Mưa vẫn rơi suốt từ sáng, chẳng có dấu hiệu tạnh. Nghe nói luồng khí lạnh mang cơn mưa này đến đã vượt qua eo biển Dover để tới tận nước Anh. Hiện mưa đang giăng kín cả châu Âu lục địa. Hiện tượng đó đã trở thành chủ đề trời ban cho những người già thích nói chuyện thời tiết ở thành phố này. Thế nào hôm nay tôi cũng sẽ bắt gặp đâu đó trên phố hình ảnh họ vừa nhìn bầu trời vừa nói chuyện cho đến khi mặt trời lặn.
Bước xuống khỏi giường và mở cửa sổ, tôi trông thấy mặt sông Arno màu xanh đen khi mức nước dâng cao. Không còn dòng chảy êm đềm, hòa nhã màu xanh sẫm thường ngày. Mưa rơi xuống khắp mặt sông làm thành những vòng tròn nước.
“Vẫn mưa hả anh?”
Tôi ngoảnh lại và bắt gặp đôi mắt mở to của Memi. Cả nàng và tôi đều đang trần trụi. Đêm qua chúng tôi làm tình rồi cứ thế ngủ.
“Ừ, chắc còn mưa lâu.”
Memi nhổm nửa người dậy, lẩm bẩm “Ghét thật.”
“Thành phố này không hợp với mưa. Trời nên mưa ở Milano.”
Bò ra tới chỗ tôi, nàng ôm lấy tôi từ phía sau. Tôi cảm nhận được lọn tóc cứng của nàng giữa lưng tôi và bầu ngực căng phồng ấy. Hình như nàng thừa hưởng mái tóc xoăn màu đen từ mẹ. Cả đôi mắt to màu nâu và chiếc mũi cao vút của nàng cũng khác với khuôn mặt Á Đông của tôi. Ai nhìn thế nào cũng thấy nàng có khuôn mặt của người Ý.
“Em ghét tháng Năm.”
Memi nghịch dái tai tôi bằng những đầu ngón tay. Tháng Năm trong tiếng Ý gọi là gì nhỉ. Nàng áp môi mình vào tai tôi thì thầm.
“Maggio.”
“Đúng rồi, là maggio.”
Memi tuy thừa hưởng dòng máu Ý nhưng hoàn toàn không nói được tiếng Ý. Nàng luôn cảm thấy khó chịu về ông bố người Ý đã chia tay với mẹ nàng từ khi nàng còn nhỏ. Mỗi khi tôi định hỏi về bố nàng, nàng liền nổi cáu.
Nàng nói rằng việc nàng tạm nghỉ ở trường đại học để qua Ý là do nàng thấy sẽ quá muộn nếu để sau khi đi làm mới biết về một nửa cội nguồn của mình. Tuy vậy, tôi ngờ rằng nàng làm thế chỉ vì tò mò về ông bố thôi.
“Tiếng Ý của Memi chắc mãi mãi không khá lên được mất. Đến cả tháng Năm là gì mà cũng không biết kìa. Rõ là em chẳng thực tâm muốn học.”
“Gì chứ, ai chẳng có lúc đãng trí.”
“Thế à? Em hầu như không đến trường, toàn đi mua sắm như những khách du lịch người Nhật khác.”
Memi trói hai tay tôi từ phía sau. Tôi bất giác bật cười ngoảnh lại, còn nàng chu môi lên với tôi.
“Không sao. Ngôn ngữ chẳng quan trọng. Chỉ cần nhìn thấy đất nước này là đủ rồi.”
Memi nhìn tôi bằng đôi mắt nũng nịu. Con ngươi màu nâu ẩn sau mái tóc đang hiện lên hình ảnh tôi. Tôi hôn lên mắt trái nàng không chút lưỡng lự. Mắt phải của nàng là hai mí, còn mắt trái là một mí. Tôi thì thích con mắt trái mà nàng ghét.
“Nếu muốn gặp bố thì em nên đến Milano ngay từ đầu.”
Tôi khiêu khích. Môi Memi lại dẩu ra thêm.
