Leo bộ khoảng năm mươi mét dọc đường Guicciardini dẫn tới xưởng phục chế sẽ thấy mặt tiền đồ sộ của cung điện Pitti. Đó là dinh thự được đại thương nhân nổi tiếng của Firenze là Luca Pitti cho xây dựng vào nửa cuối thế kỷ 15.
Tôi thường tranh thủ thời gian nghỉ trưa để đến đây. Phòng triển lãm Palatina bên trong cung điện Pitti có treo rất nhiều tranh của Raffaello[1] mà tôi thích. Tại đây, tôi có thể lại gần ngắm các tác phẩm nổi tiếng như Người đàn bà trùm khăn, Chân dung Agnolo Doni, Đức Mẹ ngồi ghế tựa. Nhưng bức tôi thích hơn cả là Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng treo trong phòng Saturnus[2]. Mỗi khi nhìn bức tranh, tôi lại cảm thấy bình yên.
Đức Mẹ trong tranh của Raffaello luôn tràn đầy vẻ đẹp tĩnh lặng và tráng lệ. Vẻ ngọt ngào dịu dàng mà rất nhiều tranh Đức Mẹ do các họa sĩ Phục hưng khác vẽ không có được. Chẳng biết từ bao giờ, tôi cho rằng bức Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng chính là hình ảnh người mẹ lý tưởng của mình. Mỗi khi buồn, tôi lại đến đây ngắm nhìn bức tranh từ dưới lên. Có thể nói tôi chỉ có thể thành thật với riêng bức Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng.
Một ngày nọ, thấy tôi gần như hôm nào cũng tới ngắm bức Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng, cô nhân viên bảo vệ phòng Saturnus đã tới bắt chuyện.
“Tôi thích bức này đến nỗi muốn lấy cắp mang đi đấy.”
Khi tôi nói vậy bằng tiếng Ý, cô lộ vẻ đề phòng trong thoáng chốc rồi chỉ vào tôi nói: “Chừng nào tôi còn canh gác ở đây thì không có chuyện đó đâu.” Rồi chúng tôi mỉm cười với nhau.
Khi tôi nói mình không có mẹ, cô bảo vệ khẽ gật đầu vẻ cảm thông. Tôi đã nói với cô ấy bí mật mà tôi chưa từng hé lộ với ai rằng tôi tới đây là vì muốn gặp mẹ. Có lẽ ai cũng có những lúc muốn trò chuyện.
“Tôi cũng thấy Đức Mẹ Raffaello vẽ là đẹp nhất thế giới. Mọi người trên khắp thế giới đều dừng chân ở đây đấy. Thật ra tôi cùng quê Urbino với Rafaello. Với những người sinh ra ở thành phố ấy, đây là điều đáng tự hào hơn bất cứ thứ gì. Tôi cũng rất tự hào vì được sống và canh gác cho những bức tranh của ông ấy tại đây.”
Tôi gật đầu. Sau đó, cô kể cho tôi những gì cô biết về Raffaello. Từ chuyện thuở thiếu thời ông được gọi là thần đồng, đến chuyện thời La Mã ông có được gia tài, quyền lực và danh tiếng vì là nghệ thuật gia của Đức Giáo hoàng, chuyện nửa cuộc đời rực rỡ đáng để gọi là kỳ tích của ông khi được mọi người yêu mến, ông vui vẻ, hoạt bát, đôn hậu, được trời phú cho một ngoại hình đẹp, trái hẳn với Michelangelo[3] lập dị...
“Chắc vì thế ông ấy mới mất sớm ở cái tuổi ba mươi bảy. Nếu sống lâu được như Leonardo da Vinci thì chẳng biết ông ấy còn cho ra đời bao nhiêu tác phẩm tuyệt vời nữa.”
Đồng tình với cô, tôi đáp rằng mình cũng nghĩ vậy.
“Này, nhìn kỹ thì cậu giống hệt Raffaello nhỉ.”
