1
Hơn bốn mươi năm về trước, ở vùng ven thị xã này có xóm Hòa Bình là nơi đại đội tôi trú quân trước khi đi B. Nay trở lại, quả đồi trồng bạch đàn liễu cuối xóm giờ đã phủ kín giống vải thiều mang lại nhiều lợi ích kinh tế, còn xóm đã lên phường, nhà lá không thấy, chỉ có nhà mái bằng hai, ba tầng san sát. Ngày ấy Kim Thanh cùng cô bạn đạp xe gần một trăm năm mươi cây số từ Hà Nội đến tận đây thăm tôi. Đầu giờ chiều hôm đó chúng tôi đi “rèn”, mỗi người theo quy định phải đeo cả chục viên gạch đỏ trong ba lô con cóc hành quân dã ngoại khoảng hai mươi cây số, luyện về thể lực cùng sức bền bỉ dẻo dai để chuẩn bị cho chuyến vượt Trường Sơn bổ sung vào chiến trường sắp tới. Vừa trở về xóm, mệt nhoài đang ngồi duỗi chân tay cho đỡ mỏi, tiểu đội trưởng đến bảo: Phan Lãng, a- mi xinh tươi đến thăm cậu kìa! Tiểu đội tôi ngày ấy khi nhập ngũ hầu như cậu nào cũng đã có người yêu (lúc đó bọn tôi hay gọi bạn gái của nhau là “a- mi”, cũng chẳng cần biết từ đó có từ đâu) và các nàng đều đã lặn lội đến thăm các chàng lính mới ở đây cả, riêng tôi chẳng có a- mi nào. Tôi và Kim Thanh cùng quê, cùng học một lớp. Không hiểu sao ba năm cấp ba, năm nào hai đứa cũng được xếp ngồi một bàn. Tôi vốn còi dí còi dị, học hết phổ thông cao có một mét rưỡi, nặng có bốn mươi nhăm cân, còn Thanh vóc người thanh mảnh, cân đối, mặt trái xoan khi cười có cái lúm đồng tiền nom khá duyên. Tóm lại, vẻ bề ngoài tôi chẳng có điểm gì mạnh, sao có thể với được những em xinh tươi như Kim Thanh cơ chứ. Nhưng Kim Thanh lại hay chủ động quan tâm đến tôi. Có hôm cô mang củ khoai nướng bọc trong mảnh giấy báo, giờ ra chơi hai đứa bẻ đôi bóc vỏ, chén ngon lành. Có hôm cô mang cho tôi tờ giấy thấm mới tinh, bảo Thanh thấy Lãng viết xong không thấm, chữ in sang tờ bên bẩn cả vở. Năm đó tốt nghiệp cấp ba là được vào thẳng đại học luôn chứ không phải thi, tôi ghi nguyện vọng Đại học Bách khoa, còn Thanh chọn Trường Y Hà Nội. Nhưng nhà tôi mấy anh em trai chưa ai đi bộ đội, giấy gọi nhập ngũ lại đến trước giấy gọi đại học, tôi lên đường ngay, về trung tâm huấn luyện tân binh ở tỉnh Q này. Nghe tin Kim Thanh đến tôi hoàn toàn bất ngờ, tỉnh như sáo quên mỏi mệt, chạy vội ra đầu xóm đón cô. Vừa gặp, câu đầu tiên Kim Thanh như reo lên: Phan Lãng lớn phổng lên ấy, cơm gạo lính có khác! Quả tôi cao lên đến dăm, bẩy phân sau ba tháng hè, rồi ba tháng luyện quân, quân trang mặc vừa khít, khoác khẩu AK gọn gàng, nom thực là lính chiến. Các cậu cùng tiểu đội nhìn tôi đứng với Kim Thanh cứ xì xào: A-mi của Lãng còi tiểu đội ta xinh ghê! Nghe thế tôi hơi sượng sùng, còn cô mặt cứ tỉnh bơ, cô đã là sinh viên năm thứ nhất của Trường Y rồi đấy. Cách ăn mặc của cô vẫn nền nã như dạo nào, hai dải tóc kết đuôi sam không lưng lửng nữa, mà dài đến gấu áo nom rõ thướt tha. Buổi tối hôm đó sinh hoạt toàn trung đội xong, tôi xin phép trung đội trưởng đi chơi khoảng một tiếng. Chúng tôi lên quả đồi thấp ở cuối xóm, ngồi bên nhau dưới gốc cây bạch đàn liễu thân trắng muốt, cao vút. Đúng ngày rằm. Mặt trăng tròn vành vạnh như cái mâm bạc hiện ra sau đám mây, cả một vùng đồi núi, thôn xóm như được dát dải bạc ngời sáng lên trong phút chốc, lại thêm làn sương mù bảng lảng dưới chân đồi nơi chúng tôi ngồi thật thơ mộng. Tôi hỏi: Sao Thanh biết mình ở đây mà đến thăm? Cô nguýt dài: Lãng thật đáng ghét, đi mà chẳng báo, chẳng đến chào người ta. Nhưng người ta lên huyện đội hỏi là biết nơi đóng quân thôi khó gì. Thanh đến Lãng có bất ngờ không? Nghe cô hỏi, tôi quay sang nhìn cô. Dưới ánh trăng đôi mắt vốn to đen của cô như sáng rực lên, lòng tôi cũng lâng lâng một cảm xúc khó tả. Tôi nói nhỏ: Bất ngờ lắm. Tôi định cầm tay cô nhưng không hiểu thế nào lại theo phản xạ tự nhiên rụt tay lại. Lát sau tôi bảo: Sắp đi B rồi, trong ấy dạo này chiến sự ác liệt lắm, Thanh ạ. Ác liệt thì mặc ác liệt, đi cứ đi chứ, cô nhúng nhẳng nói và nhích lại ngồi sát thêm chút nữa. Năm ấy chúng tôi đều mười tám tuổi, tôi chỉ nghĩ với Thanh là thân chứ đâu đã phải yêu, mà có lẽ cô ấy cũng chỉ quý tôi thôi, trong lớp thiếu gì đứa đẹp trai cao ráo để cô lựa chọn. Giờ mình lại sắp đi vào nơi bom đạn, biết sống chết thế nào. Nghĩ vẩn vơ, rồi tôi bỗng hỏi một câu rất chi là ngớ ngẩn: Thanh có