Tôi trên lầu. Chợt nhận ra ông giữa dòng người nườm nượp bởi cái trán nhẵn bóng loang quá đỉnh đầu xuống gáy, một dải tóc bạc trắng chạy vòng quanh mang tai và cặp kính lấp lóa. Ông đang hướng xe về phía Phong Vị quán nơi tôi đang ngồi. Hôm nay tôi thấy kinh. Đáng lẽ không đi làm, nhưng chiều qua vội về bỏ quên cái áo khoác trên quán nên đến lấy thì vừa vặn nhác thấy bóng ông ngoài đường. Ngày ngày khách ra vào quán tấp nập như đi chợ. Đây quả giống cái chợ, nhưng là chợ “đặc biệt” chỉ tồn tại trong bóng tối, có thể gặp ở nhiều nơi. Mò đến đây họp chợ toàn khách động hớn, ham vui. Chủ chợ thì để đạt tới cái lợi nhuận siêu ngạch chiều khách bằng mọi giá, dẫu đã lo lót mọi bề mà vẫn luôn nơm nớp “cớm chìm” trà trộn và nhà chức trách úp chụp mẻ lưới lúc nào không hay. Khách đã lọt vào đây phút chốc đều mang vẻ mặt bí hiểm trơ lì, dẫu có quen nhau bên ngoài, vào rồi cũng lờ lớ lơ coi như không biết nhau, mua phải món hàng đẹp, xấu, béo, gầy, cao, lùn, thơm, hôi, rắn, mềm tùy thuộc vào may rủi, để rồi lặng lẽ biến khi đã trút cạn tiền vào cái lỗ vô thủy vô chung (thứ tiền bầy nhầy tanh tưởi, thật tởm!). Không biết ông có thuộc hạng khách ba vạ ấy không?
Công viên nước cách quán không xa, cách đây ba hôm tôi đưa thằng nhỏ ra chơi đã tình cờ gặp ông ở đấy. Trong mấy đứa gái quê lên quán đợt này không hiểu sao bà chỉ tin tôi và thường giao cậu ấm cho tôi dỗ dành mỗi khi nó giở trò vòi vĩnh, quậy phá. Bà chủ bảo: Mày rước hộ ông mãnh đi cho tao nhờ, nó ở nhà nhũng nhẽo sốt ruột lắm, tao sẽ bù ba suất tính vào nửa ngày cho mày, được chưa? Còn gì bằng! Tôi đang ươn người, “ba suất” tức ba con đực giày vò mình đến lúc mệt nhoài còn sướng nỗi gì, giờ thì được khỏe thân vẫn có tiền, lại thỏa thuê ngắm trời, ngắm bọn nhóc nô đùa. Từ ngày bỏ rừng về xuôi, lạ là tôi toàn gặp bọn cưa sừng làm nghé, chứ ít gặp bọn choai đi hoang. Nhiều lão nom rõ là ông cốp, đạo mạo, bụng phệ đi lại lạch bạch hệt dáng ông bô bất hảo của tôi ở nhà (bố tôi chủ tịch huyện cũng là cốp). So với những đứa cùng trang lứa tôi có nhiều điểm trái tính trái nết, ở lớp vẫn gọi tôi là con “quái vật”. Hồi học lớp 10, cô giáo văn chẳng đã có lần khen tôi trước lớp: Em Diệu Thúy có khiếu quan sát sự việc, suy nghĩ sâu, tả cảnh hay, viết ít lỗi chính tả, mai đây sẽ trở thành nhà văn chí ít cũng nhà thơ (cô coi làm văn khó hơn làm thơ). Nhưng thật trớ trêu, chỉ sau lần cô giáo đoán hậu vận cho tôi như thế có một năm rưỡi, tôi trở thành con điếm. Điếm chuyên nghiệp. Bà chủ bảo: Đứa nào hành nghề ở đây đều là điếm chuyên nghiệp cả, đều có tên trong sổ đen công an cả. Nhưng không việc gì phải hãi, tao đã đấm mõm hết, rải tiền từ thành phố đến quận, phường rồi. Một khi tôi đã phẫn chí bỏ nhà đi bụi, thì điếm chuyên nghiệp hay điếm nghiệp dư cũng chỉ là một nghề mạt hạng nhất trong mọi thứ nghề trên đời này mà thôi. Chấp hết!
Trời mỗi lúc mỗi nắng gắt. Thằng bé trượt máng nước chán chê, tìm tôi đòi ăn kem cốc. Tôi lần túi. Nắm tiền lẻ vào cổng mua vé xong nhét sau quần bò bị rơi từ lúc nào không hay. Thằng bé cứ đổ rịt cho tôi lấy cắp tiền của mẹ nó, bảo rành rành lúc đi mẹ đưa chị tờ năm mươi ngàn, tiền vé hai mươi ngàn còn ba mươi ngàn chị giấu đâu? Tôi định tát cho nó một cái, nhưng nghĩ con bà chủ mà phải kìm tay. Nhưng thằng bé nhất định đòi lại tiền, còn nhẩy choi choi xỉa vào mặt tôi. Tôi bảo, tiền bị mất thật tao không giấu. Nó càng làm tàng. Cáu sườn, tôi đẩy nó một cái ngã chỏng vó xuống bãi cỏ. Nó khóc toáng, đéo lắt đầy mồm. Đúng lúc ông đầu hói đeo kính trắng đến, miệng cười mắt nheo hỏi sao chị em làm ầm ĩ thế? Thằng nhóc được thể vùng ngay dậy, chỉ thẳng vào mặt tôi: Đồ con điếm ăn cắp! Tôi choáng. Hoa cả mắt, rụng rời cả chân tay. Nếu ở nhà nó chửi thế, chửi nữa tôi cũng chẳng coi là gì, không chấp đồ chíp hôi, ở đây xung quanh bao nhiêu người đang quây lại, bao nhiêu ánh mắt dọi cả vào tôi, có lỗ nẻ nào mà chui xuống. Bỗng ông đeo kính nghiêm mặt bảo với thằng nhóc là cháu không được nói hỗn với chị, bác cho tiền mua kem. Không phải chị cháu, thằng bé vùng vằng, mặt vênh lên với tôi. Ông đeo kính liền mở ví đưa tôi tờ năm mươi nghìn đồng, thằng bé thấy thế đứng im re. Ông bảo tôi cầm cả mua kem. Mấy kẻ hiếu sự xung quanh thấy hết trò tản đi. Tôi ngước nhìn ông lí nhí nói câu cảm ơn rồi lôi xềnh xệch thằng nhóc đến quầy kem. Tôi mua hẳn bốn ốc kem, còn ít tiền thừa giúi vào túi ngực nó bảo cầm về trả mẹ, hôm nay tao bị rơi mất tiền thật, mày là trẻ con mà hay nói bừa làm mất thể diện tao. Nhóc mới sáu tuổi rưỡi thôi, chưa đến lớp ngày nào mà đã biết đối đáp bằng một câu chua hơn dấm, hệt giọng cụ non: Điếm mà có sĩ diện à! Ông đeo kính đứng ngay sát tôi, tỏ vẻ ngạc nhiên khi nghe thằng nhóc nói ra câu ấy, rồi ông chỉ vào cái ghế đá cạnh gốc cây to bảo hai cháu ngồi đấy ăn cho hết, thiếu bác mua nữa.
Cả ba đều ngồi. Thằng nhóc háu ăn vục mặt xơi liền hai ốc kem, tôi thì cứ cầm trên tay hai chiếc nữa chờ nó ăn xong đưa nốt. Ông đeo kính nhìn tôi bảo: Cháu ăn đi, ngại gì. Tôi lắc đầu, cháu không thích, buốt răng lắm. Thằng nhóc cả thèm chóng chán, nước kem nhoen nhoét quanh mồm, sớt cả xuống áo, xuống giày, nhăn mặt sài lắc khi tôi đưa tiếp hai cái còn lại. Nó vụt đứng lên chạy ra phía vòi nước rửa tay, rửa mồm. Hai cái kem trong tay tôi bị nắng bắt đầu nhũn, tôi liền đưa ông một cái. Bác ăn giúp, cháu cố cái này, khỏi phí. Ông cười, thè lưỡi liếm ngon lành chỗ kem chảy ra ngoài vỏ bọc bằng bánh quế vừa dai vừa mềm cuốn hình loa kèn. Hóa ra ông ăn kem rất nghề, cắn gọn từng miếng ngon lành không sớt giọt nào ra đất. Tôi thì thè lưỡi như con mèo tam thể của tôi nuôi trên nhà, liếm mút từng tí một, không dám cắn miếng to. Cuối cùng cũng giải quyết gọn. Giờ tôi có dịp “nhận định” về ông đeo kính tốt bụng mới quen đang ngồi trước mặt. Ông chắc phải hơn ông bô tôi ở nhà hàng chục tuổi chứ không ít, tức đã ngoài sáu mươi, nhưng ông trẻ hơn tuổi bởi có cái cười tươi, khóe miệng kéo đến mang tai, phô bộ răng trắng đều tăm tắp; khóe mắt thì luôn nheo nheo vui vẻ (không phải mặt lúc nào mặt cũng như đâm lê của ông bô tôi ở nhà). Ông hất hàm về phía thằng bé đang rửa tay ở vòi bảo, thằng bé kia con nhà ai mà nghịch quá nhỉ, chắc cháu không phải chị ruột nó, thôi đừng chấp nó. Ông còn bảo, cháu không phải người thành phố này, quê ở đâu? Tôi trả lời qua loa quýt luýt, chỉ nói quê mạn ngược, tuyệt nhiên không nói tên, không nói tuổi. Dại gì tiết lộ thân phận. Đúng lúc thằng bé trở về, tôi vội cầm tay nó cúi chào ông. Đang định phới cho nhanh, bỗng ông chỉ tay về phía Phong Vị Quán hỏi: Nhà cháu ở đấy phải không? Đáng lẽ tôi phải lắc, lại theo phản xạ tự nhiên gật luôn, thành ra giấu đầu hở đuôi mới chán mớ đời chứ!
***
Ông tìm tôi thật. Không hiểu sao lúc vừa đến, chỉ nghe ông tả sơ sơ mà bà chủ đã biết ngay là ông đến tìm tôi (ông chưa hề biết tên tôi). Tôi định té mà không kịp, bà chủ đã gọi tôi xuống bảo đưa ông khách quen lên lầu. Tôi còn định nói với bà chủ là hôm nay tôi thấy tháng, nghĩ thế nào lại thôi. Vừa giáp mặt ông tôi bỗng thấy ngượng nghịu, đỏ bừng mặt chào không ra tiếng. Thì ra tôi vẫn còn là con điếm biết xấu hổ. Tôi lẳng lặng dẫn ông lên lầu, mặc dù thâm tâm biết đến tám, chín phần ông không phải như các con dê già khác thích chơi trống bỏi thường mò đến đây. Ông thì không tỏ vẻ ngạc nhiên khi gặp tôi, rõ ràng ngay ở trong công viên nước ông đã tin lời thằng nhóc bẻm mép, hỗn hào kia rồi. Ông hỏi nhỏ vào tai tôi: Bác cháu ta ra ngoài đi dạo quanh đây được không? Tôi ngúng nguẩy bảo, nhà chủ không cho phép bọn cháu ra ngoài, cứ vào buồng hẵng nói mọi chuyện.
