họ tên gì và ở đâu. Chỉ đến khi họ đi rồi, tôi mới chợt nhận ra mình vẫn cầm trên tay chiếc khăn, mà bây giờ đã đen sì vì dầu mỡ. Đến trường, tôi dùng xà phòng giặt sạch chiếc khăn ấy, và phát hiện trên góc trái có thêu hai chữ NV nho nhỏ. Tôi cất chiếc khăn đó xuống tận đáy va li. Cũng chẳng biết để làm gì, nhưng chỉ có một điều tôi biết rất rõ là tôi không muốn vứt nó đi. Tháng tư năm trước, tôi cho các con tôi đi nghỉ ở miền Nam nước Pháp. Ngôi nhà nghỉ của chúng tôi nằm bên bờ biền Địa Trung Hải. Ngôi nhà nhỏ bé, thơ mộng nằm lọt thỏm trong một vườn cây xanh um. Cây cối trong vườn được cha chồng tôi chăm sóc kỹ lưỡng, mùa nào hoa quả ấy. Những cây oải hương thơm nồng nàn. Những quả dương mai to mọng. Những trái táo lúc lỉu. Cam, chanh đến mùa thì ăn không hết... Những cây cổ thụ cuối vườn to đến hai người ôm không xuể. Mỗi khi có gió tramontane tràn về tôi lại thấp thỏm. Tôi sợ tiếng gió rít ngoài vườn trong đêm như những tiếng ma hú. Những lúc như vậy, tôi thích được đi dạo một mình, ơ, vùng quê ấy lạ lắm bà ạ. Bên dưới là những cơn gió mạnh, thổi đổ rạp các cành lau sậy mọc bên bờ biển, nhưng trên cao kia vẫn là một bầu trời xanh thẳm, chi chít những vì sao lung linh huyền ảo. Trời tháng tư cuối xuân vẫn còn lành lạnh. Tôi khoác áo và đi dạo dọc trên bờ biển. Đêm cuối tháng, vầng trăng khuyết mỏng mảnh treo hờ hững, tỏa ra thứ ánh sáng nhờ nhờ. Ngày xưa mẹ nói đó là ánh trăng suông. Tôi đã tra biết bao từ điển để tìm ra ý nghĩa đích thực của từ này. Nhưng vô vọng. Mẹ bảo những đêm như thế, những hồn ma oan uổng hay ra khỏi nơi trú ngụ để lẩn quất, để lang thang. Tôi nghe lẫn trong sóng biển như có tiếng thầm thì của ai đó. Biết bao con tàu đã đắm chìm trong đại dương mênh mông? Biết bao con người đã không bao giờ trở về sau những lần đi biển? Những hạt cát tôi đang dẫm lên đây được biển đưa dạt đến từ phương nào? Liệu chúng đã từng chứng kiến sự giao thời mong manh giữa cái chết và cái sống? Chúng đã nhận được những lời nhắn gửi nào của những ai trước lúc đi xa? Cúi xuống, tôi nhặt một hòn sỏi tròn, trắng tinh lộ rõ trong cát. Vung cao tay, tôi ném nó trở lại với biển. Tôi cũng muốn nó đem theo bức thông điệp của mình gửi trùng dương xa xôi. Gửi đến những người tôi yêu thương. Tôi gửi mẹ những thiếu thốn trong tâm hồn. Tôi gửi ba những thành công. Tôi gửi anh trai tôi những bản nhạc dàn bè mà anh đã rất thích bởi anh vẫn chơi ghi ta ngày anh còn sống. Tôi gửi cho NV . của tôi nỗi nhớ, nỗi nhớ triền miên khắc khoải lắng đọng. Nỗi nhớ cứ ăn sâu tận ngóc ngách tâm hồn tôi, tới từng tế bào, chân tóc của tôi. Tôi nhớ lần ấy tôi về quê. Anh đưa tôi đi ra ngoài vùng ngoại ô. Hai chúng tôi cho xe chạy dọc theo sườn đê. Đó là vào những ngày giáp Tết. Trên bến sông, người ta chuyển từ bên kia sang nhiều bát đĩa ấm chén và các đồ sứ. Các loại đồ gốm. Những người đàn bà cần mẫn sắp xếp thành nhiều chồng khác nhau. Tôi nghe loáng thoáng những cuộc hội thoại của họ: “Này, nhà Song Trầm ấy thế mà trúng quả đậm, đứa con gái mới lớn, nghe nói dược một ông Việt kiều bên Đức về xin cưới rồi đưa sang bên ấy luôn đấy”, “ừ, nhưng thấy nói ông ta nhiều tuổi lắm, gần bằng tuổi bố nó cơ mà, hôm sang nói chuyện, có người không biết nhìn lại tưởng hai ông thông gia ngồi với nhau”. "Ôi dào, bà cứ lắm chuyện, bên Tây giàu có lắm tiền, nhiều tuổi nhưng còn trẻ trung hơn chán vạn mấy ông cứ ngồi nhà đúc xoong, đúc thùng”. "thế mẻ nhà bà hôm nay kiếm được bao nhiều tiền lời thế?". "Nhặt nhạnh cẩn thận thì chắc cũng được hơn ba chục ngàn bà ạ!”. “Thằng cháu nhà tôi trên trường lại điện về xin tiền đóng học, tôi cứ sốt hết cả ruột, cơn lợn được hơn năm chục ký, đành phải gọi bán phắt đi vậy. Não ruột, không hiểu thiên hạ họ kiếm đâu mà nói đến tiền triệu cứ nhẹ như lông hồng”.... Nghe những câu trao qua đổi lại như vậy, tôi ngán ngẩm kéo anh bước đi. Những luống khoai xanh rờn. Xa xa, cả một rừng hoa cải vàng rực. Có một bài hát mà tôi rất thích, trong đó có câu “Có một mùa hoa cải, nắng vàng trong mê mải..." cứ văng vẳng trong đầu tôi. Rồi một bộ phim có tựa đề Lời nguyền của dòng sông cũng bất chợt hiện về. Nó khiến tôi nấc lên. Thế gian ơi sao toàn những chuyện buồn thế! Rốt cuộc, con người tự mình nghĩ ra những lề thói để lại trói buộc, bắt mình tuân thủ những lề thói ấy, rồi bỏ qua những gì họ yêu mến. Có những khoảnh khắc kéo dài suốt cả cuộc đời. NV đã ôm tôi trong cánh tay vững chãi của anh. Cả ngày hôm đó, chúng tôi đã đi lang thang trên đê, dưới bãi. Trời hôm đó bỗng ấm áp lạ thường. Đám trẻ chăn trâu ngạc nhiên nhìn hai chúng tôi. Hai người thành phố, bỗng đâu đi lang thang trong đất thế kia. Tôi giở túi lấy cho chúng tất cả những gì tôi đem theo. Những chiếc bánh mì kẹp thịt. Những quả táo to mọng. Những chiếc đùi gà rán còn nóng hổi thơm phức. Bù lại, chúng dưa cho chúng tôi những củ khoai, những bắp ngô nướng mà chúng vùi trong đống tro còn nóng. Ngồi bệt trên sườn đê, ăn những bắp ngô non nướng ngọt lịm thơm phức, cỏ mọc xanh mướt. Tôi lại nghe thấy tiếng những đứa trẻ chăn trâu, chừng mười một, mười hai tuổi, mặt mũi đen nhẻm vì tro than, hay cũng vì khuôn mặt chúng nó bị rám nắng vốn thế. Tiếng một đứa: “Mày biết không, tối qua tao thấy bố mẹ tao đương nhiên lại giở chiếu ra đắp rồi cứ như đánh nhau ở trong". Tiếng đứa khác: “Mày ngố bỏ mẹ, thế mày không biết bố mẹ mày làm gì à?". Im lặng, lại vẫn tiếng đứa ấy vang lên: “Nhà mày chật, có mỗi cái giường cả nhà mày ngủ chung trên đó, khi bố mẹ mày ’ấy’ nhau thì phải che chiếu vào chứ sao nữa”. Tiếng thằng nói lúc đầu: “Ừ, thảo nào, tao thấy bố mẹ tao có vẻ như đánh nhau mà lại cứ cười rúc rích".... Xa xa dưới lòng sông, nước chảy lững lờ. Có con thuyền nhỏ đánh cá chòng chành lướt