Nhưng nếu đó là Ngày Kỳ Diệu, ngày hôm sau tất nhiên là Ngày Tuyệt Vọng. Nó bắt đầu khá ổn, Jimmy thức giấc vào sáng sớm, khi cái lạnh ban mai vẫn còn trong không khí, vì thế nó thấy khốn khổ mất một lúc, nhưng chẳng bao lâu, trà và thức ăn nóng sốt, cộng thêm đống lửa ấm áp, đã giúp nó lấy lại tinh thần. Nó và Taw-kwo đến thăm bẫy và gỡ thu được ba con chuột xạ to. Rồi chúng tháo một đầu lưới và kéo nó lên. Việc này thật thú vị, Đầu tiên xuất hiện một vệt trắng lấp lánh bên dưới mặt nước; rồi vệt trắng đó dần dần lộ nguyên hình. Tiếp theo là một khoảnh khắc nín thở. Con cá này to cỡ nào? Nó là loại cá gì? Và rồi sau cú rơi nó nằm trên bờ sông, giẫy giụa trước tiếng reo hò sôi nổi của hai cậu bé. Thậm chí Taw-kwo còn rút ra một cây cung ngắn nặng trịch và vài mũi tên tà đầu khi có tiếng gọi chúng trở về để tiếp tục cuộc hành trình.
Khoảng mười giờ, vài giọt mưa lác đác rơi. Hẳn là toán người này sẽ tìm chỗ trú mưa, Jimmy nghĩ. Nhưng không. Mưa rơi nặng hạt hơn, soi thủng mặt sông. Nước chảy ròng ròng xuống tóc của Jimmy, nhanh chóng làm cho nó ướt sũng cả người. Nó rùng mình và khổ sở nhìn quanh cảnh vật, cũng đang nhanh chóng ướt sũng nước. Những người thổ dân dường như không bận tâm tới cơn mưa như trút nước, chẳng khác gì đàn chó. Độ nhiên Jimmy cảm thấy lẻ loi. Sự lãng mạn của Khu rừng Kỳ diệu đã hoàn toàn biến mất, và nó bắt đầu nghĩ tới ngôi nhà ấm áp của nó, cha mẹ nó, và tự hỏi không biết nó có còn gặp lại họ nữa hay chăng. Một lúc sau nó bắt đầu khóc thút thít, nước mắt hòa với nước mưa chảy xuống má nó. Nhưng nó khóc rất lặng lẽ, vì Taw-kwo đang ngồi trong chiếc xuồng cạnh nó, và bé May-may-gnaw đang nghiêm nghị chèo thuyền ở mũi xuồng ngay phía sau. Nước mưa cũng chảy ròng ròng trên má con bé.

Suốt ngày hôm đó quả tim của Jimmy ngày càng trở nên nặng trĩu. Nó chèo một cách tuyệt vọng để giữ ấm vì thế đêm về nó rất mệt. Đó là một ngày rất ảm đạm. Buổi tối, nó đứng cạnh đống lửa với những người thổ dân và bốc hơi ngùn ngụt. Nó ngạc nhiên khi thấy đêm không tệ lắm. Mái của những căn chòi dốc đến nỗi hơi nóng phản xạ lại từ chúng xuống mặt đất đã nhanh chóng khô đi. Hơi ẩm ướt chút xíu, nhưng không hoàn toàn khó chịu.

Suốt buổi sáng hôm sau mặt trời sáng rực rỡ với sự ấm áp của mùa xuân thật sự. Như vậy Jimmy đã trải qua một cách có uy tín cuộc thử sức với nước của mình. Nó luôn không ưa nổi mưa và thời tiết giá lạnh, nhưng dần dà nó hiểu rằng người ta sẽ quên đi chúng khi chúng đã kết thúc.
Hôm đó, tiến trình đều đặn xuôi theo dòng sông chỉ bị gián đoạn hai lần bởi một điều phấn khích. Những dải nước lặng lờ bị phá vỡ bởi những thác nhỏ chảy nhanh, nơi Jimmy phải ngồi rất im, và những chuyến mang vác qua khu rừng mà nó cùng làm với mọi người. Nó luôn được chú ý tới. Một sự cố có tính thử thách nhiều nhất là một chuyến phiêu lưu. Nhưng sau buổi trưa một lát, trong lúc lao theo một thác nước đặc biệt chảy xiết và quanh co, bất chấp những nỗ lực tối đa của Makwa và Ah-kik, chiếc xuồng va mạnh vào một tảng đá nhọn. Ngay lập tức nước tràn vào qua lỗ thủng. May mắn là chuyện này xảy ra ở chân dốc. Những người thổ dân chèo một cách tuyệt vọng qua vũng nước và lên bờ vừa đúng lúc. Đồ đạc đã bị vứt bỏ một cách vội vã và chiếc xuồng được kéo lên bãi cát.

