Jimmy cố chạy hết sức về phía tiếng súng. Khi hổn hển chạy tới nơi, nó nhìn thấy ở giữa khoảng xa một đoàn xuồng đang chậm rãi đi ngược dòng nước. Những người bạn của nó đang bận rộn nạp lại đạn, và trong lúc nó đang quan sát, một loạt súng khác nổ vang, và ngay lập tức được đáp lại bởi những người lạ đang tiến tới gần. Tuy nhiên, phần gây thất vọng là những phát súng đều bắn chỉ thiên. Và trong vòng vài phút, các vị khách của họ bước lên bờ, được nghiêm trang chào đón với thật nhiều cái bắt tay.

Đoàn người này có khoảng năm mươi tới sáu mươi người lớn và một đám trẻ con lố nhố. Gương mặt họ ngắn và to hơn mặt những người bạn của Jimmy, và như nó sớm phát hiện ra, họ nói một thứ ngôn ngữ khác. Những người đàn ông lập tức dọn dẹp phát quang một khoảng trống, trong lúc đám phụ nữ bắt đầu bốc dỡ những đồ đạc trên xuồng lên bờ. Trong vài giờ kế tiếp, một khu trại khác đã được dựng lên cách trại cũ chừng một trăm bộ, sau đó bắt đầu có một cuộc thăm viếng giao lưu hữu nghị giữa đám đàn ông và những cuộc hội ngộ tán chuyện bao đồng của đám đàn bà, những cuộc đánh nhau và rốt cuộc là hòa giải giữa hai đàn chó. Với bọn trẻ con cũng tương tự. Thoạt tiên chúng xúm thành vòng tròn và nhìn nhau cảnh giác, rồi chúng cãi nhau, rồi chúng nhanh chóng trở thành những người bạn.

Bộ lạc Ojibway trao tặng bộ lạc Cree những thứ thực phẩm đã tích trữ được trong kho; để đáp lại, bộ lạc Cree tặng họ những món quà xa xỉ của miền duyên hải, như thịt ngỗng hong khói và cá khô. Jimmy rất vui khi một thằng bé người Cree tặng nó một đôi giày cứng làm bằng da hải cẩu, có lông ở mặt trong, và nó có thể tặng lại hai mũi tên đầu tà làm bằng gỗ thích – một thứ gỗ không có ở vùng viễn bắc.
Và sau đó là những ngày dài nhàn rỗi của khu trại dài ngày. Jimmy và các bạn nó tìm ra những ao nước không có dòng chảy, và chúng chơi đùa suốt ngày ở đó. Jimmy là đứa bị rám nắng nhiều nhất so với đám bạn thổ dân vì vầng mặt trời nóng bức của miền bắc. Chúng bắt cá trong những vũng nước nông, thám hiểm những khu rừng xung quanh cho tới khi chúng biết từng phân trong vòng năm dặm, và với một sự nhẫn nại vô hạn cùng nhiều lần thử thách, chúng đã giết được một số gà gô đỏ, gà gô trắng và gà gô nâu. Chúng đặt bẫy bắt chuột xạ, và nôn nao tìm kiếm các lối mòn của lũ chồn và một loài hải ly sinh sống tại đó, nhưng những người lớn nghiêm cấm chúng không được quấy rầy những con thú có lông đang mang thai vào thời điểm này. Nhưng trò chơi vui nhất là trò Chia phe đánh trận.



Asádi và một đứa trong đám nhóc người Cree sẽ chọn bên. Mỗi đứa bé được trang bị hai hoặc ba mũi tên đầu tà đã được bó rêu ở đầu tên, cột lại một cách an toàn bằng dây da hoẵng. Một phe sẽ trốn vào rừng, và sau một khoảng thời gian, phe kia sẽ đi tìm. Rồi có những cuộc phục kích, những điều kinh ngạc, những cuộc rút lui đầy mánh khóe. Bọn nhóc len lỏi khắp khu rừng với sự lén lút không kém gì lũ thú hoang. Chúng lẩn ra sau những súc gỗ, quan sát với những đôi mắt sáng. Chúng dõi tìm dấu vết của kẻ thù, hoặc che đậy dấu vết của chúng để không bị theo dấu ngược lại. Và bạn có khả năng giật nảy cả người vào bất kỳ lúc nào do tiếng bay xé gió của một mũi tên và bị bầm tím khi trúng tên. Vì dù các đầu mũi tên đã được bó lại để ngăn ngừa tổn thương nghiêm trọng, chúng cũng gây đau đủ để xác định một đối tượng thật sự chưa bị “giết”; vì khi bạn bị giết, bạn phải quay lại khu trại và chơi với lũ bé gái.