người yêu chưa để Lãng mừng? Chắc hẳn lúc đó cô như bị dội một gáo nước lạnh, tôi thoáng thấy ánh mắt cô tối sầm lại. Thế rồi chúng tôi cứ yên lặng bên nhau hồi lâu, dường như mỗi người đang mải theo đuổi ý nghĩ riêng tư nào đó. Sương xuống đã ướt nhèm cả tóc, tôi biết được điều ấy khi bất chợt vuốt tay lên mái đầu mình. Bỗng vẳng nghe tiếng kẻng của đơn vị báo đến giờ về lán ngủ. Kim Thanh quay sang nói nhỏ: Về thôi. Sáng hôm sau cô chia tay, đôi mắt nhìn tôi đầy thất vọng, tôi thì cho thế là mình đã có một hành động cao thượng, không muốn làm khổ thêm một người con gái ở hậu phương khi mình ra nơi mũi tên hòn đạn. Cô đi rồi tôi bỗng thấy lòng trống trải lạ lùng, như vừa bị mất một thứ gì quý giá lắm không bao giờ có lại được. Mấy cậu bạn trong tiểu đội thì bảo, cái số Lãng còi nhà ta thật đào hoa, người ta quá yêu cậu, không quản thân gái dặm trường tìm đến tận đây, mà trong số các a- mi đến đây, nhất vẫn là a- mi của cậu ấy. Tiểu đội trưởng còn tán sát sạt: Được ôm hôn a- mi xinh tươi dưới ánh trăng huyền ảo trên đồi bạch đàn liễu, nhất cậu rồi. Về sau khi vào chiến trường đã được một năm, lần ấy tôi bị thương nhẹ, mảnh bom phạt ngang bọng chân phải khâu mổ ở bệnh viện dã chiến, nằm cạnh một anh đại đội trưởng cũng bị thương. Tôi kể lại kỷ niệm với cô bạn học ngày ấy trên đồi bạch đàn, anh bảo, mình cũng xử sự với cô bạn gái cùng xóm hồi trước khi đi B hệt như vậy. Giờ nhìn lại mới thấy mình khô khan, lý trí quá, có lẽ thế hệ chúng mình đều là một lũ quỷnh, một lũ trái tim sắt đá, có lỗi với chị em như thế cả. Năm 1972, tôi bị thương thêm một lần nữa ở mặt trận B2, lần này bị nặng hơn, được chuyển ra miền Bắc điều trị, an dưỡng. Hồi đó trên có chủ trương những ai đã qua chiến trường, được trở lại trường đại học thông qua thi tuyển. Tôi vừa dưỡng thương vừa tranh thủ ôn thi, đạt điểm cao nhất khóa ấy, được cử đi học ở Liên Xô. Năm đầu học ngoại ngữ trong nước, lúc đó Kim Thanh sắp ra trường và cô lại đến thăm tôi tại ký túc xá sinh viên. Cô vẫn tươi tắn như dạo nào, chỉ tóc không còn kết đuôi sam mà đã uốn gọn gàng, trông mốt lắm. Cô vừa chia tay người yêu, một bác sĩ học trước vài năm vì cô cho rằng anh ta giả dối, đã thề non hẹn bể với nhau, còn đi lòng thòng với em khác. Tôi thì trái tim vẫn “sắt đá” như vậy, với cô bạn học cùng xóm mỗi lần gặp nhau chỉ là trân trọng và lắng nghe. Cô còn mấy lần đến thăm tôi nữa, cả khi cô đã ra trường về làm việc tại bệnh viện thành phố, mà tôi chẳng đối xử gì khác hơn là một tình bạn, tình đồng hương, đồng khói đơn thuần. Rồi cô đi lấy chồng. Tôi đến dự đám cưới, khi mọi người đã về cả, cô tiễn tôi ra cửa còn hỏi: Lãng đã có đối tượng chưa? Tôi bảo, đang bận bịu với việc chuẩn bị đi nước ngoài nên chẳng nghĩ gì đến chuyện ấy cả. Cô lại bảo: Lãng kén lắm. Tôi kén, hay tôi quá khô khan, quá lý trí, đều đúng cả thôi. Sang nước bạn học tôi tốt nghiệp loại xuất sắc, được chọn làm chuyển tiếp sinh, sau đó bảo vệ thành công học vị tiến sĩ được điều về Viện nghiên cứu công nghệ. Tôi gặp vợ tôi lúc đó đang là nhân viên phòng thí nghiệm của Viện, từ lúc quen đến khi cưới rất chóng vánh. Người ta nói vợ chồng là duyên số, là duyên nợ, chẳng sai. Vợ tôi là người hết lòng vì chồng con, song có lẽ do quá yêu chồng mà có tính cả ghen, hễ có người phụ nữ nào quen tôi dù chỉ là quan hệ công tác đơn thuần bà ấy cũng nghi ngờ. Một thứ ghen tuông tích tụ lâu ngày trở thành bệnh hoạn. Một lần vợ chồng tôi vào rạp xem phim, lại tình cờ ngồi liền dãy ghế với vợ chồng Kim Thanh, vợ tôi khó chịu ra mặt. Chả là càng già Kim Thanh như càng trẻ đẹp hơn. Về nhà vợ tôi vùng vằng bảo: Lần sau đừng bao giờ rủ người ta đi nữa; cái kiểu cố tình so sánh người ta với người yêu cũ như thế thật chẳng hay hớm gì! Tôi bực quá cự lại: Người yêu cũ bao giờ? Chẳng phải tôi đã kể với bà hết mọi chuyện về cô ấy rồi sao. Việc gì cứ phải ghen bóng ghen gió, tự làm khổ mình thế! Trước khi bà ấy mất vài năm, tôi còn bị giày vò cũng vì những chuyện ghen tuông chẳng đâu vào đâu. Minh Nguyệt là tiến sĩ của một viện bạn, trong nhóm đề tài cấp Nhà nước do tôi chủ trì. Cô còn trẻ, khá xinh, đã có một con trai, chồng đang làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Hôm đó cô đến phòng