Nói rồi chúng tôi nhìn chằm chằm vào nhau đến mức muốn thủng cả mặt và cùng bật cười. Vài năm trôi qua, cô bảo vệ không rõ lý do gì mà không thấy đâu nữa, thay vào đó là một người đàn ông gốc Phi cao to.
Mỗi lần nhìn thấy anh ta ngồi ở chiếc ghế cạnh cột nhà, tôi lại cảm giác mình đang nhìn thấy một dòng chảy thời gian vừa uy hùng vừa tàn khốc nữa của hội họa. Cứ như vậy, các bức tranh vượt qua không gian và thời gian, được truyền từ người này qua người khác và sống mãi.
Có lẽ một ngày nào đó anh bảo vệ gốc Phi này sẽ lại nhường chiếc ghế ấy cho một người bảo vệ khác. Dù phòng triển lãm Palatina có tồn tại thêm vài thế kỷ nữa thì chắc chắn người quản lý và khách đến tham quan sẽ thay đổi theo thời gian. Và cả tôi nữa, so với tuổi đời của bức tranh này, tôi cũng chỉ có một cuộc đời quá ngắn ngủi.
Nhờ các nhà phục chế hàng đầu và khoa học tiến bộ, bức tranh đã sống lại nhiều lần, chắc chắn nó sẽ sống cuộc đời gần như bất tử. Khả năng tôi được trực tiếp nối tiếp sinh mệnh cho bức tranh này có lẽ không có nhưng các nhà phục chế trong ngành sẽ dốc sức mang lại cho nó một sinh mệnh mới. Chỉ thế thôi cũng đủ để tôi có thể tự hào về công việc của mình. Tôi cũng tự hào vì bản thân được tham gia vào công đoạn cuối cùng của công việc ấy.
Tôi đứng đối diện với bức Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng. Tôi vừa tưởng tượng ra điểm cuối của ánh mắt u buồn đang lặng lẽ nhìn chếch xuống hệt như ánh mắt của Aoi, vừa đắm chìm trong vẻ đẹp đến giờ vẫn không hề mất đi của Đức Mẹ dù đã được vẽ cách đây vài trăm năm. Tôi thấy như Raffaello vẫn đang sống. Không, người họa sĩ còn sống. Linh hồn của ông vẫn còn ở đây.
Chiều tối, tôi cùng cô giáo đến cửa hàng bán dụng cụ vẽ quen thuộc trên đường Cavour. Băng qua cầu Vecchio, len qua đám khách du lịch ồn ào ở quảng trường Signoria để tới khu trung tâm, xuyên qua đường Calzaiuoli náo nhiệt, chúng tôi đến trước nhà thờ lớn. Thỉnh thoảng, cô giáo lại vòng tay qua cánh tay tôi. Đó là hành động xảy ra trong một thoáng, chỉ khi tâm trạng cô thật tốt. Cô làm vậy vì tin tưởng ở tôi, nhưng ước mong cô cứ để nguyên như vậy lập tức bị dập tắt khi cô mỉm cười và nhẹ nhàng rút tay lại.
Mùa hè đang tới gần. Tôi lấm tấm mồ hôi. Ngày dài hơn, đã xế chiều mà sức nóng của mặt trời vẫn còn đó. Ngước lên nhìn nắng, tôi thấy nóc nhà thờ lớn. Bất giác, tôi nhớ tới Aoi. Ánh nắng đang nhảy nhót quanh đỉnh mái vòm.
“Sao thế?”
Đi trước tôi một chút, cô giáo ngoảnh lại nhìn tôi đứng ngước nhìn nhà thờ lớn.
“Trước đây cũng thấy cậu đứng lại và nhìn lên...”
Tôi chẳng giấu nổi cô điều gì. Tôi xị mặt, khẽ nhún vai hệt như một cậu thiếu niên vừa bị nhìn rõ tâm can.
“Ra là cậu có kỷ niệm ở đây.”
Giọng nói dịu dàng của cô ve vuốt bên tai. Tôi lắc đầu.
“Không phải kỷ niệm ạ. Là một lời ước hẹn.”
