Ngày này sang ngày khác, Khu rừng Kỳ diệu bị bỏ lại sau lưng. Hành trình ngược dòng nước thường rất khó khăn, và đôi khi Jimmy cùng những người khác phải bước xuống những chỗ nước nông để giúp đẩy thuyền. Nhiều lần những người thổ dân phải dùng sào để đẩy suốt nhiều dặm, thậm chí họ phải tự biến mình thành những con ngựa để kéo xuồng trong lúc một người trong bọn cầm lái. Đôi bờ của con sông toàn là đá tảng và đôi khi rất dốc; hoặc đầy bùn lầy và những cụm cỏ cao vướng víu. Khi Jimmy phải đi bộ, việc này rất thường xuyên, nó thấy rất khó mà đi tiếp, và đêm về, nó hoàn toàn kiệt sức.

Nhưng bù lại, những dòng nước đầy lũ vịt tơ, đã lớn hết cỡ nhưng chưa bay được; còn các khu rừng thì đầy những con gà gô choai thường đứng trên những thân cây trong lúc nó bắn hết mũi tên này tới mũi khác. Và thi thoảng, ở nơi mấy thân cây bị một cơn bão xa xưa đánh đổ hoặc bị lửa thiêu rụi, bọn trẻ con thường bắt gặp một rẻo đất mọc đầy những cây mâm xôi hoang dã ngon lành, treo lũng lẵng những chùm quả chỉ chờ mấy bàn tay hái xuống. Khi đó chúng tha hồ chén căng bụng và chất vào đầy những cái mokoks[1] làm bằng vỏ cây để vác về xuồng. Chúng cũng thường chạm trán với mấy con gấu đen to lớn ở những chỗ này. Đầu tiên Jimmy cũng hoảng sợ, nhưng ít lâu sau, nó bắt chước các bạn đồng hành của mình, chúng chỉ cần hò hét lớn để đuổi con thú đi chỗ khác. Tuy nhiên, có một lần chúng không cố làm điều này mà thụp xuống nấp dưới những bụi cây và thận trọng chuồn ra xa. Và Jimmy hiểu rằng không thể cà rỡn với một con gấu có con nhỏ.

Cho tới lúc này, Jimmy đã hoàn toàn quen thuộc với cuộc sống mới của mình. Nó nói lưu loát tiếng Ojibway, nếu không phải luôn chính xác khi dùng những thể động từ kinh hoạt, và hiểu tất cả những gì mấy người khác nói. Nó mến mấy đứa nhỏ khác, và được chúng xem như là một đứa trong bọn. Nếu có đôi khi nó thấy nhớ nhà, một sự cố mới nào đó của cuộc sống đổi thay nhanh chóng sẽ hầu như ngay lập tức xua đi cảm giác đó khỏi tim nó. Nó không ích kỷ, cũng không vô cảm, mà chỉ là một cậu bé tự nhiên, mạnh khỏe, sống sôi nổi với mọi thứ xung quanh, và hoàn toàn hạnh phúc miễn là sự mới mẻ và kỳ diệu vẫn kéo dài.

Jimmy hiểu rằng không thể cà rỡn với một con gấu có con nhỏ.
Lúc này dòng nước hẹp lại và thường xuyên đứt quãng. Một hôm đoàn người phải vác xuồng lên bờ chín lần. Sau đó nó trở thành một chuỗi hồ dài và hẹp nối với nhau bằng những dòng nước hầu như không to hơn một con suối cỡ vừa. Cuối cùng, nó tới một vũng nước nằm ở chân một con dốc.

