Chúng tôi sánh vai đi thăm cả khu công viên Hoàng gia rộng mênh mông, được chăm sóc cắt tỉa rất cẩn thận. Các bồn phun nước đủ các hình thù kỳ lạ. Mỗi kỷ vật nơi đây đều gắn liền với một thiên chuyện của mỗi triều thần. Khu chuồng ngựa, nơi nhốt chó săn. Cả một dãy nhà khách sáu trăm căn phòng rộng. Những hàng rào sắt bề thế cao hơn bốn mét bao xung quanh lâu đài. Điểm cuối cùng, chị nói muốn dành cho tôi một điều ngạc nhiên, đó là nơi ngủ của Vua và Hoàng hậu Pháp. Chiếc giường, có trướng phủ, rộng thênh thang ngự chính giữa gian phòng mênh mông. Chị kể nơi đây, cả triều thần mỗi tối đều lần lượt đi qua để kính chúc Vua và Hoàng hậu có một đêm tốt lành. Điều khiến tôi hãi hùng hơn cả, bác sĩ ạ, đó là khi Hoàng hậu sinh con thì phải để cả quần thần dân chúng nhìn thấy Công chúa hay Hoàng tử chào đời, tức là... Vâng, bà nói tục lệ phải thế thì tôi cũng tin thôi. Chỉ khổ thân cho Nữ hoàng Marie- Antoinette, người đàn bà xinh đẹp đa tình. Quá chán cảnh vương triều phù hoa mà bị dân chúng coi là đàng điếm, để rồi kết thúc cuộc đời mình trên đoạn đầu đài. Bà biết không, đúng lúc nhổ đến đoạn ấy thì bỗng dưng tôi muốn được anh yêu, cuộc đời thật mong manh quá, tôi muốn cảm nhận được hơi thở dồn dập của anh phả lên mặt tôi, tôi muốn cảm nhận được những cái ôm ghì, siết chặt, muốn cảm nhận được cả độ nặng cơ thể anh đè lên tôi, muốn cảm nhận được hằng hà sa số những sinh linh nhỏ bé tí ti đang từ cơ thể anh trườn vào trong người tôi, để biết được rằng chúng tôi vẫn đang tồn tại... Nhưng anh chỉ ôm hôn tôi thật nhiều. Mãi nhiều ngày sau, khi đã trở về thành phố, nghỉ ngơi trong khách sạn Hương Giang có cửa sổ rộng quay về phía sông Hương thơ mộng luôn lấp lánh ánh đèn khi đêm buông xuống, thì anh mới thú thực rằng đêm ấy anh đã không thể thực hiện điều đó mặc dù thấu hiểu được ý nghĩ của tôi. Bởi lẽ, anh luôn có cảm giác ở đâu đó, ẩn giữa đám lá xanh kia, hay đằng sau những thân cây lớn, có bốn cặp mắt đang chăm chú nhìn anh. Điều đó khiến anh sợ hãi và xấu hổ. Rồi tôi cũng chìm dần vào trong giấc ngủ mê mệt. Giữa chốn hoang vắng sâu thẳm âm u cô tịch, trên chiếc võng lênh đênh mà tôi ngủ không mộng mị, không trăn trở. Tôi chỉ mở mắt khi nghe thấy những tiếng ríu rít của chim chóc, tiếng chuyền cành của khỉ. Tôi giật mình khi thấy anh vẫn đang ngồi cời lửa. Nhìn cặp mắt ráo hoảnh của anh, tôi biết cả đêm anh đã không ngủ. Tôi bước lại gần và như có ý hỏi, thì anh chỉ cho tôi xem những vết chân thú hoang to gần như cái rành. Chúng giẫm đạp, xéo nát những đám cây tầng dưới rừng cách chúng tôi chừng năm mét. Anh kể đã phải ngồi cời lửa như vậy vì thú rừng sợ lửa. Tôi rùng mình hãi hùng. Nếu anh không có những kinh nghiệm đi rừng, nếu anh không nhanh ý thì có lẽ giờ này tôi đang bị nhào nặn trong dạ dày một con vật hoang nào đó. Anh đã kịp chuẩn bị trà nóng cho tôi và đang giở tấm bản đồ cùng những tờ giấy đã cũ nát ra tra cứu, rồi lại ngẩng lên nhìn xuống cánh rừng bạt ngàn. Những lối mòn xưa kia giờ đây đã bị che lấp bởi trăm ngàn những loại cây leo. Nhiều thân cây to đã đổ nghiêng ngả do bão hay do bị chặt đốn vô tổ chức của những người trộm rừng. Không nói ra, nhưng tôi nghĩ thực hiện được việc của anh thì đúng là mò kim đáy bể. Anh bóp trán suy ngẫm rồi bất chợt lấy một nắm hương trầm mà chúng tôi đem theo, anh đốt cả bó rồi lầm rầm khấn vái bốn hướng. Tôi biết anh muốn làm gì. Vốn không phải là người mê tín, anh làm vậy có nghĩa là giờ đây chuyện của chúng tôi chỉ còn trông chờ vào may rủi mà thôi. Tôi thấy anh gọi tên những người đồng đội năm xưa. Khóe mắt anh lại rịn ra những giọt nước mắt đặc quánh. Thời gian im lặng trôi đi, tôi nghe thấy cả những bước chân của các loài thú nhỏ trong rừng đi kiếm ăn buổi sáng, hay cả tiếng của các loài bò sát đang trườn đi trên lớp lá khô đã rụng đầy. Tôi lại bất chợt rùng mình, người sởn gai ốc. Đâu đây như có âm khí, ngày xưa mẹ thường nói vậy khi đi qua các bãi tha ma vào các buổi sáng sớm mà tôi thỉnh thoảng theo mẹ gánh rau đi chợ bán. Đúng thế bà ạ. Rất nặng là khác. Tôi thấy cây rừng bỗng xào xạc nhiều hơn một cách lạ thường. Có tiếng bầy quạ kêu quang quác đâu đó. Tiếng chó rừng rú âm âm u u. Những tàn nhang cùng nhau chỉ về một phía, ngay cả những làn khói cũng như đậm đặc thêm và đều bay tỏa về hưởng tây nam. Anh bảo tôi thu dọn đồ và cứ đi theo làn khói hương ấy. Tôi hối hả, trong lòng lại nảy sinh ra bao câu hỏi, chúng cứ chực phát ra, nhưng nhìn anh như đang nhập đồng, tôi không dám mở miệng nữa. Chúng tôi cứ đi như thế trong yên lặng. Cả cánh rừng trập trùng mờ ảo trong sương sớm. Một chiếc cầu khỉ bắc qua một con suối nhỏ. Những con thỏ rừng tròn xoe mắt ngắm bọn tôi đi qua. Những con khỉ ngồi đánh đu trên các cành cây. Tôi vướng víu trong đống đồ đạc lỉnh kỉnh, chúng không ngừng bị các cành cây níu lại. Khoảng cách giữa tôi và anh ngày một xa dần, nhưng tôi không đủ hổ thẹn để gọi anh chờ. Đang mơ màng giữa thiên nhiên như mộng như ảo, tôi chợt nghe thấy tiếng anh rú lên đau đớn. Tiếng rú của con thú bị thương, tiếng rú cuồng loạn cùng đường, tiếng kêu của sự đau đớn tột cùng phát ra từ đáy sâu tâm khảm. Tôi tức tốc chạy về phía anh, sau năm lần ngã và đầu gối tượt máu tươi thì tôi cũng đến được chỗ anh. Một cảnh tượng hãi hùng. Anh đang quần nhau với một con lợn rừng, trên mặt đất là những mẩu xương trắng nằm rải rác lệch lạc. Con lợn lòi hung dữ nhảy tới, hai chiếc răng nanh dài và nhọn hoắt của nó chỉ chực đâm thẳng vào anh, mắt nó long lên, dãi dớt từ miệng chảy ra, nhỏ tong tong xuống đất dưới chân nó. Còn anh, một tay vẫn cầm nắm hương trầm đang nghi ngút khói, tay kia cầm chiếc gậy chống khua nhanh về phía hung thủ. Trong giây lát thôi nhưng hình ảnh ấy khắc sâu mãi vào tâm tưởng tôi. Sau này tôi đã gặp lại nó trong một lần đi công tác ở châu Phi, trong một buổi lễ làng của một tộc người nằm mất hút trong một hoang mạc đầy cát của đất nước Bali. ‘Người điều khiển buổi lê cũng có những động tác y hệt thế. Còn lúc ấy, không hiểu sao tôi lại nhanh trí. Tôi đã dốc hết nước trong hai chiếc bình tông sắt đem theo và ra sức gõ vào nhau. Tiếng kêu đã làm cho con vật hoang giật mình sợ hãi và lủi đi mất. Tôi đã đi hết những ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về NV . của tôi. Lúc này anh đang quỳ xuống, bốc từng nắm đất rồi áp nó lên ngực mình. Còn tôi bây giờ mới đủ bình tĩnh để ngắm lại “chiến trường". Những mẩu xương trắng, xương ống, xương sườn, xương khuỷu, xương đầu, xương đốt... đủ hết bà ạ! Mà nhiều thật là nhiều, có lẽ đến cả tiểu đội người đã bị chết chôn vùi cùng một lúc. Trong khi đó, năm hương mà anh vừa cắm xuống đất vẫn không ngừng chĩa tàn nhang về hướng tây nam và làn khói tỏa ra vẫn theo gió bay về hướng ấy. NV . hối hả bốc đất lấp lên những rảnh xương. Tôi giúp anh như một cái máy. Khi bốc đất, tôi nhặt được một chiếc thẻ nhỏ bằng nhôm, có khắc tên Trần Huy Lạp, a2 b6 c6... tôi đưa cho anh. Anh lẩm bẩm: “Thằng Lạp a2..., đúng rồi anh có biết nó. Nó là thằng tán dóc rất giỏi, và có tài làm thơ và chơi nhạc. Trời ơi, ai ngờ đâu giờ nó lại nằm ở đây!”. Cả anh nữa, đang hăm hở bốc đất, tôi bỗng thấy anh khựng lại, anh vừa tìm thấy một chiếc ví da màu nâu, đã xỉn lại do bị dầm đất lâu ngày. Anh gọi tôi tới, và giở chiếc ví. Trong ví là một bức ảnh cô gái còn rất trẻ, chừng mười tám, hai mươi tuổi, chiếc răng khểnh lộ ra dưới nụ cười tươi tắn. Phía sau có hàng chữ mềm mại, hơi nhòa đi nhưng vẫn còn đọc được: “Hãy chiến thắng trở về, em sẽ đợi! V. T. Hải nam Hà Nam Ninh ngày 16 tháng hai năm 1971. Trịnh Thị Hằng". Anh lấy miếng ni lông buộc cẩn thận chiếc ví, nó sẽ là báu vật để anh tìm ra thân thế của một trong những người đang nằm dưới lòng đất kia. Anh dùng dao phát quang hố chôn tập thể thành một khu rộng rãi, và đắp thành một nấm mộ cao. Anh đánh dấu vào các thân cây to mọc quanh đó, ngày giờ chúng tôi đã phát hiện ra ngôi mộ. Cắm nắm hương đốt cháy nghi ngút lên nấm mồ vừa đắp, anh khấn các đồng đội và hứa sẽ quay lại đưa các anh về các nghĩa trang liệt sĩ. Anh cũng không quên khấn họ phù hộ cho anh tìm ra mộ chí bốn người bạn mà anh xướng tên rất to. Chúng tôi cứ đi như vậy bao lâu tôi cũng không rõ nữa, chẳng ai nói với ai lời nào. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng. Tôi miên man cố gắng tìm câu trả lời cho chính những câu hỏi của mình muốn đặt ra cho anh. Còn anh đang nghĩ gì, tôi cũng không biết. Chúng tôi cứ đi, đi mãi, ngược lên vùng thượng nguồn con suối. Nó cứ trúc trắc ngoằn ngoèo, chỗ áp sát vách đá, khi lại đủng đỉnh xuyên qua những thung lũng nhỏ. Có những chỗ phình to ra, tạo thành những vũng nước rộng và sâu, nước trong vắt nhìn thấy cả những viên sỏi trắng dưới đáy, những con cá lườn đen bơi ngúc ngắc. Phải nói thật với bà, cũng có những lúc tôi hôi hận vì đã theo anh đi. Anh đang hăm hở phía trước, còn tôi lui cui đi phía sau. Hình ảnh đó khác xa với viễn cảnh lãng mạn mà tôi đã vẽ ra trong đầu mình. Tôi hình dung những cánh rừng bạt ngàn, có những lối mòn lắt léo, có tiếng chim ca hát hay ít ra cũng có những con sông như một ngày nào đó trong quá khứ xa xưa, tôi đọc một cuốn sách viết về những cánh rừng Amazone. Có những con tàu len lỏi trong các kênh rạch để bán nhu yếu phẩm cho những người dân tộc thiểu số với giá cắt cổ hay đổi lấy những sản phẩm quý hiếm mà họ kiếm được trong rừng... Còn đây, mặt trời lại bắt đầu ngả về phía tây mà tôi vẫn chưa gặp một con người nào. Bất chợt tôi nghĩ đến Gabriel Marquez và những tác phẩm của ông, Trăm năm cô đơn hay Tình yêu thời thổ tả và những truyện khác nữa. Khi ông viết về hai con người khốn khổ chạy trốn hiện thực trên con tàu lênh đênh trên sông. Hồi ấy, tức hồi tôi còn là thiếu nữ ấy bà ạ, thì tôi đã cho là hoang đường. Nhưng tôi và anh lúc này có khác gì đâu, ra đi để tìm quá khứ hay chạy trốn hiện tại. Liệu những gì các nhà văn viết ra có đúng như những gì diễn ra trong cuộc sống? Nếu không thì sự thật chiếm bao nhiêu phần trăm? Những gì anh viết ra trong cuốn sách của anh có thật không, bao gian khổ, bao nhọc nhằn dưới mưa bom thác lũ mà sao tôi vẫn thấy thật đẹp, thật lãng mạn. Hình ảnh người lính với cây đàn ghi-ta bên đám lửa bập bùng trong đêm, những cô giao liên tuổi mười tám đôi mươi dưới mưa dầm dề mà môi vẫn đỏ, má vẫn hồng. Những lần anh cùng đồng đội đi trinh sát vào tận hang ổ của giặc, phải trườn đi dưới những hàng rào dây thép gai chỉ một sai sót nhỏ thôi thì cũng phải trả giá bằng cả sinh mạng... Tất cả những chuyện đó có bao nhiêu phần trăm là anh hư cấu, bao nhiêu phần trăm là anh viết theo trí nhó? Tôi cũng không biết. Tôi những muốn anh kể cho nghe về tuổi thơ của anh, đoạn đời mà tôi vẫn còn mù tịt. Còn lúc này, tôi chẳng thấy lãng mạn hay trữ tình gì cả, tôi đi mà cứ như lê bước theo anh. Tôi những muốn bọn tôi dừng lại giữa thung lũng này, cắm trại và đốt lửa. Trời đang về chiều và hơi sương bắt đầu bốc lên, tôi cảm thấy lạnh, còn anh lại cứ hăm hở bước đi. Tôi những muốn kêu, muốn kéo anh lại nhưng có một cái gì đó còn mạnh hơn cả tôi cứ hút tôi theo anh mà không hề mở được miệng. Liệu anh có hiểu được suy nghĩ của tôi, những tàn nhang phảng phất rơi xuống. Trời ạ, anh đã dừng bước bởi... bó hương trên tay anh đã cháy gần hết. Rồi tôi cũng thuyết phục được anh dừng lại cắm trại nghỉ bởi cả người tôi đã rét run lập cập. Môi tôi đã lạnh giá và tôi bắt đầu... khóc. Tôi cứ ngồi bệt trên đám cỏ mà nước mắt dàn dụa, tôi cũng không biết tại sao và khóc vì cái gì nữa. Lúc này thì anh cuống bà ạ, cuống thật sự. Nhìn anh cứ chạy lòng vòng quanh tôi để dỗ tôi hết khóc. Sao anh không hiểu rằng hãy để cho tôi khóc một lát rồi sẽ hết, chứ anh càng dỗ thì tôi lại càng tủi thân và khóc to hơn. Cuối cùng anh đành kéo đóng đồ đạc ra sát sườn suối và cắm trại đốt lửa. Đám lửa bùng lên cũng là lúc tôi đã chán với chính những tiếng U u ê ê phát ra từ miệng mình và sán lại bên anh. Anh chỉ ném cho tôi một cái nháy mắt và tủm tỉm cười. Nền trời phía tây đỏ ối, từng đám mây đen nặng nề đầy đe dọa kéo về bao trùm trên đỉnh núi cách chúng tôi không xa. Tôi có cảm tưởng chỉ nghển chân lên là có thể bốc được một nắm mây đưa xuống xào nâu trên ánh lửa bập bùng, đang reo tý tách. Cà phê đã chuẩn bị xong, mùi thơm được gió đưa đi rất xa rồi lại quay về quần tụ xung quanh chúng tôi. Đêm nay, tôi muốn thức để canh lửa thay anh. Để anh được nghỉ ngơi nên đã cố tình pha cà phê thật đặc và khuyến cáo anh không nên uống. Tôi pha cho anh một thứ nước lá đặc biệt mà chỉ có ba tôi mới có được bí mật ấy và ông đã truyền lại cho tôi. Một thứ lá gây ngủ nhẹ nhàng và có nhiều chất dinh dưỡng. Nó thơm nồng nàn chẳng kém gì nhân trần nhưng lại có nhiều tác dụng cao hơn và đương nhiên cũng kỳ công hơn để chế biến. Ôi, cha tôi, hiện ông đang phiêu du nơi nào trong cõi thế âm của Bồ Tát. Xưa kia ông cũng rất thích được đi chu du thiên hạ. Được đi đến những vùng núi cao nguyên sơ để tìm những “cây cỏ” của ông. Giờ thì tôi đang ỏ đây, nơi mà hiếm khi có chân người bước đến, nhưng tôi lại không biết hết giá trị của các cây cỏ đang mọc đầy quanh tôi đây. Cây nào cần hái và cây nào nên bỏ qua... Chúng tôi giở bánh khô ra ăn. Anh nói khi ăn như vậy làm anh nhớ tới những lần trước khi chuẩn bị hành quân tiến sâu vào vùng địch. Cũng những tách cà phê hay lá chát, cũng những mẩu lương khô thay cho bánh bích quy như thế này. Tôi nghe mà thấy SỢ, liền nhắc anh đây không phải là chuẩn bị đi trận hay gì cả, mà chỉ quay về để tìm lại những kỷ niệm xưa của anh mà thôi. Những tia đỏ rực cuối cùng trên bầu trời đã tắt lịm. Gió bắt đầu thổi ngày một mạnh khiến chúng tôi hơi chật vật để giữ đám lửa. Tôi lại thấy sợ bà ạ, liền chắp tay khấn cha mẹ và anh trai tôi. Tôi xin họ hãy đừng để cho cơn mưa rừng ập đến vào đêm nay. Hãy để cho tôi thưởng thức một đêm trọn vẹn canh giấc ngủ cho anh giữa vùng rừng núi âm u này mà không phải lo giữ lửa và canh thú hoang. Chẳng biết lời khấn khứa của tôi có linh nghiệm hay không, nhưng bầu trời như sáng lên, những đám mây vần vũ bắt đầu tản dần. Nền trời tím mờ lại hiện ra và những vì tinh tú nhỏ li ti lại lấp loáng đâu đó và vầng trăng lá lúa lại mỏ cửa thu phục bầy con trở về dùng bữa tối. Chiếc mặt đồng hồ nhỏ xíu như ngón tay út có gắn ảnh đứa con gái xinh xắn của tôi, mà tôi đã đặt làm tại một