Căn phòng chừng chục mét vuông có đủ cả giường trải ga trắng tinh, điện thoại bàn, phích, tivi, tủ lạnh, điều hòa không khí, toilet, bình nóng lạnh, gương soi, vòi rửa, bồn tắm… hệt như mọi căn buồng khép kín chuyên phục vụ khách làng chơi của các lầu xanh khác hoạt động bí mật hoặc bán công khai rải ra trên khắp thành phố hoa lệ nhốn nháo này. Tôi cẩn thận chốt cửa, nhưng ông cười bảo không cần, cứ để mở thì hơn. Tôi cau mặt không chịu. Đã vào đây sao lại không chốt cửa. Vậy là cụ “Khốt- ta- bít” này thua xa cụ “Khốt” nhà tôi ở cái khoản chơi gái rồi! Tôi lại có “nhận định” mới như vậy. Nghĩ đến đấy, bỗng dưng tôi càng thấy ngán ngẩm cho gia cảnh nhà mình, giá tôi có được một ông bô tư cách như thế này thì đâu đến nỗi. Nẫu cả ruột gan!
Vừa ngồi xuống cái ghế đối diện với tôi, ông nói ngay:
- Cháu rất giống đứa con gái bác. Từ gương mặt, tóc, dáng đi. Bác đã quan sát kỹ cháu lúc ở công viên nước.
- Chị ấy giờ làm gì ạ? Tôi hỏi.
- Nó chết rồi- Ông bỗng thốt ra câu ấy một cách não nề- Chết lúc mười tám tuổi, chắc là bằng tuổi cháu bây giờ. Nếu còn giờ con gái bác đã gần ba mươi rồi.
- Chị ấy bị bệnh gì ạ?
- Không, con gái bác khỏe mạnh, từng trong đội tuyển bơi lội của thành phố. Năm ấy gia đình bác đi nghỉ mát ở Sầm Sơn. Đỗ Quyên nhà bác vừa có giấy gọi vào Đại học Ngoại giao, nó rủ người yêu cùng đi. Trưa hôm đó, lúc nó với bạn trai đang bơi gần đến chỗ cắm cờ báo hiệu vùng nước nguy hiểm không được vượt qua, thì bỗng có một luồng sóng khác lạ từ ngoài ập tới, nó chới với rồi mất hút, còn cậu bạn trai hốt hoảng vùng vẫy, thuyền cứu hộ gần đấy chỉ kịp vớt lên được một đứa. Mọi phương tiện và cả những người bơi lặn giỏi được huy động ngay nhưng đều vô vọng, không thấy tăm tích con gái bác. Mãi đến chiều, tìm được xác con gái bác bị sóng đánh dạt vào ghềnh đá cách chỗ nó bị rút xuống hơn nửa cây số, phía chân và đùi bị nhiều vết răng cá mập cắn nham nhở. Mà biển Sầm Sơn đã bao năm nay có bao giờ thấy cá mập xuất hiện đâu. Nếu không gặp họa lớn như thế, con gái bác sao mà chết đuối được, nó là vận động viên bơi lội từng đoạt huy chương vàng toàn thành cơ mà.
Nói đến đây đầu ông gục xuống, dường như câu chuyện quá đau lòng của mười năm trước vừa mới xảy ra ngày hôm qua. Tôi vội với tay lấy bình nước rót ra cốc mời ông. Ông ngửng lên. Có ngấn nước sau cặp kính của ông, bản thân tôi nghe xong câu chuyện cũng thấy cay cay nơi sống mũi. Ông nhắp một chút nước lọc tôi đưa và chậm rãi nói tiếp, giọng đã khàn hẳn:
-Bác gái cùng đi nghỉ đợt ấy, ngất lên ngất xuống. Bà ấy vốn bị bệnh tim. Rồi chỉ một năm sau bà ấy đã đi theo con gái, để bác bơ vơ một mình. Nếu không còn niềm vui trong công việc chắc bác đã không sống nổi.
Ông tháo hẳn cái kính đã nhoè nước ra lau. Tôi chợt thấy đôi mắt ông như ngơ ngác, mờ đục, thâm quầng,
làm ông già thêm hàng chục tuổi. Tôi vội chuyển sang chuyện khác:
- Bác về hưu rồi ạ?
- Chưa- Ông nói- Bác là giáo sư. Giáo sư được làm đến sáu nhăm tuổi. Còn hai năm nữa mới về.
Ông đã đeo kính lại, hướng vào tôi, lời nói trở nên thì thầm:
- Cháu giống như chị em sinh đôi với con gái bác năm ấy. Lúc gặp cháu ngoài công viên bác giật mình, hay Đỗ Quyên sống lại? Hay đây là kiếp luân hồi? Bác vừa lên một thị trấn của tỉnh miền núi H. tìm hiểu về hai đứa bé. Người ta đồn đại rằng đứa trước con một gia đình người Kinh dưới xuôi lên khai hoang cũng bị chết đuối, đã nhập vào đứa sau đang sống ở nhà người dân tộc Mường thuộc thị trấn ấy. Chúng cách nhau tám tuổi. Cháu đã nghe câu chuyện lạ như thế chưa?
- Chưa ạ- Tôi lắc- Bọn cháu chui rúc suốt ngày không chỗ trọ thì trên lầu, có nghe được chuyện gì lạ ngoài đời đâu ạ.
- Ờ! Ông thốt lên vẻ mặt buồn hiu, rồi hỏi tiếp- Chắc nhà cháu nghèo lắm?
Tôi hiểu ông quan tâm đến tôi vì tôi có gương mặt, dáng dấp giống chị con gái mệnh yểu của ông. Còn nửa tháng nữa tôi mới tròn mười tám tuổi và đây sẽ là lần đầu tiên ở nhà không thể tổ chức sinh nhật cho tôi. Tôi biết trả lời ông thế nào. Nhà tôi rõ ràng không nghèo so với nhiều nhà, vì bố tôi làm quan huyện cơ mà. Mà làm quan thời nay có ai chịu nghèo đâu. Tôi vẫn nghe bạn bè bình phẩm nhà đứa này giàu, đứa kia nghèo, hóa ra chỉ toàn con dân đen mới nghèo, con quan từ tỉnh đến huyện, xã chả ai trong diện nghèo phải cứu tế cả…
- Sao cháu không trả lời bác? Ông lại hỏi. Tôi đành phải thú nhận một phần sự thật mà chẳng bao giờ muốn nói ra, khi tôi đã quyết chí đi bụi thì gia đình chẳng còn là cái gì, quá khứ chẳng đáng cho tôi nhớ đến. Tôi muốn quên đi tất cả, tôi muốn từ giã cuộc đời này, chỉ tiếc tôi rất nhát, thấy con chuột, con giun đất cũng bủn rủn cả người, huống chi phải tự làm cái việc như tròng sợi dây vào cổ mình, trích máu cổ tay mình hay ra suối cái ở đầu thị trấn mà lao đầu xuống thác nước. Tôi nói:
- Cháu gia đình cán bộ. Đủ ăn.
Ông lại truy tiếp:
- Bố mẹ cháu làm gì?
- Bố cháu chủ tịch huyện, mẹ cháu giáo viên tiểu học. Bị dồn vào thế cùng, tôi không thể không tiết lộ chút sự thật ấy. Tôi thấy trên vầng trán bóng như gương của ông chợt gồ lên những nếp nhăn chạy dài và ông còn lẩm bẩm mấy lần câu “chủ tịch huyện” một cách khó hiểu. Đúng, ai hiểu nổi gia cảnh nhà tôi. Ông bô tôi cũng là “đầu gà”, vua xứ mù đấy chứ có kém cạnh gì ai mà để con gái phải đến nông nỗi này! Một khi tôi đã tự đày đọa thân xác, cũng là bước đường cùng mà thôi. Bác ơi, bác có nỗi đau của bác, cháu có có nỗi đau của cháu, cùng đau cả, nhưng nguyên cớ thì khác xa nhau lắm, khó thông cảm với nhau lắm, nói ra cũng chẳng giải quyết được chuyện gì đâu! Bỗng tôi thấy uất nghẹn không kìm nén được mà òa khóc. Khóc thút thít. Lúc sau lại khóc to thành tiếng, vừa khóc vừa lắc đầu quầy quậy tỏ ý không muốn nói thêm gì nữa. Ông cứ để tôi khóc, thừ người ra hồi lâu.
Bên ngoài đã nghe có tiếng rục rịch, lào xào chắc hẳn cuộc mây mưa ở các phòng bên cạnh đã xong. Bánh đã bóc, tiền đã trả. Tôi ngửng lên nhìn ông, lau nước mắt hoen trên má bảo nhỏ: Hết giờ rồi. Ông “thế à” một câu tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi lập cập đứng dậy. Hình như ông vẫn đang bị choáng váng, không còn tỉnh táo như lúc mới vào đây nữa? Tôi bỗng ái ngại cho sức khỏe của ông, lại rót thêm cốc nước đưa ông. Ông không uống, còn hỏi lại một câu như người đang ngủ mơ: Về à? Tôi cười gượng, nói là xong phần của cháu, đã vào đến đây cụ tám mươi cũng gọi là anh, xưng em, bác là người đầu tiên trong phòng này cháu gọi là bác xưng cháu đấy. Ông lại “thế à” một cách ngây ngô, vẻ mặt ra chiều khó hiểu. Ở đời có đứa con gái mười tám gọi ông già sáu mươi là anh xưng em sao?
Tôi ngần ngừ không muốn mở cửa. Sẽ thanh toán thế nào đây với mụ Tú Bà, trong túi tôi chỉ có vài chục đồng đủ tiền đi xe ôm về nhà trọ thôi. Dường như ông đã đọc được sự lăn tăn ấy trong suy nghĩ của tôi, ông móc vào túi lấy ví ra, chìa trước tôi bốn tờ năm trăm nghìn đồng mới cứng, bảo:
- Giờ bác chỉ còn ngần này. Cháu cầm tạm làm vốn rồi trở về quê ngay. Đừng bao giờ quay lại nơi này nữa.
Tôi hoàn toàn ngỡ ngàng. Ở đây đi nhanh thì “hai cành” tức ba trăm nghìn đồng tiền phòng gộp cả vào đó luôn, rồi cưa đôi mình một nửa, bà chủ một nửa. Mình mất thân xác, bà chủ mất tiền nhà, tiền làm luật với công an, khu phố, vậy là sòng phẳng. Nhưng tôi về thành phố hủy hoại đời con gái của mình không phải vì tiền mà vì uất hận, một khi còn hận thì còn bán thân, chưa biết khi nào nỗi hận ấy chấm hết để trở lại với đời thường được. Nỗi hận ấy giờ sao tôi có thể giãi bầy vài câu với ông? Ông là khách vãng lai như trăm nghìn kẻ đã đến rồi đi không bao giờ gặp lại nữa. Nỗi đau ông vừa kể đã đủ chôn vùi cuộc đời ông rồi, còn quan tâm được đến ai nữa. Tôi càng không thể làm phiền một người tử tế như ông, lợi dụng lòng trắc ẩn của ông. Nhưng tôi vẫn cần tiền để sống, để tồn tại mà trả thù đời. Đằng nào tôi cũng là đứa độc ác, đứa hư hỏng, đứa ích kỷ, tôi biết bạn bè, người thân của tôi trên quê vẫn tìm tôi, vẫn nguyền rủa tôi như vậy. Giờ ông cứ nhất quyết bắt tôi phải nhận số tiền quá lớn kia, nhưng tôi vẫn còn chút sĩ diện bảo là chỉ xin bác một tờ thôi, cháu còn phải thanh toán với nhà chủ, nếu không cháu đã chẳng lấy đồng nào của bác vì cháu có mất tí sức lao động nào đâu. Ông cười, cái cười của người miệng rộng thật độ lượng, bảo là cháu cứ cầm lấy cả đừng ngại ngần gì. Hôm nay bác vừa lĩnh nửa tháng lương, đã có đủ chi tiêu cho nhà rồi. Bác sống một mình chẳng cần nhiều tiền, khi chết đã có cơ quan đoàn thể lo, có bảo hiểm xã hội lo. Bác ái ngại cho cháu lắm. Cháu tên gì nhỉ? Giờ cháu chưa thể nói, nhất quyết muốn giấu biệt chuyện riêng tư, tùy cháu. Nhưng bác đã biết sơ sơ hoàn cảnh cháu như thế, nhất định khi khác bác sẽ tìm hiểu. Còn, nếu quả Đỗ Quyên nhà bác nhập vào cháu thật, thì bác lại càng không thể bỏ rơi cháu.