làm việc của tôi, nhờ chỉ dẫn cho một công thức. Đúng lúc hai người đang lúi húi giở cuốn sách chuyên môn bằng tiếng Anh, thì bà xã tôi đột nhiên xuất hiện ngoài cửa. Bà hầm hầm đi vào và bảo Minh Nguyệt: Thiếu gì giáo sư mà cô cứ đến phiền ông lão nhà tôi thế! Minh Nguyệt ngỡ ngàng, còn tôi thì ngượng chín mặt. Lại tiếp đến một chuyện nữa. Lần ấy tôi dẫn đoàn làm đề tài cùng một ông thứ trưởng vào Thành phố Hồ Chí Minh, không biết có kẻ nào xấu chơi đến báo với vợ tôi là ông Phan Lãng cùng cô Minh Nguyện đang ra sân bay sắp du hí phương Nam đấy. Thế là bà tức tốc thuê ta- xi đuổi theo. Tại phòng chờ, bà xồng xộc đến chỗ cả đoàn đang ngồi, nhảo mắt tìm cô tiến sĩ kia. Trong chương trình công tác đáng lẽ cô cũng đi chuyến đó, nhưng đến phút chót do cô bị cảm sốt mà phải trả lại vé. Bà chưng hửng, hơi ngượng, nói với anh em trong đoàn là có việc cần hỏi riêng tôi. Rõ giấu đầu hở đuôi, cần thì gọi điện thoại di động trao đổi việc gì phải làm vậy. Anh em trong đoàn đều biết bà có máu Hoạn Thư, nhưng nể tôi không nói ra. Tôi bực lắm song chẳng thể làm ầm ĩ trước đông người, mà đành cười gượng cho qua. Trở về sau chuyến công tác, buồn mà chẳng thể làm gì hơn là giữ im lặng kéo dài với bà. Rồi không thể chiến tranh lạnh mãi được, một lần tôi bảo: Nếu bà thấy tôi không chung tình thì cứ viết đơn ly dị, tôi ký. Bà liền bù lu bù loa vật vã, nói ông giả dối lắm, ông có mới nới cũ. Ký thì ký. Nhưng bà chỉ dọa, không ký. Ngày đó Đỗ Quyên đang học lớp mười hai, biết chuyện bất hòa của bố mẹ nó khóc, nói với tôi: Con đã bảo thẳng với mẹ, bố không có lỗi gì cả, chỉ vì mẹ quá đa nghi, luôn lo sợ mất bố mà hành động mù quáng như vậy. Bố mẹ ly dị thì con biết sống với ai? Tôi an ủi Đỗ Quyên: Vì con bố sẽ cố chịu đựng. Mẹ con thần kinh không khỏe sinh ra lẩn thẩn như thế, từ rày bố sẽ bỏ qua những chuyện ấy để giữ hòa khí trong nhà, được chưa. Đỗ Quyên đã tâm sự lại với mẹ thế nào đó, sau lần ấy bà có chuyển tâm tính, đỡ xét nét với tôi hơn. Không hiểu sao chuyện ghen tuông trong nhà, anh em Viện cũng biết, họ kháo nhau: vợ cắm sừng khổ đã đành, nhưng được vợ yêu quá như ông Phan Lãng cũng khổ không kém.Tổ ấm hạnh phúc của gia đình tôi vun đắp lại chưa được bao lâu thì tai họa ập đến. Thần kinh vợ tôi vốn đã yếu, sau cái chết thảm của Đỗ Quyên, bà bị sụp đổ hoàn toàn, thêm căn bệnh tim mạch, mấy lần ngất xỉu phải đi bệnh viện cấp cứu. Phút lâm chung trên giường bệnh, bà cầm tay tôi nói trong nước mắt: Em làm khổ anh nhiều quá, đến lúc này anh có tha thứ cho em không? Hai mươi năm sống với nhau, tình nghĩa vợ chồng sâu nặng, giờ phút tử biệt sinh ly đau lòng như vậy đâu còn có ý nghĩ hờn giận nào. Tôi áp tay vợ vào má mình, nước mắt cứ lã chã rơi xuống ướt đẫm các ngón tay gầy guộc của bà, nghẹn ngào: Em đi rồi, còn một mình anh biết sống ra sao đây!
2
Mới có hai ngày ở Hạ Long, tôi đã thấy buồn chán, không bạn bè, không biết chơi đâu nữa. Buổi sáng. Nghe có chuông điện thoại di động, tôi nhận ra ngay tiếng của Quang Hanh: Diệu Thúy à. Thăm thú vịnh có vui không? Đi những đâu rồi? Độ hai giờ nữa anh sẽ đến thành phố, gặp em nhé. Tôi cảm thấy thời gian trôi quá chậm, rõ ràng tôi mong chờ anh từng phút từng giây. Ở nơi lạ lẫm này, tôi chỉ có một người quen là anh, vả lại anh từng là ân nhân của tôi, vậy là anh vẫn còn nhớ đến tôi.
Quang Hanh đến, anh vận bộ quân phục mới nom thật rắn rỏi. Anh kéo tôi ra một quán giải khát cạnh bờ biển ngồi nói chuyện. Gió biển thổi vào từng đợt mát rượi. Biển lặng mầu ngọc bích lấp lánh trong nắng sớm, có thể phóng mắt nhìn xa tới chân trời. Những cánh buồm nâu no gió lướt băng băng trên mặt nước nhẹ nhàng như một chiếc lá. Nhưng, ngồi chưa ấm chỗ, chưa nói được với nhau câu nào và người phục vụ cũng chưa kịp đưa cà phê lên, thì đã thấy từ ngoài cửa một toán người ập đến trước mặt chúng tôi. Tôi nhận ra ngay, gã đầu húi cua trong số bốn tên. Mắt gã long lên nhìn Quang Hanh và tôi, gằn từng tiếng:
- Tìm mãi. Hóa ra chúng mày là bồ bịch từ trước. Giờ tao sẽ trả trọn vẹn món nợ hôm trước với chúng mày!
Quang Hanh đứng phắt dậy, sải mấy bước ra hẳn phía ngoài sân giáp bãi biển. Cả bọn nhớn mắt rồi cũng bám theo anh. Theo phản xạ tự nhiên tôi vội moi điện thoại tìm bấm số 113.