đi. Tôi chỉ cho anh chỗ ngày xưa em trai tôi đã chết đuối, những chỗ mà ngày xưa tôi vẫn xắn quần lội sông vào mùa nước cạn. Búi tre mà em tôi đã neo vào đó. Cuộc đời thật sắc sắc không không, mong manh quá đỗi. Trong đêm tháng tư ấy, tôi cứ đi, cứ đi mãi. Thấp thoáng bóng những con hải âu không ngủ bay chập chờn đùa giỡn những con sóng. Tôi cứ đi theo chúng đến tận những ghềnh đá. Những con sóng to bạc đầu chồm lên bọt bắn tung tóe. Những tiếng ầm ào vang vọng. Rồi bỗng chốc tôi lạc vào một thế giới chưa từng được biết đến. Một cung điện xa hoa lộng lẫy. Tất cả đều sáng choang lấp lánh. Những quả cây cũng như bằng kim cương, mỗi khi có cơn gió thoảng qua, tất cả lại rung rinh, va vào nhau phát ra những âm thanh diệu kỳ. Bỗng mẹ hiện ra trên một hành lang nhỏ. Bên cạnh là những người bạn mặc đồ đẹp như các tiên nữ. Mẹ giới thiệu tôi với mọi người, tôi sung sướng chạy lại ôm chầm lấy mẹ như hồi còn bé mà quên mất rằng mình đã lớn. Mẹ lại ôm tôi vào lòng, tôi nức nở kể cho mẹ nghe những nỗi niềm ẩn chứa trong tâm hồn mình. Mẹ không nói gì, chỉ lại ôm ghì tôi chặt hơn nữa. Những giọt nước mắt của tôi thấm đẫm vạt áo mẹ, mẹ hát nhè nhẹ ru tôi ngủ như ngày xưa. Rồi tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay, tay vẫn níu chặt gấu áo của mẹ. Tôi chỉ bừng tỉnh khi những tia nắng đầu tiên chiếu thẳng vào mặt và phát hiện mình đã ngủ phục trên một phiến đá, được thiên nhiên đẽo bằng phẳng như một chiếc phô-tơi. Cách đó ba thước, một vòng hải âu đậu kín đặc. Chúng im lặng, đầu ngẩng cao như những người lính gác canh giấc ngủ đêm cho tôi. Tôi nhổm dậy, chúng vỗ cánh lao lên, bay lượn vài vòng trên đầu tôi rồi sải những đôi cánh rộng bay vút ra đại dương. Một lần, khi về nước anh đưa tôi về thăm mẹ một người bạn đồng học của anh, trên một vùng quê miền trung du cách Hà Nội khá xa. Chúng tôi ra đi từ rất sớm. Xe chạy vùn vụt qua thị xã Sơn Tây, đến Hòa Bình, phải đợi chừng gần tiếng đồng hồ mới có phà qua sông. Sau đó anh rẽ trái, đi vòng vèo qua mây quả đồi mọc toàn cỏ lác um tùm và các loài cây dại, đây đó có các vạt mía tím cằn cỗi. Đi chừng năm cây số nữa thì đến một cái chợ cóc. Anh dừng xe bảo tôi đi mua đồ để nấu ăn luồn thể. Anh còn dặn em cứ mua dôi ra cũng được và nhớ mua thêm thẻ hương nữa! Tôi chẳng hiểu gì nhưng cũng ngoan ngoãn làm theo lời anh. Tôi đã mua những gì ư? Thực ra, từ mấy hôm trước, nghe anh kể chuyện thì tôi đã hiểu chút ít về thân thế của người mẹ già ấy. Tôi mua một con gà, hai con cá chép và hai cân thịt thăn, mấy cân lạc, vừng và muối... và đầy đủ các loại rau gia vị. Nói là chợ, nhưng thực ra đó chỉ gồm toàn căn lều tuềnh toàng, những người họp chợ đa số ngồi ngoài trời. Tôi còn thấy họ bán ngổn ngang cả các rễ cây, cả rắn còn sống trong những chiếc rọ, những con chim lạ ríu rít trong những chiếc lồng mây kiểu cách... Quang cảnh chợ khiến tôi vui vui và nhớ mẹ đến quay quắt. Nó không được đàng hoàng như những phiên chợ ở quê tôi, nhưng cũng mang một cái vẻ gì đó na ná như thế. Tôi nhớ những lần đèo mẹ đi chợ bằng xe đạp. Tôi nhớ những lần được mẹ cho đi ăn quà ở hàng bánh đúc. Những lát bánh đúc mỏng tang, ròn ròn, càng nhai càng đậm đà, thi thoảng nếu may mắn có cả viên lạc bùi bùi. Hay những thanh kẹo lạc thơm mùi gừng... Còn ỏ đây, những bà bán hàng hay cả những người đi chợ đều rất ngạc nhiên nhìn chúng tôi. Nhìn vẻ lam lũ của họ, tôi chỉ mong giá mà có thể mua hết tất tật cho những con người mang ánh mắt buồn kia. Đúng thật bà ạ, dù họ có cười đấy, có vui đấy khi tôi mua hàng mà không hề mặc cả, nhưng trong ánh mắt vẫn thoắt ẩn thoắt hiện những điều gì đó như u tối, như u hoài, hay thậm chí như tuyệt vọng... Mua bán xong, tôi chất hết cả lên xe, và anh nổ máy cho xe chạy đi. Bất ngờ, anh dừng lại trước một ngôi nhà tranh tồi tàn, nói là nhà cho oai thôi, nhưng thực ra nó chỉ như một chiếc lều thì đúng hơn. Bốn bề trát vách đất thủng lỗ chỗ. Mái lợp lá nhiều chỗ trũng xuống trồi lên. Gió thổi lật phật. Trước cổng có vài cây chuối còm đứng heo hắt. Anh tắt máy và dắt xe vào sân. Thấy có người đến, một bà già chừng bảy tám mươi tuổi, lưng còng rạp từ trong bước ra. Tôi nghe thấy tiếng anh chào bà là mẹ. Còn bà cụ, sau phút bỡ ngỡ, kêu tướng lên: “Ôi, V. đây hả con, con vẫn nhớ tới mẹ ư. Để mẹ xem nào, đúng rồi, hôm nay là ngày 24 tháng Mười, đúng là ngày mẹ đẻ thằng Hướng đấy. Ôi, quý hóa quá, quý hóa quá!”. Đến lúc này, bà mới để Ý đến tôi, nên có phần ngượng nghịu: “Các con vào nhà đi”. Nói rồi bà hấp tấp chạy đi lấy siêu đun nước. NV . ngăn lại: “Thôi, mẹ để đấy cho con...”. Anh quay sang bảo tôi tháo đồ, rồi chạy lại đỡ cái siêu đen sì trên tay bà cụ. Anh múc nước và đặt nó lên bếp. Rơm ẩm, bốc khói bay mù mịt khắp sân. Tôi lóng ngóng gỡ đồ và để gọn vào một góc hiên nhà, đưa mắt hỏi NV . phải làm gì với những thứ đó. Anh nói phải làm thịt gà, nấu canh cá, số thịt thì rang kỹ để ăn dần, còn lạc và vừng thì cứ để nguyên đấy. Ôi, bà hiểu không, vẫn là một NV . trọn tình trọn nghĩa. Giờ thì tôi hiểu hơn về câu anh nói cứ mua dôi ra là để làm gì. Tôi hí húi giúp anh làm bếp. Đến phần thịt gà thì tôi cứ ngồi ngó anh, lúc đó đang rán cá. Tôi sợ cắt tiết gà lắm, tôi không thể làm được. Bà biết không, cách đây lâu lắm rồi. Đợt ấy là rằm tháng bảy, tôi từ trên trường về nhà. Ngoài đồng vẫn bộn bề việc, nhưng mẹ bảo ưu tiên tôi được ở nhà làm cơm. Mẹ chỉ con gà nhốt trong lồng và nhắc tôi làm thịt, rau quả mẹ đã mua để sẵn rồi. Tôi loay hoay, chẳng biết làm thế nào, tôi sợ máu bà ạ, chắc cũng vì lý do này nên tôi không thể nghe lời mẹ để trở thành bác sĩ theo ý của mẹ được. Lần ấy, tôi cứ ngồi nhắm mắt và bịt chặt mỏ và đôi lỗ mũi của con gà lại, sau nửa tiếng đồng hồ, con gà cũng chết. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy hãi hùng và ghê chính đôi tay của mình. Việc làm của tôi cũng chẳng khác cảnh Polpôt tra tấn, giết người bằng cách chùm túi ni lông lên đầu và buộc chặt lại cho đến lúc người tử tù chết ngạt mới thôi. Bà cụ già chắc đã quen với cảnh anh đến nhà nấu nướng nên để mặc cho chúng tôi làm bếp. Còn cụ cứ chạy loăng quăng thoắt ẩn thoắt hiện sang nhà hàng xóm rồi lại chạy về quét quét dọn chiếc bàn thờ có mạng nhện giăng đầy. Trên đó, tôi thấy có hai bức ảnh, gần trạc tuổi nhau và... giống nhau như đúc. NV . cứ xào nấu mà chẳng thèm để ý đến tôi. Thấy vậy, bà cụ sán lại, hỏi tôi có muốn bà giúp một tay không. Đương nhiên rồi, tôi rối rít đáp. Bà lấy một con dao nhỏ, lật ngược cái bát, liếc năm ba cái trên trôn bát, rồi tìm chỗ bằng phẳng nhất trên nền sân để đặt cái bát ấy. Còn tôi thì nhắm tịt mắt, tay giữ chặt chân và cánh gà, thỉnh thoảng lại hỏi cụ đã xong chưa. Khi tôi mở mắt thì con gà đã chết... Trong lúc làm bếp, anh kể cho tôi nghe thêm chuyện về người bạn anh. Đó là Hướng, học cùng trường Đại học với anh hồi trước, nhưng nó học khoa Lý. Bố mẹ Hướng thực ra quê ở Hải Hậu, Hà Nam, chẳng biết vì lý do gì, hai người đưa nhau lên lập nghiệp ở đây. Ngày trước, anh cũng hay về nhà cậu mỗi lần có dịp và cùng nhau đi chợ mua đồ xào nấu ăn uống như thế này. Có những lần, hai người không bắt được xe, phải cuốc bộ hàng nhiều tiếng đồng hồ, về đến nhà thì đã nửa đêm. Chỉ có điều mẹ Hướng ngày xưa còn trẻ và đẹp lắm. Người phụ nữ góa chồng khi mới hai mươi bảy tuổi và ở vậy nuôi con. Hướng giỏi môn Vật lý. Đã từng đoạt giải ba quốc tế môn Lý trong những năm 1970. Cha anh đã hy sinh trong thời kháng Pháp, nên anh được chọn đi học ỏ Nga. Hoàn thành luận án Tiến sĩ tại Mát-Xơ-cơ-Va năm 1978, về nước làm việc được một thời gian, anh lại được Viện Vật lý Nga mời sang hợp tác thực hiện một công trình tầm cỡ quốc tế về Hạt nhân. Trong một lần đi tàu điện ngầm từ nhà đến Viện làm việc, thấy có đám ẩu đả, anh đã lao vào can, và đã bị một tên đầu trọc, kỳ thị dân tộc đâm trọng thương. Dù các bác sĩ Nga đã rất tận tình cứu chữa, và đích thân ông Viện trưởng Viện Vật lý tới túc trực bên giường bệnh của anh, nhưng rồi anh ấy cũng không qua khỏi. Hồi ấy, anh đang đi công tác trong Đà Nẵng, được tin, anh tức tốc về Hà Nội, ra sân bay Nội Bài đón nó. Giờ nó đang ở kia kìa. Anh hất đầu về phía bàn thờ, nhìn lên, tôi thấy một cái hũ sứ màu vàng đặt cạnh bức ảnh. Tôi hỏi sao anh không bảo bà cụ đem lên chùa hay đem chôn đi. Thì anh trả lời, bà cụ có mỗi mình nó, nên cứ muốn giữ trong nhà để có con có mẹ. Tôi hỏi anh nhưng trong đầu đã đoán ra câu trả lời: “Sao anh ấy làm những công việc quan trọng vậy, mà bà cụ già lại sống đạm bạc thế này à?”. “Bà cụ quen rồi, chẳng muốn thay đổi gì nữa. Bảo về quê ở Hải Hậu thì cụ bảo sống ở đây đã quen, có hàng xóm láng giếng... Vả lại, em biết đấy, chính sách Nhà nước bây giờ...”. Anh bỏ lửng câu nói, rồi giục tôi sắp cơm vào mâm, gọi cụ già ra thắp hương. Cụ nói: “Thôi con cứ làm như mọi lần, mẹ lẩn thẩn, nói sai, nó lại cười cho đấy!”. Rồi bà cười móm mém, để trơ vài chiếc răng đen hạt na còn sót lại. Bữa cơm hôm đó ăn xong thì trời đã đổ về chiều. Đêm trên vùng trung du thường đến sớm hơn. Đêm đó, chúng tôi đã nghỉ lại trong ngôi nhà tranh của bà cụ già. Trời bỗng đổ mưa phùn giăng giăng, cả miền trung du được phủ một màn nước trắng xóa. Những kỷ niệm thời đại học với Hướng lại ào ạt đổ về. Anh kể lần ấy, hai thằng bọn anh đi hái trộm sen trong đầm gần ký túc xá. Bị ông già bảo vệ phát hiện được, hai thằng tiếc hoa, liền ôm cả rồi bỏ chạy về phòng. Ông già đuổi theo. Tài thật, cả hai đứa cũng như lũ bạn trong phòng không sao hiểu nổi là ông già lại tìm đúng đến phòng anh. Nhưng ông già ấy tốt bụng, chỉ nhắc nhở bọn anh không nên liều lĩnh, vì đầm rất sâu, đã xảy ra tai nạn chết đuối do ăn trộm sen. Khi các anh hỏi làm sao mà ông lại tìm được. Thì ông cười khoái chí: Đó là do cái mũi của ta đấy, thế các cháu không ngửi thấy mùi gì à... Lần khác, cả Ký túc xá được một phen hú vía. Vốn thích nghiên cứu về Hạt nhân, Hướng cầy cục tìm tòi, lần đó, cả khoa nó được đến đơn vị Hóa học quân đội nằm trên mạn Cầu Giấy, nó dẻo mỏ xin được chút vật liệu, thế là về phòng pha chế, chế biến. Bỗng dưng, cả luồng khói trắng phụt lên, cả phòng chìm trong làn khói ấy, và nó không ngừng lan tỏa ra. Bảo vệ trường rú còi báo động, tất cả sinh viên nội trú trên bốn tầng nhà rầm rập chạy xuống. Hú vía... Lần ấy nó phải viết kiểm điểm và bị đình chỉ học hai tuần liền... Đêm miền sơn cước lành lạnh và gió thổi băng qua nhà hun hút. Bà lão lấy cái chảo gang to, đã thủng lỗ chỗ rồi ném mạt cưa, củi và gời lên một “bếp lửa di động” giữa căn nhà. Hơi lửa bốc lên, làm tan giá lạnh của vùng rừng núi. Hôm sau, trời lại nắng chan hòa, chúng tôi chào bà cụ ra về. Cụ ngậm ngùi nắm chặt tay tôi và NV . và cứ cảm ơn mãi, mắt cứ nhòa đi, những giọt nước mắt còm cõi lăn dài trên vòm má nhăn nheo, về đến Sơn Tây, khi ấy còn sớm, chừng 11 giờ sáng, anh rủ tôi vào Ao Vua chơi. Tôi đồng ý liền. Xe lại chạy len lỏi trên những con đường xum xuê bóng cây rừng. Những dọn sương còn chưa tan hết, vẫn lẩn quất đây đó. Ngày ấy, tất cả còn hoang sơ, chứ chưa hiện đại như bây giờ. Cả khu du lịch vắng tanh, không bóng người. Gửi xe xong, chúng tôi dắt nhau qua thác nước. Nước từ trên cao dội xuống, đập vào đá phía dưới bắn bọt tung trắng xóa. Lên cao hơn, những lối mòn nhỏ tí bám theo suối. Tôi đã muốn lên tận đình cao kia, nơi bắt đầu của dòng nước ấy, nhưng anh lắc đầu: “Không được đâu em, nhìn thì gần thế, nhưng đi chắc sẽ phải mất cả ngày đường đấy! “Cả không gian thơ mộng im ắng, chỉ có nắng và nắng...”