“Làm gì có chuyện em muốn gặp người đã vứt bỏ mình chứ. Em chỉ muốn xác nhận xem Ý rốt cuộc là đất nước như thế nào thôi. Khi nào xác nhận xong em sẽ quay về Nhật.”
“Bao giờ em mới xác nhận xong nhỉ.”
“Ừ thì chắc còn tùy thuộc vào Junsei.”
Sau khi nhìn nhau một lúc lâu, chẳng biết ai đã bắt đầu nhưng chúng tôi mỉm cười với nhau.
“Tùy vào anh ấy à.”
“Đúng rồi, nếu anh cần thì em sẽ vì anh mà ở lại đây thêm chút nữa.”
Nàng không cười nữa.
“Đất nước này giờ không còn quan trọng nữa. Vừa đến là em đã thấy ghét luôn rồi. Vừa khép kín, vừa ồn ào, người ta chỉ cần biết em không nói được tiếng Ý là lập tức trở nên lạnh lùng ngay. Tụi thanh niên thì hoàn toàn chẳng biết gì về bên ngoài. Người phương Đông bị đánh đồng hết, tất cả chỉ là người phương Đông thôi, anh thấy có tức không? Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc tất cả đều như nhau. Thật đúng là kém hiểu biết.”
Tôi vừa nghiêng đầu theo kiểu “có đúng vậy không nhỉ” thì nàng đã cao giọng: “Đấy, rõ là thế còn gì.”
“Cô Giovanna thì không thế.” Cố tình muốn nàng ghen nên tôi đã thử nói ra tên cô. Memi không biết việc cô vẽ cơ thể trần của tôi, nhưng hình như trực giác của phụ nữ đã khiến Memi cảnh giác với cô giáo mà nàng chưa gặp bao giờ.
“Chỉ khoác mác trí thức thôi.”
Nàng phản ứng ngay, nhất định không chịu thua. Tôi nhẹ nhàng ôm lấy nàng. Nhịp đập tim nàng truyền qua ngực tôi. Tôi cười thầm vì Memi thật giống tính cách tôi ngày xưa, tự mình bị kích động, rồi lại tự mình không hiểu vì sao.
Tôi sinh ra và lớn lên ở New York, đến năm mười tám tuổi hầu như vẫn không biết gì về Nhật Bản. Những gì tôi biết cho đến lúc đó đều qua ông nội tên là Agata Seiji.
Ông là người thân duy nhất lo lắng cho tôi, đứa trẻ lớn lên ở New York. Seiga - bố tôi - thì bận bịu chuyện công việc và gái trẻ, khiến cho thằng nhóc không mẹ là tôi bị bỏ rơi.
Ông tôi gửi không biết bao nhiêu lá thư từ Tokyo, nhất mực khuyên răn tôi không được quên tiếng Nhật. Với một thằng bé luôn nghĩ mình đang bị người xung quanh hắt hủi như tôi, lời khuyên của ông lại là niềm vui. Tôi học chuyên ngành văn học Nhật Bản ở trường đại học cũng là nhờ lời khuyên ấy.
Tôi và Memi trái ngược hẳn với nhau.
Memi ở Nhật luôn bị cho là người nước ngoài bởi ngoại hình nổi bật. Khi biết nàng không nói được tiếng Ý cũng chẳng nói được tiếng Anh, đám bạn nàng liền nhất loạt cho rằng thế thì thật kỳ dị. Bệnh dị ứng với ngoại ngữ của nàng bắt nguồn từ một tuổi thơ như vậy.
“Hôm nay là ngày mấy nhỉ?”
Tôi vừa đóng cửa sổ vừa hỏi. Memi hôn lưng tôi rồi đáp: “Ngày hai mươi lăm.”
Hai mươi lăm à, tôi lẩm bẩm, nhớ về tháng Năm của Tokyo.
Tôi thích tháng Năm của Tokyo. Tháng Năm với màu lá mới đầy ắp các hàng cây khiến tôi thích thú hơn tháng Ba hay tháng Tư - khi hoa mơ và hoa anh đào nở rộ.