“Ước hẹn ư…”
Cô mỉm cười rồi cùng ngước nhìn lên. Vài chú bồ câu bay lên từ nóc nhà thờ. Cánh chim đổ bóng duyên dáng xuống tường nhà thờ lớn.
“Ước hẹn là tương lai. Kỷ niệm là quá khứ. Kỷ niệm và ước hẹn khác nghĩa nhau nhiều nhỉ.”
Tôi nhìn cô. Ánh nắng cũng chiếu xuống gương mặt hiền hậu ấy khiến làn da như trong suốt của cô càng sáng trắng hơn.
“Tương lai là thứ không thấy trước được nên khiến người ta sốt ruột. Nhưng không được nóng vội, tương lai không thấy được nhưng khác với quá khứ, chắc chắn nó sẽ đến.”
Tôi nhìn sâu vào mắt cô.
“Nhưng tương lai ấy ít hy vọng lắm.”
Cô nén cười.
“Với em thì đó là một tương lai đau khổ.”
“... Dù ít hy vọng, dù là đau khổ nhưng chừng nào khả năng đó chưa phải là số 0 thì không được từ bỏ nhé.”
Nói rồi, cô vỗ vai tôi.
“Hãy nhìn thành phố này mà xem. Đây là thành phố đi ngược về quá khứ. Tất cả mọi người đều đang sống trong quá khứ. Ở đây không có tòa cao ốc hiện đại nào cả. Chẳng phải ngay cả Kyoto cũng có đầy tòa nhà mới hay sao? Cả Paris cũng thế. Nhưng ở đây thì như cậu thấy đấy, đây là thành phố mà thời gian đã ngừng lại từ thời Trung cổ. Một thành phố đã hy sinh tương lai để giữ gìn lịch sử.”
Tôi nhìn quanh quảng trường. Quả thật, ở đây tuyệt nhiên không có lấy một tòa nhà mới. Bề ngoài của những ngôi nhà cổ vẫn còn được lưu lại nguyên vẹn. Cả thành phố đã được bảo tồn để không mất đi vẻ đẹp lịch sử.
“Không chỉ có thành phố đâu. Cả những con người sống ở đây nữa, nói quá lên một chút thì họ cũng phải hy sinh cuộc đời để bảo vệ nơi này đấy. Ở đây không có công việc mới cho những người trẻ. Chỉ công việc bảo tồn di sản như chúng ta hoặc làm trong ngành du lịch thôi. Chưa kể, hầu hết tiền thuế cao một cách ngu ngốc lại được dành cho công tác phục chế thành phố này. Thành phố vẫn đang ngày một già cỗi, dù có được phục chế thì vẫn dần dần xuống cấp. Mùa đông thì lạnh, mùa hè thì nóng. Dẫu vậy, những con người ở đây vẫn sống trong quá khứ. Vì thành phố này không có một chút gì gọi là tương lai cả, nên chỉ cần có một tương lai không phải là số 0 thì Junsei vẫn còn hạnh phúc đấy.”
Nói xong, cô giáo lại bước đi. Tôi đuổi theo cô nhưng ngay trước khi ra khỏi quảng trường, tôi ngoảnh lại nhìn nóc nhà thờ lần nữa. Tôi không nghĩ Aoi vẫn còn nhớ lời hẹn đó. Đó không phải là một lời hẹn ước quá rõ ràng. Chỉ như một câu đùa, một cơn gió thoảng mà thôi...
Mua đồ ở cửa hàng bán họa cụ xong, lúc ra khỏi cửa hàng tôi bất ngờ gặp Memi. Nàng đang trên đường về sau buổi lên lớp hiếm hoi. Tôi tiện thể giới thiệu Memi với cô Giovanna nhưng lại mắc sai lầm khi không nói Memi là người yêu của tôi. Chỉ vì nói rằng Memi là bạn mà tôi đã phá hỏng tâm trạng của nàng. Như thể hiểu được cá tính mạnh mẽ của Memi và tránh cơn ghen hướng tới mình, cô giáo nói:
“Tôi nhớ ra là có việc bận nên giờ sẽ đi một mình. Junsei, cậu mang hết đồ về xưởng rồi có thể về được.”