- Đây là nơi chúng tôi đã tìm thấy cháu – Makwa bảo nó.
Jimmy nhìn. Tất cả mọi chuyện quay lại với nó một cách sống động – cái lạnh, thức giấc trên những ngọn đồi đầy đá cuội và cánh rừng ma quái, cuộc đi bộ vất vả qua khu rừng, những chiếc xuồng thổ dân phóng xuống dốc. Thế rồi tâm trí nó tiếp tục đi xa hơn theo chuỗi sự kiện. Nó cảm thấy nhịp lắc lư kẽo kẹt của con tàu, nụ hôn chúc ngủ ngon trên môi nó, giọng nói đầy quan tâm của mẹ nó.
- Nó có xa New York không? – Một lần nữa nó hỏi Makwa.
Và Makwa, đã được Antoine Laviolette nói cho biết đôi điều, dù mơ hồ, trả lời nó giống như lần trước: “Rất xa.” Nhưng ông không nói gì thêm, vì ông biết giờ đây thằng bé phải rời khỏi họ, và tim ông thấy buồn.
Về vấn đề này, một người thổ dân, hoặc thật ra bất kỳ một tay áp tải hàng miền bắc nào, không thích tới chặng cuối hành trình của mình vào lúc xế chiều. Nó làm mất đi ấn tượng của sự kiện. Thông thường, ông thích dựng trại cách điểm đến chừng mười lăm phút hơn là bỏ lỡ cuộc đi vào thị trấn long trọng và được nhiều người quan sát. Trong trường hợp này cũng thế. Makwa và người của ông dựng trại ở bìa cánh rừng ở mé ngoài Chapleau và đường tàu Canadian Pacific. Nhưng đối với Jimmy, trông chỗ này không khác gì, cũng không gần với văn minh hơn so với điểm hợp lưu của hai dòng sông cách đó vài trăm dặm về phía bắc.
Nhưng đêm đó, sau khi quấn quanh mình tấm áo choàng da thỏ, trái với thói quen thường ngày, nó không thiếp ngủ ngay lập tức. Ngọn lửa nhảy múa với những cái bóng. Jimmy mơ màng nhìn chúng. Những ý nghĩ gợi nên bởi những lời giản dị của Makwa không hề giảm đi. Lần đầu tiên tim nó, với tất cả sức mạnh, hướng về ngôi nhà mà nó đã rời khỏi một cách bí ẩn. Từng chi tiết lần lượt hiện ra trong tâm trí nó – cái giường êm ái, căn phòng xinh xắn, những món đồ chơi, những người giúp việc lặng lẽ, những gian phòng ấm áp, và trên tất cả là bà mẹ trẻ xinh đẹp của nó, người rất đỗi thương yêu nó. Jimmy nuốt nước bọt một cách khó khăn. Nó muốn gặp lại tất cả. Ngoài kia, trong Khu rừng Kỳ diệu, một con cú nhỏ đang thổi cái kèn thiếc của nó, ko-ko-ko-oh! nó rúc lên. Những cái bóng nhảy múa, ngày càng to lên và kỳ dị hơn trước viễn cảnh mờ mờ của thằng bé. Chúng lần lượt nhòa đi. Jimmy đã ngủ. Nhưng, cũng hệt như bốn tháng trước, nó rời khỏi ý thức, mang theo một niềm khát khao lớn trong tim. Khi ấy, đó là viễn cảnh về Lối Mòn Dài, hình thành bởi những cái nhìn đăm chiêu mơ màng qua ô cửa sổ mờ tuyết; bây giờ đó là một giấc mơ về quê nhà.

Sau hai giờ một chút, Jimmy ném chiếc áo choàng sang bên và ngồi dậy. Nhanh nhẹn, nhưng với những cử động chính xác, nó mặc quần áo ban ngày vào. Với sự chính xác tương đương, nó bắt đầu đi ra khỏi khu trại đang say ngủ. Một giọng nói gọi nó. Nó trả lời một cách mạch lạc. Trong giây lát, nó đã ra tới khoảng đất trống, và một lúc sau, chầm chậm lê bước xuôi theo con đường lớn bụi bặm của cái thị trấn nhỏ vùng biên giới. Nó tiến thẳng tới trước, mắt gắn chặt vào một điểm giữa hai dãy nhà. Ở cuối đường, nó quẹo sang trái, bước một cách chính xác lên một cái bục gỗ nhỏ, và quẹo sang hướng một con tàu sáng ánh đèn đang tới gần cái ga xép. Một người bán vé ngáy ngủ nói với nó. Một lần nữa nó trả lời, nhưng câu trả lời của nó bị chìm lấp trong tiếng gầm rú của con tàu. Trong trạng thái bối rối, Jimmy trèo lên tàu, quay sang phải, đi thẳng tới toa số 7, vạch mấy tấm màn ra, và ngả lưng xuống giường với một tiếng thở dài nhẹ nhõm. Một lúc sau, khi con tàu lăn bánh, Jimmy cuộn người một cách thoải mái thành một quả bóng nhỏ, tay dúi xuống dưới gối, và mắt nó nhanh chóng khép lại.