cửa hiệu đồng hồ nổi tiếng nằm trên đại lộ Champs-Elysée, đã nhảy sang hai mươi hai giờ, tôi giục anh đi nghỉ, và tuyên bố hôm nay tôi sẽ thức, và chẳng có lý gì khi chỉ có tôi được quyền ngủ còn anh lại phải thức. Trước sự ngạc nhiên của tôi, anh đồng ý ngay và còn dặn khi nào tôi mệt quá thì gọi anh dậy. Tôi gật đầu và lôi một cuốn sách ra đọc. Cuốn Tôtem Sói của Khương Nhung. Một tác phẩm đầu tay của một trí thức gia Trung Hoa. Nghe nói ông đã thai nghén cuốn sách này hàng hai chục năm ròng với những ghi chép tỷ mỷ về loài sói, về những nghiên cứu về vùng thảo nguyên của đất nước Mông cổ, tường thành của Thành Cát Tư Hãn - con người vởi vài chục vạn quân đã xây dựng một nền Đế chế mênh mông, có tham vọng chinh phục toàn cầu từ thời thế kỷ thứ mười hai sau công nguyên. Loài sói mà chúng ta vẫn được biết đến với các tính cách gian manh xảo quyệt của chúng, dưới ngòi bút của Khương Nhung được hiện ra rành rõ hơn, cụ thể hơn. Trong sách, ông miêu tả sự khôn ngoan và trí tuệ của sói, lẫn cả tài năng quân sự và tính cách ngoan cường của chúng, sức hấp dẫn đến mụ mị của chúng của những người dân du mục. Sói còn được tôn lên là ông tổ, là vị thần chiến tranh bởi chúng biết cách bầy binh bố trận, bởi chúng biết trợ giúp và không bỏ bạn trong những trận tranh đấu yêng hùng với... loài người hay những loài thú hoang khác. Cứ hết trang này đến trang khác, tôi bị Khương Nhung cuốn đi theo ngòi bút của ông, và chỉ dừng lại khi đám lửa lụi dần để tiếp thêm củi khô. Bỗng tôi dừng phắt lại, đâu đó như vẳng tới tiếng sáo. Tiếng sáo cứ vi vu sâu thẳm khi trầm khi bổng, lúc lảnh lót. Ngẩng lên, tôi nhận thấy ánh sáng tỏa từ vầng trăng lưỡi liềm đã bao tỏa khắp cánh rừng ngút ngàn xung quanh tôi. Xa xa, cách tôi chừng vài chục mét có bóng người đang ngồi trên tảng đá sừng sững giữa bầu trời đêm và say sưa thổi sáo. Vén tấm cửa lều bạt, tôi không còn thấy NV . trong đó nữa, vậy người kia đích thị là anh. Tôi buông sách, tra thêm củi vào lửa và nhè nhẹ đi đến bên chàng nhạc công của tôi. Anh vẫn say sưa, mắt nhằm hờ, các ngón tay cứ lướt đi trên từng nốt sáo. Tôi dứng trân bên anh, ngạc nhiên khiến tôi không phát ra được lời nào. Chừng nhận ra có người đứng bên, anh ngừng thổi và quay lại. Bà biết không, khuôn mặt anh bây giờ lại đổi khác, thật hiền và lãng mạn, ánh mắt dịu ngọt khiến tôi, qua ánh sáng trăng, nhìn thấy cả hình mình trong đó. Anh buông sáo và kéo tôi vào lòng. Tôi chỉ ngoan ngoãn làm theo những cử chỉ của anh mà không đáp. Tôi không biết là anh biết chơi sáo và lại chơi rất hay nhường ấy. Có một câu hỏi cứ cháy bỏng môi tôi muốn thốt ra, nhưng tôi sợ làm tan vỡ giây phút này, giây phút thiêng liêng anh đang sống thật với chính tâm hồn mình. Rồi anh cũng nói, câu nói lại khiến tôi ngạc nhiên hơn nữa: “Em có biết ai đã dạy cho anh thổi sáo không?”. Tôi lắc đầu. “Chính thằng Lạp đấy, Trần Huy Lạp mà ban sáng em đã tìm thấy hài cốt nó đấy!”. “Vâng!”. Tôi chỉ nhỏ nhẹ đáp lời anh, và thì thầm: “Nghe tiếng sáo của anh, em không còn mất thì giờ để đi tìm ý nghĩa của cuộc sống nữa!”. Thì bà bảo tôi còn có thể nói được gì hơn thế trong những tình huống ấy chứ? Và đêm đó anh đã thủ thỉ tâm sự với tôi nhiều thứ. Rất nhiều bà ạ, những điều mà, theo tôi biết, anh chưa bao giờ kể cho ai nghe hay viết ra trong những tác phẩm của mình. Bây giờ thì tôi đã hiểu hơn, những gì đã khiến các anh, những người lính trận, chân dầm bùn mà vẫn cứ lạc quan yêu đời đến vậy. Điều này khiến tôi suy nghĩ lại vì tôi biết, tôi hay phần đông trong chúng ta, sống giữa cuộc sống đủ đầy thì đôi khi lại cứ chật vật đi tìm ý nghĩa của cuộc sống! Anh kể cho tôi nghe những năm tháng phá rẫy làm nương, nuôi gia súc chờ chiến dịch... Những chuyện như vậy có lẽ tồi đã được đọc trong các bài phóng sự hay các cuốn tiểu thuyết về đề tài chiến tranh, nhưng chưa bao giờ nghĩ rằng chính anh, bàn tay với những ngón dài thanh mảnh chuyên cầm bút hay gõ trên mặt các bàn phím của anh đã từng cầm cuốc, đã từng đào lỗ để tra hạt, và cũng đã từng rắc hạt cho gà ăn, tự mình tạo ra những luống rau xanh giữa vùng rừng núi hoang sơ như thế này... Tôi nâng bàn tay anh lên, hôn lên từng ngón, tìm tòi trong đó xem chúng còn chứa những bí mật gì nữa mà tôi chưa khám phá ra. Cứ miên man như thế, vầng trời phía đông đã ửng hồng lúc nào không hay. Tiếng chim đã lại lan tỏa khắp không gian và một ngày mới lại bắt đầu. Tôi lấy cuốn sổ nhỏ ra ghi chép lại tất cả những gì tôi đã cảm nhận được nơi anh. Chúng đẹp quá, lãng mạn và ân tình quá khiến tôi sợ đến một lúc nào đó sẽ quên đi mất nếu như không ghi lại. Thu dọn đồ đạc, dùng cà phê và chúng tôi lại lên đường. Những vách núi cứ cao dần lên. Mặt trời như tăng tốc và càng về trưa, không khí càng nóng hừng hực. Khi đã dứng bóng, chúng tôi dừng lại, và lần này là do anh chủ động, Tôi ngán ngẩm nhìn mấy thứ đồ khô, và tỏ ý không muốn ăn, không phải là tôi không thấy đói. Không nói gì, anh chỉ bảo tôi hãy đốt lửa và chờ anh rồi đi về phía bờ suối. Chừng ba mươi phút sau, anh quay lại với hai con cá to như bắp chân trong tay. Chúng vẫn còn sống nguyên và đang vùng vẫy, bắt nắng loang loáng dưới ánh mặt trời. Nhìn hai con cá to, tôi rùng mình, nhưng chắc anh hiểu được suy nghĩ của tôi, nên cười và nói: “những con cá kiểu này chỉ chừng từ bốn đến năm tuổi là cùng...!”. Chắc anh đã đoán là tôi đã nhớ lại câu chuyện anh kể hôm trước. Nướng cá ăn xong, nghỉ ngơi đôi chút và chúng tôi lại lên đường. Tôi đi sau anh và khoảng cách không còn quá xa nữa. Chẳng mấy chốc, trời đã nhá nhem tối. Bỗng tôi thấy anh sung sướng quay lại gọi tôi và chỉ tay về phía xa xa. Theo tay anh, tôi nhìn thấy dưới thung lũng một ngôi làng chừng chục nóc nhà tranh tuềnh toàng có ánh sáng lửa lung linh. Đi thêm một đoạn đường khấp khểnh những đá sỏi, chúng tôi bắt gặp một con đường xuyên rừng nhão nhoẹt đầy bùn sau những cơn mưa rừng dầm dề từ mấy hôm trước. Nhiều đoạn đã sạt lở để lại những hố sâu đen ngòm bên vực thẳm cao hàng trăm mét. Những tia nắng cuối ngày bị chẻ nhỏ xuyên qua những tán lá rậm tạp. Một con vắt đã bám vào chân anh từ lúc nào không hay, giờ đã hút no máu, tự nhả ra để lại một vết thương to ngang hạt gạo làm máu từ chân anh tuôn ra xối xả. Tôi thất kinh rùng mình, miệng méo xệch và đã rợm khóc, nước mắt đã kịp rịn ra óng ánh trên mí mắt. Tôi cũng không hiểu tại sao từ hôm theo anh vào chốn rừng sâu này, tôi dễ khóc quá! Nhưng anh chỉ im lặng, ngắt một đọn rêu trên vách đá, vò nát và đắp vào vết thương. Chỉ trong giây lát, máu đã thôi không chảy nữa. Tôi lại ngạc nhiên nhìn anh, anh chỉ cười và đáp: “Bí quyết cầm máu mà anh đã học được từ hồi chiến tranh đấy!”. Rồi chúng tôi lại cắm cúi bước về khu làng đang hiện ngày một rõ hơn trước mặt. Cổng vào làng là hai vòng rào chắn ngang được làm bằng loại tre lồ ô vót nhọn để ngăn thú dữ. Ngôi làng nhỏ hiện ra bình yên đến kỳ lạ dưới thung lũng sâu. Cả làng chỉ vẻn vẹn chục nóc nhà lúp xúp, mái lợp bằng ống lứa, ông bương chẻ đôi chẻ ba, vách nhà che bằng nhũng tán lá khô ghép chặt lại. Mọi thứ đều còn rất hoang sơ như thời tiền sử. Nhìn qua phong tục, cách dựng nhà, anh nói với tôi đây là bản làng người dân tộc Ve. Dân tộc Ve? Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói đến, còn anh nói về họ cứ như khi ta nói về dân tộc Mường hay dân tộc Thái vậy! Đến gần $át làng, chúng tôi bắt gặp những đứa trẻ chân trần, bụng to với mái tóc màu hung đang đứng chăn những đàn heo rừng bên bờ suối. Vào đến trong làng, tôi nhìn thấy những người đàn ông môi dày, mắt trắng luôn mang vẻ ngơ ngác nhìn người lạ mới đến. Còn những người phụ nữ thì lại có chiếc mũi cao thanh tú, mắt xanh màu lục bảo. Tôi thấy lạ, hay phải chăng cặp mắt của những người đàn bà này đã nhuốm màu của những cánh rừng đại ngàn. Đây phải nói là một trong những nơi hoang dã nhất mà tôi đã từng đặt chân đến. Có những loài thú lạ mà loài người còn chưa phát hiện ra. Những con chồn dơi, tắc kè bay đồng loạt đập cánh tới tấp khi nghe thấy tiếng động. Bên rìa làng có dòng sông lớn chảy qua mà sau này cố gắng tìm hiểu, tôi biết được nguồn gốc của nó, đó là dòng sông Ring, một nhánh của sông Thanh bắt nguồn từ đất nước Lào lân cận. Tôi cùng anh ở lại bản ấy hai ngày liền. Những người dân tò mò muốn biết chúng tôi là ai. Họ say sưa ngắm chiếc walkman hiệu sonny của tôi và rì rầm trao đổi với nhau bằng thổ ngữ của họ. Dù không hiểu, nhưng tôi đoán họ muốn biết tại sao một cục sắt nhỏ như bàn tay lại biết nói và phát ra những âm thanh lúc to lúc nhỏ, và còn biết... cả hát nữa. Qua tìm hiểu, tôi biết được tộc người Ve này đã được bộ đội biên phòng phát hiện ra vào năm 1980 và ngôi làng này được hình thành dưổi chân ngọn núi Pèng Giàng. Người trưởng bản có tên là Kring T’rây, trong nhà anh, chúng tôi phát hiện thấy có nhiều gùi thú rừng, nỏ săn thú và vô số những mũi tên tẩm thuốc độc. Với giọng nói the thé, tiếng Kinh bập bẹ, Kring T’rây kể: “Mình không biết năm nay đã được bao nhiêu tuổi rồi. Chỉ biết được các chú bộ đội biên phòng bày cho cách trồng lúa nước. Chú công an làm cho cái giấy chứng minh nhân dân từ mùa lá rụng năm trước. Mình có biết cười mà không biết mặt cái chữ”. Ông kể rằng ông bà có năm người con. Các con ông được chính phủ địa phương cho về trung tâm xã đi học từ năm trước. Còn chính bản thân ông thì chỉ biết săn bắt, hái lượm và sống du canh du cư theo bản năng xa xưa của dòng tộc giữa rừng xanh mây núi đại ngàn. Theo ông, ngôi làng này định cư tại đây được hơn mười năm, rồi bỗng một hôm cả làng vội vã kéo nhau đi sâu vào trong rừng thuộc tỉnh Kon Turn để lập lại làng sinh sống vì do có điềm xấu xuất hiện. Hôm đó trưởng bản quyết định dời dân chỉ vì có một con gà mái đẻ ra một quả trứng có dính máu. Mà theo tục lệ của người Ve, khi gà mái đẻ trứng có dính máu thì phải giết gà ngay, nếu không sẽ có đại họa ập xuống buôn làng. Giết gà xong mà còn phát hiện ra con gà khác vẫn còn đẻ trứng dính máu thì ngay lập tức phải chuyển làng đi nơi khác. Nhưng ở làng mới được vài năm, do đất đai cằn cỗi, thú rừng thưa thớt, săn bắn hái lượm không đủ nuôi cho cái bụng, thế là tộc người Ve lại đưa nhau quay về dưới chân núi Pèng Giàng, cạnh con sông Thanh màu mỡ ẩn mình trong khu rừng rậm. Đến một ngôi nhà khác, chủ nhà tên Kring M’hãy. Ông là người già nhất bản và có uy tín nhất, ông hồ hởi khoe với chúng tôi sự giàu có của mình bằng một bộ “sưu tập” hàng trăm xương đầu và nanh vuốt thú rừng của hàng chục loại thú khác nhau được treo trên vách nhà. Với tộc người Ve này, xương thú được xem như là một chiến tích, là biểu tượng của sức mạnh và kiêu hãnh cho con cháu đời sau. Đàn ông Ve chỉ việc đi săn bắt thú rừng, đi vạt gỗ, lấy rượu tà-vạt. Những công việc còn lại đều do người phụ nữ đảm nhận. Vợ của Kring M’hãy, người phụ nữ chuyên phụ trách việc nương rẫy, con cái và thức ăn cho cả nhà thì thủ thỉ nói với tôi: “Mình cả đời chưa ra khỏi cánh rừng sông Thanh! Nghe mấy đứa con đi học ngoài xã về kể ngoài đó có ti vi, có điện, có cái xe gì mà chỉ cần đạp là nổ máy, ngồi lên, xe phóng nhanh lắm, mình cũng rất muốn ra ngoài đó xem, nhưng sợ đường xa, lại không biết đường, lạc mất thì khổ! Ở đây chỉ lo cái ăn là hết ngày rồi. Năm nay chuột đào hết rẫy, củ sắn và cây đậu đều rất ít trái, mùa mưa này chắc lại đói rồi!...". Buổi tối, chúng tôi được họ mời dùng bữa. Những củ mài còn tươi vừa được đào về, những ché rượu tà-vạt sóng sánh được rót ra. NV . cứ uống ngon lành hét ché này đến ché khác, bỏ mặc tôi hết nhìn ché rượu lại liếc sang Kring M’hãy, ông nhìn tôi như khuyến khích uống. Tôi kéo vạt áo NV . và nhìn ché rượu, anh như chợt nhớ ra điều gì, chạy lại đống đồ tìm tìm bới bới, một lúc sau quay lại, anh đưa cho tôi một thứ rễ cây gì đó và bảo tôi hãy ngậm và nuốt vào. Thì bà biết đấy, tôi vốn chỉ quen nhấm nháp những ly rượu vang bordeaux, những ly rượu khai vị thơm lừng màu mật ong, mà càng uống ta càng thấy độ ngọt râm ran tràn đi khắp cơ thể, chứ còn thứ rượu tà-vạt này... Anh bảo tôi cứ uống, nếu không sẽ bị cho là mình khinh họ. Vợ Kring M’hãy cũng nhìn tôi chờ đợi. Cuối cùng tôi đưa ché lên môi và tu liền một mạch. Cả nhà vỗ tay cổ vũ, còn tôi thì đang nghe ngóng cái bụng của mình. Tôi cảm thấy thứ chất lỏng đó đang trôi qua cổ họng, thực quản và hạ cánh an toàn xuống dạ dày. Mười phút qua đi, tôi thấy an tâm hơn vì cái bụng của tôi không phản ứng gì ngoài tiếng réo oòng ọc do đói. Kring M’hãy đưa cho tôi những mẩu củ mài luộc và nướng thơm lừng. Trước đây tôi có biết củ mài, nhưng chỉ là dưới dạng lát, được thái rất mỏng và phơi khô mà cha tôi thường cho vào các thang thuốc. Ông nói chất này trị bệnh rất nhiều công hiệu. Còn bây giờ, tôi cứ cầm lấy và ăn hết miếng này đến mẩu khác. Rượu tà-vạt cứ liên tiếp được rót ra, và tôi cứ an tâm uống, bây giờ thì uống từ từ, theo nhịp của cuộc nói chuyện và trời trở về đêm lúc nào không hay, tiếng gà rừng gáy eo óc đâu đây ngoài sườn núi. Vầng trăng mỏng mảnh vẫn tỏa sáng bao trùm khắp vạn vật. Chủ nhà đã sửa chỗ đi nằm ngay bên bếp lửa. Còn tôi đã uống đến ba hay bốn ché rượu nhưng vẫn hoàn toàn tỉnh táo. Giờ tôi đã hiểu linh nghiệm của thứ rễ cây mà NV . trao cho tôi ban nãy. Nhà của Kring M’hãy nằm cao hơn các ngôi nhà khác, nên tôi đứng đó mà nhìn bao quát được tất cả. Chứng kiến được tất cả sự hoang sơ giữa thời hiện đại điện tử. Trong khi loài người cứ nói nhiều về các phát minh sáng chế, đưa các phi thuyền lên khám phá những hành tinh khác lạ. Những nhà thiên văn cứ dõi mãi mắt mình lên bầu trời để rồi thỉnh thoảng lại tuyên bố phát hiện ra những tinh tú mới. Còn nơi đây, ngay trên mặt đất vỏ địa cầu thì tồn tại người tộc Ve này. Họ chắc còn có rất nhiều điều để khám phá nữa. Tôi tự nhủ nếu sau này có điều kiện sẽ còn quay lại đây. Nhưng trước mắt tôi hiện giờ trưng ra đầy cảnh thiếu thốn cả những đồ vật sơ đẳng nhất. Nghèo, đói, người Ve sống co cụm lại. Trong làng đếm cả thảy có mười hai đứa trẻ thì có năm đứa được đến trường, chiếu theo sự vận động của địa phương. Số trẻ còn lại phải đi rẫy, đi suối bắt cá hoặc đi chăn heo rừng để kiếm ăn. Việc đi học của những đứa trẻ nơi đây cũng chẳng dễ dàng gì. Buổi sáng đầu tuần, chúng gùi gạo, đeo muối băng ghềnh vượt thác hơn một ngày đường mới đến được ngôi trường tiểu học dân tộc nội trú của xã.