Cô còn nói thêm: “Memi, hôm nào ba chúng ta cùng thư thả đi ăn nhé” rồi quay đi. Chỉ còn lại hai người, Memi bỏ tôi lại rồi bước về phía ngược với cô giáo.
“Sao em trẻ con thế?”
Tôi đuổi theo đến bên cạnh, nói vậy hòng thuyết phục nàng thì Memi quay ngoắt lại, xả ra một tràng:
“Người trẻ con phải là anh chứ. Sao anh không thể giới thiệu đàng hoàng rằng tôi là người yêu của anh? Bạn bè gì chứ, từ khi nào tôi chỉ là bạn của anh thế? Hả? Từ khi nào vậy? Đây là nước Ý, anh đâu cần phải ý tứ gì. Kể cả vì đó là cô giáo đi nữa thì gọi người yêu là bạn ngay trước mặt người yêu cũng là quá bất lịch sự. Nếu ở vị trí ngược lại thì anh thấy sao? Giả sử tôi bảo Junsei chỉ là bạn tôi thôi... Anh thật quá đáng. Đồ tồi. Tôi không ngờ anh lại là thằng đàn ông hèn hạ đến thế.”
Tôi xốc lại chiếc túi đựng đầy họa cụ rồi vội vã đuổi theo Memi đang vùng vằng bỏ đi. Những người đi ngược chiều trông thấy chúng tôi như vậy bèn mỉm cười. Ngoảnh lại, tôi vẫn nhìn thấy bóng dáng cô giáo ở phía xa. Tôi nghĩ cô không nghe thấy nhưng vẫn lo.
“Mọi người đang nhìn kìa, em đừng lớn tiếng được không.”
“Sao tự nhiên anh lại thành trai Nhật thế. Người khiến tôi lớn tiếng chẳng phải là anh à.”
Nói nữa cũng vô ích. Chẳng còn cách nào khác, tôi chỉ yên lặng đi theo Memi đang đùng đùng tức giận một mình.
Hồi còn hẹn hò với Aoi, kẻ hay giận dỗi giống Memi lúc nào cũng là tôi. Aoi chẳng bao giờ để lộ cảm xúc ra ngoài. Bất kỳ lúc nào, dù có chuyện gì xảy ra, Aoi luôn bình tĩnh hơn bất kỳ ai.
Ngày ấy, dù tôi không đến nỗi quá đáng như Memi nhưng vẫn còn non nớt, chưa làm được gì đáng mặt đàn ông. Aoi lại là một cô gái quá phù hợp để tôi hẹn hò nghiêm túc lần đầu trong đời nên tôi chẳng biết ước lượng, dồn quá nhiều sức lực. Lúc nào tôi cũng muốn nàng nhìn tôi.
Tôi cũng đã có lần ghen cùng cực. Đó là ngay sau khi tôi bắt gặp Aoi đang đứng trò chuyện có vẻ thân mật với một gã sinh viên tôi không quen ở trước bậc thềm của nhà văn hóa. Tâm trạng của tôi cũng giống Memi khi bắt gặp tôi đi cùng Giovanna. Tôi cảm giác như Aoi thoáng tỏ vẻ không thích và từ giây phút đó trở đi, trái tim tôi trở nên cố chấp.
Aoi giới thiệu tôi là “cậu Agata”, giới thiệu đối phương là “cậu Takeda” giọng điệu chẳng khác gì nhau. Thế rồi gã kia cười bảo:
“Gọi là Takeda nghe ngại nhỉ, cứ gọi như bình thường là được rồi.”
Khi cậu ta đi khỏi, tôi to tiếng chẳng kém gì Memi, trút hết giận dữ vào Aoi, rằng “không biết bình thường cậu gọi thằng cha đó theo cách thân mật như thế nào?”
Aoi không hề mất bình tĩnh, nàng chỉ nở một nụ cười như thể ôm trọn lấy cơn ghen của tôi và đáp bằng giọng trầm:
“Tớ là bạn từ nhỏ của cậu ấy.”
