Những hồi trống tiếng chiêng vang lên làm náo động cả một khu nhà cao tầng. Tiêng sáo vi vu, véo von, lảnh lót lúc gần lúc xa, khi ẩn khi hiện. Điệu múa hoa mượt mà đằm thắm của các cô gái Huế. Cả sân khấu, chìm ngập dưới thứ ánh sáng như mờ như ảo, cả một dòng sông Hương hiện ra, những đoá hoa trở thành những cây nến trôi mê mải dưới lòng sông, từng đoàn thuyền đánh cá dập dờn thấp thoáng xa xa, rồi bỗng nhiên tất cả im lặng, nhạc hiệu nổi lên, nhà Vua bước đến, kéo theo tất cả triều thần của ngài cùng các cung tần mỹ nữ, ăn mặc xa hoa diêm dúa. Tôi nhớ ra rồi, sau buổi diễn, đến phần giao lưu với các khán giả xa xứ, tôi nhận ra bởi cậu có một nốt ruồi đen phía dưới đuôi mắt trái. Người ta nói đó là nốt ruồi đón lệ, người này chắc đa tình và đa đoan lắm. Nhưng hôm đó, cậu chỉ nở nụ cười ngượng ngịu mỗi khi có ai đó hỏi tởi. Thấy tôi cứ đứng mãi ngắm bức ảnh, Hùng đi đến bên nói: “Đó là Tân, con trai tôi. Cháu vừa tốt nghiệp Nhạc viện Hà Nội, đang chuẩn bị đi biểu diễn tại Luân Đôn vào tháng tới. Chắc nay mai cháu sẽ ghé thăm nhà”. Tôi chỉ vào tấm ảnh với trang phục biểu diễn nhạc Cung đình. Không ngần ngại, Hùng kể lại cho tôi nghe rằng ngay từ hồi bé, Tân đã có vẻ rất có khiếu về âm nhạc, và gia đình đã gửi cậu ra Huế để theo học thứ nhạc này. Cậu học say mê nên tiến bộ rất nhanh, giờ thì cậu đã có thể chơi được chừng gần hai chục thứ nhạc cụ khác nhau. Cả đàn dân tộc như đàn bầu, đàn tranh lẫn các nhạc cụ khác như dương cầm, vĩ cầm... Hùng còn kể sau nhạc Cung đình và cồng chiêng Tây Nguyên được tổ chức Unesco công nhận là Di sản phi vật thể của nhân loại thì giờ chính cậu đang soạn thảo hồ sơ đề nghị họ chấp nhận Ca trù Việt Nam. Hùng nói say sưa về cậu con trai mình, như thể cả vũ trụ này chỉ tập trung hết vào cậu. Những vết sẹo cũng đỏ rực, sẫm lại, chúng như phồng rộp lên dưới ánh lửa. Bỗng anh quay sang N. V. thì thầm điều gì đó vào tai anh rồi cầm tay anh kéo đi. Người phiên dịch cùng nhóm người cứ ngẩn ngơ hoài, đi hết từ những ngạc nhiên này qua ngạc nhiên khác, họ hình như đang lưỡng lự trước khi muốn xếp mình vào thời đại nào của loài người. Tôi quay sang nói chuyện với Jean-Jacques, nhắc anh bảo các bạn hãy lấy đồ ăn đem theo dùng bữa tối. Tôi lại nói với anh ta về dòng nhạc Cung đình. Không ngờ anh ta cũng đã tìm hiểu rất sâu rộng về chủ đề này và thế là chúng tôi say sưa nói với nhau, thời gian qua đi lúc nào không hay. Anh hỏi tôi nhiều về hai con người bí ẩn, về những bức xúc của họ... Nhưng trước ánh mắt tha thiết muốn tìm hiểu của anh, tôi chỉ biết nín thinh lắc đầu từ chối, bởi chính tôi cũng chằng hiểu gì cả. Đêm đó, trời lặng gió, cả rừng cây im phăng phắc, đứng thẳng tắp nghiêm trang như những người lính sắp xung trận. Chừng ba tiếng sau thì N. V. và Hùng trở về, kéo theo một người đàn ông khác cùng độ tuổi với họ. Một bên ống quần anh phất phơ trong gió, tay chống nạng. Mỗi bước đi của anh như đóng sâu lên vỏ địa cầu một con dấu. Những tiếng lịch bịch phát ra lạnh lẽo trong đêm vắng giữa vùng sơn cước. Cả ba người ngồi quây quần bên bếp lửa bập bùng. Người đàn bà dân tộc, vợ của Hùng đã kín đáo vác vào rất nhiều những cây củi to đặt bên cạnh bếp. Có lẽ bà hiểu rằng đêm nay, nhà bà sẽ cần nhiều những cây củi, rằng đêm nay sẽ là một đêm trọng đại đối với chồng bà. Cả đám người trong đoàn thám hiểm chắc đã thấm mệt, họ trải bạt và dọn chỗ nằm, người phiên dịch cũng tự tìm cho mình một chỗ nho nhỏ để qua đêm. Jean-Jacques lấy ra một cuốn sách ngồi đọc trong ánh sáng lửa nhấp nhoáng. Tôi cũng thế, lôi trong túi mình ra cuốn Những con người của thời Trung cổ được viết bằng tiếng Pháp (Ces gens de Moyen Age). Nhưng những dòng chữ cứ theo nhau trượt đi. Tôi cứ giỏng tai nghe xem ba người đàn ông kia nói với nhau những gì. Như đoán được, N. V. liền gọi tôi lại. Anh giới thiệu tôi với nhân vật thứ ba. Quay sang tôi, anh nói: “Đây chính là người thứ ba trong số năm người mà em đã đọc thấy tên được khắc trên phiến đá mà ta đã gặp mấy hôm trước bên dòng sông”. A, ra vậy, tôi lí nhí chào anh. Bà hình dung nổi sự ngạc nhiên sững sờ của tôi không? Có mây ngày thôi mà bao nhiêu chuyện đã dồn dập xảy đến. Chúng tôi ra đi với ý định tìm lại đồng đội của anh dưới một hình hài khác thì đây, một nửa trong số đó đang ngồi trước mặt chúng tôi bằng xương bằng thịt, dẫu rằng họ chẳng còn nguyên vẹn. Thấy hai người kia có vẻ giữ kẽ, tôi ý tứ đưa mắt nhìn N. V. thì anh nói, như thể dể cho cả hai người kia nghe thấy: “Em cứ ngồi lại đây, anh muốn em nghe và chứng kiến tất cả những gì bọn anh đã sống và trải qua...”. Quay sang hai người bạn: “Hãy coi H. như tôi vậy. Chính H. là người đã khởi xướng ra chuyến đi này để cho phép chúng ta hội tụ với nhau!”. Thế là tôi ngồi lại đó, nghe hết, cảm nhận được hết tất cả những nỗi niềm, những xúc động của những người lính già. Những cảnh tượng mà thoạt nghe tôi cứ tưởng là chuyện xảy ra trên kịch trường, tiểu thuyết hay phim ảnh. Đầu tiên là chuyện của Hùng, Anh kể: Trận oanh tạc trưa hôm đó khiến hầm cứu thương của anh bị sập. Anh chẳng còn biết gì khi nghe thấy một tiếng nổ vang trời và đất đá bay rào rào. Chỉ vào khoảng một tuần sau hay hơn thế nữa, khi mở mắt dậy, anh thấy bên cạnh mình là một ông lão già người dân tộc. Ông ta nói với anh bằng một thứ tiếng Việt ngòng ngọng, nhưng cũng khiến anh hiểu được rằng ông đã tìm thấy anh bất tỉnh bên cạnh một rãnh nước. Cả chiến trường, lán trại đã được đạn bom san bằng. Bây giờ nếu ai đó bắt anh kể lại là làm thế nào để anh có thể chui ra được khỏi hầm và bò đến bên rãnh nước thì anh cũng đành chịu chết không thể tả ra được. Trên người anh khi ấy đầy vết đạn, vết thương. Những lớp mủ vàng chất đầy, những vết thương đã bốc mùi và có chỗ còn lúc nhúc những con ký sinh lạ. Ông già đem anh về và chăm sóc bằng một bí quyết mà chỉ ông mới có được. Ngày qua ngày, vết thương dần lành lại, và chỉ ba tháng sau anh mới nhúc nhắc đi được, và hàng năm trời sau anh mới hồi sức. Trên mình anh đầy rẫy những vết sẹo ngang dọc. Anh hòa nhập dần với cuộc sống cộng đồng, đi nương phát rẫy trồng tỉa, gieo hạt... Đặt bẫy bắt thú, học tiếng của người dân bản địa. Leo núi nhanh chẳng khác gì một con dê rừng. Một hôm, trong một lần đi rẫy phát cây cùng ông già, khi chỉ còn lại hai người, ông nói... Những câu nói của ông khiến anh nhớ mãi cho đến tận bây giờ: “Ta không biết con là người của bên nào, bên Cộng sản hay bên Cộng hòa. Ta cứu con là cứu người. Ta cũng chẳng nói chuyện về con cho bất cứ ai trong bản này. Vì ta là Trưởng bản, khi ta không nói thì họ cũng không hỏi. Cũng như con không nói thì ta cũng không hỏi con quê quán ở đâu, tuổi bao nhiêu... Nay ta có đứa con gái đến tuổi gả chồng, ta thấy con tốt tính, chịu khó, ta muốn gả nó cho con, con tính sao?”. Con gái ông, A Lưới chỉ vừa qua tuổi trăng tròn, mũm mĩm. Cô không xinh nhưng cặp má hồng và ánh mắt lúng liếng của con gái vùng sơn cước đôi lúc cũng khiến anh nao nao. Những lần anh dạy cô học tiếng Kinh, cô hay cố ngồi sát vào anh, những va chạm thể xác đôi khi khiến anh cũng thinh thích! Đôi lần anh đã muốn ghì chặt lấy cô, cắn lên đôi má hồng hồng như trái đào vừa chín kia, xoa lên cặp vú đang thời xuân sắc cứ thấy lẩy, căng tròn dưới làn yếm! Nhưng lương tâm của người lính cụ Hồ không cho phép anh sa ngã. Vả lại, đến lúc này anh mới thú thật với ông già Trưởng bản. Anh kể cho ông nghe rằng quê anh nằm bên dòng sông cầu. Vùng đất Kinh Bắc nổi tiếng với những câu ca quan họ. Có những hội làng vào những đêm trăng sáng, liền anh liền chị thay nhau trổ tài xưởng những câu ca tình tứ, và có rất nhiều đôi lứa đã nên vợ nên chồng qua những buổi hội làng đó. Anh cũng không giấu ông rằng tại vùng quê ấy, anh có một gia đình gồm cha mẹ và một người em trai nữa kém anh hai tuổi. Và nhất là anh đã có một người vợ trẻ, giờ chắc vẫn đang vò võ đợi anh về. Họ cưới nhau có hai tuần trước khi anh nhận lệnh lên đường Nam tiến! Và khi đó, cô ấy chỉ bằng tuổi con gái ông bây giờ. Anh cũng mong ông hiểu cho rằng anh không muốn lạm dụng lòng tốt của ông và bản làng mãi, rằng đã đến lúc anh quay lại tìm đơn vị của mình... Ông già trầm ngâm rất lâu, nhưng nhìn thái độ cương quyết của người lính cụ Hồ mà chỉ cho đến tận lúc này ông mới khám phá ra danh tánh, ông lên tiếng: “Ta thật vô tình không nhận biết được trong tâm tư của con lại có nhiều uẩn khúc như vậy. Là bộ đội cụ Hồ, con phải thực hiện đúng với nghĩa vụ và trọng trách của mình, ta không dám giữ. Chuyện gia đình, con cũng phải lo cho tròn. Thế bao giờ con định lên đường?”. “Con đã sẩn sàng, đợi già khi nào cho hiệu lệnh thì con sẽ đi”. “Thôi được, mấy ngày nữa, ta sẽ tổ chức một cái lễ, mời cả bản đến để anh tạ ơn họ. Đó là một phong tục của bản. Khi ta đưa con về chăm sóc, ta đã nói trước dân bản là nhặt được anh trong rừng, đưa về nhà và coi anh như con để dê bề chăm sóc. Theo tục lệ của bản, người ta không bao giờ chăm sóc và cứu người lạ! Giờ anh lại muốn ra đi, ta cũng có đôi câu để nói với họ”. “Vâng, mọi chuyện con xin nghe theo lời già bản”. Mấy ngày sau, khi buổi lễ kết thúc, Hùng xách chiếc túi nhỏ lên đường. Ông già dong chiếc xe trâu đưa anh ra tận đường cái quan, gọi là đường cái quan, nhưng thực ra chỉ là một con đường mòn do có nhiều người qua lại hơn nên rộng hơn, để từ đó đi bộ thêm gần hai ngày dường nữa mới tìm đến một ga xép để bắt tàu quay về đất Bắc...”