Jimmy buồn bã nhìn lỗ thủng ở đáy xuồng. Nó quá tệ hại. Jimmy cho rằng hành trình trong ngày phải bị hoãn lại.
Nhưng Makwa biến mất vào rừng trong lúc Ah-Kik đốt một đống lửa nhỏ. Những thổ dân khác tiếp tục xuôi dòng. Giây lát sau Makwa quay lại với một mớ nhựa vân sam trên một mảnh vỏ cây. Ông hơ thứ nhựa này trên ngọn lửa với một ít mỡ. Rồi với một nhánh cây ông trét chất nhựa dẻo này quanh cái lỗ, đặt lên đó một mảnh bao tời, trét thêm nhiều nhựa để che kín hoàn toàn cái lỗ và hơ khô nó với một nhánh cây rút ra từ đống lửa. Trong vòng mười phút chiếc xuồng đã ngon lành như trước.
Khoảng một tiếng sau, Makwa lẩm bẩm, "Moos-wa, moos-wa." Giờ thì Jimmy đã biết khi Makwa lẩm bẩm, trước mặt sẽ có chuyện gì đó thú vị, vì thế nó căng mắt ra nhìn. Kia rồi, cách không đầy hai trăm thước, đứng trong lòng nước sâu tới gối, một con nai sừng tấm và con nó đang đứng. Những con vật to lớn, khó bắt nhưng rất đỗi tuyệt vời với cảnh vật phù hợp quanh chúng. Chúng hoang mang nhìn những chiếc xuồng lấp lánh. Cơn gió ngược chiều với mùi người, và một con nai sừng tấm không dễ dàng cảnh giác chỉ với mắt nhìn. Trong chớp mắt, chúng lội nhanh tới bờ và biến mất với những bước kiệu dài, nhưng chưa bao giờ trước đó Jimmy nhìn thấy rõ đến thế cái mũi La Mã, cặp mắt to, bộ vai đồ sộ của những con vật này. Vì với nó, lũ nai sừng tấm cũng xa xăm như những con yêu tinh, giai đoạn mới này của Khu rừng Kỳ diệu phủ đầy tâm trí nó một tâm trạng say mê. Và nó còn bị ấn tượng nhiều hơn nữa bởi bài học tiết chế của rừng, vì những bạn đồng hành của nó không hề cố gắng giết chết các sinh vật đẹp đẽ này. Hiện tại đã có đủ thịt ăn.
Đêm đó sau bữa tối Jimmy kết bạn với bọn trẻ. Nó không quá buồn ngủ như đêm đầu tiên mà cũng không khó ở như đêm thứ hai, vì thế nó đi lang thang đây đó để thử những từ thổ dân mới học. Nhất là tới những cái nôi vì mấy em bé thổ dân thích nó. Ở chỗ nào nó cũng được những người tốt bụng cười chào. Thậm chí một vài người còn làm cho những món quà hay đồ trang sức. Cha của Taw-kwo cho nó một cái bao đựng dao có dây đeo. Nó trở nên quen thuộc với lũ trẻ và tham gia vào những trò chơi của chúng, ngồi xếp bằng trong một vòng tròn, chơi lượt của mình với số còn lại. Dù chỉ mới ba ngày, nó đã học được khá nhiều từ vựng, và nó lờ mờ hiểu nhiều hơn mức nó ghi nhớ.