Những trận cãi nhau đơn phương như vậy nhiều vô kể. Aoi luôn xoa dịu cơn ghen điên cuồng của tôi bằng thái độ của một người chị gái. Giờ nghĩ lại mới thấy mối quan hệ của chúng tôi chẳng thể kéo dài vì những chuyện như vậy.
Lúc này tôi đang hối hận. Nhưng thời gian không thể quay trở lại. Nó luôn tiến về phía trước. Tôi nhìn theo tấm lưng Memi đang xa dần, khẽ buông tiếng thở dài thật dài.
Sau một hồi lang thang quanh phố phường cổ kính của Firenze, tôi và Memi bước vào một nhà hàng bên sông Arno. Chúng tôi ngồi đối diện nhau ở chiếc bàn bên cửa sổ nhưng Memi vẫn chẳng thèm nhìn tôi. Nàng uống rượu như nước lã, như thể định say xỉn rồi cãi nhau với tôi vậy. Tiếp đến, nàng gọi một lượng thức ăn mà hai người không thể ăn hết.
Đầu tiên, Memi ăn món ribollita gồm bắp cải, đậu, các loại rau thơm, bánh mì cũ được ninh trong nhiều giờ, tiếp đó lèn chặt bụng bằng món mì pasta đậu trắng, cuối cùng thì chén sạch món trippa alla fiorentina điển hình của vùng Toscana là dạ dày bê hầm cà chua. Đó không phải là lượng thức ăn bình thường đối với một cô gái, vì thế nhân viên nhà hàng cứ tròn mắt nhìn Memi.
Giữa chừng, tôi khẽ nhắc nàng ăn vừa phải thôi, nhưng chẳng những nàng không nghe tôi khuyên can mà tôi càng nói thì nàng càng nhét thêm vào miệng.
Kết cục là tôi buộc phải dìu Memi về nhà trọ sau khi một mình nàng uống gần hết chai rượu. Tôi đi giữa thành phố Firenze đã xế chiều, tay trái xách túi họa cụ, tay phải dìu Memi.
Nhưng kỳ lạ thay, không hiểu sao tôi không thể ghét bỏ Memi tính khí như trẻ con này được. Rõ ràng bản thân tôi cũng không biết mình thích nàng tới mức nào, nhưng Memi càng trẻ con thì tôi càng cảm nhận được thứ mùi giống mình ngày xưa bên trong Memi, ở một góc độ hoàn toàn khác với Aoi.
Vừa leo lên con dốc dẫn tới nhà Memi, tôi vừa cảm nhận được hơi ấm của Memi bên trong cánh tay phải mình. Mồ hôi rịn ra khắp người nhưng tôi hoàn toàn không thấy khó chịu. Tôi hiểu ra rằng đối với tôi lúc này, Memi là người có bản chất thuần con người nhất, đến mức khiến tôi phải tự nhìn nhận lại bản thân chưa bao giờ sống vì ai.
Insoo đang ở nhà. Tôi nhanh chóng giải thích sự việc rồi hai người cùng đưa Memi lên giường. Lúc Memi chìm vào giấc ngủ sau khi vùng vẫy bằng chút sức lực cuối cùng, trong tôi dấy lên một tình cảm hơi khác với tình cảm vốn có dành cho nàng. Không biết nên diễn tả thế nào nhỉ, nên gọi đó là tình cảm giống như một người cha chăng.
Sau khi nhấp ngụm trà Insoo pha, tôi nhờ cô lo nốt cho Memi rồi ra về. Tôi đi xuống con dốc ban nãy vừa leo lên cùng đống dụng cụ như thể bị ai đó từ dưới dốc kéo xuống. Cơn gió đêm mát lạnh đầu hè từ bờ sông thổi tới, làm căng phồng áo sơ mi. Mồ hôi ráo bớt, lúc này tôi mới có thể hít thở thật sâu.
