Lò Sát Sinh Số 5

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hai

❊ ❊ ❊

Nghe này:

Billy Pilgrim trôi dạt trong thời gian.

Billy đi ngủ khi là một ông lão góa vợ hom hem và thức giấc vào ngày cưới của mình. Anh bước qua một cánh cửa vào năm 1955 và bước ra một cánh cửa khác vào năm 1941. Anh quay trở lại qua cánh cửa ấy và thấy mình ở vào năm 1963. Anh chứng kiến mình sinh ra và chết đi nhiều lần, anh nói, và ghé thăm ngẫu nhiên mọi sự kiện vào khoảng giữa hai mốc ấy.

Anh nói.

Billy lơ lửng trong thời gian, không kiểm soát nổi mình sắp đi đâu tiếp, và những chuyến đi không phải lúc nào cũng vui. Anh cảm thấy nỗi lo lắng của một diễn viên luôn luôn, anh nói, vì anh không bao giờ biết mình sắp phải diễn phần đời nào của mình trong màn kế tiếp.

Billy sinh năm 1922 ở Ilium, New York, đứa con duy nhất của một thợ hớt tóc ở đó. Là một đứa con nít trông ngồ ngộ, anh trở thành một thanh niên trông ngồ ngộ - cao kều và yếu ớt, dáng người như một chai Coca-Cola. Anh tốt nghiệp trường Trung học Ilium xếp trong nhóm một phần ba hạng cao của lớp, theo học lớp đêm ở trường Chăm sóc Thị lực Ilium trong sáu tháng trước khi bị gọi đi quân dịch trong Đệ nhị Thế chiến. Cha anh mất trong một vụ tai nạn khi đi săn hồi chiến tranh. Đời là thế.

Billy phục vụ trong hàng ngũ bộ binh ở châu Âu, rồi bị người Đức bắt làm tù binh. Sau lần giải ngũ danh dự [1] năm 1945, Billy lại ghi danh học tiếp ở trường Chăm sóc Thị lực Ilium. Trong năm cuối ở trường, anh đính hôn với con gái của sáng lập viên đồng thời là ông chủ trường, rồi bị một trận suy nhược thần kinh nhẹ.

Anh được chữa trị trong một bệnh viện dành cho cựu chiến binh gần hồ Placid, được điều trị bằng liệu pháp sốc điện rồi được xuất viện. Anh cưới vị hôn thê của mình, hoàn thành việc học, và được cha vợ đỡ đầu công việc kinh doanh ở Ilium. Ilium là thành phố đặc biệt màu mỡ đối với các bác sĩ chăm sóc thị lực bởi vì công ty General Forge and Foundry đóng ở đó. Mỗi nhân viên đều phải có một cặp kính bảo hộ và phải mang kính khi vào các khu vực sản xuất. GF&F có sáu mươi tám ngàn nhân viên ở Ilium. Do vậy nhu cầu về tròng và gọng kính khá cao.

Gọng là thứ hái ra tiền.

Billy trở nên giàu có. Anh có hai người con, Barbara và Robert. Sau cùng, Barbara cưới một bác sĩ chăm sóc thị lực, và Billy giúp cậu ta gây dựng chuyện làm ăn. Robert, con trai của Billy, gặp nhiều rắc rối ở trường trung học, nhưng rồi nó gia nhập lực lượng Mũ nồi Xanh nổi tiếng. Nó cải tà quy chính, trở thành một thanh niên tử tế, và đi chiến đấu ở Việt Nam.

Đầu năm 1968, một nhóm bác sĩ chăm sóc thị lực trong đó có Billy thuê trọn một chiếc máy bay chở họ từ Ilium tới một hội nghị bác sĩ chăm sóc thị lực quốc tế ở Montreal. Máy bay rơi trên đỉnh Sugarbush ở Vermont. Mọi người chết hết, trừ Billy. Đời là thế.

Trong thời gian Billy hồi phục ở một bệnh viện ở Vermont, vợ ông bất ngờ chết vì ngộ độc khí CO. Đời là thế.

Khi rốt cuộc cũng được về nhà ở Ilium sau vụ tai nạn máy bay, Billy im lặng một thời gian dài. Ông có một vết sẹo khủng khiếp vắt trên đỉnh sọ. Ông không hành nghề trở lại. Ông có một người giúp việc nhà. Con gái ông đến thăm hầu như mỗi ngày.