Hơi thở tươi mát của hàng cây tháng Năm lan tỏa khắp thành phố vô vị đâu đâu cũng giống nhau ấy, lại là thứ màu xanh cứu cánh cho cuộc sống của một kẻ ngoại lai ở Tokyo nhiều hơn bất cứ điều gì khác.
Tháng Năm cũng là khoảng thời gian cuộc sống chậm lại sau những bận rộn của mùa khai trường, người ta lấy lại được sự điềm tĩnh để ngó nghiêng Tokyo. Khắc sâu trong tâm trí tôi là ý nghĩ: Tokyo là thành phố mãi mãi không thể yêu nhưng riêng tháng Năm thì rất đặc biệt.
Từ căn hộ cũ đi thuê ở Tokyo của tôi có thể thấy rõ màu lá xanh ở công viên Hanegi. Đây là nơi làm việc trước kia của ông tôi, tòa nhà tuy cũ nhưng trần nhà cao theo đúng kiểu công sở nên cảm giác rất thoải mái. Căn phòng trong cùng trở thành một nơi giống nhà kho, chất đầy như núi những tác phẩm từ cũ đến mới của ông.
Ban đầu, khi tôi vừa đến Tokyo, ông thuyết phục tôi sống tại nhà ông ở Mitaka với lý do tôi chưa quen với thành phố này nên nguy hiểm. Tuy nhiên kẻ ghét sự bó buộc như tôi đã từ chối. “Nếu vậy thì ông có một xưởng vẽ giờ không dùng nữa, cháu có thể ở đó.” Ông muốn chăm lo cho tôi nên dứt khoát bắt tôi sống tại căn hộ ở Umegaoka.
Đối với thằng bé lớn lên giữa những ngôi nhà chọc trời như tôi, chính khu dân cư yên tĩnh dọc tuyến tàu Odakyu ấy mới là cuộc gặp gỡ đầu tiên với Tokyo.
* * *
Đôi khi, tôi giấu ông, lén lôi các tác phẩm ngày xưa ra bình phẩm. Loạt tranh tôi thích nhất là những bức tranh khắc gỗ ông vẽ khi lang thang ở miền Trung Nam Mỹ. Khi tìm ra những tác phẩm ấy, tôi đã không khỏi ngạc nhiên.
Một loạt các tác phẩm cho thấy sự ảnh hưởng của nghệ thuật đại chúng thập niên sáu mươi: họa sĩ không vẽ cả khu phố mà chỉ nhặt trong không gian ấy những ngôi nhà có niên đại, những bức tường đổ hay biển chỉ đường để vẽ. Hiện thực chi tiết được vẽ trong thế giới trừu tượng tạo ra vẻ chân thực khó tả. Hơn thế nữa, với tôi, chúng còn thể hiện sự tuyệt vời của chuyến đi và khả năng tưởng tượng của con người.
Trong những bức thư gửi tôi ngày trước, ông viết rằng mình bị kích thích mạnh mẽ bởi nền văn minh Maya cổ đại nên đã lang thang khắp vùng đất ấy. Vừa chạm vào những tác phẩm có hồn sống được kích thích từ sức mạnh nguyên thủy ấy, tôi vừa tưởng tượng đến tương lai của mình trong căn hộ ở Umegaoka. Mơ ước trong tôi không ngừng lớn lên, về một ngày nào đó tôi cũng được du hành qua quá khứ của loài người.
Sau bữa sáng kiêm luôn bữa trưa, Memi lại trở về căn hộ ở bờ sông Arno, còn tôi đến xưởng phục chế.
Xưởng nằm bên cầu Vecchio cách căn hộ của tôi tầm năm phút đi bộ. Bên cạnh cổng đá lớn có một cánh cửa nhỏ dẫn đến nơi làm việc, bước qua cánh cổng sẽ đến một cái sân hẹp chừng ba mươi ba mét vuông. Trong không gian bao quanh bởi tường đá đó có những chậu cây xếp thành hàng rất xinh xắn. Lối vào xưởng nằm ở cuối sân. Tôi dựa cái ô vào cánh cửa gỗ màu anh đào chín đã trải qua bao thời gian rồi bước vào phía trong.