. Tôi nhớ một lần khác, trước khi tôi về nước, anh đã hứa đưa tôi đi về một vùng đất, vùng đất ấy có rất nhiều những cây hoa vàng. Vâng, vẫn là cái màu vàng ấy. Khi ấy là cuối hè đầu thu. Chúng tôi hẹn gặp nhau tại Hà Nội, sau đó sẽ đi xe đò vào một thành phố miền Trung. Nhưng do trục trặc máy bay, tôi đã chỉ về được vào hôm sau, tôi nhắn anh cứ đi trước, tôi sẽ đáp tàu đến đó vào sáng tiếp theo. Một buổi sáng sớm tinh mơ, tàu của tôi cặp bến. Anh đã ở đó chờ tôi từ bao giờ tôi không rõ. Nhưng nét mặt tươi tắn đầy hạnh phúc khi nhìn thấy tôi. Bao nhiêu nỗi nhớ trào dâng. Nhưng có lẽ do tuổi tác cũng như tính nhút nhát, không cho phép anh bộc lộ tình cảm dạt dào nơi đông người. Anh chỉ cầm tay và nhìn sâu vào mắt tôi. Bàn tay anh như truyền sang tôi tất cả, tình cảm, tình yêu. Cả nụ hôn anh cũng phải kìm lại, mặc dù tôi biết nó đang đốt cháy anh.
Anh đưa tôi vào một quán ăn sáng đặc sản nơi cố đô. Tôi đã chẳng cảm thấy đói. Tôi như ăn từng ánh mắt của anh, uống từng hơi thở của anh. Anh hỏi tôi có ngủ được chút nào trên tàu không mặc dù biết rõ câu trả lời phủ định. Làm sao tôi có thể ngủ được kia chứ. Hai năm chờ đợi mỏi mòn để được gặp anh. Thì giờ đây, chỉ còn vài giờ là được nhìn thấy anh bằng xương bằng thịt, được tận tay chạm vào anh, chứ không phải chỉ nhìn qua webcom, chỉ nghe qua điện thoại. Hít thở mùi vị anh qua một chiếc áo sơ mi của anh mà tôi đã cố tình không giặt. Theo bà, tôi có thể ngủ yên giấc được không. Không, tôi không ngủ mà ngồi ngắm phong cảnh. Những làng mạc chạy vùn vụt qua ô cửa sổ. Khi tàu đến ga Nam Định thì hoàng hôn bắt đầu buông xuống. Xa thêm chút nữa, màu trời bắt đầu chuyển sang đỏ rực. Mặt trời chìm dần xuống sau rặng núi xa xa. Hắt lên bầu trời tím sẫm những tia sáng phớt hồng cuối cùng. Những núi non bắt đầu nhấp nhô. Những gì anh kể cho tôi nghe bắt đầu hiện ra dần rõ hơn. Cả một dải miền Trung bắt đầu trắng xóa. Đó là vùng đất mà xưa kia đã phải chịu rất nhiều những gam chất hóa học màu da cam, hay những trận bom na-pan. Chẳng gì có thể mọc lại trên miền đất này. Ngay cả cỏ cũng không thể mọc được. Những cơn gió lào thổi bốc tới, bụi cát bay mù mịt trắng cả lưng chừng trời. Tôi ngán ngẩm quay vào lấy cuốn Rừng thẳm của Julien Gracq ra đọc. Trong truyện là một thế giới thiên nhiên khác hẳn. Những cánh rừng ôn đới ngút ngàn. Những cơn mưa rào sậm sùi chiều mùa hạ. Bốn mùa xuân hạ thu đông hiện ra rõ rệt. Mỗi mùa có những đặc thù riêng, cỏ cây hoa lá động vật cũng quen với những đổi thay đó. Chúng cứ bất di bất dịch như kiểu đến hẹn lại lên. Mùa đông tuyết rơi là lẽ đương nhiên, đầu xuân tuyết tan, những con suối lại róc rách chảy triền miên. Cũng như khi mùa thu đến, khiến cả một vùng trời vàng rực. Lá rụng xuống dày đặc. Tôi nhớ có một thi sĩ Pháp rất nổi tiếng đã nói: “Khi tôi chết, hãy chôn tôi dưới lớp lá mùa thu”. Tôi cũng muốn được chôn như thế khi tôi chết, mặc dù tôi chẳng phải là thi sĩ. Tôi đã đọc một mạch hết cuốn sách ấy. Nhưng đến gần đoạn kết, tôi đã khóc. Khóc cho thân phận hẩm hiu của những người lính. Khóc cho sự vô nghĩa lý của những cuộc chiến. Vâng thưa bác sĩ, Rừng thẳm là một cuốn sách viết về đề tài chiến tranh. Bà thấy đấy, tôi sinh ra vào thời bình nhưng số phận lại cứ gán ghép vào quá khứ buồn đau của con người. Thì tôi đang đi ngược lại quá khứ đây. Anh đã hứa đưa tôi đi thăm lại những nơi anh đã từng qua, đã từng sống trong suốt cả một phần tuổi trẻ của mình. Rồi anh cũng ép tôi ăn được cốc chè nóng.
Thứ chè mà xưa kia chỉ được phục vụ trong vương triều. Ai nói hậu thế không sướng bằng tiền nhân chứ? Anh muốn tôi nghỉ ngơi trước khi bắt đầu cuộc phiêu lưu. Anh chăm chú tìm khách sạn hạng sang và rất bất ngờ khi tôi cầm tay anh chỉ vào một quán trọ nằm nép bên sông. Con sông nổi tiếng thơ mộng ngàn đời. Nhìn tôi mặc váy đầm sang trọng, guốc cao gót, ví da. Anh ái ngại. Tôi giải thích cho anh là không sao cả. Tôi muốn làm quen với những gì bình thường nhất để bắt đầu cuộc phiêu lưu với anh. Bà chủ nhà chăm chú nhìn hai chúng tôi: một rắn rỏi can trường, một đài các kiêu sa. Chúng tôi là ai? Nhưng tôi vui vẻ cầm chìa khóa lên tìm phòng. Đúng là sơ sài thật. Còn sơ sài hơn cả cái phòng ký túc xá của tôi xưa kia. Chỉ độc có hai chiếc giường đơn. Bốn cái cọc dựng đứng bốn góc giường để giăng màn. Hai cái chậu để dưới gầm giường. Vâng đúng rồi, chỉ có thế, nhưng có vẻ sạch sẽ. Những viên đá hoa lát sàn cũ kỹ mòn vẹt. Cuộc sống xô bồ hiện đại hình như chưa thâm nhập được vào chốn này. Đây chỉ là nơi dành cho khách lỡ độ đường theo đúng nghĩa của nó. Tôi vất túi và nằm ra giường vươn vai dài một cách khoan khoái. Không còn cảm giác chòng chành của con tàu. Không còn phải ý tứ với người ngồi bên cạnh. Đến bây giờ tôi mới cảm thấy thấm mệt. Anh tháo giày và treo áo khoác của tôi lên mắc. Bây giờ anh mới hôn tôi. Nụ hôn của ngàn trùng xa cách. Nụ hôn của sự chờ đợi mỏi mòn. Mỗi lần bên anh bao giờ cũng vậy. Nụ hôn của anh, hơi thở của anh bao giờ cũng như mới, cũng trinh nguyên như buổi ban đầu. Nụ hôn ngọt ngào như dòng nước mát tưới khắp cơ thể đang nóng hổi của tôi. Lại vụng về lóng ngóng như mỗi lần cởi váy áo cho người anh yêu thương. Cả người anh cũng run lên. Dù không nói ra nhưng tôi biết anh đã chờ đợi giây phút này cũng khắc khoải không kém gì tôi. Bàn tay anh nhẹ lướt đi. Cả cơ thể tôi căng lên đón nhận. Tôi ghì chặt khuôn mặt hạnh phúc của anh vào ngực mình. Giữa cặp vú căng tròn trắng như sáp. Anh háo hức tìm kiếm, ngậm chặt đầu vú cương cứng, giờ đã chuyển sang màu quả nho chín sẫm. Rồi trượt dần xuống phía dưới khám phá. Tôi dùng hai tay nâng và kéo khuôn mặt anh lên sát mặt mình. Anh đang khóc, nước mắt chảy dài trên má, rơi vào miệng tôi mặn chát. Tôi cũng thế, hai