2
Tôi thắp nén nhang trên bàn thờ, lầm rầm khấn khứa: Bà ơi, Đỗ Quyên con ơi, mỗi lần thắp hương tôi đều muốn nhắn nhủ một chuyện, muốn nhờ bà và con gái trợ giúp một chuyện gì đó. Giờ tôi thân cô thế cô không cậy nhờ bà, cậy nhờ con thì biết cậy nhờ ai. Bà và con có linh thiêng hãy hết sức phò trợ tôi trong chuyện này. Mới đây thôi, cần kíp lắm. Có con bé tên là Diệu Thúy, nó có cho tôi biết tên đâu, vừa rồi tôi phải ra công an phường xác minh nhân thân của nó. Nó quê huyện P, tỉnh Q, mới mười tám tuổi về đây làm điếm mới khổ chứ, mà bố nó là chủ tịch huyện, mẹ là giáo viên tiểu học hẳn hoi, nhà đâu quá nghèo phải bán trôn nuôi miệng như vậy. Hẳn có uẩn khúc gì đây? Tôi muốn cứu vớt nó ra khỏi vũng bùn nhơ. Đỗ Quyên ơi, cũng vì Diệu Thúy có nét mặt, dáng người giống hệt con mà ngay từ lần gặp đầu tiên bố đã quan tâm đến nó. Nếu thật có kiếp luân hồi thì có thể con đã nhập vào nó, mà sao giờ lại thành khổ sở như thế cơ chứ! Hồi ấy bố hận vì không thể phanh thây con cá mập kia để cứu con, thì nay bố muốn cứu một người khác cũng là theo lời Phật, cứu một người phúc đẳng hà sa con ạ. Bà và con hãy luôn bên tôi phù hộ cho tôi nhé. Còn nốt nửa tháng phép, ngày mai tôi sẽ lên tỉnh Q một chuyến xem sao…
Đã quá nửa đêm. Tôi vẫn trằn trọc chưa ngủ được. Vẩn vơ, lan man bao chuyện trong đầu. Khi nghe anh công an hộ khẩu nói Diệu Thúy quê huyện P, tỉnh Q tôi đã nghĩ ngay đến cậu học trò Huy Tuấn. Cách đây hai năm cậu ta được điều về tỉnh ấy theo phương thức luân chuyển cán bộ, thử thách cán bộ trước khi đưa trở lại đề bạt vào một vị trí cao hơn. Gần bốn mươi năm trước tôi nhập ngũ, được rèn ba tháng để đi B cũng ở tỉnh Q, thao trường vùng ven thị xã. Sau này công tác nhiều lần qua lại nơi đó, song chẳng có ai thân thiết trên các cơ quan Đảng, chính quyền sở tại cả. Tôi chỉ cần dò tìm số điện thoại, rồi gọi điện báo cho ông chủ tịch huyện nọ về nơi cô con trú ngụ đến mà lôi nó về. Đơn giản cho tôi. Nhưng lúc gặp Diệu Thúy ở quán, rõ ràng nó đang rất bức xúc về chuyện gì đó mà bỏ nhà đi bụi. Hẳn có mối bất hòa, căng thẳng với bố mẹ, bạn học, thầy cô hay với người yêu mà nó nông nổi hủy hoại cuộc đời con gái như vậy. Muốn làm rõ những uẩn khúc của nó, muốn cứu vớt nó mà chỉ báo gia đình lên đưa về, thì e không ổn, về rồi chưa hết giận dỗi, ấm ức nó sẽ còn bỏ nhà đi nữa. Giờ tôi đã vào cái tuổi ngoại sáu mươi cũng là xế chiều rồi, mệt mỏi rồi, bỗng dưng lại đi làm cái việc ôm rơm dặm bụng ấy làm gì. Nhưng nghĩ lại, không thể đừng, nó vừa sa xuống vũng bùn nhơ nhớp, nếu không cứu ngay thì sẽ không còn nhiều cơ hội cho nó làm lại cuộc đời được nữa. Hồi trong quân ngũ, tôi vốn ở đơn vị trinh sát, tác phong lính trinh sát là tiền nhập điều tra làm rõ đối tượng trước khi hành động. Thôi, phải lên đấy một chuyến, đành nhờ đến sự trợ giúp của cậu học trò. Là lãnh đạo tỉnh, kiểu gì cậu ta chẳng biết nhiều điều về cán bộ huyện dưới quyền. Phải bắt đầu tìm hiểu chính từ gia đình Diệu Thúy.
Tôi từng làm quản lý: bốn năm Viện phó, ba năm Viện trưởng, tổng cộng bẩy năm. Hồi đó anh em vẫn gọi tôi là “Ông già Khốt-ta-bit” ngụ ý típ người cổ điển, lạc hậu với thời cuộc. Chẳng đã lan truyền một chuyện: hồi còn Liên Xô có đoàn chuyên gia sang làm việc với Viện, được một thời gian, trước khi về nước ông trưởng đoàn bảo là ở Viện này theo được đạo đức, tác phong Bác Hồ chỉ có tiến sĩ Phan Lãng thôi. Ông trưởng đoàn không hề nói trước mặt tôi câu ấy, mà nếu ông ta nói thế tôi sẽ cải chính ngay: tôi đâu dám được ví với một vị Thánh. Thâm tâm tôi cũng không thích được ví như thế, càng không thích người ta nghĩ về mình tính khí khác thường. Tôi là người sống có nguyên tắc, sống theo luân thường đạo lý, vậy thôi. Cái nguyên tắc ấy xa lạ với sự nhiễu nhương, loạn xị, cá mè một lứa, buông thả, tham nhũng, chụp giật, nịnh bợ, độc đoán gia trưởng của không ít kẻ xung quanh. Đúng, tôi là người cổ điển, cho nên có lúc đã trở thành lạc lõng, khó chơi, thậm chí là rào cản trong nhiều cuộc chơi. Hóa ra cái khó trong lãnh đạo một viện nghiên cứu ở ta, nhiều khi không phải là việc dồn tâm sức làm chuyên môn cho tốt, mà là phân bổ, chia chác kinh phí đề tài sao cho khéo, “mưa cho khắp” để đắc nhân tâm, khi có việc bầu bán họ ủng hộ mình. Song ở đời nói thì dễ, làm mới khó. Hễ động đến tiền, đến quyền lợi là rắc rối, là ghen ăn ghét ở, là thắc mắc kiện cáo, mà tôi là chủ tài khoản chỉ có một nguyên tắc: đúng quy định mới duyệt, mới ký. Không thể kiện cáo tôi với cách xử sự như thế, thì anh em ca thán, dè bỉu nói gần nói xa: Lương ba cọc ba đồng thế này mà thủ trưởng căn ke chặt chẽ, không dám lách luật, không dám mạo hiểm…sống thế nào được đây! Tôi bảo họ: Tôi có làm ra quy định, chính sách đâu mà chỉ thừa hành, trên quy định thế nào phải theo vậy. Có lúc tôi còn nói thẳng: Ai ký bạo tay hơn, xin nhường! Anh em lại bảo: Thủ trưởng nói thế bằng đánh đố anh em. Muốn phế thủ trưởng khó lắm. Chẳng chi sai, chẳng tư túi, chẳng thiên vị, chẳng thừa trừ. Phế vào đâu? Đã thế, thủ trưởng lại có sếp trên Bộ đỡ cho, đời nào chịu để ghế vào tay người khác. Thói đời hay suy diễn, thêu dệt, nhìn nhận đánh giá võ đoán như vậy, họ cứ tưởng biết mà rốt cục chẳng biết gì. Ngày ấy, họ đâu thông cảm cho tình cảnh tiến thoái lưỡng nan của tôi khi phải nhận cậu con ông Bộ trưởng về Viện làm nghiên cứu sinh.