Lần đầu tới đây, tôi đã ngỡ ngàng trước những pho tượng điêu khắc và những bức tranh sơn dầu thời Trung cổ đặt trong phòng.
Những tác phẩm lịch sử bị vứt bừa bãi, lộn xộn như bị loại, chồng lên thành đống. Lúc đầu, tôi nghĩ chắc chúng dùng để luyện tập, nhưng không phải vậy. Tất cả đều là đồ thật.
“Ở đây, bản thân thành phố là Trung cổ rồi nên không có gì phải ngạc nhiên đâu.” Cô giáo vỗ vai tôi mỉm cười. Từ đó đến nay đã ba năm trôi qua, tôi cũng đã có trong tay vài chứng chỉ ngành phục chế. Trong số những bức tranh sơn dầu, tranh màu keo nhiều năm tuổi được mang tới xưởng, nhiều bức đặc biệt khó đã được giao cho tôi. Có lần, khi chỉ có hai người, Giovanna nói tôi là người mà cô tin tưởng nhất. Tôi vẫn luôn tin vào điều đó.
Cô đã từng hướng dẫn rất cặn kẽ cho mấy học viên trẻ ở trường phục chế gần đó đến thăm xưởng, phải sửa chữa thế nào các chỗ bong tróc, xuống cấp của vải hoặc tấm ván được gọi là mặt nền.
Chiếc sơ mi màu hồng nhạt là chiếc áo cô yêu thích, nó cũng rất hợp với cô. Phần dây xích đeo kính bằng vàng chùng xuống, rủ trên áo sơ mi.
Cô thoáng liếc nhìn tôi, mỉm cười thật nhanh rồi lại trở về nét mặt trang nghiêm lúc đầu. Tôi đi tới chỗ dành cho công tác phục chế ở góc trong cùng.
Takanashi Akira, gã sinh viên người Nhật tới xưởng này theo diện học bổng chính phủ đang bắt đầu công việc làm sạch tranh. Takanashi năm nay ba mươi hai tuổi, hơn tôi những năm tuổi. Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ ngành phục chế của Đại học Nghệ thuật Tokyo, hắn làm việc tại Viện Nghiên cứu phục chế của Nhật Bản, sau đó được Cục Văn hóa cử sang đây để hoàn thiện hơn về kỹ thuật chuyên môn.
“Mưa quá nhỉ.”
Takanashi nói, chẳng ngừng tay lau chùi.
“Không khí ẩm không có lợi cho công việc phục chế.”
Hắn tiến hành lau chùi bằng cách di chuyển cây tăm bông một cách tỉ mỉ. Tuy nét mặt hắn bình tĩnh và điềm nhiên, nhưng tôi biết ngón tay hắn đang khẽ run. Tôi cởi áo khoác, chui đầu qua áo bảo hộ rồi ngồi xuống cạnh Takanashi.
“Ở một đất nước độ ẩm cao như Nhật thì công việc phục chế rất vất vả. Ở đây khô nên có thể hòa giấm vào keo, nhưng nếu ở Nhật mà làm thế thì kiểu gì chỗ đó cũng mốc trước tiên.”
Hắn lẩm bẩm như thể độc thoại rồi cười một mình.
“Về cơ bản thì phương pháp khác với ở Nhật.”
“Khác thế nào cơ?”
Thấy tôi hỏi, Takanashi đáp “Ừ” rồi gật đầu mạnh. Câu trả lời hắn đưa ra sau đó hùng hồn như thể đã chờ có người hỏi từ lâu.
“Chỉ là một ví dụ thôi nhưng ở Nhật, việc phục chế sao cho vẻ bề ngoài gần giống với bản gốc rất được coi trọng.”
“Ra là vậy.” Tôi lịch sự đáp lại.
Ở Ý cần tô màu để không cảm nhận được sự khác biệt khi nhìn xa cũng giống ở Nhật, nhưng khi nhìn kỹ ở khoảng cách gần, bắt buộc phải để người xem biết rằng tranh đã được phục chế.