dòng nước mắt hòa quện vào nhau nhạt nhòa. Chúng tôi cùng khóc thầm trong im lặng. Chỉ còn hai trái tim thổn thức thèm muốn nhau. Hai vòng tay đan xen nhau khép chặt. Khuôn mặt anh khi ấy lại trở nên rạng ngời. Không còn nét khắc khổ của một cán bộ lãnh đạo. Không còn phải giữ gìn ý tứ. Không còn những lời giáo điều mà tôi chắc chắn anh vẫn nói hàng ngày với những người dưới quyền mình. Nhiều khi tôi có cảm giác, anh nói bởi chức phận phải nói chứ cũng chẳng tin gì vào những lời nói ấy. Anh không còn là biểu trưng của khuôn vàng thước ngọc. Không còn những lo toan thường nhật. Không còn sợ hãi người đời... Tất cả như đã trôi trượt lại phía sau. Tôi đưa tay thọc vào mái tóc đã pha sương. Bàn tay tôi xoa nhẹ những nếp nhăn nơi khóe mắt anh. Vào đúng khoảng khắc đó thì tôi chợt hiểu và hiểu rất sâu xa tại sao tôi lại yêu anh đến thế. Tôi muốn kể cho anh nghe nỗi nhớ của tôi, nhưng mọi lời nói giờ đây dường như đều không thể diễn tả được hết và chúng trở nên vô duyên. Còn tôi lại muốn anh kể thêm cho tôi về những địa danh mà chúng tôi sẽ đi thăm tới đây. Nhưng anh nhất định không kể. Anh nói muốn để tôi tự khám phá, tự nhận xét. Công việc của anh chỉ là người đưa đường và giảng giải trực tiếp những câu hỏi của tôi mà thôi. Tối đó, chúng tôi đã nghỉ lại nơi quán trọ ấy. Trời thay đổi, mưa lắc rắc. Đâu đây vẳng tới mùi hương hoa hoàng lan. Mùi hoa không ngạt ngào đằm thắm như hương hoa sữa của Hà Nội, nhưng nó cứ phảng phất day dứt khiến ta nghĩ tới một thời dĩ vãng chia xa. Anh muốn đưa tôi đi thăm cố đô, khu vực thành cổ. Mới hơn tám giờ tối, đường phố đã ít người qua lại. Đây đó vài chiếc xe máy vội vã lao vút trong đêm. Vài ba chiếc xe đạp uể oải dấn bước, chẳng ai để ý đến hai người chúng tôi khoác tay nhau đi. Nếu có thì họ cũng cho đó là một đôi trai gái đưa nhau đi dạo đêm. Đến trước Thành Nội, cả cung lâu đài Hoàng gia im lìm. Cánh cửa khép chặt, lặng im như muôn đời vẫn thế. Cả một Vương triều nước Nam trong hàng thế kỷ mà giờ đây chỉ còn vẻn vẹn thế thôi. Định dừng lại uống cà phê trên một quán nằm ven bờ sông, tiếng nhạc hiu hắt não nề vọng ra nghe ai oán. Tôi kéo tay anh bước đi. Lúc quay lại cầu Tràng Tiền, lên tới giữa cầu, gió bỗng thổi mạnh, làn mưa bụi bay lất phất quất thẳng vào mặt khiến tôi rùng mình. Anh cảm thấy như có lỗi, vì đã chót lôi tôi vào cuộc phiêu lưu này. Tôi cố gắng thanh minh rằng tôi rất hài lòng được theo anh đến đây, và bây giờ phải đi mua đồ chuẩn bị cho ngày mai và những ngày sau đó. Một cửa hàng bán đồ ăn nguội nằm đối diện với khách sạn Century sang trọng vẫn sáng đèn. Chúng tôi rà tới. Có một đám người ngoại quốc, mà nghe qua giọng nói, tôi biết ngay là người Pháp. Họ còn trẻ, dáng vẻ nhanh nhẹn năng động. Tôi thấy bị thu hút bởi câu chuyện của họ, nên để anh vào mua. Quay mặt ra sông, tôi nghe thấy họ nói về một cuộc thăm dò quặng trong vùng sơn cước miền Trung, và họ sẽ khởi hành rất sớm vào ngày mai. Anh hớn hở xách một túi đồ căng phồng từ cửa hiệu bước ra. Chúng tôi đi về phòng trọ. Đến bây giờ tôi mới mệt thực sự. Bà thấy đấy, với hơn mười tiếng máy bay và mười hai giờ tàu hỏa, chúng khiến tôi mệt rũ, lại đành lười nhác để anh cởi đồ cho mình. Anh âu yếm vuốt ve đôi gót chân son, bắp chân mượt mà đã lâu không biết đến mùi sương gió. Anh xót xa trước dáng vẻ bơ phờ của tôi, dáng vẻ thướt tha chỉ quen những tiệc tùng đón tiếp sang trọng. Rồi tôi cũng chìm vào giấc ngủ trên cánh tay rắn chắc của anh. Tiếng cà tặc khi gần khi xa đã khiến tôi tỉnh giấc, và kéo tôi ra phía cửa sổ quan sát, tìm kiếm xem nó từ đầu tới. Nhìn đồng hồ, khi ấy mới hơn năm giờ sáng, đằng đông mới chỉ le lói vài ba tia sáng. Trên mặt sông, từng dãy thuyền nan độc mộc đang quăng lưới, một người ngồi ở đầu thuyền, cầm mảnh tre nhỏ gõ lên mạn thuyền, và chính những tiếng động ấy đã lôi tôi ra khỏi giác ngủ. Không khí buổi sớm se lạnh, tôi đưa tay kéo đóng cánh cửa sổ lại. Quay vào, nhìn anh nằm ngủ, giấc ngủ có lẽ còn mệt nhọc. Không biết anh mơ những gì mà môi anh mím chặt, bàn tay đưa ngang chém gió, rồi lại nắm chặt, đập thình thịch xuống giường. Tôi se sẽ ngồi xuống bên cạnh, gỡ nắm tay anh ra. Người tôi yêu sau đó lại chìm vào giấc ngủ yên tĩnh, còn tôi thì không. Giấc ngủ ngon và sâu đã khiến tôi lại sức. Tôi cảm thấy khoẻ khoắn và dám quả quyết rằng sẽ có thể theo anh leo qua bảy quả đồi, chín con suối và uống nước trong các ống bương... Tôi giở những quần áo đường trường ra, chúng gồm hai chiếc quần bò, hai đôi giầy thể thao, mũ và áo sơ mi vải thô dài tay, ba lô nhiều túi có thể đựng được tất cả những thứ nho nhỏ cần thiết. Tôi thay đồ, miệng lẩm nhẩm hát bài hát của Marc Lavoine mà các con tôi rất thích: Raconte moi ce nom étrange et difficile à prononcer. Que je porte depuis que je suis née. Raconte moi le vieil empire et le trait de mes yeux brûlés, Qui disent mieux que moi ce que tu n’oses dire Je ne sais de toi que des images de la guerre, Un film de Coppola, et des hélicoptères en colère. Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à ton âme Un jour, j’irai là bas pour te dire bonjour, Vietnam. Raconte moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds, Qui me portent depuis que je suis néeRaconte moi ta maison, ta rue, racontes moi cet inconnu, Les marchés flottants et les sampans de boisJe ne connais de mon pays que des photos de la guerre, Un film de Coppola, et des hélicoptères en colère- Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme Un jour, j’irai là bas pour te dire bonjour, Vietnam. Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères, Les femmes courbées dans les rizières pour mes mères, Dans la prière, dans la lumière, revoir mes frères, Toucher mon âme, mes racines, ma terre- Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme. Un jour, j'irai là bas pour te dire bonjour, Vietnam. Un jour, j’irai là bas pour te dire bonjour, Vietnam[*]. Tôi hát quá đỗi say sưa mà không hề nghe tiếng anh thức dậy, cũng đã kịp mặc quần áo. Anh ngỡ ngàng nhận ra sự thay đổi nơi tôi so với ngày hôm trước và có vẻ tin tưởng hơn vào