- Muốn gì, ra cả đây! Anh nói. Tôi đứng ngây người giây lát trong quán, chờ chuông điện thoại rung, rồi lập cập nói: “Đến ngay quán Thủy Tiên. Có vụ đánh hội đồng một anh bộ đội!”. Vừa dứt lời, nhét được cái điện thoại vào túi, tôi bỗng thấy nổ đom đóm mắt, ngã chúi xuống quầy. Tên đầu húi cua đứng ngay cạnh giáng cho tôi cái tạt tai. Bên ngoài nghe tiếng bước chân thình thịch cùng lời qua tiếng lại. Mấy nhân viên nhà hàng sợ hãi chúi cả vào góc quầy. Tôi định thần được sau cú đánh phũ của tên kia, nhìn ra sân, đã thấy mấy tên côn đồ cầm côn xích, dao găm, quả chùy sắt đang quây anh. Tên đầu húi cua bỏ tôi nhẩy bổ ra trợ giúp đồng bọn. “Huỵch, huỵch”, tên côn xích rồi tiếp đến tên dao găm ngã chúi, hung khí văng ra. Bất đồ tên đầu húi cua từ phía sau, tung cú đá vào mạng sườn anh. Mải đối phó tiếp với tên còn lại đang hằm hè định quăng quả chuỳ sang, anh bị dính cú đá từ phía sau làm cả người mất thăng bằng chới với. Lập tức tên cầm chùy vung tay ném, quả chùy bay vù. Tôi hét lên chạy ra khi thấy anh ngã gục và tên húi cua bồi tiếp một cú đạp vào bụng anh. Anh lăn một vòng sau cú đạp, nét mặt tỏ ra cực kỳ đau đớn, tôi chợt nhìn thấy một vệt máu tươi trên trán anh. Đúng giây phút nguy ngập đó, bên ngoài vang tiếng mấy tiếng tuýt còi của cảnh sát. Tên đầu húi cua dừng lại nghe ngóng. Tên cầm côn bị đánh ngã đầu tiên đã ngồi dậy được, hốt hoảng nói:
- Đ…mẹ! Một một ba. Té!
Nhưng đã muộn. Cảnh sát 113 ập vào từ phía ngoài, dồn bốn tên côn đồ vào góc tường của quán. Chúng mau chóng bị còng tay. Tôi nói với những anh cảnh sát đang xử lý bọn tội phạm:
- Có anh bộ đội bị thương ở đây!
Quang Hanh đang ngồi bệt duỗi thẳng hai chân trên cát, đầu gục xuống. Hai anh cảnh sát chạy đến đỡ anh. Tôi chỉ vào quả chùy sắt làm thủng một miếng ở góc tường bảo:
- Bị quả này ném trúng.
Có anh cảnh sát khác đến nhặt lại quả chùy cùng con dao găm văng ra lúc nãy và gọi xe cứu thương. Một anh giở tờ giấy trong xà cột đeo bên hông, ngồi làm biên bản. Anh hỏi tôi và người chủ quán diễn biến sự việc. Lát sau bốn tên côn đồ bị dồn lên xe thùng kín của cảnh sát và khóa cánh cửa lại. Xe cứu thương rúc còi từ xa chạy đến. Quang Hanh được cáng lên ngay. Tôi ký vội vào tờ biên bản, rồi nhẩy lên xe ngồi bên băng ca cạnh anh.
Đến bệnh viện, Quang Hanh được đưa vào phòng hồi sức cấp cứu. Tôi bồn chồn đứng ngoài, sau khoảng nửa giờ có anh bác sĩ đi ra, anh bảo với tôi may mà anh bộ đội kịp tránh, quả chùy sắt chỉ sượt qua trán. Anh ấy bị chấn động não, phải nằm tĩnh dưỡng vài ngày. Đến lúc ấy, qua cái gương soi đặt ở hành lang bệnh viện tôi mới thấy vết ngón tay tên côn đồ còn in hằn vệt đỏ trên má mình. Có anh công an tìm đến ghi thêm lời kể của tôi. Buổi chiều, tôi xin bác sĩ trực cho vào phòng thăm anh. Bác sĩ nhìn tôi hỏi: Vợ hay người yêu? Tôi lắc đầu bảo bạn. Anh bác sĩ cười bảo, vào được nhưng đừng để anh ấy chấn động thêm nữa đấy.
Anh đang được truyền nước, thấy tôi anh hỏi ngay: Em bị nó đánh hả, có khám chấn thương không? Tôi lắc đầu bảo không sao, còn anh thế nào rồi? Anh bảo đã đỡ nhiều, chỉ còn hơi rức đầu. Anh còn cười: quả chùy sắt mà trúng mặt thì bây giờ Diệu Thuý đang viếng anh ngoài nghĩa địa rồi. Cả ba tên đều có hung khí cùng tấn công một lúc nên khó đối phó. Tôi bảo, vậy là vẫn còn may. Anh chớp chớp mắt nhìn tôi. Tôi lại hỏi, có cần báo để bố mẹ hay người nhà ở quê lên thăm không? Anh nói là chắc vài ngày là ra viện, không nên để ông bà lo lắng. Có báo cho vợ anh? Nghe tôi hỏi vậy, anh lắc đầu, đã có vợ đâu. Thì báo cho người yêu lên thăm vậy? Anh cười, cô ấy đang ôn thi trên Hà Nội chuẩn bị thi vào Đại học Luật. Anh nghỉ phép ở nhà mấy ngày rồi lên thành phố thăm cô ấy luôn. Nghe anh nói, tôi hơi sững lại, gượng cười bảo, vậy là em đã làm lỡ việc của anh. Không sao đâu mà, anh nói, gặp lại em cũng nằm trong dự định của anh, chỉ suýt nữa bị bọn côn đồ làm lỡ việc thôi.
Anh bác sĩ trực thò đầu vào nhắc tôi, nói chuyện nhiều quá, người bệnh cần nghỉ ngơi. Nghe vậy, Quang Hanh bảo em cứ yên tâm về nghỉ đi, anh lên Hạ Long sớm cũng là muốn hỏi em một việc đấy.
Hai ngày sau anh mới được xuất viện, bác sĩ còn dặn dò nếu thấy có triệu chứng rức đầu, buồn nôn thì phải trở lại ngay.
Ra khỏi cổng bệnh viện, tôi cùng anh vào một quán bên đường. Tôi hỏi là không biết mấy thằng côn đồ ấy bị xử lý thế nào? Anh bảo, lần này chúng tù là cái chắc rồi. Mà em cũng nên rời đây sớm, biết đâu chúng còn đồng bọn sẽ tìm cách trả thù. Vậy thì anh cũng không nên ở đây nữa, tôi nói. Anh bảo, ngày mai sẽ lên Hà Nội thăm bạn gái đang ôn thi trên ấy. Nói rồi anh nhìn thẳng vào tôi hỏi:
- Anh hỏi thật: Diệu Thúy có đúng xuống đây là để đi du lịch không?
Tôi lúng túng cúi mặt, lát sau mới ngửng lên nhìn anh trả lời:
- Em đã nói trên xe rồi, em chưa biết Vịnh Hạ Long thật mà.
- Anh có nghi ngờ điều ấy đâu- Anh hỏi tiếp- Sao em đi có một mình?
Tôi cười:
- Có hai mình đâu mà chẳng đi một mình.