Lúc Huy Tuấn về, tôi còn là viện phó phụ trách chuyên môn. Một hôm, nhận được thư tay của ông Bộ trưởng gửi xuống: “Thân gửi GS. TSKH. Phan Lãng. Cháu Huy Tuấn con đầu của tôi học Khoa Cơ điện, Đại học Bách khoa. Do cháu hoạt động trong phong trào đoàn trường rất được tín nhiệm, nên khi tốt nghiệp, Đảng ủy, Ban giám hiệu có ý định giữ lại trường. Chả giấu gì anh, tôi biết bên đoàn thể ở Trung ương đang cần một cán bộ khoa học kỹ thuật trẻ có lý lịch trong sạch, từng công tác vận động quần chúng trong nhà trường, cơ cấu đưa vào ban chấp hành làm cán bộ nguồn sau này. Tôi đã nói với các anh trong thường vụ nhận cháu về chứ không để ở lại trường nữa. Muốn đạt chuẩn, cháu cần có thêm cái bằng trên đại học. Anh cũng biết rồi đấy, tuần tự thạc sĩ lên tiến sĩ thì hơi mất nhiều thì giờ, mà làm công tác đoàn thể cán bộ càng trẻ đủ tiêu chuẩn bằng cấp, càng có cơ hội thăng tiến. Anh vốn là một giáo sư nổi tiếng, tôi muốn cậy nhờ anh giúp cháu làm luôn tiến sĩ trong vòng ba năm trở lại cho gọn. Cháu sẽ được biệt phái sang Viện làm nghiên cứu sinh. Tôi biết với tài năng của anh, sự ngoan ngoãn cần cù, ham hiểu biết của cháu thì có được cái bằng tiến sĩ không phải là quá khó. Cảm ơn anh trước!”. Tôi hiểu, thư đề “thân gửi” cũng hàm ý là chỉ thị, là mệnh lệnh. Một lần họp trên Bộ, tôi được ông Bộ trưởng mời vào phòng riêng, nói kỹ, nói cụ thể hơn chứ không chung chung như trong thư. Ông nói: Viện trưởng đương chức đã đến tuổi nghỉ quản lý sẽ chuyển sang ngạch chuyên viên một thời gian, rồi hưu, anh sẽ ngồi vào ghế ấy; hơn thế nữa, Ban cán sự Đảng của Bộ ta đã bàn, sẽ chọn một đồng chí thứ trưởng có học hàm học vị cao để phụ trách mảng khoa học công nghệ, hiện đang khuyết. Nếu anh lên Viện trưởng, sẽ chỉ tại vị một thời gian nhất định, ngắn thôi rồi Đảng đoàn Bộ sẽ cất lên chức thứ trưởng. “Thời gian nhất định, ngắn thôi” ấy ít nhất là ba năm, nghe ông nói vậy tôi nhẩm tính ngay ra “đáp số”, đơn giản là bằng thời gian giúp cậu ấm nhà ông có cái bằng tiến sĩ. Đó là thời gian chuẩn cho con ông, cũng không phải là quá dài cho sự thăng tiến của tôi. Nhưng điều ông vừa nói ra đâu làm tôi phấn khởi vì được cấp trên chú ý, cất nhắc nhanh, mà bỗng chạm đến lòng tự trọng của tôi, là không bao giờ muốn có sự mà cả, mua bán, đổi chác trong công việc kiểu như vậy (tính tôi nó ngang thế!). Tôi liền trả lời ngay: Thưa anh, ngành nghề cháu học với chuyên môn sâu của tôi có trệch nhau nhiều đấy, tốt nhất anh nên nhờ cậy giáo sư khác cùng chuyên môn sẽ thuận hơn cho cháu, chẳng hạn như các giáo sư A,B, C cũng trong diện Bộ ta quản lý. Ông Bộ trưởng tỏ ra hơi ngạc nhiên khi thấy tôi từ chối kiểu như vậy, song ông vẫn kiên nhẫn giải thích với tôi. Anh nói không sai, anh quá cẩn thận đấy thôi, các giáo sư kia tôi biết họ cũng giỏi đấy, cũng năng động đấy nhưng đều bỏ chuyên môn lâu rồi, lao vào công tác quản lý, chỉ có anh là vẫn bám chuyên môn, chỉ có anh mới luôn cập nhật được cái mới của khoa học công nghệ thế giới, nên tôi chọn mặt gửi vàng. Hướng dẫn học trò cần bày những điều cụ thể chứ đâu cần đường hướng chung chung, phải không? Tôi lại bảo: Thưa anh, tôi thấy tôi không có năng lực quản lý, cái chức Viện phó phụ trách khoa học đã là quá sức, cũng mong anh chọn người khác trẻ hơn, có năng lực hơn thay tôi, tôi chỉ xin chân nghiên cứu viên đơn thuần thôi. Anh có thể sớm chọn người thay đồng chí Viện trưởng sắp nghỉ, để người ấy làm hướng dẫn chính cho cháu thì tiện hơn, còn tôi có lẽ chỉ tham gia làm phản biện khi cháu bảo vệ luận văn. Nghe tôi nói vậy, vẻ mặt ông đăm chiêu giây lát, rồi ông tỏ ra kiên quyết không đổi ý, kết luận ngắn gọn như trong các cuộc giao ban Bộ: Trong vòng ba, bốn năm tới Viện vẫn cần anh, Bộ vẫn cần anh! Ẩn ý “ba, bốn năm tới” của ông là quá dễ hiểu, mang nhiều toan tính cho tương lai cậu ấm, song lúc đó tôi khó có lý do nào khác nữa để từ chối. Rồi chỉ khoảng một tháng sau lần gặp ông, Viện trưởng đương nhiệm có quyết định của Bộ trưởng miễn nhiệm chức vụ, làm chuyên viên cao cấp, đồng thời có quyết định đề bạt tôi lên Viện trưởng. Huy Tuấn biệt phái về Viện làm nghiên cứu sinh, mọi chuyện đều đúng như kịch bản mà cha cậu đã vạch ra từ trước.
Ngày ấy con gái tôi đang chuẩn bị thi đại học, hay tin Huy Tuấn vừa về đã tỏ ra thân thiết ngay với nó đã làm tôi phải suy nghĩ, đặt ra nhiều dấu hỏi. Huy Tuấn có thế mạnh: bố làm to, đẹp trai, tương lai tiền đồ đang rộng mở phía trước. Nhưng tại sao không phải với cô gái nào khác mà lại là Đỗ Quyên? Phải chăng đấy là duyên số? Nhưng cũng phải chăng, cậu ta muốn thông qua con gái tôi để tạo thuận lợi, gây thiện cảm với tôi, người chủ trì hướng dẫn luận văn tiến sĩ của cậu? Nếu giả thiết sau đúng, điều đó là xúc phạm tôi, một việc làm không trong sáng nếu không muốn nói là toan tính vụ lợi. Người cha nào lại muốn con mình bị lợi dụng, bị làm con tin kiểu ấy cho dù bề ngoài trên danh nghĩa cả hai đều tự nguyện đến với nhau! Tôi và vợ tôi lúc ấy đều chưa muốn cháu có bạn trai, dẫu đó là một chàng trai toàn bích như Huy Tuấn. Nhưng với Đỗ Quyên, mọi chuyện đều rất đơn giản trước mắt nó: Ba mẹ ơi, yêu có cần nhiều hay ít thời gian để làm quen đâu, vừa gặp anh ấy đã thích con, con thì có cảm tình ngay với anh ấy, vậy thôi mà! Vợ tôi bảo: Thôi ông ạ, đất không chịu trời thì trời phải chịu đất thôi. Tôi cũng phải đồng ý với bà. Thời nay cha mẹ bao giờ chẳng bị động với con cái, chạy theo nó và luôn thỏa hiệp hết chuyện này đến chuyện kia. Nhưng tôi chưa thể cho bà biết nhiều chuyện dích dắc trong nội bộ cơ quan, nhiều cái liên quan đến việc làm nghiên cứu sinh của cậu ta, đấy mới là lý do làm tôi chưa yên tâm về mối quan hệ giữa hai đứa.
Cậu ta quả là chàng trai dễ mến, luôn tỏ ra khiêm tốn, nhã nhặn, buổi đầu làm việc tôi không có lý do gì để chê trách, ghét bỏ cả. Có lần không biết nghe ở đâu, Đỗ Quyên nói với tôi: Ba đừng ác cảm với anh ấy, có thể ba anh ấy làm chính trị có nhiều thủ đoạn, người không thủ đoạn không thể làm chính trị, nhưng anh ấy thì chỉ làm khoa học đơn thuần, là một người trung thực. Tôi thầm nghĩ: con gái ơi, con còn quá ngây thơ sao mà hiểu hết mọi cạm bẫy ác hiểm của cuộc đời này! Tôi và vợ tôi rất cưng chiều con vả lại nếu có một cậu rể tương lai như Huy Tuấn thì cũng là vừa đôi phải lứa với Đỗ Quyên. Được chừng nửa năm sau ngày Huy Tuấn về, Đỗ Quyên có giấy gọi đại học, chưa kịp bước chân vào giảng đường, thì tai họa ập đến. Sau tai họa ấy, Huy Tuấn dường như lúc nào cũng thảng thốt, sợ hãi, thường kể lại với người xung quanh về giây phút khủng khiếp trước hàm cá mập: “Đang bơi bên nhau, Đỗ Quyên kêu ối một tiếng lập tức chìm nghỉm, tôi quay sang không kịp trở tay cũng chới với như bị rút xuống, rồi bị sặc nước, giã gạo, vừa đúng lúc có người trên thuyền kịp túm tóc tôi lôi lên…”. Tôi và vợ tôi sau những ngày tan nát cõi lòng bởi sự ra đi quá đột ngột, quá thảm khốc của con gái, cũng chỉ còn biết thông cảm với nỗi khổ tâm của bạn trai của nó khi phải chứng kiến giây phút người yêu bị tử thần cướp đi mà không thể làm gì, hoàn toàn bất lực. Sau ngày Đỗ Quyên mất, Huy Tuấn một thời gian khá dài bị sốc, luôn không tập trung tư tưởng, có lúc còn buồn nản, lo sợ cơ chừng phải bỏ dở công việc. Hôm biết tin con gái tôi gặp nạn, ông Bộ trưởng đã xuống tận nhà an ủi, chia buồn và ra viếng ở nhà tang lễ. Khi ra về ông còn không quên nhắc nhở khéo, mong anh nén nỗi đau để sớm ổn định công việc cho anh em trong Viện; rằng tôi hiện giờ là một trụ cột, một đầu tầu anh em nhờ cậy, không thể vì việc riêng mà ảnh hưởng đến việc chung. Lần khác, ông Bộ trưởng lại tìm đến nhà tôi, gần như van nài tôi hãy tìm mọi cách mà tĩnh tâm lại, đừng bỏ rơi cháu, đừng xao nhãng việc giúp cháu, vì quá yêu thương Đỗ Quyên mà cháu chưa thể gượng dậy ngay được trong lúc này, việc thi cử đã đến gần rồi, cháu thi không đậu là vuột mất cơ hội làm nghiên cứu sinh năm tới. Tôi bảo ông cứ bình tĩnh, cứ yên tâm. Tôi là người có nghị lực, giữ tín nghĩa, việc đã nhận là làm tới cùng. Sau đám tang Đỗ Quyên, năm sau đến đám tang của vợ, tôi như phải chết thêm một lần nữa.
Huy Tuấn tuy có khả năng tiếp thu nhanh, nhưng có lẽ do trong thời gian học tại trường cậu ta mất nhiều thì giờ làm công tác xã hội mà xao nhãng học hành, kiến thức có nhiều lỗ hổng, nắm vấn đề không chắc. Tôi lại phải mất công bồi dưỡng lại hầu như từ đầu những kiến thức cơ bản cho cậu ta.Vậy nên, trong năm đầu làm nghiên cứu sinh, phải đánh vật với những định lý, công thức, bài toán mẫu giống như cả thầy lẫn trò cùng đi thi để đạt được các chứng chỉ. Có kẻ ác khẩu đã giễu cợt, đơm đặt: Xem kìa, giáo sư Phan Lãng đã có cái “tiến sĩ to” chưa đủ, giờ còn làm thêm cái “tiến sĩ con” nữa; ông Bộ trưởng đã đặt mua trọn gói “tiến sĩ con” đó cho cậu cả rồi! Một lần, có một tay kỹ sư đã mắc kỷ luật vì liên quan đến vụ tư túi chiếm dụng tiền đề tài, mách qué hỏi thẳng vào mặt tôi: Giá cái bằng tiến sĩ bao nhiêu anh nhỉ? Tôi phẫn nộ muốn cho cậu ta cái tạt tai, song tôi phải kìm nén, bỏ ngoài tai mọi lời kê kích dụng ý xấu và không chấp nhặt những kẻ phá bĩnh. Nhiều đêm tôi mơ thấy con gái hiện về, nó vẫn không quên nhắc nhở: Ba đừng bao giờ bỏ rơi anh ấy đấy nhé. Có một lần trong giấc mơ, Đỗ Quyên còn tiết lộ với tôi một điều mà chỉ nó và Huy Tuấn biết. Ba có biết không, lúc con bị cá mập ngoạm vào chân, máu túa ra, anh ấy cuống cuồng giãy đạp lung tung, chính con trúng một cái đạp của anh ấy nên càng bị chìm sâu hơn, nhưng con không giận anh ấy đâu, lúc tính mạng như nghìn cân treo sợi tóc như thế ai chẳng cuống, ai chẳng hãi mà dẫm đạp lung tung để thoát thân cơ chứ. Nếu linh hồn con người là có thật và có nhân cách, thì linh hồn đứa con gái bé bỏng đáng thương của tôi độ lượng và nhân ái biết bao! Sau lần hoàn thành các kỳ thi lấy chứng chỉ, cũng vào dịp kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20 tháng 11, Huy Tuấn đến thăm tôi tại nhà riêng mang theo một túi quà. Tôi cười bảo luôn: Thầy chỉ nhận lời chúc mừng chứ không nhận hiện vật đâu nhá. Huy Tuấn bảo, thầy đúng là học trò của Bác Hồ. Nhưng thầy ơi, món quà mọn này chỉ biểu lộ lòng kính trọng, biết ơn thầy đã hết lòng giúp em thời gian qua mà thôi, về vật chất cụ thể có ý nghĩa gì đâu so với sự giúp đỡ vô giá của thầy. Cậu ta cứ nhất định để món quà lại. Trong túi quà ngoài chai rượu ngoại, còn có một cái phong bì đựng hai nghìn “đô”. Hôm sau tôi gọi cậu vào phòng riêng và đặt cả túi quà lên bàn nói ngắn gọn: Anh cầm về, nếu để lại thì đừng làm việc với tôi nữa! Cậu ta nói thế nào tôi cũng không nhận. Tôi bảo, ghi nhận tấm lòng kính thầy của anh. Biết ơn, thì anh cố mà làm luận văn cho tốt, bố anh sẽ thỏa lòng, tôi cũng an tâm là đã hoàn thành trách nhiệm. Nay tôi một thân một mình cần nhiều tiền để làm gì. Nghe tôi nói xong Huy Tuấn đã bật khóc, khóc trước mặt tôi, khóc mà không cần che giấu, nó bảo thầy làm em càng nhớ đến Đỗ Quyên, từ ngày Đỗ Quyên ra đi, không lúc nào em nguôi ngoai nỗi nhớ cô ấy. Em biết rằng rồi đây không thể gặp được người con gái nào như Đỗ Quyên nữa trên cõi đời này. Tôi cũng xúc động, nước mắt muốn trào ra song cố nén khi Huy Tuấn nhắc đến Đỗ Quyên và tôi tin vào những giọt nước mắt chân tình của nó. Suốt mấy năm làm đề tài không thấy Huy Tuấn đưa cô bạn nào đến giới thiệu với thầy, tôi ngầm hiểu đó còn là sự tế nhị của nó, không muốn tôi liên tưởng đến đứa con gái xấu số của mình. Vậy mà đến hết năm thứ ba, vừa bảo vệ xong luận văn ở hội đồng cơ sở, thì đột nhiên Huy Tuấn nói với anh em trong cơ quan là sắp tổ chức lễ cưới. Như lẽ thường, phải chờ bảo vệ tiếp ở hội đồng khoa học cấp Bộ nữa mới là xong xuôi mọi chuyện, một khi đã có người cha hậu thuẫn bên trên thì việc lập một hội đồng như thế nhanh chứ đâu phải chờ bốn, năm tháng như nhiều nghiên cứu sinh khác. Tôi cũng ngạc nhiên về chuyện cưới có vẻ vội của cậu ta như vậy, song không tiện hỏi. Có một cậu đang làm nghiên cứu sinh với một giáo sư khác đến rỉ tai tôi: Thầy ơi, nguy cấp lắm, cô dâu sắp vỡ đê rồi! Hóa ra anh chàng này ăn cơm trước kẻng, tôi chỉ biết thầm nghĩ vậy. Thời nay, việc cô dâu có bầu rồi mới ra phòng cưới có gì là lạ đâu. Rồi, Huy Tuấn đã để xảy ra một scandal chấn động cả cơ quan.