Đi qua cổng xưởng phục chế là tới một cái sân hẹp hình tam giác. Tôi ôm đống họa cụ đi qua khoảng sân lát đá bình thường vẫn để xe đạp do không có mái che. Trong khu làm việc, đèn vẫn sáng. Ai đó vẫn còn ở lại chăng? Đồng hồ đeo tay chỉ gần 11 giờ. Nghĩ có thể là trộm, tôi cảnh giác nhòm qua cửa sổ nhìn vào trong.
Nơi đèn sáng là khu làm việc ở góc trong cùng. Sau một thoáng chần chừ, tôi chuẩn bị tinh thần rồi bước vào. Có bóng người. Tôi nghe thấy giọng nói đang cố nén lại. Không có dấu hiệu cho thấy những kẻ bên trong nhận ra tôi, bị trí tò mò kích thích, tôi tiến vào trong.
Dưới ánh sáng của ngọn đèn bão, có hai cơ thể đang quằn quại. Tôi nhìn thấy nước da trắng. Lẽ nào là cô giáo? Đầu tràn ngập những tưởng tượng đen tối, tôi căng mắt nhìn và nhận ra hai kẻ đang ôm hôn nhau trên ghế xô pha là Takanashi và Angelo.
Ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn bão làm đường nét trên khuôn mặt họ nổi lên như những nét vẽ trong bóng tối. Ngay sau đó tôi bắt gặp ánh mắt Angelo đang hôn Takanashi. Mắt Angelo mở to, cho tôi biết là cậu ta kinh ngạc. Gáy Takanashi che lấp nửa khuôn mặt của Angelo, ngăn không cho Angelo nói. Tôi không thể cử động được ngay, chỉ biết trân trối nhìn Angelo.
Takanashi đang phấn khích, không còn vẻ điềm tĩnh thường ngày, siết chặt lấy Angelo, để lộ nguyên cả tấm lưng trước mắt tôi. Tôi vẫn nhớ ánh mắt như muốn tố cáo của Angelo. Ánh mắt đã hút hết ánh sáng, ánh mắt sợ hãi của kẻ bị người khác nhìn thấy điều đáng xấu hổ. Tôi lặng lẽ quay gót. Sau khi đặt đống đồ lên bàn mình, tôi đi lại trong phòng cố ý gây tiếng động mạnh để Takanashi nghe thấy. Có thứ gì đó khiến tôi khó chịu.
Hoa mắt, khó thở. Thành phố Firenze chẳng bao giờ xảy ra việc gì đáng nói tới nhưng xung quanh tôi thì lúc nào cũng có những chuyện kỳ quặc, khó hiểu. Tôi lao ra ngoài, hít một hơi thật sâu và thấy mặt trăng tròn lại đang nhìn mình từ trên cao. Mỗi khi có chuyện gì đó xảy ra, trăng lúc nào cũng ở trên đầu tôi.
Từ đó, những tán gẫu vu vơ ở nơi làm việc biến mất một thời gian. Thỉnh thoảng tôi cảm thấy Angelo nhìn mình nhưng Takanashi thì phớt lờ tôi. Cô giáo vốn không biết gì, nên khi đến cô trêu “Sao thế Angelo, cậu có vẻ không khỏe lắm nhỉ”. Ba người vội quay đi, im lặng, giả vờ chăm chú vào công việc của mình.
Hôm đó là khoảng một tuần kể từ sau khi tôi chứng kiến mối quan hệ của Takanashi và Angelo. Tôi nán lại xưởng, đang cẩn thận kiểm tra cách xử lý bức sơn dầu của Francesco Cozza, một họa sĩ thành công ở thế kỷ 17 bằng kính hiển vi và tia X quang, thì Angelo - mà tôi nhớ chắc chắn đã về trước đó rồi - ló mặt vào.
“Nhìn lớp véc ni cũ còn trên mặt nền và vải lót đằng sau này. Phần nhựa thông vẫn còn nguyên, vải vẽ thì cứng lại rồi.”
Sợ bị nhắc chuyện đêm hôm trước, Angelo cố tình bắt chuyện trước, nói về sự khó khăn khi phục chế tranh sơn dầu.
“Để thế này chắc chắn sẽ làm hỏng vải vẽ. Chỉ còn cách lấy nó ra thôi.”