- Nói thật nhé- Anh nhìn vào mắt tôi nói- Không phải anh không tin phần nào lời tên đầu húi cua đã nói với công an hôm trước ở bến xe đâu. Em không việc gì phải giấu nữa. Em cứ coi anh như một người bạn có thể tin cậy được, biết đâu anh có thể giúp em việc gì. Từ hôm gặp em đến giờ anh cứ luôn tự hỏi là tại sao em lại làm việc ấy.
Tôi ngồi thừ hồi lâu. Hóa ra anh đã biết cả rồi. Sao anh bộ đội trẻ này giống ông giáo sư già kia thế, quan tâm đến tôi và đều nói không hiểu tại sao tôi lại đi làm điếm. Nhưng giờ đây tôi bỗng thấy anh là người gần gũi với tôi hơn, tin cậy hơn. Có lẽ do chúng tôi gần tuổi nhau, dễ nói chuyện với nhau, dễ cảm thông với nhau. Và giờ đây tôi muốn nói ra những ẩn ức lâu nay của mình trước khi rời khỏi chốn này. Trở về nhà hay tiếp tục lưu lạc nữa, tôi cũng chưa quyết định. Không hiểu sao lúc này tôi chợt liên tưởng đến chuyện vừa xảy ra trước ngày tôi xuống Hạ Long không lâu, nhiều người vẫn còn xôn xao bàn tán. Một cô gái giận người yêu đã phản bội mình, đi xe máy lên cầu, đến giữa cầu chỗ cao nhất, để xe máy đấy, rồi trèo lên thành cầu, buông mình xuống, nội tạng vỡ nát hết. Liệu tôi có đủ can đảm ngay sau đây, khi đã kể với anh hết mọi chuyện, thú nhận với anh mọi chuyện, tôi cũng sẽ lên chỗ cao nhất ấy của cây cầu ấy, nhẩy xuống để tự giải thoát khỏi nỗi nhục nhã đến cùng cực này…
3
Chủ tịch huyện P gọi điện hẹn buổi trưa gặp tôi ở quán Ngon. Tôi và anh ấy đã nhậu nhẹt ở đấy mấy lần, nhưng lần này Đằng bảo cần gặp ngay, có chuyện liên quan đến thầy đấy. Nửa tháng nay, mỗi cú điện thoại gọi đều làm tôi giật thót. Công an có thể đến điệu mình đi bất cứ lúc nào, cho dù Huy Tuấn đã trấn an, mọi chuyện đang được gỡ dần ra để đạt tới cái đích đình chỉ điều tra, không ai phải ra tòa, cùng lắm chỉ là nhắc nhở. Chắc hẳn Lưu Văn Đằng không thể không biết chuyện công an đến trường, song rõ ràng anh ta không vội vàng gặp tôi để tìm cách đối phó, mà ngồi chờ động tĩnh. Chỉ đến khi chiều qua Huy Tuấn đã đưa ông giáo sư là thầy của cậu ấy đến, vị chủ tịch huyện mới gọi điện hỏi tôi thêm một số điều về Bích Thuận, nay lại muốn gặp trực tiếp, không biết có việc gì?
Lưu Văn Đằng vốn là học sinh của tôi, hồi tôi còn dạy trường huyện. Có một kỷ niệm thầy trò cách đây đã ba mươi năm, mỗi lần gặp vị chủ tịch huyện này còn hay nhắc lại. Trưa hôm ấy, tôi họp trên Sở Giáo dục, từ thị xã đạp xe về trường, thấy một người dựa lưng vào một gốc cây bên rìa đường, mũ lá úp lên mặt, cái cặp sách vứt bên cạnh. Trò nào tan trường, đã quá trưa còn nằm ngủ vạ vật thế này? Tôi đến lay cậu ta dậy, bỏ mũ, thì ra là Đằng, học sinh lớp 10 A do tôi làm chủ nhiệm. Đằng ở lớp học giỏi toàn diện nên tôi rất có cảm tình. Cậu ngơ ngác mất một lúc mới nhận ra tôi, bật dậy chào, nói là em vừa ngồi nghỉ đã ngủ thiếp đi. Cậu thú thực: Chiều qua em được ăn có một bát cơm, sáng lưng bát ngô bung, đến trưa đói vã mồ hôi, em có bệnh hễ đói là người lả đi thầy ạ. Tiện trong cặp của tôi có cái bánh mì tẩm đường vừa mua ở thị xã, định mang về làm quà cho con chủ nhà tôi trọ, đưa Đằng, chỉ một loáng cậu đã ăn hết. Rồi cậu chạy ra chỗ máng nước đang chảy rỉ rả suốt ngày đêm bên đường, cụm tay làm đài uống liền mấy ngụm. Trở lại, cậu cười tươi bảo, khỏe rồi thầy ạ, Ngày đó vừa học được một học kỳ Đằng định nghỉ học, tôi đã đến tận nhà động viên cậu học tiếp mới thấy gia cảnh cậu quả là khó mọi bề. Ông bố Đằng là công nhân lái máy kéo của lâm trường mấy năm trước đã phải nghỉ “một cục” vì yếu sức khỏe, còn mẹ công nhân vườn ươm, lương ba cọc ba đồng. Đằng là con đầu, cậu bảo với tôi: Em phải đi làm mới có tiền cho hai đứa em gái học tiếp. Thật tiếc, Đằng thông minh, sáng dạ, cậu học vào loại nhất, nhì lớp. Rồi cũng cố được thêm học kỳ nữa, hết lớp mười cậu nghỉ hẳn, xin đi làm công nhân trồng rừng. Dẫu chưa có bằng phổ thông trung học, nhưng trong đội trồng rừng, Đằng thuộc loại có trình độ văn hóa cao nhất, sau được trên tín nhiệm chỉ định đội phó, rồi lên đội trưởng. Ngày đó cậu có sáng kiến chế ra cái cuốc đầu mỏ sắc nhọn đặc biệt chuyên để đào hố trồng cây trên đồi đá sỏi, được cử đi báo cáo trong hội nghị thi đua toàn tỉnh. Dịp ấy tôi cũng có những cải tiến trong đồ dùng dạy học, được thay mặt trường đến dự hội nghị. Thầy trò gặp nhau trước lúc khai mạc, tôi hỏi sáng kiến của em tính ra năng suất đạt bao nhiêu phần trăm? Đằng bảo: Gấp một lần rưỡi thôi, tức nếu hai người cùng đào trong cùng một đơn vị thời gian, bên dùng cuốc cũ được hai hố thì bên cải tiến được ba hố thầy ạ. Nhưng ông Giám đốc kiêm Bí thư Đảng uỷ lâm trường trước khi em đi đã chỉ đạo: năng suất thật như vậy chỉ đáng báo cáo ở cấp huyện, cấp tỉnh phải khác, phải ít nhất là tăng hai trăm năm mươi phần trăm. Rồi cậu chìa bản báo cáo hai trang đánh máy