[*] Hãy kể cho tôi nghe về cái tên xa lạ và khó phát âm, mà tôi đã mang từ thủa mới chào đời. Hãy kể cho tôi nghe về vương triều xưa, về đường nét cặp mắt xếch của tôi, những điều nói rõ hơn tôi về những gì người không dám thổ lộ. Tôi chỉ biết về Người qua hình ảnh của chiến tranh, một bộ phim của Copola và những chiếc trực thăng cuồng nộ. Một ngày rồi đây tôi sẽ đi đến đó, một ngày rồi đây để nói chào hồn Người. Một ngày rồi đây, tôi sẽ đi đến đó, để nói lời chào Người, Việt Nam ơi. Hãy kể cho tôi nghe về màu da, về mái tóc và đôi chân bé nhỏ của tôi, chúng đã đưa tôi đi từ thủa tôi chào đời. Hãy kể cho tôi nghe về ngôi nhà, về đường phố của Người, hãy kể cho tôi nghe về con người xa lạ kia. Những khu chợ nổi, những chiếc xuồng tam bản gỗ. Tôi biết về đất nước mình chỉ qua những hình ảnh chiến tranh, qua một bộ phim của Copola và những chiếc trực thăng cuồng nộ. Một ngày rồi đây, tôi sẽ đi đến đó, một ngày rồi đây để nói chào hôn tôi. Một ngày rồi đây, tôi sẽ đi đến đó, để nói chào Người, Việt Nam ơi. Tôi sẽ coi những đình chùa, những tượng phật bằng đá là những người cha của tôi. Tôi coi những người phụ nữ đang còng lưng dưới những cánh đồng là những người mẹ của tôi. Trong lời cầu nguyện, trong ánh sáng, gặp lại những người anh của tôi những lời tôi cam kết sẽ đi theo anh đến tận nơi nào anh muốn: Quần bò, áo sơ mi buông trong quần có thắt lưng cẩn thận, giày thể thao đen, bình tông nước đeo lủng lẳng bên túi ba lô... Anh hỏi tôi sao lại biết chuẩn bị những thứ ấy. Tôi trả lời đã xem quá nhiều những bộ phim về chiến tranh, vả lại, bên châu Âu, tôi tháng nào mà chẳng đi du lịch, len lỏi vào những khu mà ta có cảm giác như chưa có chân người bước đến, nhờ sự bảo tồn thiên nhiên của các đất nước phát triển. Tôi thật sự sung sướng khi nghe anh nói rằng mỗi ngày ở bên tôi anh lại phát hiện ra điều mới lạ. Thật là một lời cỗ vũ phải không bà! Tôi dám chắc rằng anh nói vậy không phải để nịnh tôi đâu, và cố gắng là điều tôi thực hiện mỗi ngày, trong mọi lĩnh vực để thích nghi với cuộc sống nhanh nhạy của phương Tây, hơn ai hết, bà hiểu rõ điều này. Ăn sáng qua loa và chúng tôi lên đường. Chuyến xe buýt 326 đưa chúng tôi chạy vùn vụt qua các lăng Tự Đức, Minh Mạng, chùa Từ Hiếu, Báo Quốc... vượt qua trước núi Ngự Bình lác đác đó đây vài cây thông còm cõi đứng trơ vơ phát ra những âm thanh nghe ai oán, rồi thả chúng tôi xuống bến cuối cùng nằm ở vùng ngoại ô xa tít tắp của thành phố cổ kính. Từ đây, chúng tôi phải đi bộ, vì không có xe nào chạy lên tuyến ấy. Cũng chẳng có xe ôm nào dám chạy, vì đường khúc khuỷu và vắng bóng người. Người ta còn đồn nơi đó nhiều ma lắm. Ma hiện ra trêu người giữa ban ngày, dưới những hình thù kỳ dị khi tha thướt trong các bộ áo dài màu tím, lúc lại sần sùi như người mắc bệnh phong, khi lại giống như cả một đoàn quân đi rầm rập làm rung động cả núi đồi... Còn tôi thì chẳng tin có ma, ham muốn khám phá tìm tòi khiến tôi hăm hở giục anh bước đi. Anh chần chừ, bỗng cúi sát tai xuống nền đường nghe ngóng, rồi bảo tôi cố gắng đợi vài phút. Quả thật, ít phút sau, có một chiếc xe trâu dõng dạc đi tới. Trên xe là một người đàn ông trung niên, nước da đen nhẻm, khuôn mặt xương xẩu, hai gò má nhô cao, nhưng cặp mắt sáng nhanh nhẹn. Chẳng biết bằng cách nào mà NV . chuyển sang nói tiếng Huế khiến tôi tròn mắt nhìn anh. Anh còn nói một thứ tiếng gì đó nữa khiến tôi căng tai mà cũng chẳng hiểu được. Chỉ thấy ông chủ chiếc xe nhanh nhảu dọn chỗ và ra hiệu cho chúng tôi trèo lên xe. Chiếc xe ngúc ngắc lăn đi. Con đường đúng là gồ ghề thật và đầy rễ cây ăn lan qua hai bên khiến chiếc xe trâu vốn lọc cọc giờ lại xóc tưng tưng. Anh bắt chuyện với người đàn ông nọ. Giở tấm bản đồ cho người ấy xem, họ hý hoáy chỉ chỉ vạch vạch, NV . lấy bút chì khoanh từng ô vuông, đánh dấu từng ngã ba, từng hốc đá. Còn tôi quay ra ngắm phong cảnh. Những thân cây cao vút, cành lá chi chít ngăn không cho ánh sáng lọt xuống, khiến tầng dưới rừng trở nên ẩm thấp, các loài cây leo thi nhau mọc san sát. Bò lan dưới mặt đất hay vắt vẻo trên những thân cây cao, rồi hững hờ buông xuống, mỗi khi có cơn gió thoảng qua, chúng lại chao đảo lượn lờ như các loài rong biển. Cả không gian đặc quện hơi nước khiến tôi nhớ đến một cánh đồng nổi trồng rau quả ở đất nước In-đô-nê-xi-a mà tôi có dịp viếng thăm. Muốn đi tới đó thì không có cách nào khác là phải dùng xuồng. Cả cánh đồng bồng bềnh trên mặt nước. Ớ đó khắp nơi đều là nước, cả một vùng xa tít tắp không nhìn thấy bờ, không cả cánh chim lẩn khuất ở đường chân trời. Không biết bằng cách nào đó từ xa xưa mà người ta đổ được lớp đất dày và trồng rất nhiều dưa chuột, cà chua thậm chí cả khoai tây và ngô, đỗ, lạc... Trẻ con thì khỏi nói, mình trần như nhộng, chúng trườn lên xuống xuồng giỏi như những con rái cá. Và còn chơi trò trôn tìm đuổi bắt nhau bên dưới những cánh đồng. Chúng thoắt cái biến mất rồi bất ngờ hiện ngay ra sau lưng bạn như một con ma chơi, người ngợm tai tóc ướt sũng. Khi đói, chúng trèo lên trên đồng và vặt những quả cây ăn ngon lành như loài khỉ. Không, tôi không thấy chúng bị ốm. Tôi đã sống ở đó hai tuần liền. Hai tuần xa hẳn với thế giới văn minh hiện đại. Ở đó không có điện, không điện thoại điện tín, không ti vi và báo chí. Con người chia sẻ với nhau những mồi lửa, từng nắm củi khô, từng hạt gạo cuối cùng. Những ngôi