“Tiền đề cho việc phục chế ở đất nước này là giá trị văn hóa của tác phẩm càng cao thì càng phải làm cho ai cũng thấy rằng chỗ nào đã được phục chế. Chẳng phải vậy còn gì?”
Takanashi nói rồi bổ sung thêm rằng hắn không bảo cách làm của Ý là sai, hắn chỉ muốn nói mỗi nước lại có cách suy nghĩ khác nhau nhưng tôi nghe như thể hắn đang cố khẳng định với tôi điều đó.
Tôi bắt tay vào công việc. Không có kiến thức chuyên môn ở bậc cao học như Takanashi, tôi là kẻ được mài giũa qua thực hành.
“Cậu giỏi thật đấy. Đây là xưởng phục chế hàng đầu ở Firenze, vậy mà cậu vào được trong khi không có hỗ trợ của nhà nước. Cậu cũng không học về phục chế ở đại học đúng không?”
Tôi ậm ừ rồi nhấc tác phẩm lên kiểm tra từng góc. Tôi đang làm một tác phẩm thời kỳ đầu của Botticelli. Bức tranh thuộc một bộ sưu tập cá nhân nhưng mỗi khi nghĩ đến giá của nó, tay tôi liền cứng lại nên lúc phục chế, tôi luôn tự nhủ đó chỉ là một bức tranh cũ.
“Ở đại học cậu học khoa gì?”
“Khoa văn học Nhật.”
“Chuyên ngành gì.”
“Mấy thể loại như Sơn gia tập[1].”
“Sơn gia tập à?” Takanashi cười. “Một thằng cả đời đi đúng một con đường như tôi mà chẳng ăn thua gì so với cậu tự cố gắng, chán thật đấy.”
Và tôi đã hiểu ra cái gai góc trong cách nói chuyện của Takanashi. Chắc chắn hắn nghĩ tôi xấc xược vì ít tuổi hơn mà nói năng chẳng dùng kính ngữ. Ngoài công việc, tôi không bao giờ nói chuyện với hắn. Thành phố này nhỏ nên thường người ta mong có sự kết nối từ những người Nhật không quen khác, nhưng ngoài Memi ra, tôi cố gắng tránh liên hệ quá nhiều với người Nhật.
“Chỉ tôi xem cậu dùng ngón nghề nào mà vào được đây thế?”
“Ngón nghề nào là sao?”
“Ngủ với cô giáo chẳng hạn.”
Tôi tròn mắt quay lại nhìn Takanashi. Chỉ một bên má Takanashi nhếch lên cười.
Angelo bước vào, thông báo cho chúng tôi bằng tiếng Ý rằng mưa đã to hơn. Vừa cởi bộ đồ ướt ra, cậu ta vừa nhấn mạnh thêm rằng hiếm khi thấy cả sấm như lần này.
Angelo là một thanh niên cao, da trắng, gương mặt vẫn còn trẻ con. Cậu ta nở nụ cười ngây thơ. Chiếc áo sơ mi cotton trắng muốt ướt sũng nước, dính chặt vào cơ thể gầy gò. Takanashi tránh không nhìn, bảo Angelo bằng thứ tiếng Ý bập bõm nên thay đồ kẻo bị cảm. Angelo ngoan ngoãn nghe theo như một cậu em út, phô bày làn da trắng trước mặt mọi người.
Xong việc, được cô giáo gọi, tôi đi lên xưởng trên phòng áp mái. Cả Takanashi và Angelo đều vẫn đang làm việc. Lúc ra khỏi phòng, tôi có quay lại nhìn Takanashi nhưng hắn đã quên sự khiêu khích ban nãy, đang lặng lẽ đối diện với tác phẩm.
Tôi vừa leo vừa quay lại nhìn cầu thang hẹp. Cầu thang được thiết kế càng lên cao càng nhỏ lại, cuối cầu thang là phòng của cô.