trước mặt tôi bảo: Thầy xem, em cũng phải vẽ vời trong này là tăng năng suất hai trăm năm mươi phần trăm, mà thấy áy náy lắm. Nói dối phải không thầy? Tôi còn lạ gì cái trò phô trương thành tích kiểu ấy, nửa đùa nửa thật bảo: Thi đua là có ít suýt ra nhiều cho đẹp mặt lãnh đạo ấy mà. Nghe tôi nói vậy, cậu học trò mười tám tuổi ấy mắt mở to nhìn tôi hỏi lại: Thật vậy à? Trên lớp thầy nào chẳng dạy trò phải thật thà, không được dối trá, nhưng cuộc đời nhiều khi lại dạy khác, có lẽ trong buổi đầu tự thân vận động, Đằng đã nhận thức được ngay cái bài học sát sườn từ nhưng điều cụ thể như thế. Và là người nhanh nhậy, tháo vát chắc hẳn từ đó cậu bắt đầu thay đổi, bắt đầu xử sự theo chiều hướng ngược lại để vừa lòng cấp trên, cũng là để thuận lợi cho bước đường tiến thân. Tôi lại chuyển sang trường khác, thầy trò ít có dịp gặp nhau thường xuyên như trước. Sau này khi tôi về trường thị xã thì qua Bích Hường con gái đầu của Đằng, tôi được biết cậu đã lên phó giám đốc rồi giám đốc lâm trường có trụ sở đóng ở huyện P. Ngay cả khi cậu đã đắc cử chủ tịch huyện, mỗi khi gặp lại, trước mặt quan khách vẫn gọi tôi là thầy xưng em rất cung kính. Một lần có hai thầy trò ngồi đánh chén với nhau, tửu nhập ngôn xuất, anh ta đã bộc bạch cả những điều lâu nay vẫn giữ kín trong lòng. Thầy ạ, hồi em còn làm lâm nghiệp, quanh năm chui rừng, chai tay cầm cuốc trồng cây phủ xanh đồi trọc, vất vả vậy mà vẫn đói, vẫn rách. Rừng dưới con mắt của nhiều người là miếng mồi béo bở, hễ sơ hở là họ gặm liền. Mình được phân công giữ rừng, khôi phục rừng, có một nhúm sao mà lại được với số đông bọn người lúc nào cũng nhăm nhe phá hoại ấy. Thử hỏi, nếu cứ nói đúng thực trạng sau mỗi năm diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp, thì cấp trên có để cho mình yên được không? Bởi thế rừng thật bị phá, rừng trồng mới trên giấy là chính, tỷ lệ cây sống bảo đảm tới chín tám phần trăm. Năm nào chả báo cáo lên trên là vượt mức kế hoạch trồng và bảo vệ rừng; độ che phủ rừng tăng hơn năm trước từ mười lăm đến hai mươi phần trăm. Khi đã là “đầu gà” rồi em mới càng thấm thía phải có nghệ thuật nói dối, nói dối y như nói thật. Vẫn biết mình trình độ phọt phẹt, làm đến giám đốc lâm trường là may lắm rồi. Nhưng em vẫn nuôi chí thoát khỏi ao tù ra biển lớn. Thầy ạ, em mạng tích lịch hỏa, tức lửa sấm chớp, bắt đầu con đường ra biển lớn cũng nhờ vào lửa đấy. Chả là hồi đó ông chủ tịch huyện đến tuổi hưu, hai phó đều dính phốt cả, ông có dấu hiệu tham ô công quỹ; ông đang lên giường với một cô nhân viên trong cơ quan bị chồng cô ta bắt gặp đã suýt xảy ra án mạng. Tổ chức nhòm vào đội ngũ kế cận để tìm người thay thế. Lần ấy có vị quan đầu tỉnh phụ trách tổ chức cán bộ như ông Huy Tuấn bây giờ đi thị sát tình hình, đến lâm trường. Em cũng vừa lên giám đốc. Biết ông này từng học ở Tây, thích sự làm ăn lớn, làm ăn bài bản mới nghĩ ra trò tổng diễn tập phòng chống cháy rừng. Bình thường thì làm gì có phương án phòng chống cháy rừng nào cụ thể đâu, vả lại cũng may suốt thời gian em làm phó giám đốc, giám đốc không xảy ra vụ cháy lớn nào. Chỉ trước khi ông xuống cơ sở một tuần, em đã bài binh bố trận đâu vào đấy. Mỗi đội trồng rừng lập một chốt phòng cháy chữa cháy, làm cái chòi cao để quan sát, phát hiện nơi có khói lửa, các chòi còn được trang bị hệ thống loa phóng thanh liên hoàn. Đoàn kiểm tra tỉnh đến. Toàn lâm trường tổ chức diễn tập, hội thao có đội dập lửa, đội làm đường cản lửa, đội cứu thương đưa người bị bỏng về tuyến sau, tất cả phối hợp nhịp nhàng thông qua hệ thống loa đài do em ngồi một chỗ phát hiệu lệnh. Cuộc diễn tập diễn ra chóng vánh, gay cấn y như thật trong vòng một giờ trước mắt vị quan tỉnh. Không chê vào đâu được. Vị lại đến thăm khu nhà tập thể của cán bộ công nhân viên lâm trường. Em bố trí đưa vào thăm mấy nhà đời sống khá nhất. Họ làm nghề rừng là phụ, đi buôn theo đường tiểu ngạch qua biên giới là chính, nên dư dả có của ăn của để. Cuối chuyến thị sát, vị quan tỉnh hài lòng chốt lại vấn đề: Các đồng chí có nhiều cố gắng trong sản xuất kinh doanh. Tác phong công nghiệp, làm ăn lớn. Điều này lý giải vì sao năm nào sản lượng, năng suất cũng tăng cao, đời sống cán bộ công nhân viên được cải thiện rõ rệt. Trước khi đoàn về em còn kính biếu sếp món quà cây nhà lá vườn: mấy lít mật ong rừng, một bình rượu rắn hổ mang chúa và một bộ gạc sừng hươu. Vị mới hỏi về nhân thân của giám đốc, cậu cán bộ tháp tùng vốn là em họ em, đã được mớm lời từ trước, liền báo cáo: Đồng chí đó còn trẻ, thành phần xuất thân công nhân, từ trình độ bổ túc cấp ba, kiên trì học hàm thụ, năm rồi tốt nghiệp đã có bằng kỹ sư lâm ngiệp. Vậy là so vào tiêu chuẩn cán bộ, đưa ra thường vụ xét đủ cả, còn ai xứng đáng hơn em ngồi vào ghế chủ tịch huyện.