Mười đấu gạo và một nắm muối không đủ no bụng cho cả tuần, nhưng chúng vẫn tiếp tục đến trường, bởi chúng biết chúng chính là niềm kỳ vọng cho cả thôn bản. Ngậm ngùi, tôi nhớ đến hình ảnh của những đứa trẻ thơm tho bụ bẫm, bận những chiếc váy đẹp, những bộ quần áo sang trọng ngày ngày được cha mẹ đưa đến trường trong những chiếc xe camry hay “mẹc” bóng nhoáng. Những bữa cơm mà chị vú nuôi phải chật vật lắm mới khiến cho chúng nuốt hơn một lưng cơm với đầy ú thức ăn. Những cảnh tắc nghẽn giao thông trước các cổng trường do các bậc cha mẹ đến đón con... Hai ngày trôi qua nhanh chóng, chúng tôi chào tạm biệt những con người tốt bụng. Vợ của Kring M’hãy còn cố dúi vào ba lô của tôi mấy mẩu củ mài nướng còn bốc hơi ấm. Tôi ngại ngùng vì biết đây là khẩu ăn cả ngày của -gia đình chị. Nhưng chị nói, không nhận có nghĩa là không yêu mến chị. Tôi bùi ngùi, nhìn quanh đống đồ đạc của mình và chẳng biết nên tặng chị cái gì. Chợt mắt tôi va phải chiếc đồng hồ quả quýt. Chiếc đồng hồ này là kỷ vật của ông ngoại chồng tôi. Ông đã được nguyên soái Pétin tặng vật này trong cuộc chiến tranh thế giới thứ I, khi ấy ông là liên lạc viên, chuyên đưa những thư từ quan trọng qua lại giữa các vùng chiến trận mà có lần tôi đã kể cho NV . nghe. Chiếc đồng hồ chạy theo năng lượng mặt trời và không bao giờ sai giờ. NV . ngăn lại. Anh nói với tôi là không thể được. Và tháo trên tay chiếc đồng hồ cũng là vật bất ly thân của anh, nghe nói cha anh đã mua tặng khi được tin anh đậu vào trường cấp ba của huyện, để đi học cho đúng giờ. Cứ giằng co như vậy, vợ của Kring M’hãy ra chiều hiểu biết: “không cần đâu, ta ở đây đã quen xem giờ theo ánh nắng mặt trời, đi nương theo tiếng gà rừng gáy rồi, đồng hồ cũng chẳng ích gì...”. Rốt cuộc, chúng tôi đã chẳng để lại gì làm kỷ niệm cho họ. Đành diễn khúc ca tấu của đám trưởng giả người thành phố, ôm hôn họ nồng nhiệt và nói những lời cám ơn xuất phát từ đáy lòng. Xem lại bản đồ và tấm la bàn, NV . nói chúng tôi đã đi hơi chệch hướng, phải đi ngược lên về phía Tây Bắc. Tôi đồng ý mà không đáp lại. Đã theo anh vào đến chốn này thì tôi chỉ còn cách đặt hết niềm tin vào nơi anh mà thôi. Đoạn đường và cuộc hành trình lại diễn ra hệt như hôm trước. Chúng tôi cứ cắm cúi bước đi, nhưng hôm nay tôi cảm thấy vui vẻ, vì trời buổi sáng thật mát lành, và câu chuyện về những đứa trẻ nhà Kring M’hãy khiến tôi lạc quan hơn. Cảnh tượng trước mắt đẹp quá chừng khiến tôi nhớ lại câu chuyện về một người bạn từ thủa tôi còn là sinh viên trường Sorbonne. Cách đây đã khá lâu, một người bạn đồng học người Syria tên là Mohamed Abdelatif, nhà cậu ấy nằm ngay trong thành phố Đamát cổ kính, chiếc nôi của những huyền thoại. Hè năm ấy, cậu mời tất cả các bạn đồng học đến thăm quê hương và thành phố mà cậu rất đỗi tự hào của mình. Kể ra thì cậu ta cũng rất có lý khi tự hào về đất nước mình như vậy, cũng như tôi luôn tự hào mình là người Việt Nam. Hôm đó, sau khi đã đi thăm hết lượt thành phố cổ, rồi đến thành phố hiện đại. Bà biết rồi à, vâng tôi cũng vậy, tôi cứ đi hết những ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Trong thành phố cổ, ta vẫn bắt gặp những ngôi nhà bằng tường đất nện, những khu chợ cóc cùng những cảnh mua bán náo nhiệt hệt như vài ngàn năm trước mà ta gặp trong các truyện của Ngàn lẻ một đêm. Những con cừu vẫn nằm trong rọ chờ người đến mua bán, những cửa hàng tơ lụa đẹp thiên thần vẫn tồn tại, những cảnh bán rong với những người bán hàng nói to như lệnh vơ để thu hút khách hàng... Những thùng rượu nho, những quầy hoa quả tươi, gà vịt kêu nháo nhác... Nhưng bạn tôi đã cảnh báo trước: “Các bạn có thể tìm thấy tất cả, trừ một thứ...!”. Rồi hắn bỏ lửng câu nói, dể cho tất cả bọn tôi hồi hộp bàn tán và tìm kiếm. Đến cuối buổi, hắn ta ranh mãnh đưa mắt nhìn khắp lượt với vẻ đắc thắng, nhưng đã phải cụt hứng khi tôi nói: “Tớ có biết!”. “Đó là gì nào?”. Hắn hỏi lại. “Chợ buôn bán người. Bây giờ không còn cảnh những cô gái đẹp đứng múa bụng trên các sàn để thu hút người mua nữa!”. Hắn tròn mắt nhìn tôi. Hắn đâu có biết rằng, mới lên mười tuổi, tôi đã đọc hết cả mười tập truyện Ngàn lẻ một đêm. Và luôn mơ ước đến một ngày nào dó sẽ được viếng thăm xứ sở thần tiên này. Nay có dịp, tôi sê không bỏ lỡ một chi tiết nào. Cũng may hắn đã đưa ngay ra lời giải đáp trong buổi đầu đi dạo. Đến khi ra khu phố hiện đại, thì bà biết không, ta có cảm tưỏng như dang ở một thành phố phương Tây hiện đại nhất. Những tòa nhà bằng kính cao ngất ngưởng. Những thang máy lao vun vút khiến ta có cảm giác như đang ở New York, hay Luân Đôn... Những khu giải trí với đầy đủ các trò chơi điện tử, những tàu trượt, nhà ma... Đâu đâu cũng nhan nhản những biển hiệu quảng cáo bằng đủ các thứ tiếng. Chỉ có điều ta rất hiếm khi bắt gặp những sản phẩm Made in USA. Tôi không đưa ra lời bình luận nào, nhưng có lẽ Mohamed đã hiểu. Nhưng điều ngạc nhiên vẫn chưa đi đến điểm tận cùng của nó. Tối đó, bạn tôi muốn chiêu đãi các bạn đến từ kinh đô ánh sáng một chầu bí tỉ. Nhưng trong đất nước Hồi giáo chính thống như Syria, người ta cấm uống rượu trên lãnh thổ nước này. Thảo nào, phát hiện mới này khiến tôi hiểu được lúc đi dạo gần biên giới, tôi thấy thỉnh thoảng có một số đông đoàn người rất sang trọng ngồi uống rượu ăn COUSCOUS[*] ngay bên lề cột mốc biên giới.
[*] Một món ăn yêu thích nhất của người Hồi giáo.
Như vậy, họ đã không uống rượu trên đất của nước họ. Người Hồi giáo rất tôn trọng luật pháp tôn giáo của mình. Và tối đó, bà biết bạn tôi đã có một ý muốn điên rồ như thế nào không. Để chiêu đãi lũ bạn hơn chục người đến từ gần chục quốc gia khác nhau, hắn đã xin phép bố sử dụng chiếc phi cơ riêng của ông. Tôi chắc cũng phải nói thêm với bà điều này, cha của Mohamed là Thị trưởng thành phố Đamát, và còn được hưởng một gia tài khổng lồ có từ lâu đời của gia đình. Và tối đó, cho đến tận hai giờ sáng, chiếc phi cơ cứ quần đảo trên bầu trời Đamát, còn chúng tôi cứ uống, cứ nói chuyện và cả khiêu vũ. Thật là một chuyến đi chơi ngoạn mục và nhớ đời. Đợt đó, trước khi quay về Pháp, Mohamed đưa chúng tôi đi thăm Đền Mặt Trời, nằm cách Đamát chừng ba mươi cây số về phía đông bạc. Hắn cảnh báo chúng tôi phải dậy thật sớm trước khi mặt trời mọc thì mới chứng kiến được những cảnh mà chúng tôi chưa bao giờ gặp và mỗi người hãy chuẩn bị cho mình một điều ước. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi lục đục dậy từ rất sớm. Hai chiếc xe 4X4 không biết đã đậu trước cửa nhà hắn từ bao giờ, và chúng tôi nhanh chóng lên đường. Hai chiếc xe phóng vù vù trên con đường vắng, bụi bay mù mịt khiến ta tưởng như đang đi giữa hoang mạc đầy cát của châu Phi. Hai bên đường không một bóng cây. Đây đó bóng những đàn cừu thấp thoáng nhặt những đọn cỏ nhọc nhằn trỗi dậy trên miền đất khô cằn. Đến nơi, cả khu đền bao la, những mái đền nhấp nhô, cao thấp khác nhau, những hình thù trên mái cũng cổ quái khác lạ. Hắn kéo chúng tôi lên một nơi cao nhất giống như một quả đồi già nua cách khá xa ngôi đền cổ và bảo chúng tôi đứng đợi. Khi tia nắng đầu tiên vừa le lói rọi xuống trần gian và dọi thẳng vào ngôi đền, hắn hét toáng bảo lũ bạn đang ngơ ngẩn trước vẻ kỳ thú của ngôi đền nhìn theo tay hắn chỉ xuống mặt đất. Bà biết không, cảnh tượng thật huy hoàng, hình bóng ngôi đền được mặt trời rọi vào phản chiếu trên mặt đất như những thước phim quay chậm. Lúc đó diễn lại như cảnh một lễ hội bắt đầu vào lễ. Thật trang nghiêm. Có chủ lễ đứng lên, có những cô gái Hồi giáo từ từ tiến vào, cảnh những người đàn ông rút dao chọc tiết đàn cừu... Cảnh trí cứ thay đổi theo độ quay của trái đất, tức là theo độ mặt trời lên cao dần. Những phụ nữ bị ném đá cho đến chết, những người dàn bà đầu đội hũ đi lấy nước và cuối cùng, khi mặt trời đã gần đứng bóng là cảnh khiêu vũ. Những cô gái mặc đồ mỏng, hở bụng quay tít, những người đàn ông đánh trống, đập thùng, nhưng tất cả đều diễn ra trong im lặng. Phải nói thật với bà, tất cả chúng tôi đều bàng hoàng, ngây ngất trước những gì mình vừa chứng kiến. “Chưa hết đâu...!”, người bạn hồi giáo nói và kéo chúng tôi đi viếng đền. Đúng ra, chúng tôi không được phép vào vì là những kẻ ngoại đạo, nhưng với tài lẻo mép của Mohamed, hắn giới thiệu với người coi đền chúng tôi là những nhà nghiên cứu về tôn giáo, đang thực thi công việc và hắn chìa mảnh giấy có chữ ký của Thị trưởng thành Đamát, cha hắn, mà tôi không biết bằng cách nào hắn lại có được. Đi thăm thú khắp nơi xong và cuối cùng hắn đưa chúng tôi đến trước hai phiến đã dựng đứng cách nhau chừng hai mét. Hai phiến rất lạ, hình hai người một nam một nữ khỏa thân đứng nhìn thẳng vào nhau, ánh mắt chứa chan bao tình thương mến pha lẫn tuyệt vọng. Mohamed kể, ngôi đền này có từ mấy ngàn năm trước, thời gian cũng không làm chúng hao mòn đi bao nhiêu. Qua bao chiến tranh bạo loạn, nhưng không một ai, cả kẻ thù lẫn người dân dám động đến đền, vì nghe nói thiêng lắm. Ai đến đây đều có quyền được ước một điều và điều ấy sẽ trỏ thành sự thật. “Vậy, các bạn hãy ước đi, nhưng chớ có tham quá nhé, chỉ được một điều thôi, nếu không sẽ mất linh nghiệm đấy!”. Tất cả đều nhắm mắt trang nghiêm. Tôi đã ước gì ấy à?! Tôi cũng chẳng nhớ nữa, chuyện đã qua lâu rồi, nhưng tôi chắc là mình ước sẽ trở thành một nhà văn hay một cái gì đó đại loại thế. Vâng tôi sẽ kể lại câu chuyện mà Mohamed đã kể cho chúng tôi nghe truyền thuyết của hai phiến đá hình người kia. Tôi nghe mà cứ tưởng như chuyện tình của Roméo và Juliette. Truyện kể rằng có một đôi trai gái thuộc hai dòng họ thù địch yêu nhau vụng trộm, bất chấp tất cả những rào cản ngăn cách, cho đến một hôm, họ bị bắt quả tang đang yêu nhau. Thế là cả hai đều bị hai dòng họ bắt xử phạt. Hai người đứng đầu hai dòng họ đã họp bàn và quyết định họ phải chết, nhưng một cái chết đau thương để làm gương cho những kẻ khác. Họ trói trần hai kẻ yêu nhau vào hai phiến đá cách nhau hai mét. Và bỏ đói cho đến chết. Hai linh hồn đó đã hòa quện vào hai phiến đá và cứ trơ gan cùng trời đất. Chẳng biết có phải không, khi họ kể rằng cái chết của hai người đã khiến cả hai dòng tộc phải suy nghĩ rất nhiều và đã quyết định hòa giải với nhau, từ đó trai gái hai họ có quyền yêu nhau mà không ai bị phạt nữa. Nhưng Mohamed còn nói chúng tôi hãy im lặng, đứng sát lại phiến đá, và hãy lắng tai nghe. Quả vậy, khi đứng ghé sát tai lại, chúng tôi bắt đầu nghe thấy những tiếng, lúc đầu là âm âm u u, tôi cho đó là tiếng gió, nhưng không phải, tiếng phát ra bắt đầu chuyển đổi dần đi. Lúc nghe như những bản nhạc tình, rồi lại đến thì thầm như hai kẻ đang tình tứ với nhau, lúc lại nỉ non ai oán, lúc lại gào to lên như van lạy xin tha tội chết... Cả lũ chúng tôi đều tròn mắt ngạc nhiên khâm phục, chẳng ai nói với ai lời nào nhưng đều tin vào truyền thuyết đó có thể là có thật, và tình yêu bất diệt trên đời này là có thật!... Một con chim khi ấy bất ngờ cất tiếng hót líu lo trong bụi cây gần đó đưa tôi về với phong cảnh đẹp như mơ đang diễn ra ngay trước mặt! Tôi thấy trong lòng lâng lâng nhẹ nhõm hẳn, ngước mắt dõi theo cánh chim hiếm hoi bay vụt loáng trên bầu trời xanh thăm thẳm khi ấy. Tôi vừa đi còn vừa huýt sáo gió, bản nhạc Dòng Danuýp xanh, còn NV . thì có vẻ bồn chồn, liên tục đưa mắt nhìn quanh các ngọn núi như tìm kiếm vật chuẩn gì đó. Tôi hiểu ý, rút bó nhang còn trong túi và đưa cho anh. Bó nhang được đốt lên, trời đang gió nhẹ bỗng dưng như ngừng hẳn, hai cặp mắt của chúng tôi dõi chặt vào đốm lửa đang cháy trên tay anh, làn khói tỏa ra lúc đầu bay dạt bốn phía rồi như trò ảo thuật, nó xoay chiều rồi ngả dần theo hướng đông, rồi lại lệch lên phía Bắc. Đúng rồi, và thế là chúng tôi cứ theo hướng ấy mà tiến. Chúng tôi chỉ dừng lại khi chợt nghe thấy tiếng lao xao phía trước. Tiếng người xen lẫn tiếng lá rừng va vào nhau, tiếng khỉ chí chóe, tiếng suối chảy róc rách đâu đó... Rồi một đám người hiện ra. Tôi giật mình và lại càng tin vào sự vô tình. Trước mặt tôi là một nhóm người nước ngoài mà mấy hôm trước tôi đã chạm mặt trong quán bán đồ ăn nguội. Có một người Việt phiên dịch đi cùng. Bà có thể hình dung ra cảnh tượng đó không? Giữa chốn hoang vắng cô tịch đó, thì những người xa lạ cũng nhanh chóng trở nên quen biết. Nhưng có một sự vô tình nữa mà tôi vẫn chưa nói cho bà biết. Đó là, sau khi chào hỏi nhau, tôi giữ kẽ nói bằng tiếng Việt và người phiên dịch đã dịch ra cho họ, thì bất ngờ người trưởng đoàn, chừng bốn mươi tuổi, cao lớn tóc vàng và cặp mắt xanh thẳm như bầu trời đang ngự ở phía trên dầu chúng tôi lúc ấy. Anh ta tiến thẳng về phía tôi và đưa tay ra bắt: “Oh, mon dieu! Vous êtes bien madame c. Quel vent vous pousse venir jusqu'ici, dans ce jungle profond du Việt Nam?[*]
[*] Trời ạ, bà có phải là phu nhân c. không. Cơn gió nào đã đẩy bà đến đây, trong cánh rừng sầu thẳm của Việt Nam này thế?