Tôi trả lời, chẳng phải để nhận sự đồng tình nhưng cũng chẳng phải độc thoại. Tôi tính toán khoảng cách giữa mình với Angelo, cố gắng để không xúc phạm tâm tư của cậu ta. Nhưng Angelo cứ đứng đực ra đó, không định di chuyển.
“Công đoạn phiền phức đây.”
Khi tôi nhìn Angelo nói, cậu ta khẽ buông tiếng thở dài.
“Bị anh nhìn thấy việc đó, giờ tôi không định biện hộ đâu, nhưng tôi ghét Takanashi.”
Mắt Angelo hút ánh sáng trong phòng, ánh lên sắc đanh.
Tôi nhớ đôi đồng tử của Angelo đêm ấy nhìn chằm chằm vào tôi như muốn nhảy ra ngoài. Hệt như vẻ luống cuống của người yêu khi bị bắt quả tang ngoại tình. Lúc Angelo nhận ra sự có mặt của tôi, Takanashi không phản ứng gì nhưng có thật là hắn không biết? Hay là hắn phát hiện ra tôi trước cả Angelo nên đã hành động như vậy? Giờ nghĩ lại, sự hưng phấn lúc ấy của Takanashi có vẻ như là cố tình để người thứ ba nhìn thấy. Kể từ đó, trái với vẻ dao động của Angelo, Takanashi điềm tĩnh đến kỳ lạ.
“Chuyện đó xảy ra bất ngờ. Tôi cũng đã kháng cự...”
Cách nói như thể đang phân trần với người yêu của Angelo cũng rất khó chịu. Tôi đâu muốn nghe. Tôi đâu cần biết chuyện đó. Tôi im lặng tập trung vào công việc. Angelo vẫn đứng đó, không có ý định rời đi.
“Người tôi thích không phải Takanashi, mà là anh, Junsei.”
Tôi dừng tay, lườm Angelo.
“Này, cậu có thể thôi ngay việc đổ vấy xích mích của các cậu qua tôi không?”
Thấy tôi nghiêm giọng, Angelo cúi gập người xuống, dang rộng hai tay và tuyên bố:
“Không, ngay từ đầu tôi đã thích anh rồi.”
Nghĩ mình nên ra khỏi xưởng, tôi bắt đầu thu dọn tranh sơn dầu của Francesco Cozza.
Mặt Angelo như thể sắp khóc. Tôi hiểu ánh mắt nghiêm túc ấy nhưng vẫn tỏ ra lạnh nhạt. Sau khi cất tranh lên giá, tôi nhanh chóng đi qua Angelo. Angelo đuổi theo tôi ra đến tận ngoài xưởng, chặn không cho tôi đi.
“Angelo, tôi không thể cùng lúc ôm ngần ấy thứ tình cảm được. Riêng người yêu của tôi thôi cũng đủ mệt rồi...”
Tôi nặng lời hơn. Angelo chùng vai xuống, đôi mắt mở to giữa gương mặt xanh xao ướt đẫm nước. Tôi vỗ nhẹ vai cậu ta như cô giáo vẫn hay làm rồi bỏ đi.
Ra khỏi xưởng, tôi thấy đường vẫn còn đông đúc. Tại hôm nay là thứ Sáu. Trên cầu Vecchio đông nghịt khách du lịch, vọng lại tiếng hát của đám thanh niên đã say bí tỉ. Tôi không muốn về nhà ngay mà đi đến nhà Memi khi nàng vẫn còn đang hậm hực.
Tôi vừa nhìn mặt nước tối đen của sông Arno vừa bước trên con đường ven sông quen thuộc. Một chiếc xe ô tô cỡ nhỏ lao vọt qua ngay bên cạnh tôi với tốc độ điên cuồng. Xe cộ ở thành phố này chẳng bao giờ khiêm nhường ở khoản tốc độ. Ở một thành phố chỉ toàn là quá khứ, có lẽ ô tô là thứ duy nhất có thể đối mặt với hiện tại. Chắc vì thế mà lái xe ở đây ai cũng phóng ào ào như thể đi tìm kẻ khác giới.