Cũng phải thừa nhận, chủ tịch huyện họ Lưu là tay dám nghĩ dám làm, nhiều tài lẻ, biết cách khuấy động phong trào. Hồi còn ở lâm trường anh đã thuê đạo diễn của đoàn văn công tỉnh về dàn dựng các tiết mục công phu, đặc sắc hễ lần nào đi hội diễn toàn ngành đều đoạt huy chương vàng chứ không chịu bạc hay đồng. Đến khi về huyện, anh vẫn quan tâm đến bề nổi, lập ra đội văn nghệ quần chúng, đội bóng đá, bóng chuyền biểu diễn, thi đấu liên tục vào các dịp lễ tết, các ngày kỷ niệm lớn năm chẵn. Uy tín của anh với cấp trên cao hơn bao giờ hết. Cũng từ khi “ra biển lớn”, Lưu Văn Đằng đã thực sự đổi đời, nhà tít trong rừng sâu thuộc đất lâm trường bán đi, chuyển ra thị trấn. Thị trấn được quy hoạch lại, khu đất cán bộ đầu ngành bên Đảng, bên chính quyền đều được bố trí vuông vắn như ô bàn cờ, mỗi suất cả nghìn mét vuông có nhà có vườn ngay bên quốc lộ. Có quyền ký cấp đất, anh gia ơn cho nhiều người trong huyện, còn có những suất đất ngoại giao đối với cán bộ tỉnh, thậm chí cả ở Trung ương, vây cánh, ê kíp của anh lại càng mạnh (Với tôi, anh bảo em quên sao được “bát cơm siếu mẫu” của thầy, đã cấp cho gia đình tôi một mảnh đất khá đẹp). Suất tình nghĩa như của tôi không phải quà cáp gì nhiều, chứ riêng vụ quy hoạch lại, cấp đất cho cán bộ công nhân viên, người ký sổ đỏ là anh đã ăn đủ. Cũng có nhiều xì xào bàn tán. Anh ta làm gì mà mới một nhiệm kỳ chủ tịch đã xây được nhà bốn tầng, đủ tiền cho con đi du học, hai đứa em vừa ra trường đều đã vào biên chế nhà nước. Nghe nói anh ta đã mua nhà sẵn trên Hà Nội, chờ khi nghỉ hưu là cả nhà chuyển hẳn lên đó. Dư luận vẫn chỉ là dư luận. Cũng có thanh, kiểm tra hàng năm, nhưng rồi mọi chuyện vẫn êm ru.
Tôi còn thích cái tính vui vẻ, chơi tới bến của anh. Từ lâu tôi đã biết vợ chồng anh có trục trặc. Anh cưới vợ rất chóng vánh. Hồi ấy anh là đội trưởng, chị mới xin làm công nhân trồng rừng. Chị vốn người Bắc Ninh, theo gia đình lên miền núi khai hoang. Do có giọng hát trời phú, nên khi vừa biên chế vào đội trồng rừng của anh, chị đã được bổ sung ngay vào đội văn nghệ lâm trường do anh kiêm đội trưởng. Lần gặp anh tôi hỏi: Bao giờ cho thầy ăn cỗ đấy? Anh ta cười bảo, thầy thiêng thật, em đang định lên thầy đưa thiếp thì gặp thầy ở đây rồi. Nói xong anh rút trong cặp ra tệp thiếp, lấy một cái đưa tôi. Anh bảo: Báo cáo thầy, cô ấy là quân của em, mỏng mày hay hạt, một liền chị chính hiệu, chất giọng đủ tiêu chuẩn vang, rền, nền, nẩy thầy ạ. Thầy thông cảm, em mạng tích lịch hỏa làm gì cũng nhanh, cô ấy mới xin vào đội em được ba tháng nay thôi đấy ạ. Hôm cưới, có cậu ngồi cạnh ghé tai tôi nói nhỏ: Thầy xem cái bụng cô dâu lùm lùm rồi kìa, cô nào có máu mặt đều được đội trưởng nhà em “kiểm tra” tất. Tay ấy sát gái ra phết đấy. Nhưng mạt cưa mướp đắng thầy ạ, cô dâu nom mặt hiền khô vậy mà cũng chẳng vừa, rất biết cách không cho chú rể bỏ của chạy lấy người. Phải cưới. Tôi thầm nghĩ, cậu học trò của mình vốn thật thà như đếm, lại nhút nhát đến cầm tay con gái cũng chẳng dám, vào đời chưa lâu giờ đã thành tinh rồi! Quả nhiên, chỉ sau nửa năm cậu đã có con, mà đứa trẻ lọt lòng nặng tới ba cân rưỡi, cứng cáp, già dặn chứ không phải đẻ non(!) Nhưng thói đời hễ lấy nhau dễ thì sống với nhau khó chăng? Người ở khu tập thể lâm trường ai cũng bảo nhà anh đội trưởng luôn thấy ồn ào như mổ bò, mà về sau khi đã có con đầu lòng rồi họ cũng chẳng kiêng dè ý tứ gì với người ngoài nữa. Có lần nghe tiếng huỳnh hụych, loảng xoảng trong nhà, sáng ra thấy bên mắt chị thâm tím, mặt anh nhiều vết cào xước, ai cũng ngầm hiểu chiến sự vừa diễn ra đêm qua. Anh không cần che giấu, chỉ vào mặt mình bảo: Nó cào cắn tôi đấy. Ả cũng đứng đấy không ngần ngại lên tiếng: May mà quả đấm của ông đội trưởng bị trệch không thì tôi lòi mắt rồi. Rõ là tại anh tại ả, tại cả đôi đàng! Bên đoàn thanh niên (hồi ấy anh chưa được kết nạp Đảng) đem ra kiểm điểm về việc gia đình không thuận hòa, ảnh hưởng đến phong trào chung, vừa được trên công nhận là “khu tập thể văn hóa mới”. Được cái anh, ả đều rất cầu thị, xin hứa sẽ sửa chữa ngay, sửa chữa triệt để. Từ đó không nghe thấy to tiếng trong nhà, không huỳnh huỵch, loảng xoảng, song thỉnh thoảng vẫn thấy bên mắt, gò má hai người thâm tím, cào xước. Ai có hỏi ả cười xòa bảo, vô ý đi vào rừng trồng cây va vào cái cành bên đường nên bị đọng máu ấy mà. Anh cũng tài diễn: Gớm, cái giống gai bụi cây xấu hổ kinh khủng khiếp, hễ chặt dọn lấy mặt bằng là thể nào cũng không tránh khỏi bị cào rách da. Mọi người nghe anh, ả phân bua vậy đều quay mặt đi cười tủm, không bình luận gì thêm. Được cái công tác anh vẫn tích cực, phong trào văn hóa văn nghệ vẫn tham gia nhiệt tình, lại tích cực sửa chữa khuyết điểm đôi khi thiếu kiềm chế đã chót thượng cẳng tay hạ cẳng chân với vợ, rồi anh cũng được Đảng uỷ lâm trường chuẩn y kết nạp. Chẳng bao lâu anh lên phó giám đốc. Việc đầu tiên ở chức vụ mới, là xin cho vợ đi học hệ hàm thụ trường Sư phạm bẩy cộng một của tỉnh, chuyển hẳn sang nghề giáo. Gặp tôi anh bảo: Thầy ạ, vợ chồng cùng đơn vị thất sách lắm, trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã tường. Tôi hỏi: Cô ấy chuyển, việc nhà êm rồi chứ? Anh cười xoà: Em theo lời dạy của các cụ, tránh voi chẳng xấu mặt nào thầy ạ. Em với cô ấy coi như ly thân. Nhưng tuyệt nhiên không ly dị, ly dị mình hết nặng nợ với vợ, nhưng con lại khổ, không
đành lòng.