"Đến lượt tôi tròn mắt. Trong giây lát, tôi chẳng hiểu gì hết, cả NV . cũng vậy, cả người phiên dịch lần những người bạn đồng hành của ông ta nữa. Còn người ngoại quốc kia bắt đầu giải thích tại sao anh ta lại biết tôi. Đó là trong một buổi tiệc cốc-tai kết thúc năm học tại trường Đại học c. mà chồng tôi tham gia giảng dạy. Hôm đó rất đông người, tôi dù nhỏ bé nhưng lại nổi bật hơn cả trong tà áo dài truyền thống thướt tha màu tím. Anh ta nói đã để ý đến tôi, đến nét đẹp dịu dàng quyến rũ của phụ nữ châu Á. Và anh ta đã đến chào vợ chồng tôi, chính chồng tôi đã hướng dẫn anh làm luận văn thạc sĩ về Các tiêu chuẩn vệ sinh cần thiết trong ngành sản xuất công nghiệp hiện đại và khai thác quặng. Chuyện diễn ra đã gần chục năm nay rồi. Đến đây thì tôi đã nhớ ra. Phải rồi, chàng thanh niên có phần rụt rè hôm đó đến chào và nói chuyện với tôi về các phong tục tập quán của người phương Đông. Anh ta tên là Jean-Jacques Baudelman. Một cái tên rất đẹp, rất hay và rất hợp với anh ta. Hôm ấy, anh ta hỏi tôi rất nhiều về các dòng dõi vua chúa, triều thần của Việt Nam, nhất là những đời Vua cuối cùng. Sau đó anh ta nói rằng ông tổ bốn đời của mình đã từng làm cố vấn cho một ông vua An Nam... Còn lúc này, chúng tôi cứ nói chuyện bằng tiếng Pháp. Trời chiều lúc nào không hay, người phiên dịch đề nghị chúng tôi về nghỉ tại một bản làng của người dân tộc gần đó. Jean-Jacques vẫn không quên hỏi tôi sao lại đến đây, và anh quả thực rất bị choáng bởi một phụ nữ yếu mềm như tôi lại có thể lặn lội đến tận nơi thâm sơn cùng cốc này, thì chắc phải có một lý do dặc biệt lắm. Cẳ bà cũng thế à, bà cũng đặt câu hỏi tại sao tôi lại chấp nhận đi cùng anh về miền ấy. Thực ra chuyện đó bắt nguồn từ một lá thư. Vâng lần ấy, tôi nhận được một lá thư dài đầy thiết tha của anh. Trong thư, anh như dãi bày hết cả tấm lòng của mình. Anh nói chỉ có tôi mới có thể hiểu hết được tình cảm sâu lắng trong tâm tư anh. Thư anh viết: “Em thân yêu, lần này anh cố gắng cầm bút để thổ lộ cùng em tất cả những nỗi niềm bấy lâu nay của anh. Những tâm sự này cứ đeo đẳng anh từ hơn ba mươi nărn...Anh cứ ngỡ, cùng với thời gian mọi thứ sẽ dần lắng đọng lại, và chính thời gian sẽ là liều thuốc chữa lành cho các vết thương. Những vết thương trên da thịt anh đã khỏi hẳn, nhưng còn những vết thương lòng thì chưa. Và anh cứ ngày ngày đau đáu đối mặt với nó, nhất là càng ngày, với sự phát triển của xã hội, con người ta như đã quên hẳn đi quá khứ. Ngay cả những người thân của anh, họ cũng như quay lưng lại: người chờ đến tháng lĩnh lương của anh, kẻ lợi dụng chức phận của anh để tiến thân... Một số người bạn năm xưa, do vị trí làm việc của anh mà họ có vẻ như xa lánh. Ngày ngày, trước mặt anh, xung quanh anh có rất nhiều ngươi, rất nhiều những khuôn mặt, họ nhận lệnh, nhận chỉ thị của anh Tồi răm rắp thực hiện. Anh biết họ chỉ kính trọng, nể sợ anh chứ không thương mến anh. Chỉ đến khi đêm về, cảnh vật yên tĩnh, màn đêm bên ngoài như có thể xắt ra được miếng, khỉ anh chỉ còn lại một mình trong phòng viết, trước màn hình máy tính thì anh mới lại được sống với chính mình. Em biết không, anh đã đến độ tuổi mà mỗi sự kiện xảy ra lại gợi nhớ đến một sự kiện khác đã từng diễn ra trong quá khứ, đôi lúc đẹp hơn, thanh cao hơn, có ý nghĩa hơn, nhưng nhiều lúc lại hời hợt, èo uột và phi lý. Nên anh đã quyết định chấp nhận kể lại hết, viết lại hết trong một cuốn sách mà anh mong muốn thả tâm hồn mình vào, khắc ghi lại mọi kỷ niệm của một thời quá khứ vẻ vang, một nỗi hoài niệm mà nó chính là ý nghĩa chân thực nhất của đời anh. Em biết không, lần đi cùng em về miền quê ấy, thì anh đã không nói cho em biết: đó chính là nơi mà đơn vị anh ngày xưa đã dừng lại tập huấn ở dó gần ba tháng trước khi đi B. Lần đó, người ta dạy cho bọn anh cách ngụy trang mặt mũi áo quần sao cho thật giống với quang cảnh hiện tại. Em nhớ không, hôm đó anh đã dẫn em đi loanh quanh mãi ở cuối xóm ấy, vì thực ra anh muốn tìm một nguời quen. Cây si già xum xuê và ngôi miếu thờ nằm cạnh một trường cấp III làm tạm dành cho học sinh Hà Nội đi sơ tán về đó học. Dạo ấy, anh nghe nói cái miếu ấy thiêng lắm. Có một gia đình giáo viên kể lại rằng đã từng nhìn thấy một cặp rắn có mào đỏ chót như mào gà trông, to như cột nhà và dài đến năm mét, thỉnh thoảng chúng há miệng đỏ lòm như phun ra lửa vậy. Thê mà bây giờ chẳng còn gì nữa. Cây si cổ thụ cũng mất. Những búi tre bao quanh làng bây giờ cũng bị chặt trơ trụi. Những cánh đồng bỏ trống, không cầy bừa gieo trồng gì hết. Hỏi ra, người ta bảo đã có những công ty nước ngoài đến thuê đất và đã bồi thường xứng đáng. Người anh cần tìm bây giờ không biết như thế nào nữa. Anh thấy chua xót và cảm thấy mất mát quá lớn cho những con người hiền lành chân chất kia. Cả đời họ chỉ biết có cấy cày, gieo trồng, làm việc miệt mài trên những thửa đất, thì bầy giờ họ lại cả ngày súng sính trong những bộ quần áo đẹp, cưỡi xe máy, anh tự hỏi rồi đây, số phận của họ như thế nào khi những đồng tiền bồi thường kia cạn kiệt dần... Đưa em về đó, anh mong gặp lại một bà già ngồi mát dưới bóng tre nhai trầu bỏm bẻm, nhìn đàn trẻ chăn trâu cứ đùa tắm mát dưới lòng sông. Những cánh đồng rì rào chạy dài đến tận đường chân trời. Anh mong được nhìn lại dải khói xanh lơ yểu điệu bốc lên từ những luỹ tre ngút ngàn bao bọc bảo vệ làng, con chó nô đùa đuổi gà chạy quanh đống rơm... Anh muốn gặp lại những cơn mưa trong lành ngày ấy. Anh khát khao được ngắm lại vẻ đẹp hoang sơ xưa kia. Cách đây mấy tháng, một người bạn đồng ngũ của anh vừa qua đời. Trước khi chết, hắn cho gọi anh đến và nhờ anh quay về tìm lại một cậu bé tên là T. khi xưa ấy mới tám tuổi, mà hắn đã hứa với cậu bé ấy rằng ba năm sau, khi chiến tranh kết thúc, khi trở về sẽ mua tặng cậu một tập truyện cổ tích Truyện cổ Grims. Ở độ tuổi này, anh không cho phép mình hứa suông nữa. Sự vô tình làm nảy sinh những cuộc gặp gỡ. Cuộc gặp gỡ của anh với vùng quê ấy mà anh còn nhớ rất rõ, của người bạn anh với cậu học trò nhỏ mộng mơ tên T. đã góp phần xây dựng và làm phong phú thêm cho cuộc đời. Sự vô tình khiến cho anh gặp em, rồi gặp lại em vào những năm sau này đã làm cho cuộc sống của anh thay đổi và bớt trống vắng. Dạo này, anh hay suy nghĩ đến cái chết, cái chết của chính anh và nhất là cái chết của những người khác. Anh cố gắng tạo nên những lý do để tiếp tục cuộc sống, nhưng liệu ta có thắng được số phận...”. Thư anh viết dài gần mười trang giấy. Và chính lá thư ấy xuất hiện ý tưởng về một chuyến đi về thăm lại chiến trường xưa của anh. Tôi đã đọc đi rồi đọc lại đến thuộc lòng bức thư. Nét chữ viết tay tròn trịa, rõ nét mà giờ đây tôi có thể nhận ra trong hàng trăm ngàn các loại chữ khác. Trong thời đại máy tính này, tôi nâng niu bức thư của anh như một báu vật. Tôi lục tìm, moi móc, xoi mới trong mọi ngóc ngách, từng khía cạnh câu chữ của anh. Tôi cũng vậy, tôi hy vọng vào thành công của cuốn sách mà anh viết. Trong thư anh còn có câu: “... cuốn sách có thể sẽ đem đến cho mỗi người một ý nghĩa cuộc sống nào đó...”. Tối hôm ấy, hôm mà tôi nhận được lá thư của anh, tôi đã đi ra ngoài, đã đi bộ rất lâu trên các con phố khu tôi ở. Chúng cứ rắc rối như một trận đồ bát quái. Giữa khu phố Montparnasse và Invalide, tôi đi qua trước những tòa nhà sừng sững bề thế của Viện Pasteur mà có một lần, cách đây khá lâu vào những năm chín mươi, tôi đã tận mắt chứng kiến Thái tử Charles và Công nương Diana từ đó bước ra, kéo theo cả một đoàn tùy tùng các chính khách và các nhà nghiên cứu. Tôi vượt qua khu công viên Luxembourg, Điện Thượng Viện, đi dọc theo đại lộ Vaugirard, cả khu vắng tanh khiến ta nghĩ đến một ngôi làng giàu có mà dân chúng đã bị lùa đi hết do một căn bệnh dại. Trong thư anh cũng viết rằng mình chẳng nên thay đổi những gì mình đã có, vì phải khó nhọc lắm mới có thể có được chúng. Tôi không hiểu anh muốn ám chỉ điều gì. Tôi muốn viết thư trả lời anh ngay, tôi muốn nói với anh rằng đọc xong thư tôi đã rất buồn, và nỗi buồn ấy của tôi chỉ có thể vẽ ra được bằng các sắc màu tối sẫm, màu xám đen và màu nâu. Tôi đi mà như bay bảng lảng trong gió, mọi cửa ngóc ngách của thế gian đều mở toang cho tôi vào cõi bất tận. Rồi nỗi buồn ấy cứ lớn dần lên, nặng trịch đến hàng tấn và bất ngờ đổ ập xuống tôi. Mùa đông năm ấy, vào dịp Noel tôi đã đi dự lễ nhà thờ. Nhà thờ Đức Bà Paris chật cứng người. Các con chiên ngoan đạo ăn mặc chỉnh tề. Khi bài hát thánh ca trong trẻo cất lên, tôi ngước mắt nhìn bầu trời khi ấy thấp lắm và căng mọng nước làm ta hình dung nếu đỉnh tháp Nhà thờ kia mà cao thêm chút nữa, hẳn sẽ đâm thủng bụng nó và thế là cả một khối nước khổng lồ sẽ ào xuống trần gian. Qua màn nước, tôi thấp thoáng thấy anh, rồi chúng tôi cứ lạc nhau qua những tia nước đang xối xuống. Những rảnh nước rơi mau quá đỗi khiến tôi không thể lách sang bên anh và anh cũng không thể lách sang được bên tôi. Bất chợt một đường lửa sẻ dọc bầu trời và anh biến mất theo tiếng sét. Đúng lúc ấy, trời bỗng dưng tối om. Đèn tắt sạch, cả Nhà thờ đen như mực. Người ta nói đó chính là khoảng khắc Chúa Jésus chào đời. Tôi lại ngước lên. Năm đó tôi đã cầu nguyện bà ạ. Tôi cầu nguyện cho cha tôi, cho mẹ tôi, cho anh trai và em trai tôi. Tôi cầu nguyện cho gia đình bé nhỏ xinh xắn của mình và tôi cũng cầu nguyện cho anh - NV . của tôi. Tôi cầu nguyện cho nỗi niềm của anh sẽ được giải tỏa, ý nguyện của anh sẽ được thực hiện. Đôi khi, kể cả không cầu nguyện thì tôi cũng bắt buộc mình phải nhìn lên bầu trời để cơ quan não bộ của tôi ghi nhận được ý tưởng về ánh sáng. Vì như tôi đã nói với bà là tôi rất sợ bóng tối. Tôi sợ đêm. Tôi cứ liên tục hình dung cái bóng tối ấy có mặt ở khắp mọi nơi. Trong nhà, trên dường phố, trên sân ga hay trong hành lang hun hút của các tàu điện ngầm. Nó lúc nào cũng rình rập chỉ chực chộp lấy tôi, thậm chí ngay cả giữa ban ngày. Chỉ khi nào gần NV . thì nỗi sợ hãi dó mới tiêu tan đi... Vâng, tôi sẽ kể cho bà nghe chuyện tôi đã gặp lại NV . sau lần gặp đầu tiên ấy như thế nào và chúng tôi đã nhận ra nhau ra sao. Tất cả chỉ là do sự vô tình bà ạ. Lần đó, trường đại học của tôi có tổ chức một cuộc giao lưu gặp gỡ giữa những cựu sinh viên thành đạt với tân sinh viên. Năm đó tôi đã bước vào năm thứ ba. Cô sinh viên thẹn thùng năm nào giờ đã cứng cáp và mạnh dạn hơn. Hôm đó là thứ bảy, tôi đang định đạp xe về nhà ngay sau bữa trưa như thường lệ thì một người chị họ, con bác tôi trong thành phố phóng xe máy vào ký túc xá nói rằng mẹ vừa gọi điện. Bà ngoại hơi mệt và mẹ đã đi thăm và có lẽ sẽ ở lại đó vài ngày, do vậy, nếu không có gì thật đặc biệt, tôi có thể ở lại trường tuần này. Đã nghe nói về buổi giao lưu từ mấy tuần nay, khắp nơi sinh viên nào cũng chỉ bàn tán về mỗi chuyện đó, nên tôi hào hứng ở lại ngay. Tối đó, cùng các bạn trong phòng ăn cơm sớm. Chúng tôi len lỏi vào ngồi ngay trên những hàng ghế đầu tiên của hội trường. Cả hội trường rộng năm ngàn chỗ chật cứng, nhiều người đứng lố nhố. Đến phần giới thiệu khách mời thì tôi không thật tin vào mắt mình mà phải véo thật mạnh vào cánh tay xem có phải mình đang mơ không. Trên khán đài, lẫn trong sáu vị khách khác thì có một người mà tôi đã phải chịu ơn một lần. Tôi thật không ngờ bà ạ. Đó chính là người đàn ông ba năm trước đã lôi chiếc xích xe đạp của tôi ra khỏi nơi nó bị kẹt. Anh ấy chính là một nhà báo kiêm nhà văn NV . mà tôi vẫn thỉnh thoảng đọc những bài báo và những truyện ngắn của anh đăng trên các tạp chí. Thì ra anh cũng đã tốt nghiệp cùng trường đại học với tôi dù là không cùng một khóa, không cùng một khoa. Những câu hỏi, những lời đối đáp thông minh dí dỏm của khách mời lẫn cử toạ diễn ra sôi nổi hào hứng, cùng sự góp mặt của các nữ nghệ sĩ Thanh Lam, Bảo Yến... Tôi thích giọng ca của Thanh Lam cùng những lời chị hát khi lanh lảnh, lúc trầm lắng. Hôm ấy chị đã hát bài chia tay hoàng hôn, của nhạc sĩ Thuận Yến, bài hát chẳng bao giờ già đi và đúng cho mọi thế hệ. Giọng hát của chị cao vút, một mình chơi vơi giữa cả hội trường mênh mông của trường đại học lúc ấy im phăng phắc. Cho đến bây giờ, tôi cảm giác bài hát ấy như ám vào tôi vậy. Tại sao tôi lại nghe bài hát ấy vào đúng ngày tôi gặp lại anh. Tôi đã thuộc lòng bài hát ấy từ lúc nào mà không biết: "Em phải về thôi, xa anh thôi. Hoàng hôn yên lặng cũng theo về. Giọt nắng cuối ngày rơi xuống tóc. Mà lời từ biệt chẳng lên môi. Em phải về thôi xa anh thôi. Hàng cây hò hẹn chỗ ta ngồi. Hoa khê rụng kín ngăn lối nhỏ. Để lòng ta xao xuyến bồi hồi. Chia tay anh chia tay hoàng hôn. Chia tay anh chia tay hoàng hôn. Em mang theo về tình yêu và nỗi nhớ. Em mang theo về con tim cô đơn. Chia tay anh chia tay hoàng hôn. chia tay anh chia tay hàng cây. Gửi lại cho anh trái tim thắp lửa. Gửi lại cho anh một nửa vầng trăng". Khi kết thúc buổi giao lưu, mọi người kéo nhau ra về thì tôi lại cố tình chen ngược lại. Và rồi tôi cũng đến được gần chỗ anh đứng, khi ấy anh đang bị một đám đông thiếu nữ vây quanh xin chữ ký. Tôi đứng nấp sau lưng một người bạn, cố quan sát mà không để lộ cho anh thấy. Bỗng tôi giật bắn mình vì một câu hỏi: “Ô, thế nào cô bé, cái xe đạp có còn hay bị tuột xích không?”. Tôi đỏ bừng mặt, trong khi tất cả các bạn cứ tròn mắt nhìn tôi. Không hiểu trí khôn lúc ấy tôi để ở chỗ nào mà tôi không sao tìm ra được một câu nói thích hợp, dù là nói dối cũng được. Tôi buột miệng: “Em muốn trả lại anh chiếc khăn...!”