. Giọng Hùng cứ đều đều kể lại những năm tháng mà anh đã sống, đã trải qua. Tôi thấy ngạc nhiên hết sức vì anh kể chuyện mình mà cứ như đang kể lại chuyện của ai đó. N. V. ngồi nghe anh kể như nuốt từng lời. Liệu bao tháng ngày ngồi bên bàn biên tập, đọc bao bài viết, nghe biết bao cuộc thảo luận, phỏng vấn biết bao những nhân vật được coi như là huyền thoại trong các trận chiến, thì có bao giờ, lúc nào anh hình dung ra cuộc đời của người bạn mình, người bạn mà anh nghĩ đã chết từ lâu. Một cuộc đời mà theo như Hùng nói thật bèo bọt bên cạnh những hào quang chiến thắng. Và khi những hào quang ấy qua đi, họ lại trở về vởi bèo bọt và còn tệ hơn thế nữa. Hùng cuối cùng cũng về được đến Hà Nội. Anh hăm hở ra bến xe Kim Mã để bắt ô tô về Hà Bắc. Ra đến quầy bán vé, anh hí hửng vì thấy vẫn còn sáng đèn. Nhưng rồi anh đành ỉu xìu quay ra vì “đã hết vé”, đó là lời cô nhân viên mặt còn non choẹt đã bụng chửa vượt mặt lẳng vào bộ mặt còn đặc sệt mùi rừng rú của anh mà chẳng thèm ngẩng lên. Trời cuối năm mưa phùn bay lất phất, cái rét như ngấm hẳn vào da thịt, hay cuộn thành từng cục lẳng thẳng vào mặt anh. Hùng thấy sợ, cái gì cũng lạ lẫm. Hà Nội giờ đây khác xa Hà Nội của cái ngày anh ngồi trong xe tải bịt bùng đi ngang qua để về một huyện phía nam Hà Nội tập huấn để đi B. Anh lang thang ra trung tâm thành phố, ánh đèn về đêm hiu hắt phủ lên mặt hồ phẳng lặng. Một lớp sương lam từ mặt nước bốc lên bỗng khiến anh bâng khuâng nhớ tới vùng sơn cước trong những buổi chiều tà. Trên ghế đá gần vườn hoa, những kẻ ăn mày cũng như những khách lỡ độ đường như anh vật vạ, đây đó có tiếng trẻ con vang lên trong cơn mê ngủ. Tìm thấy một chiếc băng còn trống, anh thả ba lô, ngồi xuống và móc chiếc bánh mỳ mua hồi nãy trong bến xe. Miếng bánh cứng queo, đắng ngắt trong miệng khiến anh nhổ phì ra, dang tay ném cả chiếc xuống lòng hồ. Đàn cá đói lao nhao nhảy lên rúc rỉa và chẳng mấy chốc, chiếc bánh đã hết veo, tan đi trong làn nước lạnh. Nhìn sang bên kia hồ, nhà Thủy Tạ tối om, trưng ra những ô cửa đen ngòm đầy đe doạ. Chính xác là bao nhiêu năm rồi đã trôi đi, anh không còn nhớ rõ nữa. Những năm trong rừng, anh chỉ còn tính năm tháng theo mỗi mùa cây thay lá. Hôm nay là ngày bao nhiêu, tháng mấy, điều đó hẳn được ghi trong tấm vé tàu bằng các tông, to bằng hai ngón tay màu xanh lơ anh vẫn kẹp cẩn thận trong chiếc ví da, nhưng lúc này đối với anh, điều đó có quan trọng gì đâu. Anh mong trời mau sáng để lại ra bến xe, để được về đầu làng, khi xe đỗ, anh sẽ không đi theo đường chính về nhà mà sẽ đi tắt theo con mương, băng qua hai cái ao hợp tác, nơi mà ngày xưa có một cây đề rất cao. Ngày xưa ở đó còn có một cái miếu nhỏ. Cây đề cổ thụ xum xuê che lấp bàn thờ. Cứ mỗi ngày rằm mồng một, hay ngày tuần tháng tiết là bà con ra đó thắp hương nghi ngút rất đông. Cho tới một ngày, có một cuộc cách mạng khác trỗi dậy, người ta thi nhau phá bỏ đình chùa miếu mạo và cái bàn thờ đó đã bị đập nát trước những dòng nước mắt ngậm ngùi của các vị bô lão và các bà già trong làng, và cái bát hương bằng sứ trên vẽ hình hai con rồng uốn lượn chầu mặt Nguyệt bị lẳng xuống lòng ao. Anh sẽ còn phải đi qua một cái chuôm và mấy mảnh vườn trồng đầy chuối nữa là sẽ đến nhà anh. Ngôi nhà nhỏ bố mẹ anh dựng tạm để anh cưới vợ. Do bố anh là chủ nhiệm Hợp tác xã mà gia đình anh đã mua được gạch ngói. Ngôi nhà không cao sang nhưng gọn gàng mát mẻ và ấm cúng, mái ngói tươi rói lộ rõ dưới những tán lá chuối xanh mướt, điều khiến anh hai ngày sau phải mất cả buổi để đánh bùn từ ao lên và tưới đều khắp hai mái nhà, vì có một đơn vị bộ đội đóng quân gần đó đã đến góp Ý với ban lãnh đạo Hợp tác xã, rằng mái ngói đỏ tươi ấy sẽ thu hút sự chú ý của máy bay địch. Liêu, người con gái duyên dáng ấy có còn đợi anh. Đêm tân hôn của hai đứa sao thẹn thùng e lệ quá, anh đã chẳng dám làm gì còn nàng thì cứ ôm khư khư đống quần áo. Trăng hạ tuần đã chênh chếch về phía tây mà hai đứa vẫn cứ ngồi nhìn nhau. Ngọn đèn dầu vẫn tỏ rạng, đến độ mẹ anh phải đánh tiếng... Đèn tắt rồi, trong bóng tối khiến con người ta mạnh dạn hẳn lên. Anh lần tìm tay Liễu, cả người cô run bắn. Anh ghì chặt cô, cảm giác rạo rực lan toả khắp người và chuyền dần sang người vợ trẻ, để rồi những đêm sau đó đối với họ như là thiên đường đang mở ra. Năm năm hay mười năm kể từ ngày anh ra đi, không một lá thư, không một tin tức, liệu Liễu của anh có còn đợi chờ, anh tự nhủ cho dù có điều gì xảy ra anh cũng sẽ chấp nhận, cũng sẽ tha thứ hết cho cô để hai người lại biến những đêm đen thành những cung bậc dẫn họ lên thiên đường... Đồng hồ trên đỉnh nhà Bưu điện oai vệ gõ bốn tiếng, anh giật mình, vươn vai ngồi thẳng dậy... Hùng cứ kể, giọng vẫn đều đều như khi tôi nghe băng truyện Hồi ký Hadrien[*] của nữ văn sĩ tài ba Pháp Marguerite Youcenard, nữ sĩ tài ba nhưng không kém phần truân chuyên trôi nổi.
[*] Hadrien, một Hoàng đề La Mã.
Bà đã mất gần ba chục năm để cấu thành tác phẩm bất hủ để đời ấy. Nghe nói để viết tác phẩm này, bà đã phải di chuyển chỗ ở nhiều nơi, đến tận bên bờ biển Tây của Hoa Kỳ để sống, để tận hưởng những cảm giác, những khí hậu khắc nghiệt mà bà đã hình dung rằng vị Hoàng đế La Mã này đã từng phải chịu đựng. Bà đã bỏ công nghiên cứu nhiều năm trời, đến gặp gỡ các y bác sĩ và các nhà sử học danh tiếng để tìm hiểu về căn bệnh đã đánh gục vị Hoàng đế nổi danh tài ba ấy. Giọng đọc trong băng cát sét cứ ngân nga, khi trầm khi bổng biểu thị đúng nội dung tâm trạng của nhân vật mà tôi, đôi lúc cũng như bị cuốn đi, bị quên hết cả không gian thời gian để sống với chính nhân vật huyền thoại trong truyện. Nhưng tôi nghĩ ông ta cứ ra rả nói về những chiến công của mình, những vinh quang hiển hách đánh Đông dẹp Tây, và cả tham vọng muốn biến thành Roma và nền Đế chế của ông ta thành đỉnh điểm, thành trung tâm của vũ trụ, ông ta đã có một câu nói mà khi còn trẻ tôi đã rất thích, và còn lấy đó là niềm tự hào cho nhân loại, vì cho đến tận bây giờ chưa một ai, dù là các nhà tạo mốt nổi tiếng hay kiến trúc sư tài ba dám phát biểu, đó là câu: “Je suis responsable de la beauté du monde[*]’’.
[*] Tôi chịu trách nhiệm về vẻ đẹp của nhân loại.
Liệu có quá nhiều tham vọng không? vẻ đẹp của ông ta được đặt theo tiêu chí nào?..., nhưng thiết nghĩ liệu ông ta đã bao giờ sống hay trải qua những gì mà người đồng đội cũ của N. V. đã từng sống. Liệu ông ta đã khi nào bị chôn vùi sâu dưới lòng địa đạo, mình đầy thương tích mà vẫn vùng dậy, chui ra khỏi lòng đất sâu, mủ máu bám đầy và mình bị ròi bọ rúc rỉa từng mẩu thịt chưa, bị đàn kiến rừng mút mát từng giọt máu khô chưa... Nhưng chưa hết vì 'bỗng lúc đó, tôi bị dứt ra khỏi cơn trầm tư mặc tưởng do Hùng bỗng như gào lên, cả người anh run bần bật và cơn xung năng hầu như đã đạt tới đỉnh điểm khiến người bạn cụt chân bên cạnh anh phải ôm giữ anh lại, còn NV . thì đang ôm đầu, lọn tóc dài phía trước của anh rũ xuống. Tôi nghe thấy tiếng Hùng sì soạt trong nước mắt và tiếng khóc cố kìm nén nhưng vẫn bật ra qua khóe miệng mím chặt: “... lúc về tới ngang vườn chuối, trời đã ngả dần về cảnh hoàng hôn. Tiếng gà nháo nhác tìm chuồng, đàn lợn đói đang rống lên. Muốn dành cho vợ sự bất ngờ nhất, tôi rón rén ra khỏi vườn, cửa nhà lúc ấy vẫn mở, đập ngay vào mắt tôi là một bức ảnh của chính mình được phóng to, đặt nghiêm trang trong khung kính có một băng tang đen vắt chéo đặt sau một bát nhang. Bên cạnh là bức ảnh của mẹ tôi, đầu vấn khăn nhung đen, miệng cười đôn hậu. Ôi! mẹ của tôi, vậy là bà cũng... Mùi hương trầm vẫn phảng phất đâu đó. Chán nản và hãi hùng, tôi ra bể nước đặt ngay đầu hồi, gần gian phòng thiên đường của tôi ngày xưa và vục nước uống. Chợt tôi nghe thấy tiếng động lạ từ trong phát ra, tiếng động của một con cái trong cơn lạc thú kèm tiếng thở hùng hục của con đực. Kiễng chân nhìn qua khe cửa sổ, tôi thấy một đôi trai gái, và người đàn bà cứ rướn lên, miệng phát ra những tiếng kêu khoái lạc nhục dục. Khi mắt đã quen dần với bóng tối, thì tôi đã nhận ra... Các bạn có biết là ai không: dó chính là vợ và người cha đẻ của tôi. Trong khoảng khắc, tôi như bị chết chôn trên chính mảnh đất của mình. Người vợ e lệ của tôi, người cha mà tôi vẫn hằng kính trọng và tôn thờ... Liễu của tôi ngày nào vẫn rụt rè khi tôi cởi áo cho nàng, vẫn thẹn thùng trong bóng tối khi tôi hôn lên má, lên ngực, vẫn bẽn lẽn khi tôi cầm tay nàng đặt lên “thằng nhỏ” của mình khi ấy cứ nhõng nhẽo thức dậy đòi quyền âu yếm... Vậy mà, giờ đây nàng thành thục như một con điếm, rên ư ử trong cơn thác loạn, hai chân nàng dang rộng, vắt lên cổ người tình, hai bàn tay thon thả bấu chặt háng hắn như đòi quyền sở hữu. Và cha tôi, một con người mẫu mực, vẫn chuyên rao giảng đạo lý, nhân cách, lại hùng hục như một con vật háu đói, nhai nghiến ngấu con mồi non tơ. Thân thể ông ta cứ dập tới dập lui mỗi lúc một mạnh lên, nhanh lên, còn hai bàn tay liên tục