Lưu Văn Đằng có lần đi công tác qua trường tạt vào thăm tôi, chuyện đến lúc nở như ngô rang, anh bảo: Thầy đúng là mô phạm, nghiêm chỉnh quá. Cũng có lúc phải phá giới chứ. Ngày đó tôi còn nghiêm chỉnh thật, nửa đùa nửa thật mà bảo với trò rằng: Thầy già rồi, đúng như câu các cụ dạy, cơm nhà “lờ” vợ thôi , bì thế nào được với lớp trẻ các cậu. Anh cười cười, giọng tỉnh queo: Nhưng mà cũng có lúc thầy nên ăn một bát phở cho lạ miệng chứ, cơm nhà mãi cũng chán đấy ạ. Đến sau này tôi đã quen với việc “ăn phở”, gặp Đằng (lúc đó anh đã lên giám đốc, rục rịch chuyển về huyện) bảo thẳng: Giờ thì thầy nghe lời cậu, thỉnh thoảng cũng muốn xơi bát phở đấy, có biết phở nơi nào ngon không? Đằng cười ranh mãnh hỏi: Phở gia truyền Nam Định được không ạ? Tốt quá! Mà đúng quê cô ta Nam Định thật, còn quá trẻ, chớm vào tuổi mười tám, mới được tuyển dụng vào làm tạp dịch ở văn phòng lâm trường. Phở ngon quá, giá lại rẻ! Từ đó thỉnh thoảng thầy trò gặp nhau, khi thì trò đãi thầy, khi thầy đãi lại. Vui vẻ. Kín đáo. Mãn nguyện.
Trưa. Đúng hẹn tôi đến quán Ngon. Đã thấy Lưu Văn Đằng đang ngồi chờ tôi với một người cũng trạc tuổi anh ấy. Người ấy đứng lên bắt tay, hỏi: Thầy còn nhớ em không ạ? Tôi nhìn anh ta cười, lắc đầu bảo anh thông cảm không thể nhớ hết mặt được mặt hàng ngàn học trò. Đằng giới thiệu ngay:
- Đây là anh Tất Bình, thiếu tá, phó trưởng phòng cảnh sát điều tra công an tỉnh, học cùng trường huyện với em, học trò của thầy hơn ba mươi năm về trước.
Cậu học trò cũ nhìn tôi với ánh mắt đầy thiện chí. Tôi bỗng thấy phấn chấn trong lòng. Đằng khoát tay ra hiệu cho chủ quán, chỉ một loáng nhà hàng đã bê ra các món đầy bàn, có cả một két bia “Ken”. Ba cốc bia trào bọt, khổ chủ yêu cầu chạm, trăm phần trăm! Rồi anh rót tiếp, nhanh tay gắp đầy thức nhắm vào bát của tôi. Tất Bình nhìn tôi cười mủm mỉm, lên tiếng trước:
- Thầy ạ. Hôm rồi anh Huy Tuấn đã gặp bên em. Hôm nay thì anh Đằng đã nói trước, chuyện của thầy không có gì phải lo đâu ạ, thầy cứ yên tâm. Giờ em cạn cốc này với thầy là sau bao nhiêu năm mới được gặp lại.
Tôi càng hưng phấn hơn bao giờ hết một hơi hết vại bia. Lia lưỡi một vòng quét hết bọt dính quanh mép, tôi gặng lại Tất Bình:
- Xong mọi chuyện chứ?
- Vâng ạ. Tất Bình gật.
- Cả chuyện của con bé Bích Thuận?
- À, chuyện này thì cũng có chút dích dắc đấy- Tất Bình nói - Chỉ cô ta bị quy về tội môi giới mại dâm thôi ạ. Người khác vô can.
- Tôi sợ thế không ổn- Tôi nói- Cô ta sẽ tố ra nhiều chuyện lôi thôi. Cũng cần cho cô ta thoát tội để hòa cả
làng chứ.
- Lúc đầu cũng định thế- Tất Bình nói- Nhưng vụ án đã khởi tố hình sự, thầy biết đấy, đã điều tra rồi, cô ấy khai ra một số người rồi. Vấn đề là bây giờ làm cho cô ta thông, nhận hết…
- Sao cô ta chịu thế.
- Nhưng vẫn có cách thầy ạ. Hứa với cô là cứ chịu nhận đi sẽ vận dụng khung hình phạt thấp nhất, chỉ cảnh cáo trước tòa, hoặc cùng lắm án treo một năm, thử thách hai năm.
- Liệu nó có chịu vậy không?
Đến đây Đằng nói chen vào:
- Đã có dậm dạp trong lần hỏi cung trước rồi thầy ạ. Lần tới sẽ nói rõ hơn để nó nhận hết. Thôi, thầy yên tâm đi, đã có bọn học trò chúng em lo. Nào, cạn tiếp. Mời thầy!