Dĩ nhiên, Jimmy chưa bao giờ được kế thừa hay đạt được kỹ năng chiến đấu, vì thế nó phải trải qua khá nhiều thời gian ở trong trại. Nhưng nó tiến bộ rất nhanh, và sự chắc chắn của một vết thâm tím trên da thịt bổ sung thêm tính chất kích thích của trò chơi. Và, ồ, cứ nghĩ mà xem! Nó đã hai lần giết được đối thủ. Ngoài ra nó cũng thích đám bé gái. Khi không giúp đỡ mẹ chúng, chúng rất tử tế với Jimmy, khoe với nó những con búp bê làm bằng giẻ và dạy cho nó chơi những trò chơi lặng lẽ, thú vị. Nó rất thích nhiều đứa trong bọn.

"Đám nhóc len lỏi khắp khu rừngt."
Và bản thân cuộc sống trong trại luôn rất thu hút sự quan tâm của nó. Những người phụ nữ se dây da, trang trí hạt cườm lên nhiều thứ quần áo khác nhau, còn những người đàn ông đang tiến hành một nghi lễ bí mật và ồn nào nào đó trong túp lều lớn làm bằng cọc và nhánh cây.

Jimmy chưa bao giờ nhìn thấy những gì diễn ra bên trong, nhưng nó sẵn lòng ngồi cả giờ trong nắng nóng, lắng nghe tiếng ngân nga trầm bổng của những bài hát tông thứ lạ lùng, tiếng những khúc xương gõ vào nhau lóc cóc, tiếng trống bập bùng, tiếng dậm chân và vỗ tay. Thỉnh thoảng, một trong số đàn ông sẽ xuất hiện một lúc ở cửa lều, mắt hướng lên trên, mặt vẽ đầy những vạch hoặc chấm màu rực rỡ, thân người khoác những tấm da hoẳng trên trang trí đầy những hạt cườm. Và cuối cùng, khi nghi lễ kết thúc, việc nhìn thấy những người đàn ông ăn mặc lạ lùng bước ra bóng đêm đang ập xuống và đi hàng một vào những túp lều của họ là một niềm vui thuần khiết. Quả tim nhỏ bé của Jimmy luôn rộn lên với điều mà vì lý do nào đó nó cảm nhận được một cách mơ hồ giống như là sự tái sinh của một quá khứ rực rỡ.
Lúc này những ngày rất dài. Mãi tới gần chín giờ đêm mặt trời mới lặn. Và vào ban đêm vầng bắc cực quang sáng rực khiến lòng Jimmy tràn ngập niềm kinh ngạc và kính sợ với những ánh lửa đủ màu giữa đỉnh trời cao tít.
Jimmy không có người bạn nào trong số những người trưởng thành của bộ lạc Cree. Đây là lẽ tự nhiên, vì một chiến binh không có thời gian dành cho một đứa bé. Nhưng tất nhiên là họ chú ý tới và bàn bạc khá nhiều về sự có mặt của nó.

Vừa hay trong đoàn của bộ lạc Cree có một người lai Pháp, Antoine Laviolette. Vào mùa đông anh là người gác trạm của Công ty Vịnh Hudson, nhưng vào mùa hè anh thích du hành với những người bà con hoang dã của mình hơn. Một đêm nọ Jimmy vô cùng ngạc nhiên khi người đàn ông này nói chuyện với nó. Đó là từ tiếng Anh đầu tiên mà thằng bé nghe thấy kể từ lúc già Makwa hỏi nó.
- Xin chào. Em khỏe không?
- Xin chào – Jimmy đáp lại.
Trong vòng mười phút, họ đã chuyện gẫu với nhau một cách thân mật. Và kể từ lúc đó trở đi, Jimmy có một niềm thích thú mới trong những buổi hoàng hôn dài dằng dặc sau khi ăn xong bữa tối. Vì do giòng giống, Antoine Laviolette có xu hướng thích nói chuyện, và có biệt tài nói chuyện rất hay, và anh ta cũng thích một thính giả nhiệt thành.
"Jeemy!" Anh ta thường gọi, “Tới đây nào. Em có bao giờ nghe nói về nước mặn chưa, vì sao mà nó không trở thành thứ không uống được?
Thế rồi Jimmy, mắt mở to, sẽ nghe kể về Hội đồng Súc vật và âm mưu của nó nhằm chống lại Si-Sak, con chồn hôi lớn, và con lửng châu Mỹ giúp giết nó như thế nào, nhưng con lửng cũng bị dính đầy chất xạ của con chồn, và con lửng đã làm ô uế nước biển ra sao khi nó tắm, khiến nước biển không còn thích hợp cho việc uống. Hoặc nó cũng biết được vì sao Thần Manitou vặn một số loài cây lại khiến thân của chúng không thể tách đôi thẳng được, hay vì sao lông của chồn ecmin chuyển từ màu đỏ sang màu trắng vào mùa đông. Hoặc nó nghe mọi chuyện về Hiawatha, hệt như hiện nay bạn có thể đọc về ông trong trường ca của Longfellow, cùng những huyền thoại và những cái tên đó. Với nó, tất cả những câu chuyện này thật tuyệt vời, và chúng đưa nó tới thật gần với những loài thú vật trong rừng. Nó đi tới chỗ nhìn chúng giống như những người thổ dân, không phải là loài thấp kém hơn so với nó, mà chỉ khác biệt với nó thôi; hoặc, nói cách khác, nó bắt đầu xem bản thân nó và các bạn đồng hành của nó cũng là một loài thú vật, nói một thứ ngôn ngữ khác, và sống một cuộc sống khác, nhưng về cơ bản không khác biệt về chủng tộc.