Cuối cùng một tia nắng rọi thẳng vào mặt đã đánh thức nó dậy. Ấn tượng đầu tiên của nó là nó đã được phép ngủ rất muộn, vì thói quen của những người bạn thổ dân của nó là thức dậy trước lúc mặt trời ló lên trên hàng cây của khu rừng. Thế rồi ý thức mang tới cho nó tiếng động lách cách loảng xoảng đều đều. Trong cơn kinh hãi, nó nhắm chặt mắt lại.
Giây lát sau, nó đánh liều hé mắt nhìn. Bên trên nó là một bề mặt sáng mờ và nó nhận ra hình dáng của chính mình trong đó. Bên tay phải là hai ô vuông tối rạng ánh nắng mặt trời ở các mép. Bên trái là mấy tấm màn đang đung đưa một cách không đều. Và cả tấm nệm nó đang nằm cũng đung đưa, cùng một nhịp với tiếng động kim khí của con tàu đang di chuyển.
Jimmy dần dà hiểu ra mọi chuyện. Nó đã được trợ giúp trong trải nghiệm này bởi trải nghiệm của buổi sáng trước đó đã lâu, khi nó nhận ra mình đang đứng trên một dốc dồi đầy đá cuội một cách bí ẩn. Chiếc đũa thần lại vung lên lần nữa. Nó đã quay lại con tàu. Tất nhiên cha mẹ nó phải ở gần bên.
Nó vạch màn ra và nhìn thẳng vào mặt của người phu khuân vác da đen. Người này nhìn nó chằm chằm.

- Cậu đang làm gì ở đây? – Anh ta hỏi.
Thế là Jimmy nhảy xuống sàn, để không chỉ đầu mà cả thân hình mặc áo da hươu của nó hiện ra trong tầm mắt.
- Vì Thượng đế! – Người phu khuân vác kêu lên. Jimmy biết đích xác điều nó muốn nói, nhưng những từ tiếng Anh không quen thuộc dính chặt vào cổ họng nó. Cuối cùng nó cũng cố lắp bắp hỏi:
- Ở đâu? Mẹ?
Người phu khuân vác vẫn còn vô cùng kinh ngạc, nhưng viên quản lý toa có giường, lúc đó đang tới gần, đã nhận ra tình cảnh trong một cái nhìn. Toàn tuyến đường tàu đã tìm kiếm thằng bé mất tích suốt năm tháng qua.
- Cháu tên là Ferris? – Viên quản lý hỏi.
Jimmy gật đầu.
Sau đó là một cảnh tượng thú vị, bạn có thể chắc thế. Những cú điện tín lại được gửi đi, nhưng lần này là những cú điện tín vui. Cha mẹ của Jimmy đáp ngay chuyến tàu xuyên miền tây.
Tất cả những nhân công đường tàu và hành khách đã làm nhiều thứ cho thằng bé. Họ cưng chiều nó, cho nó thức ăn thức uống và quần áo. Nhưng họ không thể buộc nó mở miệng.
- Cháu đã ở đâu suốt thời gian đó? – Viên quản lý to lớn hỏi.
- Trong xứ thần tiên – Jimmy nghiêm nghị đáp. Một tay thương khách sang trọng cười rộ hồi lâu vì câu trả lời và vẻ mặt nghiêm trang của Jimmy. Sau đó Jimmy im lặng. Họ sẽ không tin, vậy thì nói cho họ nghe có ích gì cơ chứ?
Xế chiều hôm đó, có hai người nôn nóng nhảy lên tàu, vừa khóc vừa cười ôm chặt lấy Jimmy, và tim nó tràn ngập niềm rung cảm. Nó nhận ra rằng bất chấp sự thú vị của Khu rừng Kỳ diệu, lúc nào nó cũng nhớ mong mẹ nó. Sau đó, nó cùng quay về nhà với cha mẹ.