Sáng hôm sau, một thằng bé mười sáu tuổi dắt nó đi săn trong rừng. Jimmy rất lúng túng nhưng cố gắng, và sau một số cuộc theo đuổi vô hiệu quả hai đứa tiếp cận được một con gà gô đang vỗ cánh. Con chim đang khệnh khạng đi qua đi lại trên một khúc gỗ mịn, phùng lông lên như một con gà lôi trống và vỗ mạnh đôi cánh để tạo thành tiếng vỗ trống trầm trầm mà Jimmy đã nghe thấy suốt ba hôm qua. Thằng bé thổ dân lắp mũi tên đầu tà vào cung và bắn. Rap! Mũi tên chạm vào một thân cây ngay sát cạnh đầu con gà gô. Con chim bay mất.

Nhưng đây là lần đầu tiên Jimmy cảm nhận được niềm vui săn đuổi. Đây là một công việc đáng bỏ công làm. Nó mượn cây cung và những mũi tên, và mỗi lần tạm dừng nó lại tập bắn vào những thân cây. Bằng cách bắt chước, sau một khoảng thời gian nó cũng thành công với những phát bắn khá chính xác, dù tất nhiên nó không thể vượt qua những anh bạn thổ dân của nó. Rồi nó bắt đầu rón rén đi theo một con gà gô. Hàng chục lần nó hoảng hốt lảng ra xa do đã tiếp cận quá vụng về. Bốn lần mũi tên của nó vút đi. Nhưng cuối cùng, khi con chim cảnh giác với tiếng dây cung bật, nó ngẩng đầu lên đúng lúc mũi tên đang bay tới. Jimmy ném cây cung xuống, nhào tới con mồi săn được với tiếng hét vui mừng.
Asádi, thằng bé lớn tuổi hơn, dạy nó cách giăng một cái thòng lọng lông ngựa qua lối mòn của một con thỏ, uốn cong một cây non theo cách thức nào đó để nó bật thẳng lêm trở lại khi bị chạm vào, nhờ đó giật bắn con thỏ lên giữa không trung Ở chân một vài thác nước, chúng cùng câu cá với dây câu và lưỡi câu. Một mẩu thịt, một cái lông chim màu sắc rực rỡ, thậm chí cả một cái cúc kim loại cũng có thể sử dụng để làm mồi câu được. Không cần phải chờ đợi. Ngay khi lưỡi câu chạm nước, hàng chục con cá đang lượn lờ đuổi theo nó ngay. Suốt những buổi chiều dài người ta vẫn thường nhìn những con cá lớn này phóng vọt lên rồi rơi ùm xuống nước trở lại. Khi Jimmy câu được một con trong số này, và không có Asádi tại đó để giúp nó một tay, con cá cứ bị lôi trì như thế mãi. Cuối cùng, khi chúng kéo được con cá khổng lồ lên một tảng đá bằng, trông nó thật đẹp với đôi mắt ngũ sắc long lanh và những chấm sáng trên người.

Nhiều câu đố của rừng cũng không kém phần thú vị, đó là vô số dấu chân xuất hiện trên mặt cát ướt của bãi cát. Asádi, Taw-kwo, hay ngay cả chú nhóc Oginik, nhỏ hơn nhiều so với bất kỳ đứa nào trong số chúng, có thể nói cho nó biết tên của chúng, nhưng chỉ kinh nghiệm lâu ngày mới dạy cho nó biết những con thú đó như thế nào. “Makwa”, chúng mô tả những dấu chân to nặng. “Me-én-gan,” chúng nói khi chỉ những dấu chân khác nhỏ hơn, tròn hơn và không quá bằng phẳng. “Bisíw," chúng trả lời khi nó hỏi về những dấu vết trông như miếng đệm lót. Nhưng nó không biết đó là con vật gì.