. Sau này, bạn bè tôi cứ chất vấn mãi rằng làm sao mà tôi lại quen được một người nổi tiếng như thế, và cái khăn mà tôi nói đến là cái khăn nào? Khăn tay hay khăn gì vân vân và vân vân..., và tại sao tôi lại có nó. Tôi nói thật thì tụi nó lại không tin, thôi thì kệ cho chúng nó đoán già đoán non vậy. Chỉ biết rằng sau câu đáp lại của tôi, mọi người ý tứ lảng đi hết, chỉ còn lại tôi và anh. Tôi rụt rè đề nghị nếu tôi có thể nói chuyện với anh một chút không. Anh chấp nhận một cách vui vẻ. Chúng tôi đã đi lòng vòng trong sân ký túc xá. Anh chỉ cho tôi phòng anh đã ở trước đây. Ô cửa sổ mà anh vẫn hay đứng mơ mộng mỗi khi đêm về mà không ngủ được. Anh kể rằng ngày xưa, nơi đây không phải là hàng nhãn như bây giờ mà là hai dãy xoan đào cao vút. Những đêm trăng sáng lũ chim kéo nhau về hót líu lo. Những buổi sáng đầu xuân, tầm năm giờ sáng thì người nào chịu ngủ nhất cũng phải thức dậy vì lũ chim đôi khi kéo vào tận cửa sổ như muốn đánh thức lũ dài lưng tốn vải dậy. Anh kể chuyện thật có duyên và có sức thu hút.. Tôi cứ nghe và chẳng có dịp để nói nhiều về mình. Anh cũng kể sơ qua về công việc hàng ngày của anh, rằng anh làm việc trong một tạp chí chuyên ngành, rằng công việc của anh là đọc, viết và... đi chơi. Trước khi chia tay, anh đưa cho tôi một tấm các, nói khi cần có thể gọi điện cho anh, anh sẽ sẵn sàng giúp đỡ trong phạm vi cho phép, còn cái khăn thì tôi cứ... giữ lấy làm kỷ niệm. Đêm đó tôi đã không ngủ bà ạ. Trái tim thiếu nữ chưa một lần yêu bỗng bâng khuâng. Ba năm rồi mà anh vẫn chưa quên tôi ư? Điều gì nơi tôi khiến anh nhận ra ngay cả khi tôi đứng lẫn trong đám đông thiếu nữ vây quanh anh khi ấy? Sau này anh mới nói rằng chính thái độ rụt rè, cặp mắt sáng, vầng trán bướng bỉnh và mái tóc dài đã thu hút anh, ngay lần gặp đầu tiên trong buổi chiều đông chạng vạng năm nào ấy và anh đã ghi khắc nó và cho đến tận cuối đời vẫn không quên được. Nhưng rồi, thời gian trôi đi, tôi cũng chẳng dám liên lạc với anh. Tôi sợ quấy rầy người khác... Cạnh ngôi nhà nghỉ của tôi có một con đường dành riêng cho khách đi xe đạp. Những ngày nghỉ, tôi hay đưa các con đi đạp xe đạp trên con đường ấy. Tháng tư tới, bà biết không, hai bên đường đỏ rực những cây hoa thuốc phiện. Chúng càng đỏ rực hơn nữa khi con đường chạy qua những cánh đồng nho. Nho đang mùa ra lá. Những lá nho to như bàn tay, xanh mướt hệt như những lá cây cà phê. Những tán lá xanh um mượt mà mọc ra từ những cành cây khẳng khiu và những gốc cây xù xì. Xa xa là đỉnh núi Canigou cao ngất quanh năm phủ tuyết. Vào ngày hội lửa thánh Jean, người ta thường đốt lửa trên đó. Dù xa hàng trăm ki lô mét, bằng mắt thường vẫn nhìn thấy ngọn lửa bập bùng. Tôi thích những bông hoa thuốc phiện. Thích cái màu đỏ rực như máu của nó và cả sự mong manh dễ vỡ. Và chuyện cũng liên quan đến một kỷ niệm khó phai trong đời tôi. Đó là ngày tôi còn là sinh viên, trong dịp sinh nhật mình, tôi đã nhận được một bó hoa thuốc phiện còn tươi nguyên từ một người bạn làm nghề cảnh sát. Anh ấy đi công tác trên vùng Sơn Tây, biết hôm đó là sinh nhật tôi, nên đã cố gắng về. Dọc đường, đấy là những gì anh ấy kể cho tôi nghe, nhìn thấy hai bên đường đỏ rực một màu như thế, đã dừng xe và ngắt cho tôi một bó. Anh phải cẩn thận lắm thì những cánh hoa mới không bị nát. Khỏi phải nói đám bạn tôi đã trầm trồ ghen ty với tôi như thế nào. Những bông hoa thuốc phiện nổi bật lên giữa những bông hoa pensée yêu kiều bằng vẻ hoang dã của mình. Thế rồi người bạn ấy giờ đây cũng không còn nữa. Anh đã hy sinh trong một lần bắt cướp trên Hòa Bình. Bọn cướp ấy chuyên vận chuyển thuê ma túy về Hà Nội và gặp dịp là chúng dọa người cướp của một cách trắng trợn. Anh đã được phân công theo dõi chúng từ nhiều tháng liền và hôm ấy, trong một trận quần giáp lá cà trong xe, sau đó chúng leo lên nóc xe hòng tẩu thoát. Nhưng không ngờ anh cũng leo lên đó, và chúng đã đẩy anh ngã từ trên nóc chiếc xe la đang chạy xuống lòng đường. Anh ra đi không biết có mang theo mình hình bóng tôi. Còn tôi thì biết rõ một điều là kể từ đấy màu đỏ hoa thuốc phiện là tượng trưng cho anh. Với tôi, anh được sinh ra vào tháng tư và mất vào tháng mười, vì khi các bạn anh thông báo hung tin cho tôi biết thì đó là vào một ngày cuối tháng mười năm một ngàn chín trăm chín mươi ba... Bà nói rằng sao tôi không nhắc nhiều đến Hà Nội? Vâng, có lẽ thế thật bà ạ. Hà Nội giờ đây đã có nhiều những đổi thay. Nếp nghĩ cũng rất khác xưa, tức là rất khác so với những năm tám mươi của thế kỷ trước. Tôi sợ trong mắt tôi, nói về Hà Nội thì cũng là nói về sự xuống cấp. Sự phát triển quá nhanh, quá gấp gáp của một thành phố vốn bị kìm hãm trong nền kinh tế tụt hậu, giờ bỗng dưng nổ bùng lên. Sự phát triển về vật chất bao giờ cũng nhanh hơn sự phát triển của ý thức. Tôi sợ tâm hồn non nớt của các con tôi sẽ ghi nhận những hình ảnh xấu của một thành phố mà mẹ chúng đã hết lời ca ngợi từ bấy lâu nay. Đôi lúc, con trai V. của tôi còn hỏi mẹ rằng liệu những gì dạy cho các cháu có phải tôi lấy ra từ một câu chuyện cổ tích nào đó không? Và tại sao bé lại không nhìn thấy người ta làm như thế nữa khi chúng tôi ở đó. Những câu hỏi của trẻ thơ đôi khi đưa người lớn vào trong một ngõ cụt. Vì quả là có những chuyện đúng như vậy đấy. Có một chuyện như thế này. Gần trưa hôm đó chúng tôi đang đứng trước nhà một người bạn nằm trong một khu phố sang trọng bậc nhất nhì Hà Nội, để đợi họ đi pic-nic. Bất chợt, người hàng xóm của bạn tôi xách một xô đầy toàn đồ thải bẩn thỉu mà tôi còn nhìn thấy rõ cả lòng gà, rễ rau, hạt dưa... ra đổ ụp xuống trước mặt chúng tôi, đúng ranh giới giữa bức tường của hai nhà. Cả khối hổ lốn đó nằm chình ình trên mặt phố. Chẳng bao lâu, lũ ruồi nhặng đã bu lại, và bủa ra những tiếng vo ve rợn tai. Con gái HH. của tôi tròn xoe mắt hỏi mẹ trong một thứ tiếng Việt chưa sõi lắm: Mẹ ơi, sao bác lại cất rác ở đây hả mẹ? Đây làm gì có thùng rác đâu!”. Người đàn bà mặt đầy son phấn, cổ và tay sáng loá các đồ trang sức nhìn chúng tôi như nhìn những vật thể lạ vừa lọt từ hành tinh khác tới. Tôi hiểu rằng con gái tôi đã làm phiền bà ta. Tôi cúi xuống hôn con và nói lát nữa sẽ đi gọi điện về cho ông bà nội. Một lần khác, khi chúng tôi đang tản bộ bên bờ Hoàn Kiếm. Trời nhá nhem tối, sau cả ngày nóng bức, bây giờ trời mới mát mẻ đôi chút. Bỗng tôi nhìn thấy một cặp vợ chồng trẻ, đi xe máy kèm một bé gái chừng ba tuổi xinh xắn. Họ đỗ xịch trước mặt, cách chúng tôi chừng hai mét, người đàn bà ngồi sau xe, cúi lấy một bịch ni-nông rồi... vù một cái, cả chiếc túi to tướng bay vụt qua mặt chúng tôi và rơi tõm xuống lòng hồ. Chiếc túi sau một phút chìm dưới nước lại trồi lên và nổi dập dềnh trên bí mặt hồ khi ấy bắt sáng lóng lánh. Bóng dáng những tòa nhà cao tầng hắt bóng xuống lòng hồ chợt vỡ oà, lung linh theo những làn sóng. Bé V. của tôi, sau một hồi suy nghĩ đã lên tiếng: “Ở Hà Nội chỗ nào cũng là thùng rác hả mẹ?”. Tôi nín lặng, tôi có thể trả lời thế nào cho các con của tôi đây? Bé HH. của tôi đã khóc toáng lên khi nó nhìn thấy hàng chục con cá to chết nổi lềnh bềnh trên mặt hồ Tây khi tôi cho các con đi bơi thuyền, và phải rất nhiều ngày sau đó, nó mới lại chịu ăn cá... Tất cả những chuyện đó chỉ là tôi nhìn thấy tận mắt, nhưng còn chuyện này thì do NV . kể lại và tôi tin anh không nói dối hay bịa chuyện. Một hôm, tôi và anh đi vào một quán bar khá nổi tiếng của Hà Nội. Vừa ngồi xuống, tôi vẫn còn đang mơ màng nhìn dòng người đông đúc hối hả phóng xe trên phố trước mặt, thì bỗng từ đâu đó, một cô gái còn rất trẻ, xinh xắn, ăn mặc sành điệu và có vẻ như... hơi mát mẻ, đã xuất hiện và chào NV . Cô vô cùng ngạc nhiên khi thấy tôi. Được NV . giới thiệu, sau vài phút, cô ta lại biến đi mất. Dưới ánh mắt dò hỏi của tôi, NV . đã kể cho tôi nghe chuyện gặp gỡ giữa anh và cô gái đó... Hôm ấy, cũng chừng hai, ba năm rồi, anh cùng một người bạn đi lên ngôi nhà sinh thái của anh ta để câu cá. Trên đường về đến Cầu Giấy, khi ấy đã muộn, bạn anh rủ vào uống một tách cà phê trước khi về nhà. Vừa vào quán, chọn được chỗ ngồi vừa ý, và chưa kịp gọi đồ uống thì bỗng từ bàn bên cạnh, một cô gái ăn mặc khá hở hang khêu gợi tiến đến. Cô ta chào hỏi khá vồn vã như thể đã quen biết các anh từ lâu. Rồi cô ta đặt thẳng vấn đề với họ: Hai anh có thích đi giải khuây hông? Em làm việc độc lập nên giá hổng có mắc!”. Giọng nói nhừa nhựa, pha chút Sài Gòn. Bạn anh, nghệ sĩ HS., cũng là một tay chơi nổi tiếng, liền bắt chước giọng miền Nam lơ lở hỏi lại, nửa đùa nửa thật: Hổng mắc là bao nhiêu, chiều được hai anh luôn không cưng?”. Cô gái chưa kịp trả lời, bỗng đâu hai ba cô gái khác, mặt đầy son phấn, quần áo tiết kiệm vải đến mức tối đa nhào tới. Không cần chào hỏi mào đầu, liền túm tóc cô gái ấy đánh tới tấp. Vừa đánh họ vừa chửi té tát: Mày từ đâu tới? Đất có thổ công, sông có hà bá, mày định đến đây cướp khách của chúng tao hả, con phò này? Hãy đợi đấy, còn khuya nhé”. Cả hai người đàn ông đứng bật dậy, cũng phải mất chừng năm mười phút mới tách được vụ ẩu đả đó, và nói cô ấy là bạn cũ của họ thì lũ người kia mới chịu bỏ đi. Còn cô gái, khi ấy bọn anh đã biết tên là Huyền Thư (chắc là tên giả), cả người bỗng dưng run lập cập và co rúm lại một cách khác thường. Cô ta đang thiếu thuốc đấy - Hs. nói vẻ sành điệu. - Bây giờ chỉ có thuốc mới cứu được cô ta ra khỏi tình trạng này. - Thiếu thuốc, mẹ kiếp, nhưng mua ỏ đâu mới được chứ?” NV . bực mình văng tục, hỏi. Khi ấy, cô gái mặc dù vẫn run lập cập, cũng cố thều thào nói: Hai anh cho em xin năm chục để em phê một liều, sau đó bọn anh bắt em làm cái gì em cũng sẽ làm, em cắn rơm cắn cỏ em lạy hai anh”. Hs. phì cười, bài ca con cá ấy hầu như đứa nghiện nào cũng thuộc lòng. Lời hứa của con nghiện, các anh đã biết quá rõ, nhưng ngán ngẩm muốn thoát ra khỏi cảnh ê chề đó, NV . rút túi đưa cả cho cô ta chiếc phong bì mà anh vừa nhận được hồi sáng khi đi họp trên Bộ. Lúc đó, anh không hề để ý rằng trên phong bì ấy có ghi rõ cả tên, chức vụ và nghề nghiệp của anh. Một tuần sau, anh nhận được một cú điện thoại của một cô gái nói giọng miền Nam, rụt rè đề nghị được gặp anh. Còn anh lúc đó thì đã gần như quên hẳn chuyện va chạm hôm ấy. Anh chỉ còn ngờ ngợ hình như đã gặp cô ở đâu đó và chỉ đến khi cô giải thích lại chuyện hôm trước thì anh mới nhớ ra. Cô gái trước mặt anh là một hình ảnh khác hẳn. Cao ráo, sáng sủa trong bộ đồ nữ sinh, áo kẻ sọc nhỏ, quần gin, đi giày thể thao. Trông cô như vừa đi ra từ một giờ tập thể dục của trường trung học. Khuôn mặt thanh thoát không son phấn, ánh mắt tinh nhanh dưới hàng mi dày và cặp mày thanh mảnh. Anh chưa kịp hết ngạc nhiên vì sự biến đổi đó thì cô rút trong túi ra chiếc phong bì mà anh đã đưa bữa trước: “Ồ ,em gửi lại anh chiếc phong bì. Hôm ấy em chỉ xin hai anh năm chục ngàn, vậy mà anh cho em nhiều quá, em xin gửi anh phần còn lại”. Cử chỉ và những câu nói của cô gái khiến anh chú ý. Bằng ngần này tuổi đầu, va chạm cũng nhiều, nhưng quả là anh chưa gặp một tình huống nào như vậy. Một cô gái điếm, nghiện ma tuý lại đem trả lại tiền thừa ư? Nhưng do công việc nên anh cũng cẳnh giác: “Số tiền ấy anh đã tặng em rồi, em có quyền dùng hết mà”. Cô gái cứ khăng khăng bắt anh nhận lại, và cô còn nói sẽ chỉ kể cho anh nghe vì sao khi anh đã nhận lại chiếc phong bì đó. Nguyện vọng duy nhất của cô là anh sẽ viết lại câu chuyện của mình để làm gương cho những cô gái trẻ khác. NV . bắt đầu cảm thấy bị câu chuyện của cô gái trẻ thu hút... Vừa kể anh vừa đưa mắt nhìn xem phản ứng của tôi. Chắc anh lại nghĩ tôi cho rằng chuyện đó lại tầm phào như bao chuyện tôi thường thấy trên mặt báo. Nhưng không, tôi vẫn chăm chú nhìn anh, khuyên khích anh kể tiếp... Hồi ấy... Anh bắt đầu kể lại câu chuyện mà Huyền Thư đã từng tâm sự cho anh nghe về hành trình con đường dẫn cô trượt dần xuống vực thẳm, sẵn sàng đi làm điếm để kiếm tiền, miễn sao có cái để phê. Mười bảy tuổi, cô học sinh giỏi văn của xứ dừa Bến Tre, chỉ vì muốn thấy Hà Nội, muốn thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám, muốn thấy cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, muốn được đi trên đường Điện Biên Phủ để ngắm cột cờ cao vời vợi, muốn thăm Tháp Rùa nằm giữa Hồ Gươm soi bóng, muốn đến thăm lăng Bác Hồ... nói tóm lại tất cả những danh lam thắng cảnh bao đời của đất thủ đô ngàn năm văn hiến đã khiến tầng tầng lớp lớp các nhà văn qua biết bao thế hệ, tốn biết bao giấy mực để ca ngợi, cô muốn được nhìn tận mắt, được cảm nhận bằng chính tâm hồn và trái tim mình, do vậy cô đã quyết định ghi danh tranh tài vào khoa Văn của trường Đại học T. H. Hà Nội. Xuất thân trong gia đình có mẹ là bác sĩ, có bố là cán bộ chi cục thuế của tỉnh, nên cô có đầy đủ các điều kiện để học giỏi. Cô bước qua ngưỡng cửa được mệnh danh thần sầu của hầu như tất cả các thí sinh mà không mấy khó khăn, nếu như không nói cô đã suýt đậu thủ khoa. Tạm biệt cha mẹ cùng gia đình quê hương, cô xách va li lên đường ra đất Bắc. Cả năm đầu tiên trôi qua êm ả. Nhưng đến năm thứ hai thì lưỡi gươm Damoclès bắt đầu treo lơ lửng trên đầu cô nữ sinh mơ mộng. Đó là thời gian thầy phó giáo sư văn chương, chuyên Văn học nước ngoài nhận công tác làm việc tại khoa. Thầy vừa đi bảo vệ luận án tiến sĩ tại Áo về. Dù đã có tuổi, nhưng vốn đẹp trai, lại phong độ. Tính cách dứt khoát, đi dạy đúng giờ, làm việc nghiêm túc đúng theo kiểu Tây. Việc thầy về khoa giảng dạy là đề tài bàn tán của nhiều cô gái trẻ. Thầy phát âm tiếng Đức chuẩn như một người Đức chính hiệu, có thể nói hàng giờ với sinh viên về một chủ đề nào đó mà không bao giờ bị hụt hẫng. Thầy nói say sưa về các dòng văn học châu Âu. Kiến thức của thầy mênh mông như biển cả, thầy sử dụng ngôn ngữ sành điệu như người hiệp sĩ sử dụng cây kiếm của mình. Thầy còn nói rằng mọi sự huyền bí thực ra đều nằm trong ngôn ngữ. Ngoài tiếng Đức, thầy còn nói được cả tiếng Pháp, tiếng Anh. Thầy có thể ngẫu hứng cao giọng ngâm vỏ ca kịch Le roi lear hay Mesure pour mesure của Shakespear, miệng tròn lại phát âm đúng như khi diễn kịch thật. Hay cũng có thể đọc làu làu cả bản trường ca Con tàu say của Rimbaud, hay nói không biết mệt về Tennessee Williams[*]. Những tư tưởng triết học của Jean-Paul Sartre, tư tưởng tiến bộ, ủng hộ nữ quyền của Simone de Beauvoir.