Một cô diễn viên chính của đoàn ca nhạc nhẹ thành phố đến cơ quan tôi làm toáng chuyện riêng tư trước đấy. Cô sụt sịt khóc, trình bày với lãnh đạo Viện: “Các chú ơi, cả mấy tháng nay chúng cháu sống già nhân ngãi non vợ chồng, mà giờ anh ta trở mặt, quay ngoắt một trăm tám mươi độ như thế. Nói các chú bỏ quá, cháu đã tắt kinh hai tháng rồi, mai này con cháu đẻ ra nó không giống cái mặt ông tiến sĩ Huy Tuấn cháu cứ đi đầu xuống đất. Cháu sẽ còn nhờ Viện Kỹ thuật hình sự Bộ Công an, làm xét nghiệm ADN xem có phải là con anh ta không? Nếu sai cháu hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về tội vu khống, bồi hoàn danh dự cho anh ta!”. Lâu nay tôi vẫn nghĩ cậu ta chỉ chú tâm vào học hành, nghiên cứu, mà nay leo cây sắp đến ngày hái quả lại xì ra vụ rắc rối này. Tôi vừa là thủ trưởng cơ quan, vừa thầy trực tiếp của cậu, bỗng cảm thấy lúng túng trong cách giải quyết. Trước ngày Đảng ủy, Ban lãnh đạo Viện họp, ông Viện phó kiêm Bí thư đảng ủy đã bàn với tôi. Anh Phan Lãng ạ, vụ việc này mà loang ra không có lợi cho cậu ta đã đành, mà cả cho uy tín của Viện, của anh nữa. Bộ trưởng đã có lời nhờ chúng ta cố gắng nhanh chóng khoanh gọn sự việc, khuyên giải cho cô diễn viên kia thôi kiện cáo ầm ĩ. Xác định đây là chuyện sinh hoạt, chuyện riêng tư, ta cũng chỉ phê bình nhắc nhở cậu ta thôi. Vả lại cậu ấy vốn không biên chế ở Viện, xong lại trả về đơn vị cũ. Nghe ông Bí thư nói vậy, tôi cũng cho là phải lẽ, quả thật tôi có nghĩ được cách giải quyết nào khả dĩ hơn đâu. Sau khi cô diễn viên đến cơ quan làm ầm ĩ, Huy Tuấn có vẻ ngượng khi gặp lại tôi. Cậu ta nói: Em xin lỗi đã làm phiền lòng thầy, phiền Viện, nhưng em đã giải quyết ổn thỏa mọi chuyện với cô ấy rồi. Thầy hiểu cho, em không yêu cô ấy, đã bị lừa cho vào tròng, đây cũng là một bài học nhớ đời cho em. Lịch cưới của bọn em vẫn không thay đổi thầy ạ. Thiếp đã đưa khắp cả rồi không thể rút lại. Cậu nghiên cứu sinh nọ là bạn của Huy Tuấn, thì đến rỉ tai tôi: Thầy ơi, người ta khéo lắm, bịt miệng cô diễn viên kia bằng một khoản tiền lớn bồi dưỡng cho cô đi bệnh viện nạo thai. Từ khi ấy, tôi buộc phải nhìn nhận lại cậu học trò vốn được coi là nghiêm túc, đứng đắn của mình. Tôi còn tự hỏi, liệu những giọt nước mắt thương nhớ con gái tôi của cậu có là thực lòng không? Gần đến lễ thành hôn, trên lại điều tôi đi công tác, thành viên trong một đoàn của Bộ khảo sát ngắn ngày tại nước ngoài, tôi gửi quà mừng lại với lời chúc đôi lứa hạnh phúc đến đầu bạc răng long. Nhưng sau nửa tháng trở về, tôi thấy anh em trong cơ quan vẫn còn xôn xao về đám cưới của cậu. Lại cậu nghiên cứu sinh kia đến kể với tôi.
Thầy ơi, không thể ngờ! Đám cưới rất linh đình tại một khách sạn năm sao, đủ mặt nhiều quan chức toàn bạn bè hoặc cấp dưới trực tiếp của ông bố anh ấy cả, hàm Bộ trưởng, Thứ trưởng, Tổng giám đốc, Giám đốc ... Cái hòm hình trái tim to tướng đặt ngay cửa phòng cưới, lúc em nhét phong bì mừng của mình vào đã thấy chặt cứng. Bức tường trên sân khấu trung tâm phòng cưới có đặt một màn hình lớn, luôn thay đổi nhiểu kiểu ảnh kỹ thuật số, chú rể đẹp trai như tượng, cô dâu xinh tươi như hoa hậu hoàn vũ, lúc hai người hôn nhau góc độ này, lúc thì góc độ kia; lúc đôi uyên ương trên thuyền rẽ nước giữa hồ sen; lúc trước biển cả dào dạt sóng vỗ. Hôn lễ bắt đầu. Trên nền nhạc xập xình đôi tân giai nhân tiến vào. Đoàn trai thanh gái tú rồng rắn theo sau. Hai cậu bé xinh xắn như hài đồng bên cạnh đức Mẹ đồng trinh mặc com-lê, cổ cài nơ nâng váy cô dâu loè xoè dài hàng thước đi giữa. Đúng là cái váy cưới lợi hại, vừa cầu kỳ lại hiệu quả, xoè rộng đến nỗi không ai có thể thấy phần bụng lùm lùm của cô dâu được. Rồi ống pháo lệnh được đốt nổ, tung ra muôn vàn dải nhũ kim bay lấp lánh rơi lên tóc, mặt, quần áo bốn vị sinh thành cô dâu chú rể đang trang trọng đứng trên sân khấu. Rồi hai cây pháo hoa hai bên phụt toé ra muôn ngàn bông hoa lửa vàng rực, tí tách. Chú rể mở chai sâm-banh đỏ, nút bay vọt lên trần kèm theo tiếng nổ to như pháo cối (có người reo lên: Hên rồi!) Sâm-banh sủi bọt trào ra, cô dâu, chú rể chéo tay nhau cùng uống; chú rể đeo nhẫn cưới cho cô dâu; cùng thổi phụt tắt những ngọn nến; chú rể cầm con dao nhỏ sáng loáng chia cái bánh cưới thành nhiều phần… Phòng đại lễ của khách sạn chật cứng, dễ đến năm trăm mâm, vài nghìn người dự, cứ mười người quây quanh một mâm hình bầu dục có bàn xoay, ê hề món đặc sản, thả phanh rượu Tây. Thầy ạ, ai cũng phải tấm tắc: Sang trọng quá! Hoành tráng quá! Con Bộ trưởng có khác! Lúc bữa tiệc đang đến hồi mãn, bỗng có một cô gái mặc bộ đồ lụa đen, cao dễ một mét tám (vì em cao một mét bảy nhăm chỉ đứng đến mang tai cô ấy), mặt hoa da phấn, đúng là người mẫu chân dài, bê một hộp hình chữ nhật được bọc giấy trang kim có tết dải nơ xanh biếc rất cẩn thận, đến đặt lên bàn cạnh cái hộp hình trái tim. Em được anh Huy Tuấn phân công đứng canh hòm tiền mừng (Lúc ấy người nhà anh ấy cũng đã tháo ruột hết rồi, chỉ còn ít phong bao của mấy chục người đến sau cùng). Cô gái vẻ mặt nghiêm trang nhìn em bảo: Có người không đến dự được, nhờ tôi đưa hộ quà mừng. Nói rồi cô quay ngoắt trở ra không thèm nhận lời cảm ơn. Em đã ngờ ngợ. Thời nay bọn khủng bố có thể làm mọi chuyện để trả thù. Em khẽ nhấc thử, cái hộp khá nặng. Lắc thử, như có nước óc ách bên trong. Lễ thành hôn chưa kết thúc, em chỉ còn biết đứng canh chừng món quà lạ đó. Đến khi tan cuộc, khách đã về cả, có cậu thanh niên bên nhà trai sốt sắng đến giúp bê món tặng phẩm ấy ra xe, chợt kêu lên: Cái gì mà nặng thế này? Có lẽ đến lúc ấy chú rể mới biết có món tặng phẩm, vừa nhìn thấy và nghe như vậy, nét mặt anh ấy bỗng tái dại, chắc là anh linh cảm được điều chẳng lành. Anh vội bảo em cùng lên xe và nhờ em giữ hộ cái hộp, tuyệt đối không được mở dọc đường. Vừa đến nhà, Huy Tuấn đã vội để cô dâu ở phòng khách, dẫn em đưa cái hộp lên một căn buồng nhỏ trên tầng thượng. Em giúp anh ấy mở hộp. Vô cùng hồi hộp. Còn lo nữa thầy ạ: nếu là quả mìn trong hộp thật thì toi mạng cả hai! Em làm động tác cẩn trọng bóc các lớp giấy ngoài cái hộp hệt như trên tivi chiếu cảnh cảnh sát nước phương Tây đang dò tháo ngòi nổ cho một quả bom do bọn khủng bố cài lại. Phút chốc lộ ra một bình thủy tinh cỡ mười lít đựng chất lỏng hơi vàng sóng sánh, mà em đoán ngay là phooc- môn. Bên trong lơ lửng một cái thai nhi mới có cái đầu to tướng, mắt to tướng, chưa rõ chân tay, mặt mũi, còn cả bộ cuống rốn dài loằng ngoằng cuốn vào nhau thai nổi bập bềnh bên cạnh. Rõ là cái thai nhi khoảng hai, ba tháng gì đó. Em bủn rủn cả người, hồn phách lên mây. Huy Tuấn mặt mũi xám ngoét, chân tay lẩy bẩy. Đúng lúc đó, cô dâu xuất hiện ở cửa phòng, cô đã lén đi theo hai chúng em và khi vừa nhìn thấy cái bình cô đã hét lên một tiếng, khuỵ xuống, may mà chú rể đứng gần đấy kịp đỡ. Thầy ạ, sau chuyện này em lợm giọng mất cả tuần, cái cục thịt chưa thành hình hài con người kia cứ dập dềnh ám ảnh tâm trí em mãi…
Những chuyện bê bối trong ngày cưới của Huy Tuấn, theo thời gian rồi cũng chìm xuống. Sau đó cậu ta bảo vệ xong ở vòng tiếp theo, trở lại cơ quan cũ, một trọng trách đang chờ. Sau ngày Huy Tuấn trở về cơ quan cũ được khoảng một tháng, ông Bộ trưởng đã gặp riêng tôi, hoan hỉ, cảm ơn tôi đã tận tình, chu đáo giúp con trai ông và cho biết tấm bằng tiến sĩ đã về đến tay chủ nhân của nó. Ông còn không quên nhắc lại giao kèo cũ, tôi vẫn còn tuổi để đề bạt, cái ghế Thứ trưởng đang bỏ ngỏ là để dành cho tôi trong nay mai. Nhất định là cho tôi, ông còn nhấn lại câu ấy. Chờ đến cuối tháng này Ban cán sự Đảng sẽ họp quyết lần cuối, anh không có lý do gì để từ chối nhiệm vụ cách mạng giao cho đấy. Song chỉ sau cuộc gặp ấy không lâu, trước ngày Ban cán sự Đảng họp, tôi đã có một quyết định được dự liệu từ trước: làm đơn từ chức Viện trưởng. Một tháng sau, trên có quyết định chấp nhận yêu cầu từ chức của tôi, ông Viện phó Bí thư Đảng ủy tạm quyền Viện trưởng. Hôm ấy tôi có dịp lên Bộ, tình cờ gặp lại ông Bộ trưởng. Lúc đó ông đang bận chủ trì một cuộc họp, ông nhìn tôi với vẻ mặt đầy thất vọng, bắt tay và nói có một câu: Rất tiếc! Tôi cười đáp lại: Vâng, rất tiếc!