Tuy nhiên, một ngày nọ những chiếc xuồng chèo xuôi theo một hồ nước hẹp, Ah-kik kêu nó chú ý tới một vật gì đó màu trắng cách đó một khoảng xa mé dưới bờ hổ. Chấm trắng đang chuyển động chậm rãi về phía họ. Một lát sau, nó tự xác định nó là một con thú. Mọi người ngồi im lặng. Con thú không chút vội vã. Có khi nó chạy nước kiệu, có khi nó bước lững thững, có khi nó dừng lại để xem xét một thứ gì đó trên bờ hồ. Trong những chiếc xuồng, lông trên sống lưng của bầy chó dựng lên. Chẳng bao lâu Jimmy có thể nhìn thấy con thú đó không phải có màu trắng mà là màu xám, và trông nó khá giống những con chó của thổ dân ngoại trừ việc nó lớn hơn và đôi vai to rộng của nó chạy xuôi xuống vùng hông hẹp hơn. Khi nó tới chỗ đối diện với những chiếc xuồng đang nằm chờ đợi, những người thổ dân lớn tiếng thét lên. Giật mình, con vật chạy dọc theo bờ cát như một cơn gió. Nó lao từ điểm này sang điểm khác, cho tới khi chỉ còn là một chấm trắng trở lại, nó biến mất khỏi tầm nhìn. Những người thổ dân cười phá lên một cách khoái trá.

"Me-én-gan," Ah-kik giải thích.
Nhưng Jimmy hiện giờ cũng biết cả cái tên tiếng Anh của con vật, vì nó thường ngắm nhìn những con sói trong chuồng ở Công viên Bronx.

Nó học được từ Makwa theo một cách thức còn thú vị hơn. Một sáng nọ, Nó và Taw-kwo đi tới một khoảng trống giữa rừng. Cỏ cao gần tới đầu gối. Đột nhiên, cách chúng chưa đầy mười bộ, một con gấu đen to lớn đứng lên trên hai chân sau và sủa một tiếng gâu. Nếu một con người trong một căn phòng ở chốn văn minh đột nhiên sủa gâu gâu với bạn, hẳn bạn sẽ giật mình; nhưng khi nó là một con thú lớn ở một nơi hoang dã, bạn đánh bại mọi kỷ lục về nhảy lui ra sau. Ít nhất, Jimmy cũng đã làm điều đó, và nó toan bỏ chạy, nhưng Taw-kwo nhảy cỡn lên, hai cánh tay vẫy loạn xạ và hét lớn, cho tới khi con gấu, nó là một vật thích hòa bình, hạ xuống đứng trên bốn chân trở lại và chạy mất. “Makwa,” Taw-kwo nói, khi nó lấy lại hơi thở.

Nhưng lần thứ ba mới là thú vị nhất hạng. Chiều hôm đó, những người thổ dân da đỏ đã tới nơi cắm trại sớm, và lúc này toàn thể đoàn người, ngoại trừ Jimmy và những đứa bé nhỏ nhất, đã đi vào rừng. Jimmy đang thử tự mình làm một mũi tên, và đang mải mê với công việc. Đột nhiên nó nghe thấy một tiếng kêu lạ lùng ngay bên cạnh, và khi ngẩng lên nhìn, nó phát hiện có hai con mèo con màu xám đang nhào lộn cách nó chưa tới ba bộ. Và rồi, bị thôi thúc bởi một tác động thôi miên lạ lùng nào đó, nó ngước mắt lên cho tới khi nhìn thấy nguy cơ dưới bóng râm của một cây thông ở bìa rừng. Một cặp mắt dữ tợn màu vàng đang nhìn vào mắt nó. Từng chút một, nó phát hiện ra một thân hình mềm mại, những bàn chân giống như miếng đệm lót, những sợi ria dài, và đôi tai nhọn. Và nó nhận ra ngay tắp lự rằng con vật đó đang tức giận.
Ngay lúc đó, một trong những đứa bé nhỏ nhất phát hiện ra lũ mèo con, và nó chập chững bước ngay về phía đó để nhìn kỹ những anh bạn mới. Một tiếng gầm gừ trầm trầm vỡ ra từ chỗ bóng râm. Nhưng một vệt sáng, con vật lao ra. Sức nặng của nó xô ngã thằng bé. Mấy đứa khác kêu thét lên. Con vật lưỡng lự, đặt một chân lên ngực đứa bé, chưa quyết định nên làm gì.