[*] Nhà văn lớn người Mỹ.
Niềm hứng khởi của bạn nào yêu âm nhạc, thầy nói rất nhiều về Mozart, chuyện về sự ra đời diệu kỳ của ông, thầy còn nói đích thân mình đã đến tận nơi ông sinh ra, và nơi ông đã qua đời trong nghèo khó tột cùng. Thầy còn nói về hội họa... Mỗi buổi học của thầy khiến ta có cảm giác như đang bơi trong đại dương kiến thức. Dẫu vậy, thầy vẫn luôn nói: “Những gì ta biết chỉ là hạt cát, những gì ta chưa biết là cả một vũ trụ bao la. Các em phải luôn cố gắng học hỏi. Kiến thức không phải tự nhiên nó chạy vào đầu chúng ta mà phải tìm tòi và điều không thể thiếu trong lĩnh vực này là phải đọc sách. Thầy còn rộng rãi hứa sẽ cho mượn những cuốn sách quý giá mà thầy đem từ trời Tây về, nếu như bạn nào thực sự có ý định tìm hiểu về nền văn học bác học sâu rộng này. Nhưng nếu chỉ có như vậy thôi thì thầy hoàn hảo quá. Thầy sẽ trong sáng và quý giá như một viên kim cương. Thầy sẽ là biểu tượng của học vấn, là khuôn mẫu cho tất cả những ai muốn thành đạt. Thầy sẽ là người lính tiên phong trong trận chiến đánh đổ sự trì trệ, ù lì đình đốn vốn đã ăn sâu vào máu của một số đông những người đứng trên bục giảng. Nhân vô thập toàn, và thầy cũng vậy, thầy chỉ có một nhược điểm nho nhỏ, mà cũng không biết đó có phải là nhược điểm không. Đó là thầy rất quý phái nữ, nhất là những cô gái trẻ và đặc biệt là những thiếu nữ khi nói chuyện mà mắt cứ hay nhìn xuống. Chẳng cần phải mất nhiều thời gian, Huyền Thư đã lọt vào tầm ngắm của thầy. Với sự từng trải, thầy biết cô nữ sinh ấy đã phải lòng mình, cứ để ý cách cô nghe giảng bài thì biết ngay. Cặp mắt ướt mênh mang kia đang như muốn thu hết cả hình bóng thầy, cặp môi hồng hé mở như muốn nuốt hết cả những lời nói của thầy, ánh mắt thoắt trở nên buồn bã khi nghe hiệu báo hết giờ, những lần vô tình gặp thầy ở chân cầu thang, những lần hỏi bài chỉ để lấy cớ, những kiểu rụt rè hỏi mượn sách của thầy... Nhưng thầy cũng chẳng vội vã, hãy chơi trò mèo vờn chuột với cô bé này, điều đó sẽ còn kích thích thầy hơn nữa. Cho tới một hôm... Căn hộ bé nhỏ xinh xắn mà ba mẹ thuê cho Huyền Thư nằm trong một khu phố trung tâm nhưng yên tĩnh. Lọt thỏm trong ngõ sâu nhưng bồn bề là vườn, trồng rất nhiều cây lâu năm, cành lá vươn cao che phủ cả tòa nhà. Căn hộ nằm trên tầng ba và cũng là tầng trên cùng. Những tán lá xòe vào tận cửa sổ. Mùa hè rất mát, hầu như không cần phải dùng quạt. Tuyệt nhất là khi mùa thu đến, không khí khô ráo trong lành, chim hót líu lo ngoài bậu cửa sổ, những chiếc lá vàng đôi khi bay vào tận giường ngủ của cô gái. Mùa đông đến cũng không làm cho cô sinh viên văn khoa buồn phiền, mùi hương hoa sữa lan tỏa khắp trong không gian, ùa vào phòng cô thật ấm cúng. Căn phòng được bài trí trang nhã, với những màu sắc hài hoà, không loè loẹt, điều chứng tỏ cuộc sống nội tâm của chủ nhân của nó. Nổi bật nhất là giá sách đầy ngộn những cuốn sách, được sắp xếp ngăn nắp và có hệ thống. Sách mua, sách mượn thư viện, sách mượn bạn bè. Sách văn học, sử học, chính trị, văn hóa chung, sinh thái..., và chúng còn được để theo thứ tự ABC theo tên tác giả. Nhìn tổng thể, ta cứ tưởng mình đang lọt vào một thư viện thu nhỏ nào đó. Ta có thể nhìn thấy ngay những tác phẩm bất hủ của Goethe, của Freud, của Shaskespear, của Zola, Flaubert, Gabriel Marquez, Proust, Malraux... cùng rất nhiều các tác giả Việt Nam như Tô Hoài, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Bảo Ninh.... Trên tường, bức ảnh to đen trắng của Marguerite Duras và của Agatha Christie. Huyền Thư từng tâm sự rằng cô thích những tác phẩm của Marguerite Duras, cô thích lối viết đơn giản, văn phong mượt mà và nhất là, bà luôn để cho các nhân vật của mình thổ lộ rất nhiều bằng những cuộc hội thoại. Mẹ đẻ của Người tình và Hidossima, người yêu của tôi đã làm cô mê mẩn. Cô đã đọc đi đọc lại không biết bao lần cuốn tiểu thuyết Người tình, tác phẩm đã được dựng thành phim với nam tài tử người Anh gốc Hồng Kông Tony Leung cùng nữ diễn viên nổi tiếng cũng người Anh tên là Jane March. Cô đã bỏ công sưu tập toàn bộ những tác phẩm của bà và còn mong muốn học tiếng Pháp để có thể đọc được chúng bằng chính ngôn ngữ của tác giả nó. Cô thích Agatha Christie bởi các cách tạo dựng những sự kiện ú tim lý thú, cách đặt tình huống và giải quyết những gay cấn đều nhẹ nhàng như thật, đôi lúc ta cứ nghĩ nó đang diễn ra ngay trước cửa nhà mình... Cô thích cách quan sát nhìn nhận xã hội và phán đoán chiều hướng phát triển của Zola. Cô cảm giác, trong tác phẩm của mình, cách đây đã hơn thế kỷ, thế mà nhà văn bậc thầy đó đã viết những điều chỉ đang diễn ra ngày hôm nay với những tác phẩm nổi tiếng Vì hạnh phúc các quý bà hay Con vật nhận đạo[*],cũng hệt như Jules Verne, thiên thần của các em nhỏ, cha đẻ của các thiên truyện Hai vạn dặm dưới biển[*], Hành trình vòng quanh thế giới trong tám mươi ngày.
[*]Au bonheur des dames, và La bête humaine.
[*]Vingt milieu sous la mer.
Nhìn bàn tay cô âu yếm lướt trên những gáy sách và nói về mỗi cuốn với niềm say mê, ta khó mà cưỡng lại được. Chẳng khó khăn gì, thầy giáo văn chương đã biết hết về thân thế, sở thích và địa chỉ nơi cô ở. Một buổi sáng thứ năm, hôm ấy Huyền Thư không phải đến lớp, cô muốn đi dạo phố mua vài món lặt vặt và nhất là cô có hẹn với một hiệu sách chuyên bán hạ giá, do hiệu nằm sâu hút trong ngõ. Mỗi lần mua ở đó, Huyền Thư bao giờ cũng được giảm từ 30%, đôi lúc đến tận 50%. Từ lâu, cô đã nhắn họ tìm cho mình một cuốn sách về kinh thánh. Không phải cô muốn chuyển đạo, bởi Phật giáo mà gia đình cô có truyền thống theo từ bao đời nay khiến cô luôn tự hào. Cô đọc sách và biết rằng hiện giờ, rất nhiều cư dân phương Tây đang muốn trở thành môn đệ của giáo phái này. Họ nói trong tất cả các tôn giáo, đạo Phật là rộng lượng bao dung hơn cả. Những gì Phật răn dạy đều chí lý, chí tình, chứ không cực đoan như đạo Hồi, không thụ động như đạo Thiên Chúa, không cứng nhắc như đạo Do Thái, không hành xác nhiều lúc dẫn đến mê muội như người Hindu... Cô muốn tìm cuốn Kinh thánh bỏi từ ngày cô say sưa nghiên cứu văn học phương Tây, thì chưa một cuốn sách nào lại không đề cập đến vấn đề tôn giáo. Các môn phái luôn không ngừng kèn cựa nhau, đã xảy ra những cuộc viễn chinh về đất thánh, những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu, mặc dù từ nguồn gốc cội rễ, người phát minh khai sáng vẫn chỉ là một. Đạo Thiên Chúa và đạo Hồi hân hoan bởi họ đã tìm thấy cho mình một Đấng tiên tri: Chúa Jésus cho Thiên Chúa giáo và Mohamed cho Hồi giáo, còn Do Thái giáo thì chưa, họ vẫn cầu nguyện đêm ngày để có một ngày nào đó, Dâng tối cao sẽ gửi xuống cho họ một người có đủ sức cầm chiếc gậy chăn dắt, đưa họ ra khỏi những khổ ải trầm luân của loài người. Chẳng vậy mà cuộc sống của họ thật khắc nghiệt. Họ ăn uống kham khổ, mặc dù họ nổi tiếng giàu có. Họ chăm chỉ cầu nguyện nhiều lần mỗi ngày và bắt con cái, ngay từ nhỏ phải phục tùng quy luật ấy... Nghe anh kể tới đây, tôi nhớ rằng trong một lần đi công tác ở xứ Québec, Canada. Vài đồng nghiệp của tôi là người Do Thái nên họ đã chọn khách sạn cũng như nhà hàng phải đặc mùi tượng trưng của giáo phái họ. Cũng như Huyền Thư, cả thất thập tam tổ đồng đường nhà tôi đều theo đạo Phật, nhưng vốn rộng lượng và tò mò muốn biết cảnh sinh hoạt của họ như thế nào, tôi vui vẻ nhận lời ở cùng với họ. Phải nói là tôi thật sự choáng trước cảnh sinh hoạt của những người này. Hôm đầu tiên, tất cả diễn ra suôn sẻ, khách sạn chỉ có một số đoàn nhỏ đến để hội thảo, vài khách lẻ ăn sáng vội vàng rồi có xe taxi đến đón đi làm việc, vài khách du lịch ăn uống, nói cười bỗ bã rồi họ lại mất hút và chỉ quay lại khách sạn khi đêm buông xuống. Chẳng khó khăn gì mà tôi có được những đồ ăn sáng theo đúng sở nguyện của mình. Chuyện chỉ khiến tôi thực sự ngỡ ngàng khi hai ngày sau, một đoàn thiếu niên chừng mười ba, mười bôn tuổi cập bến khách sạn. Người ta chỉ nghe thấy tiếng những bước chân dẫm trên thảm lát sàn, những tiếng rì rầm nho nhỏ, khác hẳn vởi sự inh ỏi chói tai của những đám học sinh thường nhật mà ta vẫn gặp. Chúng nhanh chóng nhận va li đồ đạc của mình. Người trưởng đoàn phân phát chìa khóa, cứ hai đứa một phòng, nhỏ nhẹ nhận chìa khóa, nhỏ nhẹ cám ơn và nhỏ nhẹ đi lên phòng mình. Lũ con gái được nhường thang máy, còn các cậu chàng thì hỳ hục trèo cầu thang bộ. Nếu cứ như vậy thì cũng chưa có gì đáng ngạc nhiên lắm. chỉ cho đến sáng hôm sau, hôm ấy là thứ sáu, những đồng nghiệp của tôi không làm việc, bởi đối với họ, đó là ngày nghỉ, là ngày cầu nguyện. Là ngày nghỉ nên họ dậy muộn. Được mấy người bạn giới thiệu, nên tôi đã tạo được vẻ thân mật với các nhân viên trong khách sạn. Tôi đến bên bàn bếp và yêu cầu họ làm cho hai quả trứng ốp la, mấy lát bánh mì nướng và tách cà phê. “Ô, thật sự xin lỗi cô! Có lẽ cô phải chờ cho một lát - người đầu bếp bối rối nhìn tôi, đưa tay lên gãi đầu và giải thích rằng anh ta không thể đáp ứng được ngay yêu cầu của tôi - Vả lại tôi không biết cô phải chờ trong bao lâu, bởi hôm nay là ngày nghỉ”, anh ta nói thêm. Tôi tròn xoe mắt: “Chẳng lẽ mấy lát bánh mì và hai quả trứng ốp la mà lại phức tạp đến vậy sao? Anh có lẽ phải đi mua chăng?”. Tôi thầm nghĩ đó là điều hết sức phi lý ở một đất nước Canada hiện đại, và nhất là trong khách sạn đặc biệt chỉ dành cho những người Do Thái lắm của nhiều tiền. Anh chàng đầu bếp trẻ tuổi đang lúng túng chưa biết giải thích thế nào thì một đồng nghiệp nam của tôi, Michel, đi xuống. Anh ấy thuộc dòng Do Thái chính thống, gốc Tunisie. Người đầu bếp như kẻ chết đuối vớ được cọc, vội vàng nhờ anh ta châm mồi nhóm lò và bật bếp điện. Lát sau, Michel mới giải thích rành rẽ cho tôi hiểu rằng: nhóm lò hay bật bếp điện đối với tôn giáo của anh là cực kỳ quan trọng, bởi điều đó sẽ đem đến sự may rủi cho cả một ngày làm việc. Tôi thầm nghĩ, thì cũng giống như mấy bà đi buôn bên ta sợ ra ngõ gặp gái buổi sáng, và chia sẻ ý nghĩ này với anh ấy. Khi nghe xong, anh ấy bảo còn hơn cả thế, bởi nó còn liên quan đến cả tâm linh nữa. Vào đến nhà ăn của khách sạn, hai dãy bàn dài được kê liền nhau, hơn năm mươi thiếu niên trong bộ quần áo chùng ngủ trắng phau giống hệt nhau như một đàn cò, không phân biệt nam nữ, trai gái, mũ trắng đội trên đầu, trước mặt chúng là một chiếc hộp vuông nhỏ chừng hai mươi xăng-ti-mét, được cấu tạo như chiếc hộp nhạc có tay quay như hình một chiếc pa- li-ven thu nhỏ, chỉ có điều chúng chạy bằng cơ. Tất cả bọn trẻ đều một tay quay với vận tốc đều đặn, một tay đặt lên mặt bàn, ánh mắt chăm chú nhìn những dòng chữ Do Thái hiện ra dưới khung cửa nhỏ hẹp của chiếc hộp. Chúng lầm rầm đọc theo những dòng chữ đó. Trước mặt chúng là tách cà phê có vẻ như đã nguội và chiếc bánh sừng bò. Mười lăm phút sau, buổi cầu nguyện mới chấm dứt, chúng nhẹ nhàng thu dọn dụng cụ mà lúc đó tôi đã gọi là hộp cầu nguyện. Chúng chắp tay, nhắm mắt cúi đầu như mặc niệm và chỉ một phút sau mới bắt đầu dùng bữa sáng. Khi đi ngang qua bể bơi, tôi nhìn thấy một tấm biển áp phích, được dán trên một chiếc lò vi sóng: Chiếc lò vi sóng này là không Kacher[*]. Đến đây thì tôi bỗng cảm thấy ngột ngạt.
[*] Để chỉ thức ăn của người Do Thái. Không Kacher, để khẳng định rằng chiếc lò vi sóng đó đã bị một người không phải là Do Thái sử dụng với đồ ăn không phải là đồ ăn của người Do Thái.