vầy vò trên vú người đàn bà. Họ đã bắt đầu làm điều ấy từ khi nào? Đây chắc không phải là lần đầu tiên, vậy là lần thứ bao nhiêu. Những lúc thân hình tôi đầy máu mủ, những lúc tôi đang xả thân vì nghĩa lớn chỉ mong có ngày trở về thì họ đã làm gì... Bóng đêm tràn tới lúc nào tôi cũng không biết nữa. Tôi nhìn thấy đôi gian phu dâm phụ đó trở dậy, mặt đầy vương mãn, lau rửa rồi mặc quần áo cho nhau, rồi ra khỏi buồng. Cha tôi lại khoác lên mình khuôn mặt của cha xứ, kẻ chuyên rao giảng luân lý, đeo xà cột và đọc báo Nhân dân mỗi ngày. Họ chào nhau ngay trên thềm nhà, trước tấm di ảnh của tôi. Rồi cha tôi dắt xe, nhảy lên nó và đạp đi. Vợ tôi lại rắc ngô gọi gà, nấu cám cho lợn ăn. Khung cảnh bình yên của thôn quê lại được tái thiết lập. Còn tôi khi đó, bão tố như nổi lên, cơn cuồng nộ muốn đập phá, muốn giết người, muốn... và muốn trái đất này nổ tung hay một quả đạn pháo rơi trúng chỗ tôi đang đứng đây và lại vùi tôi xuống địa đạo một lần nữa. Và lần này thì tôi an tâm mà siêu thoát. Chẳng còn gì để bấu víu, để hy vọng... Chợt có nhiều tiếng ồn ào ngoài ngõ, thì ra đó là một đám thanh niên mượn nhà tôi làm địa điểm sinh hoạt. Và vợ tôi nhân danh vợ liệt sĩ và do đức hạnh thủ tiết thờ chồng nên đã dược kết nạp Đảng, đã được bầu là bí thư chi đoàn và còn có triển vọng tiến xa hơn nữa, sẽ lên huyện đoàn và... biết đâu..." NV . bỗng buột miệng chen ngang: “Cậu nói cô ta tên Liễu, quê ở xã... huyện... tỉnh Hà Bắc à?”. Hùng đưa mắt nhìn NV . “Cậu biết cô ta à.”, “ừ, có mấy lần tôi về đấy làm bài phóng sự, và có phỏng vấn bà Chủ tịch Hội phụ nữ...”. Tôi đưa tay bấm mạnh vào sườn NV . Nhưng cử chỉ ấy không qua được mắt Hùng: “Không sao cả đâu, với mình cô ta đã chết, và tất cả như đã chết hết, và cả mình nữa, cái thằng Hùng tếu táo yêu đời và rất khéo tay mà các cậu vẫn hay trêu ghẹo là quá “nghiêm chỉnh” ấy đã chết ngay từ cái đêm đó rồi. Đêm đó, tôi ra sau vườn chuối đào một cái hố rất sâu, rồi tự mình phủ đầy đất. Tôi muốn một cái chết ngọt ngào như thế ngay trên chính mảnh đất tuổi thơ chăn trâu cắt cỏ của mình. Tuổi thơ mang đầy tiếng sáo diều phảng phất khi chiều hè buông xuống. Tuổi thơ trốn nhà đi đào chuột đồng, đào lươn bắt rắn mà không biết sợ. Nơi mà một thằng con trai mười bảy tuổi đứng trên bờ đê sông Cầu, trong buổi hoàng hôn, trước cánh đồng dâu bạt ngàn xanh mướt, mơ làm nhạc trưởng điều khiển cả một giàn giao hưởng hoành tráng nhất Hà Nội. Được chơi những ca khúc để đời của Chopin, của Schubert, của Bach..., được đi đây đi đó gặp gỡ những danh nhạc nổi tiếng... Được dắt vợ con đi chơi giữa lòng Hà Nội và ăn trong những quán phở ngon nhất. Thế là hết, tất cả cứ dần trượt đi theo lớp đất chôn vùi tôi. Đến chân, đến đầu gối, đến bụng, ngực và cổ... Rồi đến một lúc, trong cơn mơ màng, tôi như nghe thấy tiếng nói của ông cụ già vùng sơn cước trước lúc chia tay vẳng lại: “... dù thế nào cũng gắng phải sống con ạ. Được ra đời là một món quà của Thượng đế, ta không có quyền tự mình huỷ đi món quà ấy. Nơi đây vẫn luôn là một chốn để con có thể về...!”. Người già vùng sơn cước ấy muốn nhắn nhủ gì với tôi qua những câu nói ấy. Phải chăng ông đã đoán được phần nào hậu quả của những cuộc chia ly xa cách. Tiếng đôi chim líu ríu trên cành ổi. Tiếng gà lục cục trong chuồng đánh thức tiềm thức tôi. Tôi không thể chết, tôi phải sống. Tôi không thể để cho đám người hèn mạt kia lấy đi mạng sống của mình được! Thế là tôi vùng dậy, lại lấy tay moi mình lên khỏi huyệt mộ của mình. Rũ sạch đám đất bám đầy quần áo, tôi xốc ba lô và lại theo con đường hôm trước ra đường quốc lộ bắt xe xuôi về Hà Nội. Sau mấy ngày lang thang vật vã, vừa tủi hổ vừa đau đớn, tôi quyết định bắt tàu vào Nam. Dù gì ở đó cũng chẳng ai biết mình. Tôi quyết định lột xác. Có đôi lúc tôi muốn quay về, lên uỷ ban xã, thông báo cho các nhà chức trách địa phương là tôi còn sống. Tôi cũng muốn vạch trần thủ đoạn giả dối của những con người bội bạc lăng loàn, loạn luân kia. Tôi muốn nói với họ rằng tôi đã nhìn thấy, đã chứng kiến tất cả. Tôi muốn lương tâm họ phải cắn rứt, tôi muốn họ phải trả giá... Nhưng rồi tôi lại tự nhủ với lòng mình “ích gì”, họ chắc không phải là những trường hợp duy nhất trên trần gian này, hãy để cho họ sống và dưới con mắt tôi lúc ấy, họ chỉ là những con sâu cái kiến, một thứ côn trùng mạt hạng nhất, chẳng đáng để tôi phải bận tâm làm gì! Mà cuộc sống, khi chứng kiến những bà già bê rổ bánh đầy ứ, trẻ em xách những bình nước lặc lè đi bán rong trên các sân ga để kiếm những đồng bạc lẻ, thì tôi lại thấy tràn trề tình yêu thương. Tôi nhảy lên tàu đi vào Nam mà lòng nhẹ nhõm hẳn. Vào tới Sài Gòn...”. Nói đến dây, Hùng chợt quay sang nhìn người đàn ông cụt chân đang lơ đãng nhìn ra cánh rừng bạt ngàn đang lặng gió. Tôi biết trong tâm trí anh lúc đó cũng không thờ ơ như dáng vẻ bề ngoài của mình. Những người đã qua lửa đạn, kề cận cái chết như các anh, thì không thể thờ ơ với quá khứ của mình được. Họ chỉ không muốn nói ra, không muốn kể ra, chắc là vì ngại những người nghe chuyện không thể hiểu được, và do vậy họ sẽ cho rằng các anh bịa chuyện, rằng các anh đang tưởng tượng một quá khứ khác thường để nâng cao mình lên. Tối hôm ấy, Hùng tiếp tục kể câu chuyện của mình, “... khi xe cập bến Bình Triệu. Giữa muôn vàn nẻo đường và người tứ xứ, tôi cũng chẳng biết về đâu, và đi đâu. Vậy tôi cứ để mặc cho đôi chân cất bước, tự nó thích hướng nào thì tôi sê đi về phía ấy. Chiều hôm đó, bầu trời lâm tấm mưa phùn, thì tôi đến một bến đò. Mưa mỗi lúc một nặng hạt. Bước thấp bước cao tôi ôm túi chạy nhanh vào một trong vài cái quán nằm sát bến đò ven sông. Đang rũ nước mưa khỏi áo bạt, tôi bỗng nghe văng vẳng tiếng đàn ghi ta bập bùng những bài hát tiền chiến xa xưa. Bài hát về đời người lính sau trận mạc. Chân què, mắt chột khi trở về quê hương, họ còn tìm được gì... Tiếng hát não nề ngòng ngọng pha giọng Bắc của người tàn phế khiến lòng tôi quay quắt. Đảo mắt tìm xem tiếng hát phát ra từ đâu. Nhìn sang quán trước mặt, tôi thoáng nhận thấy người đang hát, cặp mắt nhắm nghiền như không muốn nhìn khách qua đường, trên mình vận một bộ quần áo chiến binh đã bạc và một ống quần dài đang phất phơ theo gió. Khi anh ta ngẩng mặt lên thì tôi đưa tay dụi mắt, không còn dám tin vào mắt mình nữa. Bởi đó chính là Q. người Hà Nội, người bạn cùng tiểu đội mình năm xưa. Người mà tôi đã cõng chạy về căn cứ khi bị trúng pháo giặc trong lần đi thị sát trận địa. Lần đó hắn bị thương vào bả vai, máu chảy xối xả và luôn miệng bảo tôi vất quách hắn xuống để đi cho thoát thân chứ cứ lùng tùng thế này, thì cả hai đều bỏ mạng. Nhưng tôi đã không nghe lời hắn và phải mất hai ngày sau, hai người mới về được căn cứ... Sao giờ hắn lại ở đây? Khi ở Hà Nội, trong cơn đau đớn tột cùng vật vã, tôi đã tìm đến địa chỉ nhà nó. Nhưng giờ đây, nơi đó đã trở thành nhà mẫu giáo. Khi hỏi thăm những người lân cận, họ bảo mẹ hắn đã chết ngay trong trận bom B52 đầu tiên ném xuống Hà Nội, ba nó buồn phiền rồi cũng chết vài năm sau đó, còn Q. thì đã có giấy báo tử đưa về phường... Nước mắt lã chã tuôn rơi hòa với nước mưa đang xối xả rớt xuống, tôi lần sang bên người chiến binh. Cứ đứng trân như vậy trước mặt hắn không biết bao lâu. Khi hắn mở choàng mắt vì theo linh cảm, khi nhận ra tôi, hắn oà khóc nức nở, mặt cứ úp xuống cây đàn. Khách qua đường tò mò xúm lại nhìn hai người đàn ông Bắc bộ. Một nức nở, còn một cứ đứng im mà nước mắt đầm đìa chảy tràn trên khuôn mặt đen đúa. Trời tối rồi, Hùng kể tiếp, chúng tôi cũng chẳng biết đi về đâu. Đêm đó, bà chủ quán, sau khi hiểu chuyện đã cho chúng tôi mượn căn lều để qua đêm. Rồi sau nhiều ngày suy nghĩ, bàn tính. Chúng tôi không thể cứ ăn mãi bằng những đồng tiền bố thí. Tôi quyết định đưa Q. về đây...” NV . cứ ngồi lặng đi. Gió bên ngoài hình như bắt đầu thổi, cả cánh rừng rùng rùng chuyển động. Tôi đứng lên, lấy chiếc khăn mặt trong túi, ra thùng nước xả cho ướt rồi đem vào đưa cho anh. Anh ngẩng nhìn tôi như cám ơn. Trời ạ! Bà biết không, khuôn mặt anh lúc đó như già đi cả chục tuổi. Mắt anh như nhìn tôi nhưng không thấy gì cả. Trước mắt anh như không có tôi, không có Hùng, không có Q... Chỉ có những năm tháng dài của ba mươi năm vừa qua đang chạy vùn vụt. Anh đang nghĩ gì, tôi cũng không biết. Tiếng gà bắt đầu gáy báo sáng. Những người bạn nước ngoài trong đoàn thám hiểm đã lục đục trở dậy. Người đàn bà vùng sơn cước sau một đêm ngủ dài cũng cung cúc đi nấu nước. Jean- Jacques vươn vai, nhưng tôi biết anh ta cũng không chợp mắt, do cặp mắt đỏ hoe vì thiếu ngủ. Tôi giật mình, một túm tóc trên đầu NV . đã bạc trắng! Tôi thấu hiểu tâm tư anh. Trong vài ngày mà anh đã sống còn nhiều hơn cả mấy mươi năm. Cuộc sống an lành, bên vợ con, bên bàn giấy. Thăng quan tiến chức... Anh đâu có ngờ rằng những người đồng đội của anh đã trải qua những ngày tháng còn nhọc nhằn hơn cả trong bom đạn. Còn tôi lại hiểu tại sao khi Hùng nói về Tân, con trai anh thì lại say sưa đến vậy. Vì nó chính là câu trả lời của anh đối với đời. Cuộc đời đã muốn vùi dập anh, đã muốn anh chết ít nhất là hai lần, vậy mà đây, mầm sống trong anh vẫn hiện hữu, cho ra