Việc tôi làm mẫu tranh cho cô đã bắt đầu từ khoảng một năm trước. Một hôm, sau khi xong việc, tôi được cô gọi và hỏi chuyện làm mẫu. Tôi đáp “cứ để em làm” mà chẳng hề do dự, từ đó đến nay đã có năm bức vẽ tôi được hoàn thành.
Tôi không còn thấy ngại khi cởi đồ trước mặt cô nữa. Tôi từng lo phải chăng một kẻ không có mẹ như tôi đang có tình cảm đặc biệt với cô, nhưng hóa ra đó chỉ là lo thừa. Mối quan hệ giữa chúng tôi cực kỳ lạnh. Tôi tin tưởng cô, tôi thấy mình được cô vẽ là niềm vui không gì có thể so sánh. Cô chỉ yên lặng vẽ thân thể trần trụi của tôi với nét mặt không hề thay đổi so với bình thường, tôi cũng không kỳ vọng gì hơn.
Khi làm mẫu, tôi hay nghĩ tới mẹ. Nghĩ xem người đã sinh ra mình là một người thế nào. Nghĩ về người mẹ đáng thương đã chọn cái chết ngay khi tôi vừa được sinh ra. Về trái tim tan nát của bà khi phải bỏ tôi lại mà chết.
Có lúc tôi chợt nghĩ, liệu mẹ có giống như Giovanna không? Tôi có căn cứ để đoán như vậy. Bố có vẻ không thích nói về mẹ, nhưng có lần ông nội tiết lộ rằng mẹ là họa sĩ. Chỉ vỏn vẹn một, hai dòng trong một bức thư của ông. Ông bảo mẹ không phải là một họa sĩ tài năng nhưng có phong cách kỳ lạ. Điểm hay của phong cách đó là không cố sắp đặt tổng thể.
“Cậu thử biến thành quả trứng đi.”
Cô ra một yêu cầu mới. Tôi cuộn tròn lại dưới ánh sáng của bầu trời mưa dông lọt qua cửa sổ mái hình vuông nhỏ.
Cô đang ở vị trí mà tôi có thể nghe thấy cả hơi thở, nhưng vì là người mẫu, tôi hầu như chỉ nhìn vào tường hay cột nhà nên không biết đến dáng cô ngồi khi vẽ. Mối quan hệ giữa hai người lúc đó có thể gọi là trạng thái gắn kết điềm tĩnh. Tôi cảm nhận được sự bình yên ở đó.
“Thế này được chưa ạ?”
Tôi leo lên cái bục mọi khi, vòng tay ra phía trước, cuộn tròn cơ thể, kẹp đầu vào giữa hai gối. Mông tôi xoay về phía cô.
“Được rồi đấy, cứ tưởng tượng rằng mình sắp được sinh ra.”
Cô nói rồi khẽ cười. Ngoài lúc vẽ mặt ra thì tôi được phép nói chuyện.
“Giovanna, mọi người đang đồn đại về cô và em đấy.”
Bằng chất giọng trầm, cô gạt đi lời đồn đoán với vẻ khó chịu:
“Họ đồn gì về tôi và Junsei chứ?”
Nhận ra cô đang nói với mình rằng “chúng ta trong sạch”, tôi nghẹn lời.
“Rốt cuộc thì việc tôi vẽ cơ thể Junsei có thể thành tin đồn gì đây?”
Cách nói của cô có chút sắc thái khước từ cả tôi. Dù đang úp mặt vào đầu gối, mặt tôi vẫn đỏ bừng lên. Tôi hối hận vì nói ra một điều vớ vẩn, tạo thành một bức màn mỏng giữa tôi và cô.
“Mấy điều chán ngắt ấy mà cô.”
Tôi vội vàng phủ định tất cả, tự nhủ rằng những điều như thế chẳng có gì quan trọng. Cô mỉm cười nói thêm, không được để những chuyện không đâu làm mất tập trung.
Lát sau, cô còn nhắc lại:
“Junsei đừng để sự ghen tuông khuất phục. Phải trở thành người phục chế giỏi trước đã.”