Jimmy hốt hoảng, nhưng nó nhớ có thấy khẩu súng của Makwa để dựa vào một súc gỗ sau lưng nó. Với cử động đầu tiên của nó, con thú lại gầm gừ, liên tục xòe ra co vào bộ vuốt của nó.
Jimmy cố cử động hết sức thận trọng. Thằng bé thổ dân nằm im. Cuối cùng, khẩu súng trường đã nằm trong tay của cậu bé da trắng. Nó phải tựa cái báng súng lên mặt đất vàdùng cả hai tay để lên đạn, và ngay cả khi đó khẩu súng cũng nặng đến nỗi nó chỉ có thể nâng nó lên ngang mắt. Chuyển động đầu tiên của họng súng khiến con thú phát ra những tiếng gầm dữ dội như bão tố. Jimmy biết rằng nó chỉ có một khoảnh khắc ngắn ngủi. Nó cố hết sức chĩa nóng súng run rẩy vào đúng điểm đến, và bóp cò. Đó là tất cả những gì nó biết. Tri giác tiếp theo của nó là có nước dội lên mặt nó, kế đến là cơn đau ngày càng tăng ở khu vực bã vai. Khẩu súng trường, do không được giữ đúng cách, đã hất nó ra xa mười bộ.

Nhưng đứa bé thì an toàn vô sự; con thú chỉ còn lại nửa cái đầu; hai con mèo con không may bị đàn chó quay về giết chết; và Jimmy thu nhận được mẩu thông tin mới toanh – con bisíw [1]đó, với những dấu chân to rộng giống như miếng đệm lót, là một con mèo lớn.
Những ngày cứ thế trôi qua. Đôi khi họ chèo xuồng suốt ngày; đôi khi họ vác đồ đạc qua những khu rừng; đôi khi họ lặn lội một cách cực nhọc qua những đầm lầy. Họ chịu đựng những cơn mưa, gió, cái lạnh. Mùa xuân vẫn luôn đi trước và dòng nước lũ rút xuống dần. Họ đã có thể nhìn thấy những con vịt tơ. Cây cối trong rừng ngày càng thưa thớt.
Những con tuần lộc thế chỗ cho những đàn nai. Giờ thì Jimmy đã có thể chuyện trò với các bạn của nó, và nhớ lắng nghe nhiều, có thể hiểu hầu hết những gì họ nói.

Cuối cùng, sau tiến trình nhiều dặm xuôi theo một dòng nước xiết không có dốc, họ tới điểm hợp lưu của dòng sông với một dòng sông khác, họ lên bờ và dựng một trại dài ngày ở đó. Đầu tiên những người phụ nữ dựng những chiếc lều hình nón với nhiều cọc. Rồi họ đào bếp và treo những cái ấm lên. Sau đó họ cắt thật nhiều nhánh cây bóng nước để lót sàn lều và ngưỡng cửa. Cuối cùng, họ bắt đầu dựng một túp lều dài hình chữ nhật bằng những cái cọc, nhánh cây và da thú có hình trang trí.
Trong lúc đó, tất cả những người đàn ông đi săn thú, còn đám con trai thì đi đánh bắt cá. Họ xắt lát mỏng, ướp muối và hong khói những thứ săn bắt được. Sau đó mấy thứ này được đặt trên những giàn giáo ngoài tầm với của đàn chó. Trong vòng một tuần, khu trại đã có nguồn thực phẩm dồi dào.

Cuối cùng, họ mở những gói đồ và lấy ra tất cả những thứ đồ trang sức bằng hạt, những áo quần lộng lẫy để lau chùi và phơi nắng. Sau đó toàn đoàn rút vào một trạng thái mà theo Jimmy là sự đợi chờ náo nức. Nó hỏi họ về chuyện đó, và họ trả lời, nhưng những từ ngữ đó nó chưa từng biết. Nó chỉ biết rằng ở khúc ngoặt bên dưới luôn có một trạm lính gác. Và một sớm mai nọ, trạm gác đó nổ một phát súng. Ngay lập tức cả trại ùa ra. Những người đàn ông vớ lấy súng, hăm hở chạy tới nơi súng nổ. Jimmy chạy theo trong niềm phấn khích đến nghẹn thở.

❀ ❀ ❀
[1] Linh miêu Canada