đời quả ngọt. Một thứ quả ngọt chắt chiu từ cay đắng, từ tận cùng của tuyệt vọng. Đứa con đó không chỉ của riêng anh mà còn là của Q. nữa. Những nốt nhạc đầu tiên mà con anh làm quen là trên chiếc đàn ghi ta đã mòn vẹt của cậu ấy. Chính hắn đã reo vào lòng con trai anh tình yêu âm nhạc đến mê muội. Nếu không có Q. thì nhiều lúc anh đã gục ngã... Thưa bác sĩ, bà thấy tôi xúc động quá mạnh và nên kể tiếp câu chuyện này vào lúc khác ư? Vâng bà nói đúng, câu chuyện này chứa quá nhiều điều khiến người đời phải suy nghĩ! Bà muốn tôi nói tiếp về cuộc gặp gỡ của mình và NV . à! Vâng tôi sẽ kể tiếp. Sau lần gặp lại vô cùng tình cờ trong buổi giao lưu ở trường đại học ấy, tôi cũng bị những lo toan cuối năm học kéo đi. Những công việc làm thêm như gia sư hay dịch thuê những bản hợp đồng tầm tầm nghiến ngấu gần hết những thời gian rỗi của tôi. Những ngày nghỉ cuối tuần tôi vẫn đều đặn đạp xe về nhà. Vẫn giúp mẹ ra đồng cây lúa và tưới khoai. Tôi thích nhìn sự lớn lên của những luống rau cải xanh hay những củ su hào như những chiếc bát con cứ to dần lên dưới bàn tay chăm sóc của tôi. Tôi thích dành chút ít thời gian còn lại để đọc những tác phẩm mà tôi yêu thích, hay nghe những bài hát khiến tôi mê ly. Và ngày đó tôi đã bắt đầu tập tành viết bà ạ. Tôi viết về những gì mà tôi yêu thích. Tôi hư cấu những gì xảy ra quanh tôi. Ngày đó tôi chưa được đi nhiều, tôi chỉ viết những gì tôi chứng kiến và đã trải qua. Rất nhiều lần, tôi mân mê tấm các của anh và định gọi, nhưng tôi lại không dám. Tôi muốn anh là người đầu tiên đọc những bản thảo non nớt đầu tay của tôi!... Thế rồi tôi chỉ dám gửi cho anh dưới một cái tên khác, một bút danh... qua đường bưu điện. Vài tháng sau, tôi nhận được câu trả lời, cũng qua đường bưu điện, là truyện tôi viết không đạt, rằng phải cố gắng nhiều hơn nữa. Ngày đó tôi đã thất vọng, và nghĩ mình chẳng có tài năng gì trong nghề nghiệp mà người đời cứ cho là cao siêu ấy. Sự ngẫu nhiên cứ như đùa giỡn với chúng tôi, lần thứ ba tôi gặp lại anh trong một lần tình cờ. Lần đó, ấy là khi tôi đã ra trường, và làm việc trong một Bộ quan trọng, tôi được cử đi công tác trên thành phố Ban Mê Thuột. Vùng đất đỏ Ba-zan mầu mỡ bạt ngạt những cánh rừng cà phê. Chiều đã chạng vạng, tôi và anh bạn làm cùng phòng tên c. đánh xe đi dạo thành phô" miền trung du. Đi ngang qua một khu chợ cóc, nhìn thấy những quả thanh long và vú sữa thật tươi ngon và quyến rũ. Tôi đề nghị c. dừng xe và bước xuống hỏi mua. Linh cảm mách bảo hình như ai đó đang nhìn mình, tôi ngẩng lên. Từ phía bên kia đường, một chiếc xe sang trọng đỗ lại, cửa kính xe hạ xuống và từ bên trong, một người đàn ông đang chăm chú nhìn tôi. Nhưng “ích gì”, tôi tự nhủ vả lại cũng không muốn c. hiểu lầm, tôi bặm môi quay lại hỏi người bán hàng lam lũ, cặp mắt đang ngời sáng, chắc chị hy vọng bán được món hời cho người khách cuối cùng trước khi dọn hàng để quay về tổ ấm! Chiếc xe cứ đậu như vậy thêm chừng mười lăm phút rồi nổ máy chạy đi. Khi trở lại xe, c. nói với tôi: “Người trong chiếc xe camry hồi nãy chắc có biết em”. “Vậy à, tôi đáp nhỏ nhẹ. Làm sao em có thể quen được người sang trọng vậy.”. “Biết đâu...!”, c. buông lửng câu nói, rồi từ đấy cho đến khi về tới nhà nghỉ, chúng tôi không nói thêm câu nào nữa. Mỗi người theo đuổi những ý nghĩ của riêng mình. Còn tôi đêm đó lại đặt ra cho mình biết bao câu hỏi. Vâng, làm sao tôi lại không nhận ra anh kể từ đêm đó chứ, cái đêm tôi đã cùng anh đi dạo trong sân ký túc xá. Không gặp anh, nhưng tôi vẫn biết được tất cả thông tin về anh, vẫn đọc những bài viết và các tác phẩm của anh xuất hiện đều đều trên các cuốn tạp chí. Cả những thông tin về việc anh được thăng quan tiến chức. Bà biết đấy, tôi thật không muốn người ta đánh giá không hay về mình “thấy người sang bắt quàng làm họ”. Vả lại, liệu người ta có còn dám nhận tôi là người quen không? Khi chỉ có một tấm bằng đại học mỏng manh trên tay, cha mẹ nghèo, quê mùa! Mấy ngày sau, khi về tới Sài Gòn, được bà chị họ con người bác ruột của tôi đưa đi chơi phố. Đang loay hoay đứng trước cổng chợ Bến Thành tìm nơi gửi xe thì bỗng nhiên, tôi nhận ra ai đó đập nhẹ vào cánh tay mình, rồi một câu nhỏ nhẹ vang lên, giọng nói mà tôi không bao giờ còn lẫn với bất kỳ giọng của ai khác: “Lần này thì không chạy trốn được nữa nhé!”. Tôi quay lại. Dưới ánh nắng nhẹ của trời Sài Gòn, tôi nhận ra anh. Áo sơ mi trắng cộc tay, đeo kính mát gọng vàng, giày đen đánh xi bóng nhoáng, tay xách các-táp. Tự nhiên tôi cảm thấy xa lạ. Anh nổi lên nơi cổng chợ Bến Thành như một kẻ lạc đường, giữa các bà bán hàng lam lũ, lũ trẻ đứng bán những đóa hồng, những bà nội chợ bận đồ hoa đi mua thức ăn. Người chị họ thấy tôi chần chừ nửa muốn đi, nửa muốn đứng lại thì giục giã và nhìn người đàn ông kia không mấy thiện cảm. Bởi chị biết, ở chốn này, tôi không quen ai cả ngoài chị và gia đình, còn người đàn ông kia thì lạ hoắc. Chị chỉ bình tĩnh lại khi anh mở miệng nói giọng Bắc. Anh giới thiệu với chị rằng chúng tôi đã quen nhau từ nhiều năm trước, và tình cờ đang đi công tác bất chợt gặp tôi ở đây! Chị nhìn tôi dò hỏi, tôi chỉ biết gật đầu xác nhận lời anh nói. Anh hỏi địa chỉ, và xin phép chị tối đó đến nhà đưa tôi đi chơi. Tối đó, anh đã đến thật bà ạ. Trong trang phục thật giản dị, quần bò, áo kẻ, khoác ngoài chiêc blouson đã hơi cũ, và đi xe gắn máy. Tôi nhẹ nhàng trong chiếc quần jean, áo kẻ buông trong quần. Anh nói nên khoác thêm chiêc áo ngoài vì trời Sài Gòn về khuya thường hơi lạnh. Anh cho xe chạy từ từ trên các con lộ. Rồi từ rạp Tháng Tám, chúng tôi rẽ qua đường Trần Thánh Tông, Nguyễn Tri Phương. Qua Dinh Độc Lập. Anh cho xe dừng lại trước cảng Nhà Rồng... Gió mát rượi từ biển thổi lên mang theo mùi i-ốt, mùi tanh nồng của cá. Ánh sáng mờ mờ tỏa ra từ những nhà hàng sang trọng, tiếng nhạc ầm ĩ vọng ra từ những quán bar đầy ứ người, cả ta lẫn Tây, ra vào tấp nập. Tôi liếc nhìn vẻ mặt anh khi ấy đang rất trầm ngâm và đầy bí ẩn. Anh như một con người khác, khác xa với nhân vật hồi sáng mà tôi gặp trên cổng chợ Bến Thành. Rồi anh bắt đầu nói mà không nhìn tôi. Anh kể về lịch sử nơi đây, những cảm xúc của anh khi lần đầu ra khỏi rùng, và ý muốn thôi thúc được đến viếng thăm chốn này khi còn ở trường trung học và những năm tháng trong rừng. Tôi hiểu lắm, cả tôi nữa cũng mong được đến đây, đến nơi đã đánh dấu mốc cho lịch sử dân tộc tôi. Anh kể ngày xưa, tức lần đầu tiên anh đến, chỗ này khác nhiều lắm. Những nhà hàng sang trọng kia, anh đưa tay khoát gần một vòng, và những quán đèn mờ phát ra những tiếng nhạc ầm ĩ vẫn còn chưa xuất hiện. Anh bỗng lẩm nhẩm hát một bài hát rất nổi tiếng từ những năm xa xưa và hỏi tôi có biết bài hát đó. “Vâng, em có biết!”, tôi đáp nhẹ và ngân nga tiếp đoạn anh bỏ dở. Vâng tôi hát rất dở nhưng lại thích âm nhạc. Sau này, chúng tôi đã có dịp nói chuyện với nhau hàng giờ về những bản nhạc, ca khúc mà chúng tôi cùng say mê. Tôi nhớ những khoảng khắc chúng tôi bên nhau, yên lặng cùng nghe những bản nhạc của Hoàng Hiệp, của Phạm Minh Tuấn, Trần Hoàn hay Thuận Yến... mà anh vô cùng yêu thích. Những ca khúc về chiến tranh, về đồng đội. Những bài hát ca ngợi vẻ hào hùng mà những người lính, như anh vẫn nói, đã chép đầy những trang sổ và thuộc lòng. Những bài hát đã theo các anh trên mỗi bước hành quân. Không phải bài hát nào trong chủ đề này tôi đều thích, nhưng khi nghe cùng anh, tôi thấy chúng mang một màu sắc khác, một âm thanh khác và một ý nghĩa khác... Chúng tôi cũng cùng nhau nghe những ca khúc tình tứ của Thanh Tùng, của Phú Quang... Tôi ngạc nhiên trước sự hiểu biết đường xá của anh tại thành phố này. Anh nói sau khi ra khỏi rừng, tức sau khi cuộc chiến chấm dứt, anh có về thành phố này công tác chừng gần mười năm sau đó mới chuyển ra Bắc. Sau hai tiếng chạy xe, anh đưa tôi đến một quán cà phê yên tĩnh nằm trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Anh nói, anh thích quán này nhất và mỗi lần đi công tác vào Sài Gòn, anh đều đến đây dùng cà phê và... nghe nhạc. Tiếng nhạc vọng ra từ đâu đó nghe sao mà nhẹ nhàng, vảng vất, trữ tình. Và tối đó, bên ly cà phê và tiếng nhạc dìu dặt, anh đã kể cho tôi nghe một phần đời anh. Chuyện làng quê anh. Anh sinh ra trong một vùng quê miền Trung. Cả xã anh chỉ có bốn làng, mỗi làng đều mang một cái tên rất ngọt ngào gắn liền với những bài ca dao dân gian nên rất dễ nhớ. Cả xã lọt thỏm giữa những ngọn núi. Có núi Hồng nằm sau làng Đoài. Rằng từ thung lũng quê anh ra đường quốc lộ có hơn chục cây số nhưng ngày xưa đi bộ đường rừng phải mất đến ba tiếng đồng hồ, gặp phải ngày mưa gió lụt lội thì còn khổ hơn thế nữa. Rằng quê anh cũng rất gần con sông Mã anh hùng. Những năm lụt lội tràn về, khắp nơi chỉ toàn thấy nước, những ngôi nhà chỉ còn nhìn thấy mái, những cây cổ thụ đứng nhấp nhô trong biển nước, đứng từ trên núi cao nhìn xuống, cả quê anh tựa như một vịnh Hạ Long thu nhỏ. Tôi biết anh phải yêu quê mình lắm nên mới có những ví von như vậy. Anh còn kể, ở làng bên cạnh tức làng Xanh có một ngôi chùa Hòa Long có niên dại cả gần ngàn năm. Ngôi chùa rất linh thiêng, chắc luôn phù hộ cho những đứa con của