Chớp làm sáng bừng kính cửa sổ. Tiếng sấm rền đằng xa, tiếng mưa bắt đầu đập vào kính, chẳng biết từ lúc nào tôi chìm vào giấc ngủ theo nhịp điệu ấy. Ý thức nhẹ nhàng rời xa tôi, trong khi đó, ký ức lại dần hiện về.
Thời sinh viên, tôi thỉnh thoảng vẫn hay vẽ Aoi. Những chiều Chủ nhật, những buổi tối ngày thường trốn học, nếu không có gì làm, tôi lại lén mượn vải và đồ vẽ tranh của ông để vẽ nàng. Lúc đầu, Aoi khó chịu lắm, nhưng có vẻ nàng thích những bức tranh được hoàn thành và rồi dần dần, có lần tự nàng năn nỉ tôi vẽ.
Tôi thích khuôn mặt vô cảm như tượng đúc, hoàn toàn trái ngược với Memi của Aoi. Tôi thích cả ánh mắt uể oải không biết đang hướng về đâu của nàng. Ánh nhìn ấy bất thần lạc khỏi hiện thực và bơi trong chốn không gian mà chỉ nàng biết. Có cả chút bi quan, xao lãng. Một đôi mắt mong manh và dễ vỡ.
Tôi vẽ với tâm trạng luôn tò mò Aoi nhìn thấy thứ gì trước mắt, với mong muốn được cùng nhìn vào nơi mà nàng muốn nhìn. Tôi muốn lại gần nàng hơn nữa, hơn nữa. Vậy mà nàng cứ như ảo ảnh sa mạc, tôi cứ tới gần là nàng lại lùi ra xa hơn.
* * *
Khi tôi rời xưởng, trời đã tạnh mưa. Tôi cầm ô đi bộ dọc sông Arno. Đèn đường màu cam làm con phố đỏ rực lên. Thỉnh thoảng lại có một chiếc ô tô cỡ nhỏ chạy lại từ phía sau, rồ máy rồi vọt đi.
“Ngày 25 tháng Năm à.”
Tôi vừa nhìn lên bầu trời cao vừa lẩm bẩm. Rốt cuộc thì Aoi đang ăn mừng ngày này với ai? Nàng đang ở giữa những người thế nào vào ngày sinh nhật thứ 27 của mình nhỉ...
Ngày sinh nhật thứ 22 của Aoi cũng mưa.
Chúng tôi hẹn gặp nhau tại cầu thang bê tông bên cạnh Nhà truyền thống bảy mươi năm. Đó là địa điểm yêu thích của hai chúng tôi.
Có cậu sinh viên thuộc dàn giao hưởng của trường đang ngồi ở cầu thang đi xuống tầng hầm để luyện đàn cello. Tiếng đàn trầm, du dương đập vào bức tường bê tông của tầng hầm lửng rồi vọng lại, tạo ra âm thanh rất dễ chịu.
Trong lúc trú mưa, thấy tôi than thở “chờ bao lâu mới đến sinh nhật cậu, thế mà...”, nàng chỉ mỉm cười: “Không sao đâu”. Hai chúng tôi hồi đó nhìn được tương lai xa đến đâu nhỉ? Nghĩ lại thì dường như chẳng có nỗi lo sợ nào, đến nỗi chúng tôi chẳng thể linh cảm được giây phút này của ngày hôm nay.
Tôi gợi ý đi đâu đó nhưng Aoi thì thầm rằng không cần phải cố đi đâu cả. Rồi hai đứa cá cược trời sẽ tạnh mưa, ngồi cạnh nhau trên cầu thang, lắng nghe buổi trình diễn của thiên tài cello tương lai.
Đêm đó, chúng tôi đã ăn mừng tuổi 22 của Aoi tại một nhà hàng kiểu Âu ở Shimokitazawa. Tuy vậy, ấn tượng đọng lại trong tôi là tiếng đàn cello ở Nhà truyền thống bảy mươi năm hơn là không khí sang trọng và những món ăn ngon lành đượm vị dầu ô liu. Tiếng cello hòa với tiếng mưa, Aoi bên cạnh, tôi nắm chặt tay nàng.