Vì thế nó hiểu vì sao khi một con hải ly bị giết thịt cho Tiệc Trăng, người ta phải cột một dải len và những sợi dây da hươu quanh đuôi của con vật, và vì sao Ta-wap, người thợ săn, phải mặc những quần áo đẹp nhất của mình trước khi vào rừng để giết một con gấu, và vì sao những cái sọ đã rửa sạch của một số con thú được cắm trên những cái cọc gần dòng nước. Vì dù việc giết chết những sinh vật đó là cần thiết, thổ dân da đỏ phải tôn vinh linh hồn của chúng.
Và trong tháng Berry Moon, một sự kiện buồn bã khiến cả trại phải khóc than. Vì bé gái Si-gwan ăn phải một cái nấm độc, và bất chấp thuật phù thủy, những loại cỏ và bùa chú, nó ngày càng yếu đi cho tới lúc chết. Lúc đó tiếng than khóc nổi lên trong túp lều của gia đình nó. Những người phụ nữ xõa tóc ra, rắc tro lên đầu mình và cất cao giọng than van, trong lúc Au-mick, cha của nó, vẽ màu lên mặt như một hình thức để tang.

Các nghi thức lễ tang diễn ra vào buổi tối giữa hai đống lửa to. Những người thổ dân nghiêm trang ngồi xếp bằng thành một vòng tròn, tất cả đều mặc những quần áo đẹp nhất của mình. Ở giữa là một cái bệ cao bằng cành cây, trên đó đặt một cỗ quan tài làm bằng vỏ bạch dương. Gia quyến của người chết ngồi bên dưới, tóc và quần áo của họ rối nhàu, mắt nhìn xuống. Jimmy người co lại gần bạn nó, Antoine Laviolette. Trong bầu không khí tịch mịch, nỗi kính sợ trước bóng tối, ánh lửa, những bóng người nhảy múa, cái chết và những con người lặng lẽ tràn ngập quả tim bé nhỏ của nó
Một hồi lâu sau, già Makwa tiến vào giữa vòng tròn.
- Ồ, Wábisi, em gái bé nhỏ của ta – Ông nói với người mẹ – Em không nên đau khổ. Vì con gái của chúng ta đã trưởng thành, hẳn nó đã nhiều lần bị đói, lạnh và kiệt sức. Nhưng giờ đây, nơi nó đến không còn cái đói, cái lạnh hay sự mệt nhọc nữa. Vì thế em nên vui mừng.
Ông khom xuống và rạch hai lần qua lớp vỏ của cỗ quan tài.
- Ồ, Thần Kitche! – Ông kêu lên – Tôi cắt những nơi này để linh hồn con gái của chúng tôi có thể đến và đi tùy ý thích, để nó có thể thỉnh thoảng tới thăm chúng tôi, để nó có thể nhìn thấy em gái tôi, Wásibi, khi nó rất buồn.

Ông lại quay sang người mẹ:
- Con gái của chúng ta đã ra đi, ồ, em gái của ta, nhưng vào cái ngày mà Pau-guk [1] mang em đi, em sẽ gặp lại nó. Nhưng nó sẽ thay đổi tất cả, và em sẽ không biết nó, nhưng khi em bước vào Cõi Âm, khi đó em phải luôn hát bài ca ngắn này, và nó sẽ biết em – Với một giọng thật cao và trong một cách đáng ngạc nhiên, già Makwa ngâm nga một giai điệu thứ lạ lùng với một âm điệu buồn rơi nước mắt – Và khi nó nghe bài ca đó – Ông nói tiếp – Nó sẽ trả lời bằng bài này – Ông hát một bài ca ngắn khác. Những hợp âm kéo dài ai oán bóp nghẹn cổ họng của Jimmy khiến nó khóc nấc lên – Và bằng cách đó, em và nó sẽ nhận ra nhau – Ông nói.