làng quê mình, nên trong xã anh kể từ rất xa xưa đã có rất nhiều người đỗ đạt, và số người trở về sau các trận chiến cũng nhiều hơn so với các xã lân cận, mặc dù anh thấy đa phần người dân nơi đây vẫn rất lam lũ, trong khi anh thấy giờ đây phần lớn cuộc sống của những người nông dân đã phần nào cải thiện. Anh bảo, người dân quê anh rất tự hào về truyền thống của mình, và không chịu tiếp thu những gì mới mẻ nếu chúng chưa được qua trải nghiệm. Họ còn có một kỷ vật mà khắp nơi trên đất nước không nơi nào có được. Đó là một thổ ngữ, gọi là Bản Thủy. Rất nhiều các nhà Ngôn ngữ học quốc gia và thế giới đã về đây nghiên cứu rất lâu, nhưng đành bó tay vì không biết chúng bắt đầu từ đâu. Cả người già nhất làng cũng không thể lý giải nổi... Tối đó anh đã nói rất nhiều. Thì vẫn như những lần trước, anh là người nói và tôi chỉ ngồi nghe. Những dòng tâm sự của anh khiến tôi có cảm giác mình như một người bạn tri âm tri kỷ của anh. Vâng, tối đó chúng tôi chia tay nhau nhưng không hẹn ngày gặp lại. Tôi cũng không biết tại sao lại vậy. Anh có hỏi địa chỉ nơi tôi làm việc, cuộc sống hiện giờ của tôi và nói anh vẫn làm ở chỗ cũ, răng nếu có chuyện gì tôi vẫn có thể liên lạc với anh. Tôi đáp “vâng”. Về đến Hà Nội, công việc bộn bề cứ kéo tôi đi, và phải đến mấy năm sau tôi mới gặp lại anh, và lần này... Đó là những ngày cuối cùng tôi ở trên đất Hà Nội trước khi sang Pháp đoàn tụ cùng gia đình. Phóng xe như bay trên đường từ chợ Đồng Xuân về. Trên xe treo lỉnh kỉnh không biết bao nhiêu là thứ, tôi bỗng thấy một chiếc xe khác vượt lên, và như có ý định ép sát xe mình vào lề đường. Thiếu chút nữa, thì tôi đã buông lời chửi thề, nếu không quay sang nhìn người cầm lái. Thì ra là anh! vẫn thế, chẳng thay đổi gì cả. “ơ... anh... em chào anh, anh đi làm về à?”, tôi bối rối chào và tim đập thình thịch rất mạnh trong lồng ngực. Lúc đó mởi chừng 10h30. Không, tôi cũng biết tại sao mặt lại đỏ bừng như thế. Anh cười tủm tỉm ranh mãnh: “Chứ không phải câu “Mẹ kiếp! Anh đi kiểu gì thế à.!”. Anh cứ như đoán hết đựợc ý nghĩ của tôi vậy. “Đi đâu mà mua nhiều đồ thế này.”, anh hỏi, anh không biết rằng tôi sắp đi xa. “Dạ... vâng... em...!”. Thấy cứ dứng mãi thế không tiện, chỉ vào một quán cà phê gần đó, anh đề nghị: “Hay anh em mình vào kia uống cà phê, nói chuyện một chút, lâu quá rồi không gặp em!”. “Vâng”. Giá như tôi cứ viện một cái lý do nào đó và chối quách cho xong, thì mọi chuyện sẽ đơn giản hơn nhiều. Nhưng tôi lại ngoan ngoãn dắt xe theo anh. Anh trách tôi sao không liên lạc với anh. Rồi sau những câu chào hỏi xã giao sáo rỗng kiểu: “Dạ, tại em bận quá!”. “Chứ không phải đã quên anh rồi à?”. “Dạ, không!”. “Hay tại em sợ hay ghét anh?”. “Ôi, không phải vậy đâu ạ, em sợ làm phiền anh”. Rồi tôi kể cho anh nghe chuyện tôi sắp đi Paris, và đi rất lâu, không biết bao giờ mới về. Anh như giật mình, và lần đầu tiên nhìn thẳng vào mắt tôi như để kiểm chứng lời tôi nói. “Vâng, đúng vậy, hai ngày nữa em sẽ ra sân bay!”. “Thật vậy sao, sao giờ em mới nói cho anh biết. Paris, cả nửa vòng trái đất, biết bao giờ mới gặp lại em!”. Đến lạ! Tôi ở Hà Nội hay qua Paris thì có liên quan gì đến anh chứ? Ở Hà Nội này trong bấy nhiêu năm thì số lần chúng tôi gặp nhau chỉ có thể đếm được trên đầu ngón tay, và chỉ cần một bàn tay cũng đủ. Bà ạ, nếu tôi nói với bà rằng trong suốt những năm ấy, ngày nào tôi cũng nhớ anh thì có lẽ là nói dối. Nhưng quả thực tôi cũng hay nhớ tới anh. Những buổi chiều tan sở, một mình phóng xe trên đường Thanh Niên, đường Tràng Thi hay Phan Đình Phùng, tôi đã rất mong tình cờ được gặp anh như ngày hôm nay, hay như trên thành phố cao nguyên miền Trung hay ở Sài Gòn vài năm trước. Nhưng tôi đã mỏi mắt chờ những cuộc gặp gỡ vô tình ấy và chúng đã chẳng bao giờ đến. Anh kéo ghế đến ngồi sát bên tôi, đưa cả hai tay lên cầm tay tôi, và chợt phát hiện chiếc nhẫn lấp lánh trên ngón áp út bên bàn tay trái của tôi. Nhìn thẳng vào mắt tôi, anh thốt lên: “Vậy là em đã...”. “Vâng”. “Và em đi Paris là...”. “Vâng”. Bỗng anh nhoài người, ôm ghì chặt tôi và hôn lên môi tôi. Mặc cho quán lúc đó vẫn còn một số nán lại chưa về hết. Ôi, bờ môi của anh, bờ môi mà có những lúc tôi mơ tưởng... Lúc đứng trước Hồ Tây, mắt nhắm hờ đón những cơn gió mát thổi ve vãn mái tóc, vòm má, vành môi mà cứ tưởng như anh đang hiện diện bên cạnh, sát bên tôi. Vòng tay của anh mà tôi cũng đã nhiều đêm nghĩ tới trong những đêm dài hưu quạnh mùa đông. Những buổi tối chia tay các bạn ra về sau những lần rủ nhau đi hát karaoke. Vâng, nụ hôn của anh lần đó kéo dài không biết bao lâu, nếu như tôi không choàng tỉnh và cố đẩy anh ra. Ba mươi giây, một phút hay cả thế kỷ. Với tôi khoảnh khắc ấy chẳng thể định vị hay do được. Nụ hôn ngọt ngào đầy đam mê, mà cho đến tận bây giờ, mỗi lần nghĩ về anh là cảm giác ấy lại trỗi dậy, chỉ một thoáng thôi nhưng sao lại kéo dài suốt cả một đời người! Chia tay anh ra về, tôi không còn thấy hứng thú đi mua đồ để chuẩn bị cho chuyến “xuất ngoại” nhiều như trước đó nữa. Tôi đi làm, đi mua sắm, tất cả như một cái máy. Trời Hà Nội như cao hơn, trong hơn vào những ngày cuối thu năm đó. Hai ngày cuối cùng ấy, tôi vừa muốn chúng trôi đi thật nhanh lại vừa muốn chúng chẳng bao giờ đến. Nhưng rồi nó cũng tới. Ra đến sân bay Nội Bài thì trời đã nhá nhem. Tôi bỗng giật thót mình khi ở góc đằng kia có một người đàn ông, mặc thường phục, và đeo kính đen, mặc dù trời đã tối. Là anh ư? Anh ra đây làm gì? Tôi đã nghĩ anh đi đón người thân trên chuyến bay nào đó. Nhưng không, vẫn chỉ đứng cách tôi đúng khoảng cách cho phép khiến cho có thể quan sát tôi cùng những người thân ra đưa tiễn mà không bị phát hiện. Trời ơi, tôi biết phải làm gì bây giờ? Tôi yếu đuối quá phải không bà, nhưng vẫn phải cười nói cho mẹ tôi, chị tôi và các em tôi vui lòng. Nhưng thực ra trong tim tôi đang nổi sóng. Tôi ra đi để lại một trời tình cảm vấn vương. Bên trời Tây kia có người đang đợi tôi. Nơi đó là cuộc sống đủ đầy, là chân trời đang rộng mở, là tiện nghi và đầy những cơ hội khác mà tôi còn chưa kịp biết đến. Còn nơi đây, là những năm tháng bươn chải, là kỷ niệm, là mối tình đơn phương đằng đẳng biết bao năm ròng... Cứ như vậy, nước mắt tôi lã chã tuôn rơi. Sau này, anh có kể chc tôi nghe rằng lúc đó anh chỉ muốn chạy lại để ôm chặt lấy tôi, để bảo tôi hãy huỷ bỏ chuyên đi, hay ít nhất cũng cho tôi lời động viên nào đó. Nhưng “ích gì”, anh thầm nghĩ thế. Tiếng loa vang lên mời hành khách chuyến bay Hà Nội - Paris vào phòng đợi. Thế là xong, tôi đã đi để cắt đứt mọi vấn vương của quá khứ mù lòa, để bắt đầu một tương lai mới... Vâng, lần đó, tôi cùng gia đình đi nghỉ ở thành phố Barcelona, trên bãi biển xứ Catalogne ấy, trời nắng chói chang, toàn cát khô và gió. Những chiếc ô rộng được giăng lên, các con tôi đùa dỡn giữa những con sóng bạc đầu cứ muốn chồm lên nuốt sâu tất cả những gì mà nó mơn trớn được! Vừa đưa mắt dõi theo các con, tôi vừa bốc những nắm cát ướt đưa lên cao, những hạt cát trôi tuột qua kẽ tay và lại rơi về với biển. Chắc việc làm cứ lặp đi lặp lại của tôi khiến một người đàn ông Pháp cảm thấy ngồ ngộ. Ông ta tiến lại gần chúng tôi, trên tay có một cuốn sách: “- Xin chào, đã có bao nhiêu hạt cát lọt qua kẽ tay của bà để rơi xuống biển rồi?!". “Ôi! có lẽ phải đến hai mươi ngàn năm trăm sáu mươi hai hạt, đấy là tôi chưa tính những hạt tôi đã không thể đếm được”, nhận thấy giọng nói vui vẻ của ông khách, nên tôi cũng phấn trấn đáp lại. “Bà đến từ Pháp ư?”. “Vâng, Paris! Còn ông?”. “Tôi đến từ Lyon”. Thế rồi cuộc nói chuyện cứ rôm rả dần lên. Chúng tôi nói về thời sự, so sánh nước Pháp dưới thời cầm quyền của Mitterrand và Chirac, sự chung đụng quyền lực giữa cánh hữu bảo thủ và cánh tả cấp tiến. Những thành tựu khoa học mà theo truyền thông, người Pháp luôn dẫn đầu trong phong trào này. Sự ghen tuông của người Mỹ đối với châu Âu mà Hoa Kỳ luôn gọi là thế giới già nua. Thế rồi từ chỉ đến kim, chúng tôi lại chuyển qua nói về văn chương, âm nhạc. Hình như chủ đề này vẫn là đề lài dễ nói nhất phải không bà? Chúng tôi nói say sưa về điện ảnh Pháp trung nhưng năm sáu mươi với Jean Gabin, Bourvill hay De Funes... trong những bộ phim để đời mà cho đến nay vẫn đứng trong hàng top ten của người dân Pháp cho dù đó là thế hệ già hay trẻ. Những áng văn chương để đời như Phu nhân Bovary, hay Lolita, Chuông nguyện hồn ai... Và rồi chúng tôi lại quay về Julien Gracq. Nhà văn sông đúng lương tâm của một nhà văn, cả đời chỉ đau đáu đi tìm cái gì đó mà theo ông, nó chỉ tồn tại trong văn chương. Vâng tôi biết, ông đã vừa qua đời ở tuổi chín mươi tám. Tôi nhớ chứ, trong ngày sinh nhật cuối cùng của ông, tôi đã gửi một tâm thiệp chúc mừng, và tôi đã nhận được một tấm thiệp ông gửi lại. Vâng, hàng năm chúng tôi vẫn viết đều đặn cho nhau vào những dịp đặc biệt. Thực ra, tôi được tin ông mất trong lần tôi đi công tác tại vùng Bắc Phi. Đêm đó, sau một ngày chạy như ngựa làm việc, vừa về tới khách sạn, bật ti vi TV5 để xem chương trình Thời sự Pháp, thì, khi ấy đang ở trong phòng tắm, tôi nghe thấy tiếng phát thanh viên đọc một hồi dài về thân thế và sự nghiệp của nhà văn mà theo như bài đọc là một nhà văn lỗi-lạc, một cây đại thụ trong làng Văn học lãng mạn Pháp của thế kỷ XX, thì tôi đã đoán là ai rồi, nhưng sao bỗng dưng lại đưa tin trên truyền hình, chắc là có chuyện lạ, bởi bà biết rồi đấy, Gracq là một nhân vật đặc biệt, chưa bao giờ chấp nhận lời mời của bất kỳ chương trình truyền hình nào. Tôi chạy bổ vào thì nhìn thấy bức ảnh của Gracq choán cả màn hình, tiếng người đọc vẫn lảnh lót phát ra: "... ông vừa qua đời tại ngôi nhà tổ để lại nằm trên con sông Loire hiền hòa thơ mộng ở tuổi chín mươi tám...”