Dư luận anh em trong cơ quan và đồng nghiệp xa gần ngày ấy rộ lên nhiều lời bàn ra tán vào. Một số (mấy đồng nghiệp già như tôi) bảo: Cậu không phải người của cơ chế thị trường, nghỉ là phải, chủ động nghỉ còn được cái tiếng, còn có người tiếc, nếu không sớm muộn cũng bật bãi thôi. Có kẻ còn tỏ vẻ thâm nho nhắc đến một điển tích trong “Đông Chu liệt quốc”: Thỏ khôn đã mất, chó săn chẳng còn. Phần đông (chủ yếu cánh trung niên và trẻ) thì khăng khăng cho là cái lão Phan Lãng tài giỏi, chính trực ở đâu không biết, chỉ thấy vừa có một quyết định dại dột không thể tưởng tượng nổi. Thử hỏi, có ai được cấp trên hàm ơn, được cấp trên buộc phải trả ơn, chẳng mất một xu chạy chọt nào, được mời lên ngồi cái ghế cao sang nhiều bổng lộc, mà lại từ chối như vậy không?!
Miệng thế gian như làn sóng biển, tôi chỉ tự nhủ: chức tước gì cũng không quan trọng, mình cứ sống cho đúng mình. Khi tôi thôi không làm quản lý nữa, vẫn không cảm thấy hụt hẫng, không bị anh em trong cơ quan xa lánh. Nhiều người bảo thẳng với Chánh thanh tra Bộ xuống thị sát tình hình sau khi tôi rút khỏi cương vị lãng đạo: Chúng tôi thật tiếc! Ông ấy dẫu vụng trong chạy chọt cải thiện đời sống cho anh em, nhưng còn dễ sống hơn ông thủ trưởng tháo vát, có cái tính lươn lẹo, trí trá ăn người. Các cô cậu trẻ thì nói: Còn gì sướng bằng có được một ông thầy nghiêm túc, chỉ lĩnh đúng số tiền hướng dẫn đề tài mà mình được hưởng, không đòi hỏi trò phải chi thêm phong bao quà cáp. Có ông bạn học cùng trường thời phổ thông, nay là Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian thành phố lại bảo: Phan Lãng ạ, đặt cậu vào cái chức gián quan, tức quan chuyên can ngăn vua để có lợi cho dân, cho nước hẳn thích hợp hơn đấy. Nhưng thời nay làm gì có gián quan…
Có ai đó đã nói, tin đồn giống như một vò nước đục, chính lời giải thích như càng khuấy đục thêm, để yên lặng nó sẽ tự lắng xuống. Từ dạo ấy, thường ngày đến Viện tôi vẫn chỉ lặng lẽ với công việc của một nghiên cứu viên cao cấp.
***
Tỉnh Q là một tỉnh miền núi đang có tiếng là tốc độ xóa đói giảm nghèo nhanh so với nhiều tỉnh miền núi khác trong cả nước. Huyện P tiếp giáp thị xã, đang dẫn đầu toàn tỉnh về lĩnh vực đổi mới văn hóa, giáo dục. Tôi mới đến đây đã biết ngay điều ấy, qua tivi, báo chí đã đành, cứ nhìn những pa-nô, khẩu hiệu, cờ quạt trưng đầy đường, trên nóc nhà, bên ngoài các công sở, trường học là đủ biết. Đã lâu lắm tôi không trở lại, quả là thị trấn P bộ mặt đổi thay không thể tưởng tượng nổi. Không còn là cái thị trấn lèo tèo mấy chục nóc nhà tranh vách đất chạy dọc hai bên quốc lộ thời tôi trẻ măng đến đây làm lính ắc ê nữa. Giờ đường phố chính thẳng tắp chạy dọc thị trấn, hai bên liền kề khối nhà ống bê tông cốt thép ba, bốn, năm tầng, nhà nào cũng có biển hiệu buôn bán, chăng đèn lập loè, hệt như một góc phố nào đó ở ven nội Hà Nội hay Sài Gòn được người ta bê về đặt tại đây.
Tôi ngồi vào một quán nước bên đường. Bà hàng nước trạc ngoài năm mươi tuổi, chắc là người dân tộc thiểu số vì mặc bộ quần áo chàm, cổ đeo cái vòng bạc khá to, giọng Kinh lơ lớ, nhưng nói năng đối đáp thì đâu ra đấy không ngọng nghịu chút nào. Bà hỏi bác uống nước gì, chè mạn, chè dây, chè đắng, chè giảo cổ lam đủ cả, chè nào cũng tác dụng thanh nhiệt giải độc, hạ huyết áp, tốt cho tim mạch, gan, ruột, dạ dầy. Tôi cũng muốn tìm hiểu vài thứ đặc sản địa phương, bảo cho chè đắng. Đúng là đắng ngắt, đắng như viên thuốc ký ninh mầu xanh quân y tiểu đoàn bắt phải uống mỗi ngày hồi tôi ở B2 bị sốt rét trọc cả đầu, nhưng uống xong thứ chè này lại có cái thú là vị ngọt nơi cổ họng đọng lại khá lâu. Tôi thử tiếp chén nữa, chè dây. Nhằng nhặng đắng thôi và cũng ngọt giọng không kém. Thấy tôi không gọi nữa, bà chủ quán mau miệng hỏi:
- Bác có uống chè mạn? Chè san tuyết toàn hái búp trên cây cổ thụ mọc núi đá, không có tí thuốc thực vật bảo vệ (đáng lẽ phải nói bảo vệ thực vật) nào. Tôi cười bảo, sắp vỡ bụng rồi, để sau vậy. Bà cũng cười bảo, chắc bác vừa ăn sáng. Quê em có loại phở chó ngon lắm, cũng là đặc sản bác đã xơi chưa?
- Vừa ăn xong- Tôi nói- Hơi mặn.
- Ấy là bác không biết cái quán “Ngon” bên hồ cạnh nhà em đấy thôi. Cán bộ Trung ương, cán bộ tỉnh về thể nào huyện chẳng chiêu đãi ở đấy. Phở chó thì nhất luôn, thơm, mềm không có tí mùi chó nào. Em không ăn được thịt chó, đấy là nghe ông xã em tả thế. Các quan đến ăn sáng phở chó ở quán ấy, trưa, chiều chiêu đãi chuyên đề đặc sản thú rừng, nhím, cheo, cầy hương, cầy vằn, lợn độc, hươu, nai, gấu con gì cũng có, tươi sống chứ không như dưới xuôi toàn lạnh ướp…
- Đêm khuya thì đãi quan món đặc sản gì? - Một ông khách ngồi cạnh tôi bỗng góp chuyện- Bà chị chắc không biết đâu, chứ ông xã của bà rành cái món ấy lắm đấy.
Bà chủ quán lắc đầu tỏ vẻ không hiểu, rồi như chợt nghĩ ra cái ẩn ý trong câu hỏi liền cười tít mắt bảo:
- Đàn ông các bác phức tạp lắm, hám đặc sản lắm. Đàn bà bọn em chỉ đơn thuần bếp núc, phục vụ chồng con thôi.
Tôi hỏi:
- Ông chủ tịch huyện có hay ra đấy không?
- Thì quán người nhà mà lị- Bà chủ nhanh nhảu- Ông xã em là em họ ông chủ tịch. Bác ấy đã làm chủ tịch sang nhiệm kỳ hai rồi, tín nhiệm lắm, sắp được điều lên tỉnh. Cấp trên về như cơm bữa. Đài báo ca ngợi thả phanh.
- Nhà ông ấy ở đâu? Tôi hỏi.
- Kìa- Ông khách ngồi bên góp chuyện, chỉ về hướng cuối thị trấn- Bác có thấy một cây chò chỉ thẳng tưng, còn cao hơn cả cái tháp của ngôi nhà phía trước không? Nhà chủ tịch huyện em đấy. Tay này thích chơi trội, trồng hẳn cây nêu cao vống như thế cho xung quanh từ xa ai cũng phải nhận ra lãnh địa của ông. Ông ấy mới dọn về đây khoảng chục năm thôi, cây chò dễ đã trăm tuổi có dư, mà không phải mọc sẵn ở đấy, bác có biết là tại sao không? Từ rừng già cách đây gần năm chục cây số, ông bứng nguyên cả gốc rễ về trồng sau vườn để lấy bóng mát đấy. Riêng vụ chuyển cây này tốn cỡ dăm bẩy chục triệu. Ăn chơi chưa! Còn ngôi nhà của quan huyện, bác mà đến sẽ thấy tân cổ giao duyên có một không hai, nhìn lác mắt. Quê em, cỡ quan huyện trở lên muốn bao nhiêu đất chả được, muốn chơi kiểu gì chả được.