Già Makwa tiến vào giữa vòng tròn.
Mấy thanh niên mang cỗ quan tài tới một cái huyệt đã được đào sẵn dưới tán một cây thông gần đó. Sau khi lấp đất lại, ba người phụ nữ quỳ xuống và khéo léo dựng lên một túp lều thu nhỏ bằng vỏ bạch dương, với dủ mọi chi tiết. Sau đó, già Makwa bắt đầu nói với một giọng trầm trầm tự tin, hướng về phía cái huyệt:
- Ồ, Si-gwan, con gái bé bỏng của chúng ta. Ta đặt cái cung và những mũi tên này vào lều của con để con được trang bị trong Chuyến hành trình dài.
- Ồ, Si-gwan, con gái bé bỏng của chúng ta, ta đặt con dao này vào lều của con để con có vũ khí trong Chuyến hành trình dài.
- Ồ, Si-gwan, con gái bé bỏng của chúng ta, ta đặt đôi giày đi tuyết này vào lều của con để con có thể đi nhanh trong Chuyến hành trình dài.
Và theo cách thức đó, ông đặt vào túp lều tí hon thêm một đôi giày da hươu, một chiếc xuồng mô hình và mái chèo, thức ăn, và một tấm áo choàng tí hon.

Sau đó, tất cả bọn họ lặng lẽ trở về trại. Tất cả, trừ Wásibi, người mẹ mất con. Bà ta ngồi thu người trên mặt đất cạnh huyệt mộ, tấm chăn trùm lên đầu. Đêm đó Jimmy mơ thấy hình dáng lẻ loi, bất động và im lặng của bà ta.
Suốt ba ngày ba đêm sau, người phụ nữ để tang cho con gái của bà ta, rồi đứng lên và thực hiện các bổn phận thường ngày của mình với nét mặt thản nhiên. Và cái huyệt nhỏ bị bỏ mặc cho mặt trời, tuyết, mưa và lòng thương xót của một Thiên nhiên lý giải được mọi điều, lãng quên hết mọi điều.

Và giờ đây đã tới lúc nhổ trại lên đường, vào cuối tháng Berry Moon, ngay trước tháng Many-Caribou-in-the-Woods. Bộ lạc Cree phải quay lại Nhà máy Moose ở vịnh Hudson để phát quang những mảnh đất đặt bẫy; bộ lạc Ojibway thì quay theo lối cũ tới Chapleau để nhận tiền hợp đồng của họ từ chính phủ Canada. Jimmy không hiểu được ý nghĩa của điều này, cũng không biết rằng một khi những chiếc xuồng đi ngược dòng sông, nó sẽ tiến về phía đường ray trở lại. Nó chỉ biết rằng một cuộc di chuyển sắp xảy ra, và vui sướng vì điều đó. Khu trại rất vui, nhưng những chuyến du hành mạo hiểm còn vui hơn. Nó không hề biết nó tới gần đến mức nào ngôi nhà giả đoán của nó ở Nhà máy York nằm trên bờ của vịnh Hudson khi được những người Cree đưa đi nhiều, rất nhiều dặm xa về hướng bắc. Antoine Laviolette là một yếu tố may mắn trong chuyện đó. Anh là người đã nói với những người lãnh đạo rằngđứa bé này không phải là một saganash,[2] như họ đoán, mà là một kitch-mokamen,[3]đã từng sống ở phía nam, cách rất xa quê hương của bộ lạc Ojibway. Vì thế, khi đến lúc chia tay, Jimmy ở lại với những người bạn cũ của nó.

Bộ lạc Ojibway dỡ trại trước, vì họ phải đi một chặng dài. Khi tất cả đồ đạc đã được chất lên xuồng, bộ lạc Cree đi xuống để chúc họ thượng lộ bình an. Và rồi, sau khi chiếc xuồng nhỏ đã thật sự hạ thủy, khoảng một chục bé trai lao xuống nước với mục đích bỏ những con cá, đồ chơi và đồ trang trí làm quà vào xuồng của bộ lạc sắp lên đường. Chúng đã đợi như vậy cho tới giờ phút chót để những người nhận quà không cảm thấy có nghĩa vụ phải đền đáp lại thứ gì đó có giá trị tương đương. Một loạt súng hỏa mai được đáp lại bằng một loạt khác từ những chiếc xuồng. Đoàn xuồng chậm chạp tiến lên ngược dòng nước.
❀ ❀ ❀
[1] Thần Chết
[2] Người Anh
[3] Con dao lớn, tức người Mỹ