Đến chiếc lò vi sóng mà cũng không-Kacher thì... Ngay cả người bạn Do Thái của tôi cũng cảm thấy bối rối trong cách giải thích của mình. Tôi thấy đó chỉ là một cách ngụy biện của họ mà thôi. Thực ra họ muốn sống tách khỏi những cộng đồng tôn giáo khác, muốn đặt ra những luật lệ khắc nghiệt để mong vị tiên tri, mà tôi nghĩ là không tồn tại, sẽ được Đấng tối cao phái đến nhanh hơn... Vâng, tôi sẽ quay lại chuyện anh đang kể về cô bé Huyền Thư tội nghiệp đây. Cô có hẹn với bà chủ quán sách nằm sâu trong con hẻm nhỏ trên phố Tràng Tiền để nhận cuốn sách nói về Kinh thánh. Trời đang sắp sửa sang đông nên cũng hơi se lạnh, Huyền Thư mặc một chiếc váy ngắn chởm đầu gối, chiếc áo phông và khoác ngoài một chiếc áo gió màu xanh da trời. Trông cô lại càng trẻ trung duyên dáng, pha chút dài các. Đang hý hoáy dắt chiếc xe đạp mini nhật màu đỏ tươi ra khỏi cổng thì bất chợt thầy giáo dỗ xịch chiếc xe trước mặt em. Giật mình ngẩng lên, toàn thân Huyền Thư run bắn: Em... thưa thầy... em... em chào thầy ạl”. Nói rồi lại cúi gằm xuống, cả mặt và tai em đỏ nhừ, như thể em sợ thầy đã đoán được những suy nghĩ của mình. Quả thật, từ ít ngày nay, hình ảnh thầy lúc nào cũng lởn vởn trong tâm trí em. Em thấy thầy thật phong độ, hiểu biết. Nhất là hôm thầy giảng về thuyết phân tâm của Freud. Em ngờ ngợ và nghĩ có lẽ mình cũng bị phân tâm thật. Em biết thầy đã có gia đình, vợ con đàng hoàng, nhưng mặt khác em vẫn muốn thầy để ý đến mình, em cũng muốn được nhìn thật sâu vào mắt thầy... Nhưng những từ như “hồ ly tinh”, “người thứ ba”... làm em hãi hùng, và quả là em đã cố tránh thầy. Hai cua học cuối cùng của thầy em đã không đến lớp, em cố gắng không gặp thầy ở chân cầu thang, cố không đi học về cùng một con đường như trước, nhờ bạn đem trả thầy những cuốn sách mà em đã mượn... Nhưng quả thật “khi cố quên là khi lòng nhớ thêm”, em càng muốn quên hình ảnh của thầy thì hình ảnh thầy hiện ra càng rõ nét hơn, đậm đặc hơn. Em nhớ khi thầy phát âm có chữ “r”, chữ “tr”, lưỡi thầy cong lên, miệng trành ra, nhìn có vẻ xấu nhưng em trông thầy lúc ấy lại duyên hết sức. Cách thầy vung tay khi viết trên bảng. Cách thầy đi từng bước dài rồi bỗng quay ngoắt lại để trả lời câu hỏi của một bạn sinh viên nào đó. Cách thầy đưa tay lên hất mái tóc dài xõa xuống mắt một cách thành thục đến điệu nghệ. Em thích khi thầy mặc áo sơ mi có kẻ sọc nhỏ màu phớt hồng và complet màu tàn thuốc lá, cà vạt màu xanh lam, trông thầy chững chạc và quý phái. Nhưng khi thầy mặc quần gin và áo blouson da, trông thầy thật trẻ trung trai tráng... Bây giờ bỗng dưng lại gặp thầy ở đây, em thật bối rối vô cùng. Nhưng thầy đã lên tiếng trước: “Mấy buổi rồi em không đến lớp, thầy lo em bị ốm. Sẵn có chút việc đi ngang qua, thầy rẽ vào thăm em, tiện thể thầy mang cho em mấy cuốn sách”, thầy nói và chỉ vào rọ xe. Huyền Thư lúng túng không biết nên quay vào hay đi tiếp, thầy cũng cố tình nhìn em như chờ đợi. Hai người cứ đứng như thế chừng năm phút, Huyền Thư đành mời thầy vào nhà. Khi ấy thầy mới lại lên tiếng: “Em đang định đi đâu phải không? Hay em cứ đi... - Không sao thầy ạ, vả lại, Huyền Thư đưa mắt liếc nhìn đồng hồ, bây giờ cũng đã trễ giờ rồi!”. Thầy ra chiều hiểu biết: “Vậy em nên gọi điện báo cho họ biết, và xin lỗi vì đã không đến được để họ khỏi chờ”. Vừa nói thầy vừa rút chiếc điện thoại di động đắt tiền, lịch lãm đưa cho Huyền Thư. Cô miễn cưỡng cầm lấy và bấm số máy, lúng túng giải thích với người chủ hiệu sách rằng cô hơi mệt và có lẽ đến chiều mới qua lấy sách được. Trả lại điện thoại cho thầy, cô lúi húi dắt xe quay lại sân, chỉ chỗ cho thầy để xe và đưa thầy lên căn phòng trọ của mình. Mặc dù đã tìm hiểu về thân thế gia đình của Huyền Thư, nhưng thầy giáo văn chương cũng không khỏi ngạc nhiên khi bước chân vào nhà cô học trò. Mọi thứ đều sạch sẽ và ngăn nắp. Một con lật đật to như chú gấu bông đậu mớm trên thành giường mà không hề ngã. Huyền Thư mời thầy ngồi xuống thảm, lấy cớ nhà chật nên không kê được bàn. Chỉ có một chiếc bàn làm việc duy nhát kiêm chỗ để máy tính. Cô lúi húi bật ấm điện đun nước pha trà, bỗng cô cảm thấy có làn hơi thở nóng dồn dập sau gáy. Vừa kịp quay lại, thì cô đã bị thầy ôm cứng trong vòng tay. Giọng thầy hổn hển đứt quãng: “Em, Huyền Thư, anh thương em....”. Môi thầy đã kịp gắn chặt lên môi cô trò nhỏ. Lần đầu tiên, cơ thể thiếu nữ của cô động chạm vào cơ thể của người khác giới. Cả người cô run bắn lên, rồi chuyển từ cứng đờ sang cảm giác bồng bềnh. Cô cảm thấy như mình đang bay lên, bay lên. Chỉ đến khi bàn tay thầy kéo tung chiếc áo phông, lật tung chiếc xu chiêng và môi thầy dời khỏi môi cô, trượt dần xuống cổ rồi bất ngờ ngậm chặt lấy đầu vú nhỏ hồng hồng, thì những từ “người thứ ba”, “hồ ly tinh”... lại bất ngờ trỗi dậy trong tiềm thức. Huyền Thư bắt đầu vẫy vùng, ra sức giãy đạp hòng thoát khỏi vòng tay thầy, nhưng con cừu non bé bỏng không hiểu một điều sơ đẳng trong tình trường đàn ông rằng, cô càng quẫy đạp thì lại càng kích thích họ. Chỉ đến lúc cô nghiêm giọng nói: "Nếu thầy không buông em ra thì em sẽ hét toáng lên bây giờ!”. Khi ấy, thầy mới dời cô ra, rồi sửa lại chiếc xu chiêng cho ngay ngắn, kéo lại chiếc áo phông cho cô. Miệng thầy ấp úng lời xin lỗi. Nhìn thầy lúc ấy, Huyền Thư lại thấy tồi tội. Cảm giác va chạm vừa rồi, không phải đã gây cho cô toàn sự khó chịu, trái lại là khác. Nhưng cô không muốn thổ lộ điều ấy cho thầy biết. Cô quay sang tắt điện trên bếp và pha trà. Hai người quay lại tấm thảm, dù có đôi chút gượng gạo. Vẫn là thầy lên tiếng trước: Đây là cuốn Từ điển những nhà văn viết tiếng Đức đương đại mà hôm trước em hỏi thầy, thầy đem đến cho em. - Em cám ơn thầy”. Đồng hồ treo tường của chủ nhà ở tầng dưới thánh thót điểm mười hai tiếng. Huyền Thư kín đáo liếc nhìn đồng hồ. Nhưng thầy vẫn ngồi đấy, đang cắm cúi xem một cuốn sách viết về môi trường được dịch ra từ tiếng Pháp mà một người bạn cùng lớp vừa cho cô mượn hôm trước. Cô thật khó xử, đành rụt rè lên tiếng: Đã muộn, hay thầy ở lại, em nấu cơm?”. Thầy có vẻ như chỉ chờ câu nói này, liền dời mắt khỏi cuốn sách, khoát tay: Thôi khỏi nấu, em ở nhà sắp bát đĩa, thầy chạy ra đầu phố mua cơm hộp, chúng ta cùng ăn cho vui”. Huyền Thư đành ngoan ngoãn vâng lệnh mà không hề biết rằng đời cô đang chuẩn bị rẽ sang một hướng khác. Cô dọn ấm chén, lấy ra những chiếc bát xinh xắn, nhung đôi đũa. Thầy vẫn chưa về. Cô bật nhạc, chọn một đĩa hát thật êm dịu tình tứ của Phú Quang. Ngoài trời có nắng hanh, cả khu phố bỗng yên tĩnh lạ thường. Bà chủ nhà cũng thôi không nghe ca trù hồng hồng tuyết tuyết như mọi ngày nữa. Bà đã ngoài bảy mươi, con cái đều là cán bộ cao cấp thường xuyên đi công tác xa. Mẹ của Huyền Thư có một thời làm cùng cô Hòa, con gái bà, nên mẹ mới biết mà gửi Huyền Thư tới đây. Nói là ở trọ, nhưng bà cụ già rất quý cô học sinh chăm chỉ, nên coi cô như cháu. Nhiều lúc rỗi rãi, cô hay chạy xuống bà chơi. Bà sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, gia đình bà ở đó không biết từ bao nhiêu đời bà cũng không nhớ nữa, nên bà là cả một kho tàng hiểu biết về đất Hà Thành. Muốn hỏi chuyện gì bà cũng có thể trả lời cô được. Giọng hát trầm ấm của ca sĩ Thuỳ Dung phát ra từ chiếc máy hát: “Hà Nội mùa này trời không buông nắng, phố vắng nghiêng nghiêng cành cây khô...”. Có tiếng xe máy dưới sân, thầy đã về, thầy hớn hở giơ hai hộp cơm ra: Thầy phải ra tận Hàng Ngang mới mua được cơm Sài Gòn đấy, thầy trò mình dùng thử nhé”. Thực ra, Huyền Thư chẳng còn bụng dạ nào nghĩ tới bữa cơm đó nữa. Cô không ngừng đặt câu hỏi tại sao thầy lại làm thế. Cô thầm đoán rằng không phải là thầy không biết rằng cô cảm thấy ngài ngại, rằng lần đầu tiên thầy đến chơi nhà cô mà ở lại dùng cơm như vậy là có cái gì đó không ổn. Nhưng thầy hình như không để ý đến những băn khoăn của cô gái nhỏ. Thầy đưa cho Huyền Thư những cái nem tai cuốn: - Đây, con gái là thích đồ này lắm đây, thầy mua ở chợ cầu Gỗ, đấy là nhà gia truyền về món này. -Còn đây là món mắm tép, thầy mua ở hiệu Quốc Hương Hàng Bông... Tay giở ra món gì là thầy lại giới thiệu danh tính và xuất xứ của món đó. Chỉ có hai người ăn mà thầy bày ra như để cho cả chục người không bằng. Huyền Thư đỡ bát, lấy cơm cho thầy. Đây là lần đầu tiên, cô ngồi ăn cơm với một người đàn ông ngay trong nhà mình. Thầy ăn uống tự nhiên. Thầy bật một hộp bia, mời Huyền Thư, nhưng cô từ chối, thầy mở chai nước trắng: - Nhất là đừng bao giờ dùng cocacola nhé, loại đó không tốt vì có rất nhiều chất đường trong đó, toàn đường hóa học, nếu sử dụng nhiều, sẽ dẫn đến nhiều hậu họa khó lường như tiểu đường, suy gan, yếu thận.... Bên châu Âu, người ta khuyến cáo rất nhiều. Vừa ăn xong bát cơm đầu tiên, Huyền Thư bắt đầu thấy cả người rạo rực một cảm giác thật khác lạ, cả người cô bỗng nóng bừng. Máu hình như chảy dồn cả lên mặt, lên tai. Mắt cô trở nên long lanh. Tự nhiên cô thèm được sống lại cảm giác mà thầy đã làm với cô hồi sáng. Còn thầy thì vẫn ngồi ăn điềm nhiên, như không có chuyện gì. Huyền Thư xin lỗi dứng lên ra nhà tắm rửa mặt. Thầy dõi mắt nhìn theo. Thật ra thầy vẫn chú ý theo dõi và không bỏ sót một phản ứng nhỏ nào nơi cô. Thầy cũng chẳng phải vội, cô bé ấy sẽ tự nguyện trao thân cho thầy thôi. Kiểu của thầy, thử trăm lần trúng cả trăm. Huyền Thư chuyệnh choạng từ nhà tắm bước vào, ánh mắt cô nhìn thầy tình tứ, rực lửa, rồi bất ngờ, cô kéo tuột cả chiếc áo phông, cũng như chiếc xu chiêng của mình, để lộ cả phần mình phía trên trắng như sáp, đẹp như tượng. Hai núm vú hồng hồng cương cứng. Tự tay cô đưa lên xoa hai bầu vú đẹp như ngà. Thầy còn giả bộ: “Huyền Thư... Huyền Thư, em mặc áo vào đi. Em làm sao vậy?”. Nói thế, nhưng thầy đã sà đến ngay bên cô. Bàn tay thầy lướt nhanh lên ngực, lên cổ, lên bụng và chạy dần xuống dưới, lẩn vào giữa hai cặp đùi thon dài, tìm bới giữa túm lông đen huyền mịn như nhung. Thầy làm tất cả chuyện đó thật từ từ nhẹ nhàng. Cặp mắt thầy không rời khỏi cặp mắt Huyền Thư mà thầy thỉnh thoảng lại cúi xuống hôn lên đó. Trong đời thầy quen rất nhiều phụ nữ. Già có, trẻ có, sồn sồn có và thanh nữ cũng có, nhưng chưa ai đem lại cho thầy cảm giác như khi ở bên Huyền Thư, nhất là khi cô ngước mắt lên nhìn thầy ở chân cầu thang dạo nọ, cầu khẩn thầy giải thích cho một câu hỏi mà thầy biết mười mươi là cô đã hiểu tường tận. Ánh mắt cô trong veo, sâu thẳm chứa đựng một thứ tình cảm mãnh liệt nồng nàn. Từ dạo đó, ánh mắt ấy không rời khỏi thầy. Chuyện Huyền Thư bỏ liền hai buổi học, khiến thầy phát điên, thầy không thể chờ được nữa. Lúc này, cả tấm thân nuy ngọc ngà của cô đang ở trên tay thầy. Cả người cô cong lên chào mời, tay cô điều khiển tay thầy, rồi kéo vít mặt thầy vào ngực mình, chính giữa hai bầu vú. Cô rên lên đê mê khi cảm thấy thầy đưa một vật cứng gì đó vào trong cơ thể mình, cảm giác khoái lạc lan toả đi khắp cơ thể. Cô sung sướng hưởng thụ vởi cảm giác như đang chìm sâu vào những vùng không đáy, dưới lòng đất sâu, trong một sự chơi vơi mà niềm khoái cảm cứ lặp đi lặp lại, và mỗi lần lại như đẩy cô đi xa hơn. Cô cứ lâng lâng như thế cho đến tận lúc chìm hẳn vào trong giấc ngủ. Trong mơ, cô đang thấy mình đi khám phá những điều kỳ lạ nhất của thế giới loài người. Khi tỉnh dậy thì đã gần năm giờ chiều, ngoài trời đã tối lờ mờ. Huyền Thư vẫn thấy thầy ngồi đọc sách bên chiếc đèn bàn. Quần áo thầy chỉnh tề, chỉ có quần áo của Huyền Thư là xộc xệch, cô không hiểu đã có chuyện gì xảy ra, và tại sao thầy lại ở đây. Lần hồi, khi nhìn thấy chiếc khăn tắm trắng tinh của cô loang lổ những vết máu tươi, cô bỗng nhớ ra tất cả: cuộc gặp gỡ với thầy buổi sáng, uống trà, ăn cơm thầy đi mua, cảm giác khác lạ khi cô ăn đến bát thứ hai.... Cô bật khóc nức nở. Có lẽ cũng đã quen với cảnh này, thầy để cô khóc một hồi lâu rồi mới đến bên cô: “Anh xin lỗi em, anh thương em, anh sẽ có trách nhiệm với em. Giờ thì anh biết mình không thể sống mà không có em được. Nếu em muốn, anh sẽ li dị vợ và chúng mình sẽ cưới nhau. Hãy cho phép anh được chăm sóc em, anh yêu em...". Chẳng biết thầy có thực lòng không, nhưng nhìn vẻ mặt thầy lúc ấy hết sức chân thành, đến nỗi mà cô thôi khóc liền sau đó. Thầy âu yếm nói tiếp: “Tối nay, anh ngủ ở đây nhé?". “Ôi, không được đâu, bà chủ nhà mà biết thì em chết mất!”. “Vậy anh về nhà, sáng mai anh sẽ đến đón em đi ăn sáng”. “Không được đâu, hãy để em làm một mình, em sợ mọi người biết lắm”. “Vậy khi nào thì anh có thể gặp lại em được?”. “Cuối tuần này được không anh?”. “Cuối tuần hả? để anh coi nào. Ô, không được rồi, anh có người bạn đồng nghiệp mới từ Đức qua, chắc anh sẽ phải tiếp ông ấy”. “Vậy thì...”. “Thôi được, sáng thứ hai anh không có giờ, mà em cũng đang nghỉ ôn thi học kỳ phải không, vậy anh sẽ qua vào sáng thứ hai nhé!”