nhà tranh, gió tự do qua lại cả bốn mùa, chẳng có cửa rả gì hết. Tuần một lần, một chiếc xuồng máy chở đến tất cả các loài thực phẩm cần thiết như gạo muôi, dầu hỏa, quần áo và thuốc thang. Khi quay vào thì người ta lại chất lên mình nó đầy các sản phẩm của cánh đồng và của nước. Những con cá hàng chục ký quẫy trong các thùng to tướng, những đống dưa chuột, cà chua, đậu xanh... tươi nguyên không hề có các chất độc hại mà người ta, ở những nơi khác, thường bơm vào để bảo quản. Đến ngày thứ tám, đúng ngày con xuồng máy ghé bến, tôi nhận được một bức điện tín, ban biên tập nhắc tôi gửi bài về. Nhưng tôi thật chẳng biết viết gì, mà viết thì cũng đồng nghĩa phản bội lại những con người đáng yêu kia. Trước khi được thâm nhập vào đây, tôi đã phải thề sẽ không được đem bất kỳ bí mật nào của họ ra ngoài. Những đêm hội, những tục lệ làng, những mối quan hệ trai gái đến tuổi thành niên hay vị thanh niên, hay chính cả câu chuyện, mà thoạt nghe cứ như là truyền thuyết, về tộc người ấy. Tôi đã gặp những thiếu niên mồ côi buồn bã. Một cậu tên Khamalium đã gây cho tôi rất nhiều ấn tượng. Cậu đã đến tuổi bắt bạn gái, nhưng do mồ côi nên không ai đứng ra bảo lãnh cho. Không ai dám giúp cậu đặt cây cọc đầu tiên để dựng lều. Nhìn người yêu mình bị người khác bắt mất, cậu thề sẽ đi khỏi nơi đây, sẽ nhảy lên một con xuồng máy nào cặp bến sớm nhất. Nói như vậy, có nghĩa cậu đã quyết định bỏ làng, bỏ tộc người của mình... Tôi đã được họ đón tiếp nồng nhiệt, được họ dành cho ngôi nhà tinh tươm nhất, cho tôi ăn những bát cơm trắng nhất. Nấu cho tôi những món ăn mà lần đầu tiên trong đời tới được nếm thử và tôi chắc sẽ còn nhở rất lâu hương vị của nó. Những chất gia vị mà họ chế vào trong món ăn đều đến trực tiếp từ những khu vườn ngoài kia, loại nào cũng chỉ giông giống như củ riềng, như nghệ, như hành... những món ăn tôi cảm thấy còn ngon hơn cả trong những nhà hàng năm sao ở Paris hay Luân Đôn... NV . quay sang đập nhẹ vào cánh tay khiến tôi thoát ra khỏi những hoài niệm. Anh chỉ cho tôi thấy những con khỉ đang vắt vẻo chuyền từ cành cây này sang cành cây khác. Những con khỉ mẹ dịu con, cũng thành thục như những người đàn bà dân tộc Thái. Chúng vừa nhảy vừa trêu chọc nhau phát ra những tiếng kêu eng éc, khèng khẹc chí chóe, con nọ nhảy đập vào con kia. Bỗng tôi thấy chúng đồng loạt rú lên và nép mình sau những nhánh cây và đứng bất động, ba mươi giây sau, lại đến lượt tôi sững sờ ôm chặt cánh tay NV . Bà hình dung ra không, một con trăn gió dài đến chục mét đang lăng mình trên lưng chừng những thân cây, phát ra những tiếng rít, còn kinh hoàng hơn cả gió, những cành cây non đổ rạp trên đường nó đi qua. Anh ra hiệu cho tôi im lặng. Con trâu chắc cũng quá quen với cảnh này, bởi tôi thấy nó đứng im như tượng sau mấy cái ngoắc dây chão của ông chủ nó. Chỉ một phút sau, con trăn khổng lồ ấy đã biến mất trong khu rừng rậm như chưa hề xuất hiện. Lũ khỉ lại sôi động, con trâu lại cất bước kéo theo chiếc xe lọc cọc mà bây giờ tôi đã quen với âm thanh ấy. Chiếc xe cứ lăn như thế chừng bốn tiếng đồng hồ. Mặt trời đã bắt đầu ngả về phía tây. Trước mặt chúng tôi là một ngã ba. Rừng lúc này có vẻ như thưa hơn, khiến tầm nhìn của tôi được bao quát hơn. Tôi thấy người chủ xe nói gì đó với NV . và đưa tay chỉ về phía bắc. Theo hướng anh ta chỉ, tôi nhìn thấy thấp thoáng giữa những đám lá ngút ngàn vài mái nhà bám treo leo trên các sườn núi. NV . nói tôi xuống xe, và giải thích từ đây, chúng tôi phải đi bộ, rằng người chủ xe trâu phải rẽ lối khác để về bản, nơi mà anh còn phải đi thêm chừng ba giờ đồng hồ nữa. Tôi tròn mắt. Bản của anh ta nằm ở kia, tôi tưởng chừng chỉ đi mười lăm phút nữa là tới, vậy cớ gì anh ta phải dùng những ba giờ. Nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn chìa tay ra bắt và nói lời cám ơn. Người chủ xe trâu lúng túng, bối rối đưa mắt cầu cứu NV ., anh nói gì đó và anh ta rụt rè đưa tay ra nắm chặt tay tôi, rồi đặt cả hai tay lên ngực mình. NV . giải thích đó là cử chỉ chứng tỏ rằng anh ta rất ngưỡng mộ em, rằng nếu có dịp mình đến nhà anh ta chơi thì họ sẽ đón tiếp chúng ta rất nồng nhiệt... Tôi cũng đặt cả hai tay lên ngực mình và gật gật đầu. Con người tốt bụng leo lên xe, đưa tay vẫy chúng tôi lần cuối và thúc trâu bước đi. Chúng tôi đợi họ mất hút sau con đường mòn rồi NV . giỏ tấm bản đồ anh đem theo, nhìn vào đó rồi lại khoát tay chỉ vào cánh rừng bạt ngàn, còn tôi thì cứ gật gật, ra chiều hiểu biết, nhưng thực ra, vận mệnh tôi giờ đây phụ thuộc cả vào anh. Y tưởng về bộ phim Nguời rừng với các diễn viên, như Vũ Đình Thân, Trọng Trinh và Ngọc Bích... mà tôi rất hâm mộ chợt thoảng qua đầu. Và tôi cố gắng xua đuổi ý nghĩ đó đi thật nhanh. NV . sẽ chẳng bao giờ bỏ rơi tôi giữa chốn âm u cô tịch này. Anh nhắc tôi phải lên đường để tới được nơi đó trước khi trời tối. Càng đi lên cao, cây rừng càng thưa và đôi chỗ khiến ta mường tượng đến những khu đồi trọc. Những bông hoa vàng nở triền miên. Nhìn từ xa, chúng rực rỡ như những đám nắng. Phải rồi, đó là một vùng núi trập trùng, nơi có những quả đồi lúp súp, thấp thoáng những cây hoa sim tím, những cây mua trắng xóa. Anh đưa tôi quay lại những nơi anh đã từng đặt chân đến. Nơi đó có một dòng suối, có chỗ chảy xiết biến thành sông, mà anh kể đã từng có rất nhiều máu của những đồng đội anh đã ngã xuống. Có lần anh còn kể có người đã bị địch bắt, chúng giết chết rồi xẻ thịt anh ấy ném xuống sông, từng đàn cá nhảy lên nhao nhao đớp mồi. Chúng đã quá quen với những loại thức ăn kiểu ấy. Kể từ lần đó, tôi không còn dám ăn cá nữa bà ạ. Tôi tưởng tượng chúng có sừng, hai mắt đỏ rực, răng lỏm chởm và mình đầy lông lá. Khi lội qua một con sông nhỏ. Tôi bỗng thấy mặt anh trầm tư. Anh đảo