Tôi không nhớ được tên bản nhạc mà cậu nghệ sĩ cello chơi khi đó. Aoi thích nhạc cổ điển, đặc biệt là opera nên nàng biết ngay đó là bản nhạc gì. Còn tôi không biết.
Tôi tin rằng con người không thể nhớ mọi thứ, nhưng sẽ không bao giờ quên những điều quan trọng. Tôi không muốn nghĩ rằng Aoi đã hoàn toàn quên buổi tối đó, dù có thể tôi sẽ không bao giờ gặp lại nàng nữa.
Buổi tối, tôi được giới thiệu với Insoo, bạn cùng phòng người Hàn Quốc của Memi. Insoo tính tình vui vẻ, tuy là bạn cùng lớp với Memi ở trường tiếng nhưng tiếng Ý của cô cực trôi chảy.
Khi nói chuyện với Insoo, chúng tôi nói tiếng Ý. Khi Insoo nói chuyện với Memi, Insoo nói bằng tiếng Nhật bập bõm, còn Memi nói bằng tiếng Anh cũng bập bõm nốt. Thấy tôi và Insoo vui vẻ trò chuyện bằng tiếng Ý, Memi có vẻ chán, giữa chừng thì giận dỗi không thèm nói chuyện, nằm dài ra xem ti vi.
Căn hộ đó dành riêng cho học sinh do trường tiếng giới thiệu. Tổng cộng có ba phòng ở, bếp và nhà tắm dùng chung. Nghe nói phòng còn lại có một người đàn ông Nhật sống nhưng tôi chưa nhìn thấy bao giờ.
“Hôm nay mưa to quá nhỉ.”
Insoo vừa nhìn ra hướng cửa sổ vừa nói.
“Mưa tạnh rồi.”
Tôi nói.
“Memi, ra đây cùng uống trà đi em.”
Tôi gọi nhưng nàng chỉ lẩm bẩm “cảm ơn” bằng tiếng Ý.
Ti vi đang chiếu chương trình MTV của Ý. Trên màn hình, một ca sĩ nhạc rock đang nhăn mặt hát. Bài hát đó nghe giống dân ca Nhật. Có lần, Memi hỏi tôi có thấy các bài hát của Ý cứ hao hao giai điệu như dành cho người Nhật không. Đúng là từ lúc Memi hỏi, tôi thấy có nhiều bài giống thật.
“Ngày hôm nay của cậu thế nào?”
Insoo hỏi, tôi mỉm cười. Nhớ lại ngày hôm nay, tôi thấy tiếng cello thân thương kia phảng phất bên tai. Tôi thử nhắm mắt lại để nắm bắt được giai điệu ấy. Trong một thoáng, giai điệu ấy nghe to hơn nhưng lập tức bị xóa sạch bởi tiếng nhạc trẻ của Ý phát ra từ ti vi.
“Era una giornata come quella di ieri.”
Thấy tôi nói vậy, Insoo cũng lẩm nhẩm lặp lại câu nói đó. Một ngày giống hệt ngày hôm qua. Một âm hưởng kỳ lạ. Chúng ta lúc nào cũng như sắp có thể quay về được ngày hôm qua nhưng hoàn toàn không thể. Ngày hôm qua mới xảy ra đây thôi nhưng lại không giống với ngày mai, mãi mãi không bao giờ với tới được.
“Chúng ta làm một bữa liên hoan đi.”
Tôi mỉm cười gợi ý với Insoo và Memi. Lần đầu tiên ba người thống nhất ý kiến, nhanh chóng bắt tay vào chuẩn bị.
“Mà nhân dịp gì vậy?”
Insoo hỏi bằng thứ tiếng Nhật bập bõm để Memi cũng có thể hiểu được.
Tôi vừa lục tủ lạnh vừa nhanh miệng đáp bằng tiếng Ý:
“Hôm nay là sinh nhật người yêu cũ.”
“Hả, gì cơ?”
Memi hỏi lại nhưng Insoo chỉ cười trừ.
[1] Tập thơ của Pháp sư Saigyo (1118-1190) vào cuối thời Heian.