- Ông ấy tên gì nhỉ?
- Đăng Văn Lìu tức Lưu Văn Đằng- Ông khách cười khì khì- Nghe đâu ông cố nội di cư từ Quảng Tây xuống, về đây đã sáu, bảy đời rồi.
- Có mấy con? Tôi hỏi tiếp ông ngồi bên.
- Hai- Ông lại toét miệng cười, nói- Hai “cách cách”. Tỉnh này nghiêm lắm, đẻ quá hai là kỷ luật cắt tiên tiến, hạ lương. Bố đẻ ông Đằng trước là công nhân lái máy ủi của lâm trường, độc đinh, nhõn ông, sau còn hai bà con gái. Ông Đằng trên danh nghĩa có hai con vịt trời, nhưng ai biết ma ăn cỗ. Bác ở xa không biết chứ, vừa rồi cả tỉnh em bàn tán xôn xao về chuyện một vị phó chủ tịch đã hưu lâu rồi, nổi tiếng vì có đến sáu “cách cách”. Thời cũ cho đẻ thoải mái, ông càng cố càng ra “cách cách”. Đúng là tam nam bất phú, tứ nữ bất bần, nhà vị giàu nứt đố đổ vách, bác bảo hồi bao cấp mà sáu cô sắm cho sáu cái xe đạp Pơ-giô da đồng thì nhất rồi còn gì, một đàn bướm bướm xinh lượn trên phố ai nhìn chẳng lác mắt. Thế nên ai cũng tiếc cho ông, bảo tiền nhiều xây nhiều nhà tình nghĩa, chỉ mấy thằng con rể là chuột sa chĩnh gạo. Bao nhiêu năm ông kín như bưng. Lão thành cách mạng, gia đình văn hóa kiểu mẫu. Đến khi nằm xuống, đùng một cái có luôn một bà dẫn một cậu về chịu tang. Mà đến lúc ấy cậu đã đủ tuổi công dân, tức là năm ông chuẩn bị về hưu thì gặp mẹ cậu, còn mặt mũi tóc tai cậu giống ông như tạc, chẳng cần thử gien giếc gì hết cũng nhận ra đích thị con ông. Bà cả cùng các cô chị ngậm tăm, di chúc ông đã viết sẵn, có công chứng hẳn hoi, của cải chia bôi đâu ra đấy, con gái con trai sòng phẳng, không thể kiện cáo tị nạnh được. Em nói thế, người xuôi có dám khinh thường dân miền núi chúng em là ngù ngờ không? Giờ miền núi có khối khoản còn vượt miền xuôi các bác ấy chứ lị.
Nói xong ông khách lại cười, hô hô ha ha hết cỡ, đoạn vớ cái điếu cày, nhồi thuốc lào, châm đóm khoái trá rít một hơi ròn tựa súng liên thanh, khói phả mù mịt ra phía sau. Bà chủ quán bỗng xen vào, tỏ ý trách ông kia:
- Thời nay trai gái quan trọng gì, con nào chẳng là con. Cán bộ, đảng viên thì phải gương mẫu đi đầu chứ. Ông chỉ được cái hay vạch áo cho người xem lưng thôi.
Ông khách lườm bà chủ một cái, bảo:
- Có mà đứng đắn cái mắt!
Tôi hỏi tiếp ông khách:
- Hai cô gái con ông ấy làm gì?
- Đứa lớn đang học ở Úc. Đứa sau học phổ thông, trường thị trấn. Nghe đâu ông mới cho cô út lên Hà Nội học từ hơn nửa tháng nay. Lạ, con bé đang học dở lớp mười hai, ở đây thi cử tốt nghiệp phổ thông chẳng dễ hơn à, khi nào ôn thi đại học mới về thủ đô chứ. Đấy là do đứa con gái em học cùng trường với con ông Đằng nói lại. Cô này xinh thì có xinh mà nghe đâu tính ương như như ổi ấy.
- Cô ấy đi học trên Hà Nội thật chứ việc gì phải nói dối- Bà chủ quán lại xen vào- Có điều kiện thì đi sớm lúc nào chả tốt lúc ấy à. Nhà em kể, vợ chồng ông anh em đang rục rịch tìm mua nhà trên ấy. Sau khi ông anh em hưu sẽ chuyển tất về thủ đô.
Tôi trả tiền nước. Bà chủ giờ mới nhìn tôi từ đầu đến chân, nửa đùa nửa thật mà bảo:
- Nom bác như công an trung ương về đây điều tra vụ việc gì gì ấy nhỉ.
Ông ngồi bên thì nhòm tôi lướt qua một lượt, rồi ra chiều trách cứ bà chủ quán là không biết đánh giá con người:
- Chán mớ đời cho cái bà này. Tuổi tác như bác, bệ vệ trán cao lông mày rậm như bác nếu là công an, quân đội thì cấp đại tá, thiếu tướng, thèm đi điều tra vụ việc như bọn trẻ ranh èng èng cấp uý à.
Tôi quay sang ông ta bật cười mà bảo đúng tôi là thiếu uý công an hình sự đi tập sự điều tra vụ việc đây. Thêm một mẻ cười rung quán. Nghe tôi hỏi đường lên Uỷ ban tỉnh, ông khách liền rối rít bảo, bác cứ ngồi sau em, rước tận nơi, giá rẻ bất ngờ. Em là xe ôm chính khựa.
3
Tôi linh cảm ông giáo sư kia sẽ tìm mọi cách để sớm tra ra gốc gác của tôi. Tôi vừa định nghỉ ở nhà cho sạch kinh, đã nghe bà chủ điện đến nói, chú công an hộ khẩu sáng nay vào quán tìm mày. Công an nắm rõ lai lịch bọn tôi như trong lòng bàn tay, muốn úp nơm lúc nào chẳng được, nhưng bọn tôi vẫn yên tâm hành nghề vì đã có bà chủ lo lót, họ cũng lờ đi. Khi tôi về thành phố này, biết thể nào trên nhà cũng bổ đi tìm, nên mới có hơn nửa tháng đã chuyển chỗ trọ mấy lần, thay sim điện thoại. Ông giáo sư sẽ gọi điện về nhà tôi hỏi xem tôi đã về chưa, kiểu gì ông chẳng báo địa chỉ của Phong Vị Quán với bố mẹ tôi.
Cao chạy xa bay trước vẫn hơn. Tôi đã tích được một ít tiền, lại có thêm món ông giáo sư vừa đưa, tốt nhất đi du lịch xa một chuyến cho đã. Tôi chọn Vịnh Hạ Long, nơi mới biết trên đài báo chứ chưa được đến lần nào. Tôi lẳng lặng thu xếp hành lý, một cô cũng ở tỉnh lẻ mới về thành phố trọ cùng phòng hỏi đi đâu, tôi chỉ nói ngắn gọn: Phắn! Vừa ra khỏi ngõ, tôi nhẩy xe Hoàng Long, sực nhớ trên nhà tôi còn có cái đĩa bài hát ca ngợi công ty xe khách liên tỉnh này: “Anh đưa em về Hải Phòng/ Cùng ra bắt xe Hoàng Long…”
Xe chất lượng cao, khách ngồi theo số ghế. Cạnh tôi là một anh bộ đội quần áo còn thơm phức mùi hồ. Nhìn vào cái gương chiếu hậu của bác tài xế, tôi thấy rất rõ gương mặt anh ta: vuông vức, nước da bánh mật, mái tóc đen dày, đôi mày đậm, sống mũi cao, thẳng. Tóm lại, một chú lính thuộc diện đẹp trai kiểu đàn ông phong sương. Hồi Bích Hường vừa thi đại học xong, chưa đi Úc quen khá nhiều anh bộ đội đóng trên thị xã, chị đã dạy tôi cách nhận biết quân hàm và phù hiệu gắn cùng sao vạch. Sĩ, úy, tá ra sao tôi thuộc làu. Miếng tiết đỏ trên cổ áo anh này gắn hai sao một vạch, tức trung úy, tôi thầm thẩm định được ngay. Song lại lần đầu nhìn thấy cái phù hiệu bên cạnh sao vạch, giống cánh cung lại có con dao găm bắt chéo quả lựu đạn phía dưới, nếu Bích Hường mà ở đây chắc cũng không thể biết là phù hiệu gì.
Xe chuyển bánh dễ được nửa giờ, anh ta ngồi im như pho tượng cạnh tôi. Nhưng đôi mắt anh vẫn linh hoạt chứ không hề ngủ gà ngủ gật, qua gương chiếu hậu tôi biết điều đó. Tôi liền nói mà không quay sang nhìn anh:
- Cánh cung cạnh ngôi sao trên ve áo là gì hở anh?
Dường như chỉ chờ tôi lên tiếng trước, anh quay sang bắt chuyện liền:
- Đặc công em ạ. Em đã bao giờ nghe nói đến lính đặc công chưa?
Tôi lắc đầu bảo chưa. Giọng anh sôi nổi hẳn:
- Binh chủng đặc biệt tinh nhuệ…
Tôi ngắt lời:
- Binh chủng là gì? Đặc biệt tinh nhuệ là gì hở anh?
Anh cười, bảo em gái ngây thơ quá, học lớp mấy rồi mà không biết “binh chủng”, không biết “đặc biệt tinh nhuệ” nhỉ? Ở trường không học môn quân sự à? Tôi cười bảo, có đấy, nhưng em không nghe thầy giáo giảng những từ như vậy bao giờ, vả lại hễ đến giờ quân sự là bọn con gái chúng em sợ lăn lê bẩn quần áo nên trốn suốt, thành ra mù tịt, cuối năm thầy chiếu cố vẫn cho đủ điểm không phải thi lại. Anh bộ đội cười độ lượng mà bảo, thời bình nên môn này ở các trường chỉ học phiên phiến thôi, bọn anh trong nghề thì luôn phải văn ôn võ luyện. Anh học võ thuật ư? Thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên hỏi vậy, anh cười kể tiếp là những năm học trường sĩ quan đặc công suốt ngày trên thao trường luyện tập, tất nhiên cả luyện võ thuật nữa, lúc đầu cũng bị xây xát thâm tím mặt mày, sau quen rồi chẳng thấy đau. Anh vừa tốt nghiệp ra trường, về quê nghỉ phép trước khi trở lại đơn vị nhận nhiệm vụ mới.
- Em nhà ở Hạ Long à? Anh hỏi.
- Không- Tôi lắc đầu- Em đi chơi Vịnh Hạ Long.
- Nhà anh ở gần thành phố ấy đấy. Em đã bao giờ uống nước suối khoáng Quang Hanh của vùng mỏ Cẩm Phả chưa nhỉ? Nhà anh ở ngay Quang Hanh cách Hạ Long vài chục cây thôi- Anh nói như reo, hệt như gặp được tôi là đồng hương đồng khói. Rồi đôi mày đậm của anh hơi nhíu lại, hỏi tiếp- Sao đi có một mình?
Tôi cười, có một mình thì đi một mình thôi. Anh bỗng hỏi nhỏ vào tai tôi:
- Xinh thế đi một mình không sợ bị bắt nạt à? Người yêu đâu mà không theo kèm?
Tôi lắc, bảo không có ai yêu. Anh hỏi lại giọng khá là nghiêm chỉnh:
- Thật à?