Trong lúc đi, tôi lại nhớ đến Aoi. Chúng tôi thường đi bộ trong công viên Hanegi vào buổi tối. Những khi chán ngấy căn hộ chật hẹp nằm bên rìa công viên, vào mùa hè, chúng tôi hay mang bánh kẹo và bia ra ngoài đi dạo. Không sống cùng nhau nhưng trong một khoảng thời gian, chúng tôi vẫn hay qua lại nhà nhau. Chúng tôi đã rất hạnh phúc. Tôi neo chặt Aoi trong tim mình. Hằng ngày, nàng luôn ở bên tôi không lúc nào rời.
Chúng tôi ngồi cạnh nhau trên chiếc ghế dài ở đỉnh một ngọn đồi cao trong công viên, ngắm trăng. Thế giới quay quanh hai chúng tôi. Tôi cảm giác như chỉ cần có nàng, tôi có thể làm được mọi thứ. Nhưng không biết Aoi cảm thấy thế nào? Sống khoảng thời gian hạnh phúc như thế nhưng thi thoảng nàng tỏ ra như thể không tin tưởng vào tương lai khiến tôi thấy bất an.
“Tớ yêu cậu.”
Lần đầu tiên tôi dùng câu đó là khi nào nhỉ? Đó là một ngày không quá xa khoảng thời gian hạnh phúc ấy. Trước đó, hai đứa thường nói “tớ thích cậu”, không giống với giới trẻ lắm. Dù đã quan hệ xác thịt nhưng chúng tôi cũng vẫn thận trọng với âm hưởng của từ “yêu”. Mà không, không phải là “chúng tôi”. Aoi chưa bao giờ dùng tiếng “yêu” ấy trước mặt tôi.
Tôi đợi mãi mà không thấy câu trả lời của Aoi. Vì lo lắng nên tôi hỏi lại:
“Cậu không yêu tớ à?”
Aoi tránh ánh mắt của tôi, đáp rằng không phải thế.
“Tớ phải hiểu câu tiếng Nhật ‘không phải thế’ như thế nào đây?”
Aoi bối rối. Tôi có thể hiểu theo hướng tích cực rằng hẳn là nàng rất coi trọng từ “yêu”, nhưng cũng có thể hiểu theo hướng ngược lại. Tôi muốn có được từ “yêu” thốt ra từ miệng nàng một cách rõ ràng.
“Vậy là cậu không định nói với tớ là cậu yêu tớ nhỉ?”
Tôi hỏi vì mất hết kiên nhẫn. Và rồi lần đầu tiên Aoi nói yêu tôi. Giọng nàng trầm đến mức chẳng nghe thấy được. Đáng lẽ phải vui mừng nhưng tôi đã không thể bộc lộ cảm xúc của mình thành thật.
Nhớ lại lúc được nàng giới thiệu với người bạn trước câu lạc bộ văn hóa, tôi lại thấy đau khổ vì cảm giác hình như còn có một Aoi khác nữa mà tôi không biết.
Từ đó trở đi, tôi không thể yêu cầu Aoi xác nhận tình yêu nữa.
Tôi không thể ngăn mình nghĩ rằng bản thân từ “yêu” đã như mánh khóe của một tay lừa đảo xịn.
Liệu có cuộc đời nào chưa bao giờ phải hối hận? Tôi vẫn luôn luôn hối hận. Cảm giác như cả đời mình sẽ không thoát được khỏi sự hối hận. Nghĩ thế, bất giác đôi chân tôi nặng trịch. Tôi nhìn lên con dốc thoai thoải. Ánh đèn căn hộ của Memi hiện ra giữa khúc uốn của con đường. Tôi cứ đứng đó một lúc, băn khoăn không biết phải làm sao.
[1] Raffaello (1483-1520): họa sĩ, kiến trúc sư tiêu biểu thời Phục hưng của Ý.
[2] Tên vị Thần Nông trong thần thoại La Mã.
[3] Michelangelo (1475-1564): họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhà thơ, kỹ sư thời Phục hưng của Ý.