. Nếu nói tôi bị sụp đổ hoàn toàn thì sẽ không đúng, nhưng tôi buồn bà ạ. Đương nhiên là tôi đã nghĩ sẽ có những giây phút như thế này xảy ra, rằng chúng ta ai rồi cũng phải chết, và ông đã chín mươi tám tuổi thì cũng đã đến lúc phải ra đi... Nhưng tôi đã khóc, khóc dấm dứt tức tưởi như tiếc nuối một cái gì đó. Nếu trên cao kia, Gracq biết được là ở một nơi xa xôi, cách nước Pháp rất xa có một người đang khóc vì sự ra đi của ông, thì chắc ông cũng sẽ thanh thản hơn một phần. Nhưng tôi cũng muốn ông tha thứ cho tôi, vì gần đây, trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi mà ông đồng ý tiếp một nhà báo nổi tiếng của tạp chí Văn chương của Pháp, ông đã từng nói: "... khi ông chết, ông không muốn ai phải khóc thương cho ông, vì trong suốt đời mình ông không làm điều gì phải hối tiếc, ông rất hạnh phúc được làm người trên trần gian này...!”. Chúng tôi, tức tôi và người bạn đồng hành người xứ Lyon ấy, cứ nói về những tác phẩm của Gracq, nhà văn đã từ chối nhận giải Goncourt, cho đến lúc vì tò mò, tôi liếc nhìn cuốn sách đang nằm trong tay ông ta. Thì trời ạ! bà có biết đó là cuốn gì không? Đó là cuốn Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh - một văn sĩ đồng hương của tôi, đã được dịch ra tiếng Pháp. Tôi tròn mắt nhìn ông. “Bà biết cuốn này chứ, ông hỏi tôi?”. “Tại sao tôi lại không biết được nhỉ?”. “Vâng đó là một cuốn rất sâu sắc”. Tôi gật đầu đồng tình. Ánh mắt nhìn ra xa, theo dõi những con sóng cuồn cuộn đổ vào bờ, ông ta nói mà cứ như thì thầm, đôi lúc còn như đọc thuộc lòng cả một đoạn văn. Nhưng không hiểu sao bà ạ, lúc đó tôi lại không muốn tiếp tục câu chuyện với chủ đề chiến tranh mà trong tác phẩm của mình, Bảo Ninh đã đề cập đến rất nhiều. Tôi chỉ đáp lời ông với điệu bộ ra vẻ thờ ơ, và nói sẽ phải đọc lại cuốn này, vì tôi đã đọc từ rất lâu rồi và đã quên nhiều đoạn. Nhưng làm sao tôi có thể quên được hả bà, cuốn sách đã gần như chấn động dư luận Pháp khi lần đầu tiên nó xuất hiện bằng tiếng Pháp. Tôi chẳng cần phải đọc lại thì trong đầu tôi mọi cảnh tượng mà tác giả miêu tả trong truyện đều hiển hiện rõ mồn một. Những cánh rừng ngập ngụa trong nước. Những cảnh đâm giết, hãm hiếp... Những cô gái, những chàng trai tuổi vừa mười tám đôi mươi đến chôn vùi tuổi trẻ mình trong địa ngục trần gian. Rồi những lời tâm tình của tác giả, tôi còn nhớ một câu trong tác phẩm “viết tức là viết với những người thân yêu của mình...". Vậy mà trong tác phẩm của anh, anh đã viết rất nhiều về những người đã chết. Anh cứ như dựng họ dậy để bắt họ chia sẻ quãng đòi phía trước còn lại của anh. Tôi còn nhớ cảnh cô gái bị đám người hãm hiếp quần đảo xâu xé trong toa tầu, cảnh người đàn bà tên Phương đi hoang trong đêm vắng... Cảnh người họa sĩ già đốt tranh vẽ của mình... Cảnh người đàn bà vò võ đợi chờ gì bên quả đồi lộng gió với hai nấm mồ của một già một trẻ... Những cảnh súng đạn, chiến trận cứ quần đi đảo lại từ trang đầu tiên đến trang cuối cùng trong tác phẩm của anh. Vâng tôi chẳng cần đọc lại, thì vẫn hiển hiện lên trong đầu mình những câu chữ mượt mà chắt lọc của anh miêu tả những cảnh chiến tranh, cảnh chém giết, cảnh chia ly. Ngôn ngữ trong tác phẩm của anh lại ngược với một tác giả khác mà tôi vốn cũng rất thích. Truyện anh viết về thời bình, cuộc sống êm ả diễn ra hàng ngày trong thời kỳ đất nước đổi mới nhưng lại mạnh mẽ, đầy những cảnh đao búa, đĩ điếm, ngôn ngữ lại hết sức dân dã, đôi khi cộc cằn. Đến nỗi mà có một lần, do tôi quá ca ngợi nhiều các tác phẩm của anh ấy, mà một độc giả Việt kiều đã năn nỉ tôi cho mượn. Bà biết sau đó đã có chuyện gì xảy ra không? Chùng một tháng sau, ông ta gọi điện cho tôi và mở đầu bằng một trận té tát, khiến tôi, ngay tức thì, đã không thể hiểu nổi, tôi cứ nghĩ chính mình đã gây ra một điều gì đó phạm thượng khiến ông ấy nổi đóa như vậy, xin lỗi bà, ông ấy đúng ra tầm tuổi cha tôi hay còn già hơn chút ít và đã sống và làm việc tại Pháp gần năm chục năm nay. Sau một hồi bình tĩnh lại, tôi đã hiểu được. Ông ta nói rất bất bình với thứ ngôn ngữ được tác giả dùng trong cuốn truyện, rằng trong văn chương không được phép dùng các từ “đéo mẹ, đéo cha, mẹ kiếp... hay các từ: con mẹ ấy, thằng cha ấy, hay các các từ như đĩ điếm, hủ hoá... thì cũng nên tránh, ai lại đưa các từ đó vào văn chương làm gì, như vậy là khả ố..?!”. Trời đất ạ, tôi cứ ngỡ mình đang đứng trước một cán bộ tuyên huấn trong, những năm miền Bắc nước tôi đang trong thời kỳ quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội (đó là do tôi được nghe mẹ kể lại, hay tôi đọc được trong các tác phẩm văn học được viết trong thời kỳ này, chứ những năm đó tôi vẫn còn chưa ra đời), hay trước các thầy cô giáo trong môn đạo đức học trong trường phổ thông, mà các từ đó theo tôi là bị cấm kỵ. Vậy theo bà, ngôn ngữ văn chương là gì, phải chẳng theo ông đồng hương Việt kiều của tôi, thì ắt phải có một thứ ngôn ngữ riêng biệt trong văn chương sao? Thế bà đã đọc những tác phẩm bất hủ của Victor Hugo, như Nhà thờ Đức bà Paris chưa? Hay Phu nhân Bovary của Flaubert, hay những tác phẩm của Albert Camus, của Jean-Paul Sartre... Trong các tác phẩm của mình, những nhà văn lỗi lạc này đã sử dụng ngôn ngữ như thế nào nhỉ? Tôi chắc có lẽ ông ấy cứ vô công ra rả nói rằng mình rất thích văn chương, trên giá sách nhà mình chật cứng những tác phẩm bất hủ của các nhà văn danh tiếng trên toàn thế giới nhưng có lẽ, các tác phẩm ấy vẫn chưa một lần được giở ra. Chúng hẳn vẫn còn thơm phức mùi giấy mới mặc dù đã được xuất bản từ hàng chục năm. Thì cũng giống như một số gia đình trí thức ở Việt Nam mà tôi biết. Trong tủ sách của họ có khoảng năm bảy cuốn từ điển của năm bảy ngôn ngữ của các quốc gia khác nhau, những tác phẩm nổi tiếng của những nhà văn sống mãi cùng thời gian, nhưng khi tôi tò mò xem thử thì chúng vẫn còn mới cứng; thậm chí vẫn có cuốn còn bọc trong giấy ni lông. “Để trang trí mà”, có người thật thà nói với tôi như vậy. Thì ra là thế, đôi khi trí thức cũng cần những dụng cụ để trang điểm thêm cho mình. Tôi nhớ có một câu trong Kinh thánh, Đấng tối cao đã nói “Hãy tìm cho ta một kẻ công minh chính trực thì ta sẽ cứu độ cả thế gian này”, nhưng theo tôi, câu nói sẽ tuyệt hơn nếu ta thay “Công minh chính trực” bằng “có lương tâm và tình người”. Cả tôi nữa, tôi cũng biết đôi khi tôi không “có lương tâm và tình người” vì chính tôi, tôi cũng đã yêu anh, tôi cũng không nghe lời mẹ tôi khi bà muốn tôi trở thành bác sĩ để “cứu nhân độ thế”, theo như quan điểm của mẹ tôi thời ấy. Tôi cũng không học hết những kinh nghiêm của ba mình để có thể phát hiện ra những cây cỏ hữu ích cho loài người. Nhưng rồi tôi lại tìm bao nhiêu lý do để biện hộ cho mình, và một lần tôi vô cùng hạnh phúc và sung sướng khi đọc trong một tập truyện của TDA, trong đó có đoạn: "... nàng đau khổ bởi trái tim đa đoan và nhận hậu. Nàng luôn ngơ ngác trước cuộc đời bởi tin vào sự trong trắng, lương tâm của loài người. Nhưng tất cả những thằng đàn ông nàng gặp đều trở thành những nỗi thất vọng khôn cùng của nàng... vậy mà nàng vẫn cứ yêu dể rồi sau đó tự đau khổ và thích thú với nỗi đau khổ ấy..”. Theo tôi thì tất cả những ai yêu say đắm, mặc dù lầm lỗi thì vẫn luôn có chỗ dáng kính trọng và được tha thứ, phải vậy không bà? Ôi, bà sốt ruột quá rồi phải không, bà muốn tôi kể tiếp câu chuyện về nhân vật Q. ư? Anh cũng đóng vai trò không nhỏ vào quyết định của những nhân vật trong câu chuyện tôi đang kể đây. Vâng, cuộc đời của Q. thì cũng chẳng có nhiều tươi đẹp hơn, mặc dù cũng bắt đầu bằng những trang tuổi thơ trinh nguyên trong trắng đẹp như biết bao tuổi thơ khác. Q. may mắn, ra đời và sống hạnh phúc với cha mẹ. Nhưng cô bạn gái tên Mỹ Liên của anh thì không. Mẹ của Mỹ Liên qua đời khi cô mới lên hai tuổi. Nhà của hai người nằm trên hai bờ của một con sông. Hai người học chung một lớp. Vẻ mặt thơ ngây nhưng buồn thẳm, nhất là cặp mắt của Mỹ Liên đã khiến cậu bé mới lớn tên Q. nao lòng. Chẳng biết tằng cách nào, hai người chơi rất thân với nhau. Mỹ Liên sống cùng cha là kỹ sư âm thanh làm việc trong một cơ quan truyền hình. Nên nhiều khi đi làm theo ca và về muộn. Ông này là cán bộ miền Nam tập kết, lấy mẹ của Liên là y tá trong bệnh viện nằm trong quận nội thành. Ông rất ít nói và luôn trầm ngâm, như thể ông hận thế gian này một điều gì đó mà không thể nói ra. Hai đứa có một trò chơi mà hiếm ai được biết. Nhà của mỗi đứa nằm bên một bờ sông nằm giữa lòng Hà Nội, đều có hai con đường tấp nập đi lại vào ban ngày, nhưng khi đêm buông xuống, thì lại vắng tanh vắng ngắt. Mỗi tối trước khi tắt đèn đi ngủ, chúng