Nhưng cả lúc này nó cũng buộc phải lặng im.
- Giờ hãy kể cho mẹ nghe về nơi con đã tới – Mẹ nó nói, sau khi họ đã bình tĩnh lại chút ít.
Thế là Jimmy bắt đầu kể với họ bằng thứ ngôn ngữ của truyện cổ tích, hệt như Grimm và Andersen sẽ kể về Chú vịt con xấu xí hay một chuyện đại loại thế. Ông bà Ferris không thể hiểu đầu cua tai nheo gì cả.
- Nhưng, con cưng – Bà Ferris nhận xét – Không thể như thế được! Con đã rời khỏi tàu lúc nào và bằng cách nào?
- Con đã được một chiếc đũa thần chở đi – Jimmy giải thích – Và sau đó trong Khu rừng Kỳ diệu con đã gặp Makwa, mẹ thấy đó.
Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực của nó để làm cho mọi thứ trở nên đơn giản, họ vẫn khăng khăng quay đi quay lại một điểm. Jimmy nhanh chóng rút ra kết luận cũ của mình, rằng những người lớn thật ngốc. Chẳng bao lâu nó hoàn toàn im bặt. Họ không tin. Nói thì có ích gì?
Vì thế, nó giấu kín câu chuyện về Khu rừng Kỳ diệu trong quả tim bé nhỏ cùng với những niềm tin vững chắc của nó về các thần linh, các em bé nước, các phúc thần và những câu chuyện tương tự. Dù cố gắng cỡ nào, những người lớn không bao giờ có thể dụ dỗ nó nói thêm lời nào về trải nghiệm bí ẩn suốt năm tháng của nó. Nó trả lời mọi câu hỏi một cách mơ hồ. Manh mối duy nhất mà họ có là những thứ quần áo mà nó đã mặc, và những âm tiết kỳ lạ mà đôi khi nó sử dụng một cách tình cờ trong lúc chuyện trò hay khi gọi tên những con thú trong vườn thú. Bà Ferris cố công dò hỏi điều tra, nhưng không biết được gì thêm. Makwa và đoàn của ông đã nhận khoản tiền thưởng hàng năm của họ, và giờ đã đi xa lên miền bắc giữa những vùng hoang dã.

Hiện giờ, đôi khi vào lúc chiều chạng vạng, trước mặt Morris, người quản gia, vào phòng để thắp đèn, nhóc Jimmy co đôi chân bên dưới cái ghế da rộng lớn của thư viện và mơ tới những tháng ngày vui thú. Một lần nữa nó nhìn thấy bìa rừng sẫm tối, những xoáy nước và ánh lấp loáng của dòng sông, những màu sắc của khu trại thổ dân da đỏ; nó nghe thấy tiếng những thác nước chảy ào ạt, tiếng kêu của lũ thú rừng, thứ ngôn ngữ mềm mại đơn đớt của bộ lạc Ojibway; nó ngửi thấy mùi tươi rói của cây bóng nước, mùi khói củi hăng hăng, mùi thơm của da hươu mới. Các sự kiện trong những ngày tháng đó lần lượt hiện ra trước mắt nó. Nó nhìn thấy tất cả một cách rõ ràng, nhưng không hề tiếc nuối, vì nó tin chắc rằng chúng nằm trong đôi tay của một phù thủy, và do đó nó không mong mỏi chúng như chúng ta mong mỏi những niềm vui quá vãng có khả năng lặp lại. Nhưng khi trời hoàn toàn tối, và những cái bóng nhảy múa một cách lạ lùng trên những tủ sách đen giống như vào những thời kỳ xa xưa chúng đã nhảy múa trong những cánh rừng đen, những thứ ảo ảnh trở nên hiện thực, và nhóc Jimmy, nhìn đăm đăm vào ánh lửa, tự hỏi có khi nào nó gặp lại già Makwa, Taw-kwo, Asádi, hoặc cô bé xinh xắn da nâu May-may-gwan nữa hay chăng.

❀ ❀ ❀
[1] Một loại thùng của thổ dân da đỏ.