Tôi gật. Rồi anh ngồi im, mắt hướng về phía trước. Tôi bỗng nhích đùi vào sát đùi anh. Đùi anh nần nẫn to hơn, dài hơn hẳn đùi tôi, tôi còn cảm được cả cái ấm nóng từ sức trai lực lưỡng của anh truyền sang. Bỗng nhiên một nỗi mặc cảm từ đâu bỗng dâng lên trong lòng tôi. Từ ngày thành thiếu nữ, tôi cứ sống buông thả, cứ hận đời như vậy thì sao có thể làm bạn được với một chàng trai đứng đắn, rắn rỏi thế này cơ chứ! Nước mắt tôi ứa ra từ lúc nào, tôi thấy thương cho thân phận mình quá, cái cảm giác lâu nay chưa bao giờ có trong tôi.
- Em khóc à? Bỗng nghe anh thì thào. Thì ra gương chiếu hậu soi chung gương mặt anh và tôi, anh đã nhìn thấy giọt nước mắt tôi lăn dài trên gò má. Tôi lau vội, lắc đầu cúi gằm xuống không dám nhìn vào gương nữa. Từ đó chúng tôi im lặng suốt một chặng dài.
Xe đã đến khu vực Bãi Cháy. Vịnh Hạ Long hiện ra trước mắt tôi qua cửa kính trong nắng chiều. Màu vàng tươi của nắng đang tô đậm trên đỉnh các dải núi đá lô xô chạy dài trên mặt biển xanh biếc; trên từng hòn đảo đá vôi hình thù kỳ lạ, và cả trên những con tầu đang lừ lừ rẽ sóng phía xa xa. Đẹp quá! Thanh sạch, tĩnh lặng quá! Đang mải ngắm trời ngắm biển, tôi nghe tiếng anh bộ đội bên tai:
- Đến nơi rồi. Em nghỉ khách sạn nào?
Tôi cầm vội cái túi du lịch chưa kịp trả lời, anh đã đứng lên với tay lấy cái ba lô con cóc để trên giá phía nóc xe. Dáng anh cao, phải cúi người khi bước xuống bậc xe. Tôi đi sau anh. Vừa đặt hai chân xuống đất, chưa kịp định hướng nào để đi tiếp thì tôi bỗng nghe có giọng nói khác lạ vẳng bên tai mình:
- Về nhà nghỉ cùng anh.
Tôi giật mình nhìn lại người vừa nói: một gã to béo, mặc áo phông cộc tay, đầu húi cua, cầm một túi xách to tướng đang nhìn tôi cười nhăn nhở. Thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, gã bảo tiếp:
- Chóng quên thế. Gặp nhau ở Phong Vị Quán rồi mà.
Tôi bủn rủn cả người. Đã ngán Phong Vị Quán đến tận cổ, giờ vừa tìm được một khoảng trời khác lạ cho thư thái đầu óc dù là chỉ thoáng chốc, thì lại xúi quẩy gặp ngay con đực đã từng mò đến cái quán ấy và gã lại giở trò tán tỉnh vòi vĩnh. Tôi đâu nhớ mặt khách làng chơi, chúng đều nhạt nhòa như nhau. Tôi ném cái nhìn vào hắn, rồi rảo bước coi như không nghe thấy lời gạ gẫm, chớt nhả vừa rồi. Gã tỏ vẻ ngạc nhiên, bám theo tôi lải nhải:
- Kìa em. Có thưởng đấy. Bao giờ anh chẳng boa các em hậu hĩnh.
Tôi bỗng thấy ngượng chín mặt với những khách xung quanh cũng đang lục tục xuống xe. Tôi cun cút bước đi như bị ma đuổi, coi như không biết gã là ai. Gã đầu cua không chịu bỏ con mồi, liền với tay vào vai tôi giật lại, bảo:
- Bớp mà cao giá thế!
- Tôi không quen biết anh! Tôi ngoái lại nói và cố bước nhanh khỏi tầm tay kiềm giữ của gã. Tóm hụt, lần này thì gã sải bước, kéo mạnh vào cổ áo làm tôi lọang choạng suýt ngã ngửa về phía sau.
- Đứng lại!- Gã quát- Trên ấy dưới này có gì khác nhau mà làm bộ làm tịch thế?
- Tôi không quen anh! Tôi nhắc lại câu lúc nãy- Anh để tôi yên.
- Không! Đi theo anh! Nói rồi gã nắm chặt tay tôi định kéo về hướng khác. Bỗng anh bộ đội đặc công ngồi cạnh tôi ban nãy đã đứng chắn trước mặt gã từ lúc nào. Gã nhìn anh bộ đội, gằn giọng bảo:
- Không việc gì đến anh! Tránh ra!
Anh bộ đội nhìn thẳng vào mắt tôi hỏi:
- Anh này có quan hệ gì với cô không?
- Không! Tôi nói và rút mạnh tay khỏi tay gã.
Anh bộ đội quay sang gã húi cua ôn tồn nói:
- Đấy, cô ấy nói không có quan hệ gì với anh. Sao
ban ngày ban mặt anh lại bắt ép người ta phải theo mình như thế?
- Nó là con bớp- Gã chỉ thẳng vào mặt tôi- Tôi đưa con bớp nộp cho công an đấy.
- Không phải! Tôi quát to. Trào lên trong lòng tôi nỗi tủi nhục, xót xa, tự dưng nước mắt cứ trào ra. Đôi chân như khuỵu xuống và tôi ngồi gục mặt dưới chân hai người đàn ông.
- Anh không có quyền nhục mạ người khác! Tôi nghe tiếng anh bộ đội nói.
- Không khiến cậu dạy khôn! Tiếng gã húi cua. Rồi thấy bàn tay anh bộ đội khẽ lay vai tôi và bảo:
- Cô đứng lên. Đi đâu tùy thích. Không ai có thể bắt cô phải theo cả.
Tôi cầm túi vụt đứng lên. Mắt gã húi cua vằn đỏ nhìn anh bộ đội như muốn ăn sống nuốt tươi đối thủ. Gã quát:
- Cậu biết trêu vào thằng nào không?
Anh bộ đội xốc lại ba lô, nhìn gã chỉ cười nhạt, lắc đầu tỏ ý không cần biết gã là ai. Gã húi cua giơ bàn tay to xù kéo giật cái quai ba lô của anh bộ đội lại. Anh đứng sững, quay người nhìn thẳng vào gã:
- Cần gì? Anh nghiêm giọng hỏi, ánh mắt như có những tia lửa.
- Thằng chọi con! Nói rồi gã húi cua đấm thẳng vào mặt anh. Nhanh như chớp, anh gạt tay gã bật ra. Gã hơi loạng choạng. Rồi gã nhẩy xổ đạp thẳng vào ngực anh. Tôi hốt hoảng kêu lên:
- Đánh người!
Tiếng kêu của tôi vừa dứt, đã nghe “huỵch”, gã húi cua ngã chỏng gọng trên mặt đường nhựa, còn anh bộ đội vẫn ba lô sau lưng, đứng nhìn hắn. Gã thấy có tảng đá xanh nhô bên đường, liền lồm cồm bò dậy, cúi gập người định cậy lên. Anh bộ đội bước nhanh đến bên gã, một chân đạp lên bàn tay gã đang cậy viên đá, giữ yên đấy, bảo:
- Không được giở trò. Anh đi theo tôi về đồn công an giải quyết.
Gã rút bàn tay ra khỏi chân anh bộ đội, vùng đứng dậy, định ra đòn tiếp, thì anh bộ đội đã túm ngay cổ tay gã bẻ ngoặt về đằng sau lưng. Gã nhăn mặt kêu ối oái, mồ hôi tóa trên trán. Gã rền rĩ:
- Bỏ ra! Trật khớp ông rồi.
- Về đồn giải quyết! Anh không khoan nhượng, vẫn ấn gã chúi người về trước.
Mấy hành khách từ nãy cứ lẳng lặng chăm chú theo dõi hai người lời qua tiếng lại và đến lúc sự việc đã ngã ngũ, mới nói hùa vào:
- Anh bộ đội nói đúng đấy. Đưa thằng côn đồ này về đồn.
Có người còn quay sang tôi bảo:
- Cô cũng nên theo về đồn, làm chứng cho anh bộ đội là nó gây sự trước. Đánh trước.
Gã oằn người, rên rỉ, không còn điệu bộ hung hăng như lúc trước nữa. Đến lúc ấy anh trung úy mới bỏ tay gã ra. Gã cố đứng thẳng, lầu bầu là trệch khớp ông rồi. Và gã nhổ bãi nước bọt xuống đường, chửi một câu rất tục. Không cách nào khác gã phải lủi thủi theo anh bộ đội về đồn công an.
Đến nơi, anh bộ đội trình bày sự việc với anh công an trực ban. Anh trực ban vừa nhìn thấy gã húi cua, nhếch miệng cười bảo:
- Tưởng ai. Lại là anh à.
Gã húi cua liền chỉ vào tôi nói:
- Đây là con điếm. Các anh cần bắt ngay. Tôi định đưa nó về công an, thì cậu bộ đội này đánh tôi.
- Tôi đi du lịch. Không quen biết anh này. Tôi nói và chỉ tay vào gã húi cua.
Anh trực ban nhìn tôi giây lát, hỏi:
- Chắc chị lần đầu xuống đây?
- Vâng!
- Chị cho xem chứng minh thư.
Tôi lấy ra chứng minh thư. Anh xem kỹ, ghi số chứng minh thư vào biên bản và trả lại tôi. Anh còn mỉm cười nói với tôi là, chị từ tỉnh miền núi cất công đến tận đây tắm biển, hơi vất vả đấy nhỉ. Nói rồi anh xem tiếp chứng minh thư của anh bộ đội, ghi biên bản. Xong, anh đọc, mọi người nghe một lượt, không ai nói gì, anh bộ đội và tôi ký. Quay sang gã húi cua, anh công an cũng bắt gã ký, bảo tiền sự gây rối trật tự công cộng lần trước chưa giải quyết xong, lại tiếp đến vụ này. Chúng tôi giữ anh đến ngày mai để xin ý kiến xử lý của cấp trên.
Tôi và anh bộ đội ra khỏi đồn công an. Anh hỏi:
- Giờ Lưu Diệu Thúy nghỉ ở đâu?
Tôi thú thực là xuống đây lần đầu, chưa biết nghỉ ở đâu cho tiện. Anh (tên là Bùi Quang Hanh như ghi trong biên bản) liền chỉ tay sang bên kia eo biển có cây cầu lớn hình cánh cung rất thanh mảnh bắc qua, bảo nên sang đấy có nhiều nhà trọ bình dân, giá cả hợp lý, tiện đi tham quan. Tôi nói rất biết ơn anh, nếu hôm nay không có anh thì tôi đã bị tên ấy làm rầy rà khó mà gỡ ra được. Tôi còn bảo, giờ mới biết đặc công giỏi võ, đầu gấu như hắn mà phải chịu thua. Nghe tôi nói anh chỉ cười, hàm răng trắng đều tăm tắp nom thật tươi tắn. Rồi Quang Hanh gọi hai xe ôm đưa anh và tôi sang bên kia cầu. Anh sốt sắng tìm cho tôi một nhà trọ ưng ý, giá rẻ, đủ tiện nghi, khá sạch sẽ. Anh còn bảo, Diệu Thúy có người yêu đi cùng thì đâu phải gặp rắc rối như vừa rồi. Tôi cúi xuống mặt đỏ bừng, không biết nói với anh thế nào. Anh nói là giờ về thăm nhà ở mỏ suối khoáng Quang Hanh, trước khi đi không quên xin số điện thoại di động của tôi.