thường lấy mảnh gương rọi vào ánh đèn cho vết sáng lóe sang tận cửa sổ nhà kia, như lời chúc ngủ ngon. Những buổi tan trường hai đứa đèo nhau bằng xe đạp chạy dọc đường Cổ Ngư. Tà áo dài trắng của Liên một lần đã vướng vào xích xe, trỏ nên lấm lem đen thui, hai dứa phải bỏ cả buổi sáng đi xin xăng và thuốc tẩy về giặt rồi ngâm xà phòng, hai đứa chỉ an tâm khi tà áo đã tìm lại được màu trắng tinh khôi như xưa. Rồi những buổi dã ngoại của trường ra vùng ngoại ô, hai đứa luôn đi bên nhau, cùng nhau chạy đuổi bắt những con châu chấu cào cào. Họ cùng nhau đọc một cuốn sách, đứa này đọc xong lại trao cho đứa kia. Họ cùng nhau tranh luận về những pha ly kỳ trong các truyện trinh thám, những cảnh lãng mạn âu yếm trong những cuốn tiểu thuyết chép tay mà ngày ấy lũ bạn trong trường dấm dúi truyền tay nhau đọc trộm các thầy cô giáo. Một hôm, khi chỉ có hai đứa nán lại trên sân trường vào ngày cuối hè lớp chín, chàng trai mới lớn đã run run cầm tay cô bạn gái, dám nhìn thẳng vào mắt cô và... thật bất ngờ, cúi xuống và hôn lên môi nàng. Nàng thoạt đầu bỡ ngỡ, nhưng sau đó hưởng ứng. Chẳng biết hai đứa đã say sưa như thế nào mà không để ý thấy bác quản trường già đang đi đến. Bác tốt bụng, lên tiếng e hèm đánh động từ xa, hai đứa buông nhau ra, ánh mắt ngượng nghịu, cúi gằm mặt, lý nhí chào bác quản trường. Bác làm như không nhìn thấy gì hết, nhắc hai đứa ra về để bác đóng cửa trường. Không nói ra, nhưng cả hai đều thầm cám ơn bác. Rồi bỗng một dạo, Mỹ Liên như câm nín hẳn, vẫn chăm học và hát hay như ngày nào, nhưng giờ đây, cô không còn tham gia vào các buổi văn nghệ của trường nữa. Sau mỗi buổi học, Mỹ Liên thường trốn tránh gặp mặt các bạn, thậm chí cả Q. nữa. Thoạt đầu nó chẳng hiểu, rồi qua tìm hiểu và những lần thủ thỉ hiếm hoi vởi Liên, nó đã dần vỡ ra một chuyện gì đó rất đáng sợ xảy ra giữa hai ông con Mỹ Liên. Q. không hiểu rõ lắm và càng tìm cách gần gũi với Liên hơn. Nhưng rồi một hôm, dù đã biết trước nhưng nó vẫn điếng người khi nghe Liên tuyên bố cha con họ sắp chuyển về Nam, rằng cha cô đã nhận được quyết định điều đi nhận công tác ở Sài Gòn. Nó chẳng biết nói gì, chỉ ngậm ngùi hỏi bạn sau này làm thế nào dể tìm được nhau? Thiếu nữ trẻ, sau chút tần ngần đã lấy kéo cắt xoẹt mái tóc dài đen óng của mình đưa cho bạn. Còn nó thì dúi cho cô cuốn nhật ký nhỏ mà đêm đêm, sau lúc rọi đèn chào nhau ngủ, nó thường lấy trộm đèn pin của cha nó chiếu lên trang giấy để viết. “Thế sau này anh có gặp lại cô ấy không?”.
Không nín được tò mò, tôi, ngay từ đầu câu chuyện vẫn giữ im lặng, thì lúc này chợt buột miệng hỏi. Q. lại thẫn thờ nhìn ra cánh rừng. “Có”. Một hồi lâu sau anh trả lời. “Tôi đã gặp lại cô ây, nhưng đúng ra chỉ tôi nhìn thấy cô ấy thôi. Đó là lần đang lang thang trên đường Sài Gòn, tôi thấy những tờ quảng cáo to tướng có đăng buổi trình diễn của nữ ngôi sao ca nhạc Mỹ Quyên, nhưng ảnh thì đúng là cô ấy rồi. Và tối đó, tôi đã lần tới xem, phải dốc hết cả nhiều túi tôi mới đủ số tiền mua vé vào cửa. Mỹ Liên của tôi vẫn như ngày nào, chỉ đằm thắm và kiêu sa hơn. Cô lộng lẫy trong các trang phục biểu diễn, cổ đeo đầy trang sức, áo phủ kim tuyến óng ánh. Dưới ánh sáng sân khấu, cô như đẹp hơn. Tiếng hát của cô cất lên cao vút, và tiếng vỗ tay rầm rập của khán giả mỗi khi cô hát xong một bài và cúi chào. Tôi cố xem hết buổi biểu diễn và chui ra rất nhanh sau khi màn hạ kết thúc. Tôi chen ra đứng sát nơi mà ca sĩ sẽ rời nhà hát. Rồi cuối cùng Mỹ Liên của tôi cũng đi ra. Bao quanh nàng là một hàng rào vệ sĩ, với đông đặc các khán giả hâm mộ. Tôi cố len vào cạnh nàng và hét lên “Mỹ Liên!” Nàng sựng lại, ngó tôi trong giây lát: “Chúng ta có quen nhau ư.”. Khuôn mặt nhếch nhác của tôi đờ ra và chiếc ống quần thừa của tôi lúc ấy lại cứ bay phấp phới, một tay tôi chống nạng, còn tay kia tôi vẫn nắm thật chặt đọn tóc nàng đã trao tôi xưa kia. “Không!”. Tôi đáp lại và quay đi. Thế là hết, giấc mơ của tôi, niềm hy vọng cuối cùng của tôi đã tan biến... “Thế còn thằng Tiến ở Khoái Châu, Hưng Yên, thằng Tiến cá ấy, các cậu có tin của nó không”, như để thay đổi không khí và xoá tan cảm giác của Q., N. V. lên tiếng hỏi. Sau này tôi được biết anh này nhận được biệt danh Tiến cá vì anh bắt cá rất giỏi và lặn được rất lâu dưới nước. “Thằng Tiến cá đó hả, Hùng đáp, để thằng Q. kể cho cậu nghe, nó rành chuyện này hơn tôi”. Sau khi tu cạn ly nước lạnh tôi đưa cho anh, Q. lại bắt đầu cất cái giọng ầm ừ của anh kể tiếp: “... sau khi ra khỏi nhà mà bây giờ đã trở thành trường mẫu giáo ấy, tôi chẳng còn biết đi về đâu. Người thân thích hai bên nội ngoại thì đều đã mất hết hay thảng có thì cũng ở rất xa. Họ có lẽ là những người cuối cùng đã được thông báo tin tôi liệt sĩ. Tôi nghĩ chẳng lẽ mình hiện diện dể đuổi các cháu mẫu giáo ây đi à, để giành lại mảnh đất ấy à. Vật vờ ba ngày trên bến xe, chợt không biết trời xui khiến thế nào, tôi nhớ đến thằng Tiến, và cứ lần địa chỉ theo trí nhớ để đến nhà nó. Căn nhà hoang tàn nằm cạnh nghĩa địa. Vợ nó dạo ấy cũng còn rất trẻ, những lúc ruộng đồng rảnh rỗi, thì ngày ngày làm hàng sáo dể kiếm thêm đồng ra đồng vào...”. “Thì nó cũng nói với chúng mình, nó phải cưới vợ gấp để tòng quân là gì”, N. V. buột miệng nói. Tôi bấu tay anh để ra hiệu cho anh im lặng. Sau một hồi ngơ ngác, Q. kể tiếp: “Khi đến được nhà cậu ấy, sau một hồi trò chuyện với cha mẹ, ông bà chỉ cho tôi ra nhà cô ấy. Lúc đó, trời đã nhập nhoạng tôT, nhìn thấy tôi đến, cô ấy rất hoảng hốt, tưỏng tôi là ma đến bắt tội... Tôi phải giải thích hồi lâu và lấy cây gật chống đập choang choang vào vách nhà thì cô ấy mối tin tôi là thằng người chứ không phải ma quỷ hiện hình gì. Bỗng trong góc nhà tối phát ra tiếng trẻ con khóc oe oe, cô quay vào bế đứa bé ra và nựng yêu nó. Nói trộm vía, thằng bé đẹp như tranh, làm sáng cả căn nhà tối om. Đôi mắt thơ ngây to tròn của nó giống thằng Tiến cá như đúc. Tôi giật nảy mình, suýt nữa thì văng chửi thề. Thế mà rõ ràng bố mẹ nó hồi nãy đã nói với tôi đã nhận được giấy báo tử, và trên bàn thờ là tấm di ảnh của nó. Vậy sao... Tối hôm đó, trong nhà có bao nhiêu đèn, tụi tôi lấy ra thắp sáng trưng, tôi còn trải chiếu ra trước mảnh sân, chẳng cách bãi tha ma là mấy để ngồi nói chuyện. Thỉnh thoảng tôi nghe thấy những tiếng sột soạt đầy nhân tính vọng vào. Vợ Tiến cá thì thầm: “Đó là đội dân quân và cả lũ em chồng của em nữa ra rình đấy... Chắc họ đã nghe tin có anh đến nhà em hôm nay!”. “Sao lại rình.”. Thế rồi trong nước mắt, cô ấy kể cho tôi nghe cảnh chồng chết mà có chửa của mình. Nhưng qua giọng kể, tôi không thấy cô có vẻ ân hận hay hối lỗi gì cả. Mà nét mặt cứ rạng ngời luôn nhìn đứa con. Cô giữ tôi ở đó mấy ngày. Cũng do chẳng biết đi đâu, nên tôi chấp nhận. Những ngày đó, tôi cố gắng lợp lại cho cô mái nhà. Phát quang những lùm cây um tùm mọc quanh. Đó là hang ổ của muỗi và rắn mòng. Kê lại máng nước, đặt lại những viên gạch vỡ trên sân... Cô còn kể, nhiều hôm nhìn thấy cả cặp rắn to dài thườn thượt như rắn thần trườn đi ngay trong sân, trước cửa nhà. Tôi cám cảnh cho cảnh mẹ con côi cút của cô ấy. Vì từ ngày cô bị dọn ra đây, gia đình chồng không hề hỏi han, bởi họ cho rằng cô đã thóa mạ gia đình họ, gây tai tiếng cho họ. Phải xin mãi, cán bộ thôn mới cấp tạm cho mảnh đất này để mẹ con cô dựng lên mái nhà tranh lây chỗ chui ra chui vào. Những ngày mưa dầm gió bấc, thì thật tội. Được ba hôm, tôi nói với cô ấy phải ra đi, cô ấy đã khóc hỏi tôi đi đâu? Tôi trả lời là vẫn chưa biết. Thế rồi tối hôm đó, trời vào đêm đã muộn lắm. Cô đắn đo rất nhiều như muốn nói với tôi điều gì. Rồi cô khóc nấc lên, trước khi... Các cậu biết rồi, chúng mình đã vào sinh ra tử cả trăm lần, sống cạnh những thấy chết ngổn ngang thì làm gì còn tin có ma hiện hữu trên dời này. Thế mà dêm đó, tôi cứ tưởng là có ma hiện hình thật các cậu ạ. Khi cô ấy đã bắt đầu nguôi ngoai, hết khóc, thì tôi nghe thấy những tiếng lịch bịch khác lạ trong gian buồng tối om. Còn cô ấy thì ngước mắt nhìn tôi và nói trong tiếng ngắt quãng: “... Thực ra, anh Tiến nhà em vẫn còn sống...!”