mắt như kiếm tìm một thứ gì rồi gọi tôi đến. Anh chỉ cho tôi một phiến đá, có khắc những dòng chữ nhỏ li ti. Tôi ngồi xuống, anh múc nước dưới lòng sông rửa cho sạch bụi đất bám trên đó. Tôi nhẩm đọc thấy hàng chữ: Nơi đây, ngày... tháng... năm 1973, nhóm đồng đội năm người là... đã ở đây. Tôi hỏi anh bốn người còn lại giờ ở đâu? Anh đưa mắt nhìn lên những quả đồi đang lộng gió rồi thì thầm như nói với chính mình điều gì và tôi nghe không rõ lắm. Những tiếng u u âm âm của vùng núi này khiến tôi nhớ đến hồi đi thăm lăng mộ ở Ai Cập. Khi vào bên trong, gió cũng thổi và ta cũng nghe thấy những âm thanh như thế. Người hướng dẫn du lịch khẳng khiu, cao lênh khênh đã kể cho chúng tôi nghe biết bao huyền thoại của đế chế Ai Cập cổ đại, về những Kim tự tháp. Mỗi hầm mộ, mỗi nấm mồ là cả một câu chuyện dài. về nàng Cleopatra xinh đẹp, kiêu kỳ nhưng đa tình và yêu hết lòng. Họ kể cho chúng tôi nghe về những mối tình say đắm của nàng với các người tình Hoàng đế của mình. Người đàn bà sống cách chúng ta hàng mây ngàn năm. Nàng có tất cả. Tú thông minh, quyền lực, sắc đẹp để rồi cuối cùng vẫn chết cho tình yêu. Ôi, chuyện thì dài vô cùng và đã có biết bao những trang sách, bao đời các văn sĩ đã tốn rất nhiều giấy mực để ca ngợi nàng. Đêm đó, chúng tôi đã cắm trại và ngủ bên dòng sông, mà kể từ đấy tôi đã đặt cho cái tên thân thương: Dòng sông của anh. Tôi yêu tất cả những gì anh trân trọng. Cũng như tôi yêu tất cả những tấm huân huy chương của mẹ. Mặc dù tôi cũng chẳng cảm thấy gì ngoài vẻ lành lạnh của kim loại và những màu sắc đã bạc đi theo thời gian. Nhưng thỉnh thoảng khi nhìn mẹ lấy các hợp chất pha vào nhau để đánh rửa chúng thì tôi lại muốn gắn chặt chúng vào tim mình. Dòng sông của anh xưa đã nhuốm bao máu đồng đội anh và thậm chí cả máu của anh nữa, nhưng nó cũng là hàng rào cản những trận càn của địch. Tôi cúi xuống vốc nước rửa mặt. Dòng nước mát lành khiến tôi cảm thấy sảng khoái hẳn. Tôi khâm phục cách anh nhóm lửa. Chỉ bằng một chút cỏ khô, và những cành củi mà tôi gom ở xung quanh, anh đã đốt lên một đám lửa nhỏ. Anh bảo phải nhóm cạnh triền sông như thế, vì nếu có gió mạnh thì có thể vục nước lên tắt ngay để tránh xảy ra cháy rừng. Tôi muốn anh mắc võng cho tôi ngủ. Tôi muốn thử cái cảm giác chênh vênh khi nằm trên đó. Những vì tinh tú lắc lư theo nhịp võng của tôi, tiếng sột soạt của võng bạt. Bên cạnh, võng của anh vẫn đung đưa. Anh không ngủ và tôi chợt nhìn thấy một đốm lửa lóe lên và ngửi thấy mùi thuốc lá. Tôi vụt ngồi dậy. NV . của tôi đã bỏ thuốc từ lâu, và hình như đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến anh hút thuốc. Và anh biết rất rõ là tôi không thích mùi thuốc lá, tại sao anh lại... Tôi đi sang võng anh, với Ý định cho anh một trận. Nhưng cả khi tôi đứng trước mặt anh rồi, anh vẫn như không thấy tôi. Bộ dạng anh lúc ấy như bị ma ám bà ạ. Và hút thuốc một cách máy móc. Lúc ấy, tôi không còn là khoảng trời, không còn là vũ trụ của anh nữa. Rụt rè, tôi đi lại võng mình và nằm xuống. Tôi thật là một con bé thiểu năng suy nghĩ phải không bà. Tôi thấy xấu hổ vì sự quê kệch của mình, tôi thấy mình hàm hồ, nhỏ nhen biết bao trước anh và những người đồng đội của anh. Cứ miên man như thế, tôi úp mặt lên mảnh vải dù, khóc lúc nào mà không biết. Anh đến bên lay gọi, an ủi và xin lỗi tôi, vì vẫn cứ nghĩ tôi giận dỗi như thường nhật, khi cho rằng anh không quan tâm tới mình. Cả không gian chìm trong tĩnh lặng, nếu không thì chỉ có tiếng loạt soạt của bầy thú rừng đi ăn đêm, những con chim ngủ quên giật mình vỗ cánh. Tiếng cá nhảy đùa trăng dưới sông, một vì sao bay loáng qua bầu trời. Tôi nhắm mắt cầu cho ước nguyện của anh được thực hiện, rằng anh sẽ tìm thấy nơi những người đồng đội của anh đang an nghỉ, thắp lên đó những nén nhang như một lời xin lỗi vì đã bỏ quên họ hơn ba mươi năm nay. Tôi bất chợt chạnh lòng khi nghĩ tới Paris, tới những con đường rực rỡ ánh đèn với vô vàn cửa hàng sang trọng như Louis-Vouton, Christan Dior, Yves Saint Laurent.... Đến đại lộ Champs- Elysée đẹp nhất thế giới lối thẳng tắp từ Khải Hoàn Môn đến quảng trường Concorde, niềm tự hào của người dân thủ đô Pháp. Tôi thấy nhớ dòng sông Seine và vô vàn những chiếc cầu bắc ngang qua. Tôi nhớ các quầy bán sách cũ nằm trên các kè dọc bờ sông, những ông chủ hiệu sách nói say sưa về mỗi cuốn sách của họ. Những quầy sách đó như một phần không thể thiếu của đời sống tinh thần người dân Paris mà Tòa thị chính hàng năm đã chi ra những số tiền không nhỏ để duy trì chúng. Tôi thấy nhớ những khoảnh khắc đạp xe tản bộ trên kè sông. Những con tàu mouse lững lờ trôi. Vườn hoa Tuillerie với những bức tượng khỏa thân của Maillol đứng hiên ngang thách đố mưa gió. Tôi thấy nhớ nhà hát Opéra bề thế, thấy nhớ nhà hát Comédie Française, nơi Molière đã diễn vở cuối cùng của đời mình trước khi chết cùng nhân vật trên sàn diễn. Tại đó đã tái hiện lại biết bao cảnh sông của Triều đình Pháp, biết bao các truyền thống lâu đời của một dân tộc luôn tự hào về mình mà rốt cuộc sự toàn cầu hóa cũng đang lấy mất dần đi của họ những di sản phi vật thể ấy. Tôi cũng thấy nhớ lâu đài hoàng gia Versailles, nơi tôi có người bạn là nữ giám đốc, nên tôi có thể tự do đến đó lúc nào muốn, chỉ cần gọi một cú điện thoại. Tôi nhớ lần đó, không hiểu bạn tôi có chuyện gì cần tâm sự. Chị gọi cho tôi vào tầm mười bốn giờ chiều và hẹn tôi đó đến lâu đài, chị sê đưa tôi đi thăm khắp tổng thể, vào cả những nơi mà dân thường không được phép đến. Tối đó, chị đã đưa tôi đi thăm tất cả các ngóc ngách, các lối thoát bí mật, các phòng khách lộng lẫy với những bức tranh tường có từ thế kỷ mười bảy, các đèn chùm cầu kỳ bằng pha lê tỏa ra muôn màu sắc, phòng ăn lạnh lẽo của các vị Vua.