. Nói rồi họ lại hôn nhau và lại yêu nhau một lần nữa, trước khi thầy ra về. Từ hôm đó Huyền Thư chỉ mong đến thứ hai để gặp lại người tình yêu dấu của mình. Sáng thứ hai ấy, đúng hẹn, thầy đến, trên tay là một bó hoa hồng thắm đỏ. Họ hôn nhau ngay khi anh bước vào phòng và lại làm tình ngay trên thảm nhà, và họ chẳng muốn dời nhau nữa. Anh giở túi lấy ra một hộp chocolat bột đưa cho Huyền Thư: Em cất đi mà dùng, hôm trước ông đồng nghiệp từ Đức sang cho anh, anh đem đến cho em”. Xoay xoay chiếc hộp trên tay, bỗng chiếc nắp bật ra, anh đưa tay đỡ lấy và chiếc hộp không suy chuyển. Anh giải thích tự nhiên: “Hồi sáng, anh có mở ra dùng thử rồi, ngon lắm, em thử ngay đi”. Huyền Thư lấy hai thìa cà phê cho vào cốc và rót nước nóng. Nó quả là thơm và có hương vị thật đặc biệt. Cô thấy cảm động, vì không ngờ anh lại chăm sóc cô đến thế. Có hộp quà bạn cho cũng đem đến tặng cô. Huyền Thư thấy hạnh phúc và đã trở thành người tình của thầy. Tuần hai buổi thầy đến thăm cô. Thỉnh thoảng lại đem tới cho cô khi thì hộp chocolat, khi là hộp cà phê sữa, nhưng bao giờ cũng là “anh vừa mở uống thử hồi sáng, ngon lắm, em dùng thử đi”, đến mức mà nhiều khi cô vừa hỏi và đã có ngay câu trả lời ấy của anh. Huyền Thư vẫn học tốt, nhưng sao cô bỗng thấy nhanh mệt, người hay uể oải và càng ngày lại càng phải dùng nhiều chocolat hay cà phê sữa mà anh mua cho cô. Nhiều khi hết mà anh chưa kịp đem đến, cô ra ngoài mua, nhưng sao chúng thật nhạt nhẽo vô vị. Chuyện cứ vậy thì cũng chưa có gì để đáng nói. Hơn một năm sau lần đầu tiên thầy đến nhà Huyền Thư thì vào một buổi tối, có một phụ nữ trung niên tìm đến gặp cô. Trông chị đúng dáng một trí thức. Chị nói nhỏ nhẹ, hỏi thăm tình hình học hành của Huyền Thư, cô gái trẻ giữ kẽ trước người lạ nên không dám thổ lộ. Và chỉ gần đến lúc ra về, người phụ nữ trung tuổi kia mới nói thật chị chính là vợ của thầy. Chị cũng nói thẳng với Huyền Thư rằng: “Sẽ chẳng có chuyện anh ấy bỏ vợ để cưới em đâu. Chị đã quá quen với những cuộc tình kiểu này của anh ấy, nhưng lần này, chị thấy nó kéo quá dài, vì thường thường, những mối tình của anh ấy chỉ kéo dài vài tuần hoặc vài tháng là cùng, chị biết em là người tốt, nên chị không muốn em phải lỡ dở học hành. Em đã bắt đầu năm thứ ba rồi, năm sau ra trường, em phải tự tạo tương lai cho mình!”. Cả chân trời đổ sụp trước mặt cô gái. Cô suy sụp hẳn đi, học hành yếu kém và thường xuyên bỏ học. Cô nhất định không gặp mặt thầy nữa, nhưng khi hết chocolat hay cà phê sữa thì cô lại phải gọi điện cầu cứu thầy, và thế là thầy lại đến. Thưa bác sĩ, nghe NV . kể đến đây, tôi vô cùng phẫn nộ bà biết không. Không thể hình dung một trí thức mà lại hành động bỉ ổi đến vậy. Tôi xin kể tiếp, một hôm, ngồi nói chuyện với bà chủ nhà mà cô cứ ngáp vặt lại biểu hiện những cử chỉ lạ lùng. Bà chủ nhà, vốn là bác sĩ về hưu, bà lại tham gia vào ban điều hành, hòa giải của tổ dân phố. Bà ngay lập tức cảm thấy cô bé này có vấn đề về ma túy. Bà hỏi thì cô lại chối, bởi ngay chính cô cũng không hề biết rằng mình mắc ma túy, do đã bị người tình vàng ngọc đầu độc. Chỉ khi về nhà, tắm táp xong, tĩnh tâm lại và cô suy nghĩ về tất cả các lần anh tặng đồ uống bột thì nắp hộp bao giờ cũng đã được mở sẵn từ trước. Bây giờ thì cô khẳng định rằng chính hắn đã pha ma túy vào đó dể trói buộc cô. Cô quyết tâm trả thù. Không hề biểu hiện cho hắn thấy rằng cô đã phát hiện ra việc làm của hắn, lần cuối cùng hắn đến nhà, cô lấy cớ mượn xe hắn đi có chút việc, thực ra cô đã đi đến hiệu sửa chữa xe máy, thuê cắt đứt dây phanh xe. Cô nói dối là muốn người yêu ở lại với mình đêm nay nên làm vậy để anh không về dược. Hôm đó, cô cố tình đi bộ tiễn hắn, nói chuyện với hắn rất lâu, đi xa cách nhà cô hàng cây số. Hắn muốn đưa cô trở lại nhà, nhưng cô nhất định từ chối. Trước khi chia tay, hắn còn hôn cô, nhưng cô đã lấy giấy lau ngay khi vừa quay gót. Khi hắn rú ga phóng đi, cô đứng im chờ đợi. Rồi cô nghe thấy một tiếng ầm váng tai, chiếc xe lao thẳng vào tường bắn tung ra, chủ nhân ngã xoài trên mặt đường. Cô mím chặt môi đi về nhà mình. Sau vụ đó, hắn bị gãy một chân và một bên mắt bị hỏng nặng, cả bên má trái bị tượt da, giờ thâm sì lại như quỷ hiện hình. Còn cô thì cố giấu bà chủ nhà chuyện mình mắc ma tuý. Bao nhiêu tiền ba mẹ gửi cho cô đều đi mua thuốc để dùng, cho đến lúc không còn tiền nữa. Hôm gặp hai anh, đó chính là buổi đầu tiên em định đi làm gái để kiếm tiền phê ma túy. Tôi hỏi bây giờ cô ấy làm gì? NV . trả lời sau vụ đó, anh đã khuyên cô bé đi cai nghiên. Nhưng cai nghiện xong, cô nhất định không tiếp tục theo học nữa. Cô cảm thấy ghê sợ giới trí thức, và quyết định đi làm. Thật khó kiếm việc khi chỉ là sinh viên Văn khoa năm thứ ba. Cô đành chấp nhận làm trong các quán bar hạng sang và cô đã hứa với anh không bao giờ đi khách. Vâng, chuyện của cô gái mà NV . kể cho tôi nghe không có gì lạ: chuyện học sinh yêu thầy, thầy lợi dụng nữ sinh viên thì hầu như thời nào cũng có. Chuyện sinh viên sa ngã cũng vậy, không hiếm. Nhưng tôi thực sự khâm phục cô gái đã dũng cảm kể ra câu chuyện đau thương của đời mình, kể cả chuyện cô trả thù con người kia. NV ., sau đó có viết thành truyện không à? Có, anh ấy có viết một bài báo và cũng đã hư cấu để nó trở thành một truyện ngắn và đã được giải Nhì của Bộ Công an trong cuộc thi viết về các tệ nạn và chống tệ nạn xã hội. Anh còn kể, khi truyện đăng trên báo Văn nghệ, đã có một phụ nữ trung tuổi gọi điện nói rằng chị có biết những nhân vật trong truyện ấy, mặc cho anh nói đó chỉ là do anh hư cấu. Thế đấy, thưa bác sĩ, hôm ấy anh đã tâm sự nhiều với tôi về nghề làm báo của anh, đôi khi phải chịu rất nhiều đao búa của dư luận. Nên bênh ai, phải phê phán ai, vạch ngăn của chuyện này rất mập mờ mong manh, nếu ta không vững vàng, không sáng suốt nhận định, nghe, điều tra và tìm hiểu kỹ thì sẽ vướng phải chuyện “vơ đũa cả nắm!”... Tôi ngậm ngùi cảm thông với công việc của anh. Giờ thì bà đã hiểu rằng tại sao tôi lại không muốn kể nhiều về Hà Nội. Bởi tôi muốn giữ mãi hình ảnh có tàu điện chạy kêu leng keng. Tôi muốn nhìn thấy Hà Nội mỗi buổi sáng sớm có sương phủ giăng giăng trên mặt hồ xanh yên tĩnh. Tôi muốn thấy hình ảnh của chị lao công cần mẫn quét rác bên đường... Vâng, tôi xin lỗi, tôi sẽ quay lại chuyện về chuyến đi xuyên rừng ngày ấy của tôi và anh. Sau khi quyết định theo đoàn thám hiểm kia vào một bản người dân tộc gần đó để nghỉ qua đêm. Bỗng nhiên, trời vẫn đang nắng mà lại có một cơn gió mạnh dem theo toàn hơi nước bất chợt ào tới, tất cả các nén hương trầm trong tay tôi bỗng phụt tắt, những tàn nhang bay lả tả dưới chân tôi và bám đầy áo anh. Mọi người đồng loạt biểu thị sự ngạc nhiên rồi cùng nhau bước đi. Khi tới được bản thì trời đã nhập nhoạng tối, từng dàn trâu bò đủng đỉnh đi về chuồng. Đàn gà nhao nhác gọi nhau. Những bếp lửa đã bập bùng trên những ngôi nhà sàn nằm vắt vẻo cheo leo trên các sườn núi. Nhà nọ ỏ cách nhà kia khá xa. Người phiên dịch giải thích sẽ đưa chúng tôi vào nhà Trưởng bản. Anh nói qua rằng ông già này rất đặc biệt và có điều gì dó rất huyền bí mà không bao giờ ông muốn dể lộ ra. Anh còn nói thêm rằng ông chắc phải có một niềm tâm sự sâu kín nào đó. Cách ngôi nhà thoạt nhìn có vẻ bề thế vững chãi chừng ba mươi mét, tôi thoáng thấy một người đàn ông đã có tuổi, vạm vỡ, nước da đen bóng. Khuôn mặt và cổ ông ta chằng chịt những vết sẹo trông gớm ghiếc, dọc theo từ vai trái đến sườn phải là một vết sẹo to và dài như đường phân cách hai nửa cơ thể vậy. Ông ta đang chẻ củi. Những nhát búa bổ xuống thật chính xác, từng lát củi chẻ ra, chúng đều đặn như được đo bằng thước. Thấy chúng tôi đến, người đàn ông ngẩng lên đón chào. Lau hai bàn tay vào ống quần rộng thùng thình như váy đàn bà nhà quê, những chiếc móng tay dài của ông đen sì, bàn chân đất to bành, các ngón choãi ra như cánh quạt. Những đường gân nổi lên trên những bắp tay cuồn cuộn để trần loang loáng mồ hôi mặc dù trời vùng sơn cước đã bắt đầu lạnh. Ông lần lượt bắt tay từng người, đến lượt NV . thì ông bắt rất nhanh rồi quay mặt đi, như thể ông đang muốn trốn tránh một cái gì đó. Nó lộ rõ đến nỗi mà cả nhóm ai cũng nhận ra. Người phiên dịch bối rối hỏi ông, ông mời mọi người vào nhà rồi cun cút bước đi rất nhanh. Cả người ông bị lệch về một bên do cột sống hình như đã bị chấn động mạnh hay bị dị tật gì đó. Từ nãy giờ, tôi cũng để ý nét mặt của NV . Anh cũng đứng như chết lặng trước một cảnh tượng khó tin. Chừng năm phút sau, anh quẳng đồ và chạy nhanh theo người đàn ông kia: - Hùng, Trần Thế Hùng, a4, b3, c7... có phải Hùng không? Người đàn ông khi ấy đã bỏ chạy ra sau nhà, rồi bỗng gục mặt vào hai bàn tay nhem nhuốc khóc nức nở. Tôi chưa bao giờ chứng kiến cảnh một người đàn ông khóc như vậy. Ngày anh trai tôi khóc khi bạn anh ấy hy sinh cũng không nhiều như thế. Và tôi nhớ là mẹ còn khuyên anh ấy cứ khóc cho thoải mái, khóc cho nước mắt chảy ra ngoài thì tâm hồn sẽ nhẹ nhõm hơn. Mọi người không ai bảo ai, đều để mặc cho người mà tôi chắc chắn rằng tên là Hùng kia ngồi khóc. Cả N. V. cũng chỉ đến đứng sau lưng ông. Mọi người hẳn sẽ cứ đứng mãi như thế, nếu không có người phụ nữ dân tộc, cũng đã đứng tuổi đội trên đầu một bó rau và địu trên lưng một gùi thập cẩm những củ rừng đi vào. Bà cũng không tỏ thái độ ngạc nhiên nhiều lắm như lẽ thường đối với những người đàn bà dân tộc khi có rất đông những vị khách lạ trong nhà mình. Bà chào họ bằng tiếng Việt với giọng hơi lơ lớ, và chỉ thật sự ngạc nhiên khi biết chồng có nhà mà không bật đèn tiếp khách, bà trợn ngược mắt khi thấy ông ngồi khóc nức nở thành tiếng, đã bao năm làm vợ ông, chưa một lần bà thấy ông khóc. Cố lắm chỉ là những giọt nước mắt rịn ra mặn mòi chảy dọc theo sống mũi ông vào một số ngày nhất định trong năm. Bà biết ông có nhiều uẩn khúc, có nhiều nỗi niềm trong tâm tư, nhưng vốn ít chữ lại sợ làm ông giận, nên mỗi lần ông như vậy, bà lại ra sau nhà ngồi khóc thầm. Tiếng khóc của ông khi ấy lúc thì tru lên, như tiếng sói rừng hú gọi bầy trong các đêm trăng sáng vùng Bắc cực, có thể nói tiếng khóc ấy đã vang đi rất xa, khuấy động cả một miền rừng núi sâu thẳm, vọng đến cuối trời, ngấm sâu vào lòng đất đánh thức những oan hồn lẩn khuất đâu đó, khi lại hậm hực, lục khục, như thể nó quay lại gõ đập vào chính tâm hồn, vào chính con tim ông, nó như muốn nghiền nát ông ra, nhào nặn ông thành một cái bánh để ném cho những con thú hoang đói ngấu tranh giành nhau ăn. Trong thâm tâm, ông đã mong như thế, ông đã mong mình chết quách đi từ hôm có trận bom oanh tạc vào đúng trận địa của ông, để cho thân xác của ông cũng được vùi sâu xuống ba tấc đất, để được vinh quang như những người đồng đội khác được xả thân vì nghĩa lớn, để khỏi phải chứng kiến những cảnh tượng buồn thê thảm đầu độc cả cuộc đời ông cho đến tận ngày hôm nay. Hai bàn tay ông dứt dứt tóc, những sợi tóc muối tiêu trượt đi dưới những kẽ tay sần sùi gân guốc.
Đến lúc ấy thì N. V. mới đến, se sẽ ngồi xuống bên ông, quàng tay qua vai ông, siết chặt. Người đàn ông khi ấy mới quay lại, hai người ôm chầm lấy nhau. Mắt N. V. bây giờ cũng nhạt nhòa nước. Họ dời nhau ra, đập mạnh vào vai nhau, nói với nhau một khẩu mật gì đó mà chỉ họ mới hiểu, bỗng cười òa và lại ôm chầm lây nhau. Tất cả mọi người chứng kiến cảnh đó ai cũng hết sức xúc động, tôi thấy người đàn bà kéo gấu váy lên lau mắt, người phiên dịch ra sân hỷ mũi, còn những người Tây thì để mặc cho những dòng nước mắt lăn dài trên má. Lúc ấy, vị chủ nhân ngôi nhà mới đứng dậy. Ngoài trời đã tối đen, bà vợ ông đã kịp cời lửa bên bếp ở giữa nhà. Ánh lửa bập bùng soi tỏ từng khuôn mặt, ông mời mọi người gỡ đồ và ngồi nghỉ, giục vợ nấu nước. Tôi đưa mắt quan sát quanh ngôi nhà, một ngôi nhà gỗ chắc chắn, mọi thứ đều sạch sẽ cho dù chúng còn sơ sài. Chiếc thùng phuy sắt rất to để dưới đầu hồi nhà dùng để chứa nước như các gia đình nông thôn ở đồng bằng Bắc bộ quê tôi, có cả van xả nước phía bên dưái. Lửa bập bùng phát ra những tiếng nổ lách tách. Đám tàn lửa nhỏ li ti bay vút lên rồi trong chớp mắt lại biến mất rồi lại đến lượt những đám tàn khác, điều này khiến tôi nhớ lại lần đi máy bay qua hòn đảo Soumatra của In-đô-nê-xi-a, đúng dịp những ngọn núi lửa sau bao thế kỷ ngủ vùi, giờ bỗng cựa mình thức giấc, phun ra những luồng nham thạch khổng lồ. Từng khôi lửa lỏng chảy tràn ra từ lòng đất, từng đám bụi hoa phụt lên không trung chơi vơi dưới bụng máy bay. Các bà hành khách phương Tây giơ tay làm dấu thánh miệng lẩm bẩm Alleluia, kẻ khác đưa cây thánh giá lên môi. Những người đàn ông thì dũng cảm hơn, trợ giúp các cô tiếp viên và phi hành đoàn, ra sức trấn an các bà các cô. Nhưng trong ánh mắt họ cũng le lói những tia tuyệt vọng. Còn lúc này, những người đàn ông trong đoàn thám hiểm đã kịp rửa ráy và đang ngồi bên bếp lửa uống những bát nước lá rừng nóng. Tôi không biết đó là loài cây cỏ gì, nhưng có vị đắng đắng chát chát, sau cùng là đậm đà ngọt ngọt nơi đầu lưỡi. Sau này tôi có hỏi N. V. và Hùng, hai người cũng chẳng biết nó tên gì, chỉ biết một lần dùng thử, sau thành quen rồi đâm nghiện. Bỗng tôi ngạc nhiên vì một bức ảnh treo trên tấm liếp. Trong đó là một thanh niên trẻ, trong trang phục biểu diễn của dàn nhạc Cung đình Huế mà có một lần tôi đã may mắn được xem khi đoàn sang biểu diễn tại Paris, nhân dịp họ được Unesco công nhận là Di sản phi vật thể của thế giới. Chàng trai trong ảnh tươi cười cầm chiếc kèn đưa lên miệng. Cả đêm diễn đó, hội trường của Unesco ở Paris chật cứng người, và im lặng như tờ.