. Thoạt đầu, tôi cứ ngỡ cô ấy quá quẩn nên nói vậy. Nhưng từ cửa buồng, thằng Tiến cá hiện ra. Tôi đưa tay dụi mắt. Cái con người đen nhẻm hom hem kia, nhưng cặp mắt nó vẫn to tròn và sáng rực. Nó cứ từ từ tiến về phía tôi. Tôi liền đưa thẳng tay đấm vào nó và trong tiềm thức, tôi nghĩ rằng bàn tay mình sẽ xuyên qua cả người nó. Nhưng tay tôi sựng lại khi động vào nó bằng xương bằng thịt hẳn hoi. Chưa nói năng gì, nó đã quỳ sụp xuống xin tôi tha thứ! Nó đã làm gì mà phải cầu xin tôi và lủ đồng đội năm xưa tha thứ nhỉ? Trong giây lát, tôi chẳng hiểu gì cả, và theo bản năng, tôi thấy vô cùng hạnh phúc. Nhưng cảnh đó chẳng kéo dài được lâu khi nghe vợ chồng cậu ấy tâm sự, mà đúng ra chỉ có mỗi mình cậu ấy nói: “... sau trận oanh tạc trận địa lần ấy, cả đơn vị hình như đã bị xoá sổ, tôi cũng bị chấn thương, nhưng cơ thể vẫn còn lành lặn. Sau nhiều ngày lang thang trong rừng, ăn lá cây và bắt cá sống để ăn. Trên tay không một thứ giấy tờ, không phương hướng, thế là tôi cứ thẳng phía trước mà tiến. Sau cả tháng suy nghĩ và đấu tranh, tìm về đơn vị hay đảo ngũ về làng. Cứ về gặp vợ và gia đình đã, rồi sau sẽ tính, cho dù có phải chịu đến hình thức kỷ luật nào. Vậy là trong một phút quyết định, khi ra đến đưởng quốc lộ, tôi nhảy ngay lên chuyến xe ra Bắc đầu tiên, khi chiếc xe này đỗ lại. Đến thành phố’ Vinh, lại nhảy tiếp lên tàu, và cuối cùng đến được ga Hàng cỏ. Đợi đêm tối, tôi mới dám lần tìm về nhà. Hôm đó, cha mẹ tôi đưa đứa em thứ ba vừa đậu đại học lên Hà Nội nhập trường, nên chỉ có vợ tôi ở nhà. Khi nhìn thấy tôi xuất hiện, cô ấy đã suýt kêu tướng lên và ngất xỉu ngay. Sau một hồi trợ sức thì cô ấy đã tỉnh lại. Tôi lần hồi kể hết nỗi gian truân của mình và những khốc liệt của chiến tranh cho vợ nghe, rồi cả đêm ấy, chúng tôi đã bàn tính để tìm ra giải pháp. Vợ tôi bảo tôi không thể xuất đầu lộ diện trong lúc này. Đứa em tôi vừa đậu đại học, có thể vì chuyện của tôi mà sẽ bị ảnh hưởng. Còn danh giá của gia đình, còn tiếng tăm của cha mẹ tôi... Thế là chúng tôi quyết định im lặng. Ngoài vườn nhà tôi vẫn còn một chiếc hầm đào để tránh bom. Nhưng đã vài năm không còn sử dụng nữa. Đêm đó, tụi tôi đã lụi hụi dọn dẹp trong đêm. Vợ tôi đem rơm xuống trải và đưa vào đó những vật dụng cần thiết, như nước uống và gạo rang, vẫn là thứ gạo rang cậu ạ! Chỉ đêm tối, cô ấy mới dám dem cơm đến cho tôi. Và có lẽ tôi sẽ lại ra đi nếu như...”, Tiến nhìn sang vợ, và nhìn đứa con đang ngủ ngon lành, miệng mút tay chùn chụt. “Khi ấy vợ tôi mang bầu. Khỏi phải nói cơn cuồng nộ của gia đình tôi đã trút lên đầu cô ấy! Nhiều lúc tôi đã muốn đạp hầm chạy ra. Tôi muốn giải thích cho cha mẹ mình hiểu rằng cô ây không hư hỏng như họ tưởng, rằng giọt máu cô ấy đang mang chính là người của dòng tộc họ, chứ không phải cô ấy đi hoang hay nằm bờ nằm bụi gì. Nhưng mỗi lần cô ấy đem cơm xuống cho tôi lại an ủi và cầu xin, nếu tôi còn yêu thương cô ấy và gia đình, thì cố nén chịu, rằng cô ấy, vì tôi, vì con sẽ chịu đựng dược tất cả... Đến khi cái thai được ba tháng, chuyện vỡ lở, và cả làng xóm đều biết thì gia đình tôi buộc cô ấy phải ra đi, và mọi chuyện diễn ra như thế nào thì cậu đã biết”. Tôi chẳng còn có thể nói được điều gì, hỏi Tiến cá bây giờ cậu ấy tính giải quyết mọi chuyện ra sao. Nó lắc đầu im lặng. Tôi bảo chuyện này không thể cứ giấu mãi được, rồi một mai con trai cậu lớn lên, nó sẽ nghĩ như thế nào? Đêm đó, Tiến đã bảo tôi thư hẵng đi, hãy ở lại thêm vài ngày nữa, biết đâu chúng tôi sẽ tìm ra giải pháp!”. Bỗng Q. nấc lên và văng tục: “Giải pháp cái con từu của nó. Nó đúng là dạng hèn mạt thì có!”. Tất cả chúng tôi đều ngơ ngác nhìn anh, không hiểu. “... Sáng sớm hôm đó, đang đứng tập thể dục trước mấy cái mả nhấp nhô, tôi thấy vợ nó hởt hải chạy ra, mặt tái mét, lắp bắp: “Anh Q. ơi, anh về đi, có chuyện rồi!”. Nhìn dáng vẻ của cô ấy, tôi cũng đoán là có chuyện. Dưới căn hầm ngầm trong buồng nhà mình, thằng Tiến cá đã cắt mạch máu tự tử. Máu lênh láng thâm dần xuống đất. Chưa bao giờ tôi lại hận đời, hận mình và hận thằng Tiến đến thế. Nó lại đổ thêm tội lỗi cho tôi và cho vợ con nó. Thế là, cả ngày hôm đó, chúng tôi vẫn làm ra vẻ không có chuyện gì xảy ra. Vợ nó vẫn để con cho tôi trông và gánh gạo đi chợ. Nhưng đến giữa buổi sáng, tôi lại thấy cô ấy gánh gạo về, mặt đỡ đẫn. “Tâm trạng em thế này, bán thì cũng lỗ và nhầm lẫn hết thôi, em đành nói với mấy bà ngồi cạnh là con em bị ốm...”. Cô vừa nói vừa gỡ tấm ni lông được buộc cẩn thận giấu kín dưới đáy thúng gạo. Đó là những thứ đồ lễ viếng mà người ta hay dùng cho người quá cố mới chết. Cả ngày hôm đó đối với chúng tôi sao mà dài lê thê. Lũ người tò mò cũng bắt đầu quen cảnh anh cụt chân, tay chống nạng đi sửa sang nhà cửa cho người đàn bà lăng loàn, nên họ cũng không dể ý đến bọn tôi nữa. Hôm ấy, khi màn đêm vừa buông xuống, tôi cầm xẻng ra ngay đầu nhà và hỳ hục đào. Cũng may là trời mới mưa, và cả khu đất nằm ở chỗ trũng, nên đào cũng dễ và nhanh. Khi huyệt đã đào xong, chúng tôi cũng chỉ dám thắp hương cho nó dưới hầm mà thôi. Chính tay tôi phải vuốt mắt cho nó, và lẩm nhẩm cầu khấn “Mày có sống khôn thác thiêng thì nhắm mắt lại đi, cố gắng tìm lại những thằng bạn cùng tiểu đội xưa kia nhé, biết đâu chúng nó cũng nằm lại một nơi nào đó trên miền đất không chủ. Nếu không thì phù hộ cho tao dược gặp lại chúng nó... thì khi ấy, cặp mắt mới chịu khép lại, chứ còn khi vợ nó làm động tác ấy cả chục lần, thì cặp mắt ấy vẫn cứ mở trừng trừng, như ai oán nhìn vào cõi dương thế! Đêm đó, chúng tôi hai kẻ cô đơn bất hạnh nhất trên thế gian phải quấn chiếu, chôn vụng chôn trộm người chồng thân yêu, người đồng đội đã từng vào sinh ra tử của mình. Hai hôm sau, tôi từ biệt mẹ con cô ây ra đi, trước lời cầu khẩn của cô ấy, tôi nhất định không nói tôi sẽ đi đâu. Vả lại chính cái thằng tôi lúc đó cũng có biết là sẽ đi đâu, về đâu đâu! Hay là ra dòng sông Hồng ngoài kia, giả vờ trượt chân và thế là, một cái chết mát mẻ không tức tưởi. Trong tôi hồi đó, chỉ còn một sợi dây níu mỏng manh như sợi tóc, đó là Mỹ Liên. Cô ấy có nói, cha con cô vào Sài Gòn, vậy tôi sẽ đi Sài Gòn. Chỉ mỗi ý muốn được gặp lại cô ấy đã thôi thúc tôi chống nạng lê chân đi bộ ra tận ga Hàng cỏ, nhảy tàu khách đi Nam... Phần còn lại, mọi người đã biết hết rồi”. Q. im lặng, cầm cốc nước mà tôi đã lại rót đầy đặt bên cạnh để uống một mạch. Hùng từ nãy giờ vẫn ngồi yên, giờ lại lên tiếng. “Cứ thỉnh thoảng, Q. lại bỏ bản đi vài ngày, có khi đến hàng tuần, và bao giờ trở về cũng buồn bã hơn và dằn vặt hơn. Một lần, không kìm được cậu ấy đã kể rằng hôm đó, về tới Hà Nội, đã cải trang đến tận nơi cậu làm việc. Thực ra, cậu ấy muốn đến kể cho cậu nghe câu chuyện thật của Tiến, để nhờ cậu, vừa với địa vị, công việc của mình vừa nhân danh đồng đội cũ của Tiến nên dễ có điều kiện hơn để có thể giúp đỡ mẹ con cô ấy. Nhưng hắn cứ đứng ở cổng cơ quan chầu chực nhiều buổi liền, đến nỗi ông thường trực ở cổng phải ra đánh tiếng hỏi. Khi hắn rụt rè nói mình là đồng đội cũ và muốn gặp cậu có chút việc. Ông ta đã chẳng thèm hỏi cho cặn kẽ mà nhìn hắn từ đầu đến chân rồi buông câu: “Đồng đội cũ, sao thời nay, những người làm to, chức cao vọng lộc lại có nhiều bạn cũ, bạn chiến đấu đến vậy!”. Và chính lúc đó, cậu ngồi trong chiếc xe sang trọng lao từ cổng cơ quan ra, hắn có giơ tay vẫy, nhưng ánh mắt cậu trượt đi trên mặt hắn. Thế là kể từ đó, hắn không còn bỏ ra đi lâu nữa...”. Có chuyện ấy thật sao? Tôi đưa mắt nhìn N. V. dò hỏi, nhưng anh chỉ gục đầu sâu trong hai lòng bàn tay mà không nói, không nhìn ai... Đợi cho những cơn xúc động lắng xuống, tôi đã lên tiếng hỏi, một câu hỏi cứ như trực đốt cháy môi tôi kể lúc Q. lên tiếng kể chuyện anh Tiến cá: “Thế còn anh Tùng, Trần Thế Tùng, anh ấy giờ ra sao, các anh có tin gì của anh ấy không.”. Chỉ khi câu hỏi đã thốt ra thì tôi mới biết mình đã lỡ lời và ngố hết chỗ nói. Vì chính lúc ấy, N. V. đứng dậy, loạng choạng bỏ ra ngoài, anh không thể chịu đựng được nữa. Chắc anh không còn muốn nghe số phận bi đát của người đồng đội cuối cùng của mình. Trong thâm tâm, anh hẳn nghĩ rằng: “Cũng chẳng hơn gì những người kia đâu!”. Không thể để anh một mình đi trong rừng lạnh như thế, tôi liền đứng dậy ngay, cầm theo miếng chăn mỏng mà Hùng đưa cho. Tôi đuổi kịp anh, khoác lên vai anh tấm chăn ấy. Anh im lặng không nói, nhưng cũng không phản đối. Buổi bình minh hôm dó, chúng tôi đi bên nhau. Những hạt sương sớm long lanh như mắt thỏ đọng trên các lớp lá. Anh khóc, anh khóc thực sự bà ạ. Những giọt nước mắt to tròn nóng hổi cứ xối xả rơi xuống. Tôi im lặng nắm chặt tay anh và để mặc cho anh khóc. Bởi tôi vẫn nhớ lời mẹ dặn: “khóc được, nước mắt chảy ra ngoài thì tâm hồn sẽ dễ chịu hơn...!". Con đường mòn len lỏi trong những cánh rừng già đưa chân chúng tôi đi. Chợt tôi nghe thấy tiếng Hùng gọi âm âm vang vang. Anh bảo chúng tôi quay về vì đoàn thám hiểm muốn nói lời chào từ biệt... Vâng, tôi sẽ kể tiếp cho bà nghe chuyện của tôi với NV . sau lần tôi lên phi cơ... bỏ cuộc chơi để đi Pháp. Thì tôi đã nói với bà rồi, là sự vô tình cứ đùa giỡn với chúng tôi mãi. Khi đến Pháp do nhu cầu công việc và sở thích tìm kiếm đồng hương, nên tôi gặp gỡ với rất nhiều người và đặc biệt là các du học sinh người Việt qua đây học tập hay làm nghiên cứu sinh trong các trường đại học. Lần đó, có B. người Hà Nội mà tôi đã tình cờ gặp trong một cuộc hội thảo về Đường sắt Việt Nam được Hội sinh viên Việt Nam cùng Công ty Đường sắt Pháp hợp tác thực hiện. Qua nói chuyện, tôi nói với B. là tôi sắp về Hà Nội. Em vô cùng phấn khởi, cho tôi địa chỉ và gửi chút quà về cho cha mẹ em. Tôi vui vẻ nhận lời. Và tối hôm đó, sau vài ngày đặt chân trở lại mảnh đất mà tôi vô cùng yêu thương, tôi đã gọi điện và hẹn đến gặp bố mẹ của B. Cả ngôi nhà to, bề thế nằm sâu trong một con hẻm trên đường Yên Phụ. Thật không thể tin nổi, cả gian phòng khách rộng thênh thang được treo đầy những bức tranh do chính cha của B. vẽ. Em đã không nói với tôi cha em là họa sĩ, và là một họa sĩ đương thời rất có danh tiếng tại Việt Nam. Tôi đang ngơ ngẩn ngắm những bức tranh sơn dầu, cả tranh sơn mài và thấp thoáng có những bức điêu khắc mà chủ nhà nói cũng chính do anh họa ra... Thật khó tin!