Và rồi, không hề báo trước, ông đi New York, tham gia một chương trình phát thanh thâu đêm với nội dung chính là các cuộc tọa đàm. Ông kể về việc mình bị trôi dạt trong thời gian. Ông cũng kể rằng mình bị một đĩa bay bắt cóc năm 1967. Ông nói đĩa bay đến từ hành tinh Tralfamadore. Ông nói ông bị đưa đến Tralfamadore, ở đó ông bị triển lãm trần truồng trong một sở thú. Ông được phối giống với một cựu minh tinh màn bạc Trái đất tên là Montana Wildhack.

Vài kẻ cú đêm ở Ilium đã nghe Billy nói chuyện trên đài phát thanh, và một trong số họ đã gọi cho Barbara, con gái của Billy. Barbara bối rối. Cô cùng chồng đi New York đón Billy về. Billy nhẹ nhàng khẳng định rằng mọi thứ mình nói trên đài là sự thật. Ông nói mình bị người Tralfamadore bắt cóc vào cái đêm đám cưới con gái. Ông nói không ai phát hiện ông mất tích vì người Tralfamadore đưa ông xuyên qua một xoáy thời gian, nên ông có thể ở trên Tralfamadore hàng năm trời, nhưng chỉ xa Trái đất một tích tắc.

Một tháng nữa trôi qua không có sự cố gì, nhưng rồi Billy viết một lá thư cho tờ Ilium News Leader, thư được đăng. Thư mô tả những sinh vật ở Tralfamadore.

Thư kể họ cao khoảng sáu tấc, màu xanh lá, hình dạng giống như cái thụt thông bồn cầu. Những bát hút của họ bám trên mặt đất, thân họ cực kỳ mềm dẻo, thường thường chỉ lên trời. Trên đỉnh mỗi thân là một bàn tay nhỏ có con mắt xanh lá trong lòng bàn tay. Những sinh vật này thân thiện, có thể nhìn theo bốn chiều. Họ thấy tội nghiệp cho người Trái đất chỉ có khả năng nhìn thấy ba chiều. Họ có rất nhiều điều kỳ diệu để dạy cho người Trái đất, đặc biệt về thời gian. Billy hẹn kể về đôi điều kỳ diệu ấy trong thư kế.

Billy đang viết lá thư thứ hai khi lá thư đầu được đăng. Lá thư thứ hai bắt đầu như thế này:

“Điều quan trọng nhất tôi học được ở Tralfamadore là khi một người chết, anh ta chỉ tuồng như chết mà thôi. Người ta vẫn còn sống khỏe trong quá khứ, nên thật ngớ ngẩn khi mọi người cứ khóc than trong đám tang của anh ta. Mọi khoảnh khắc, quá khứ, hiện tại, tương lai, đã luôn luôn tồn tại, sẽ luôn luôn tồn tại. Người Tralfamadore có thể nhìn thấy tất cả khoảnh khắc khác nhau y như cách chúng ta có thể nhìn thấy dãy núi Rocky chẳng hạn. Họ có thể thấy sự vĩnh cửu của mọi khoảnh khắc, và họ có thể nhìn vào bất cứ khoảnh khắc nào họ quan tâm. Chúng ta trên Trái đất cứ ảo tưởng rằng một khoảnh khắc theo sau một khoảnh khắc khác, như những hạt ngọc trên một chuỗi hạt, và khi một khoảnh khắc trôi qua nó sẽ trôi qua mãi mãi.

“Khi người Tralfamadore thấy một xác chết, anh ta chỉ nghĩ rằng người chết này đang ở tình trạng thê thảm ở thời khắc cụ thể đó, nhưng cũng chính người ấy hoàn toàn khỏe mạnh trong vô số khoảnh khắc khác. Bây giờ, khi bản thân tôi nghe tin ai đó chết, tôi chỉ nhún vai và nói những lời người Tralfamadore nói về người chết, đó là “Đời là thế.”

Và vân vân.

Billy viết lá thư này trong phòng giải trí ở tầng hầm trong căn nhà vắng vẻ của mình. Hôm đó là ngày nghỉ của người giúp việc. Trong phòng có một máy đánh chữ cũ kỹ. Nó đúng là một con quái vật. Nó nặng như một bình ắc quy. Di chuyển nó không phải là việc dễ dàng với Billy, đó là lý do ông viết trong phòng giải trí chứ không phải nơi nào khác trong nhà.

Cái lò sưởi dầu đã hỏng. Chuột đã cắn thủng lớp vỏ ngoài của sợi dây dẫn tới bộ cảm ứng nhiệt. Trong nhà đã xuống mười độ, nhưng Billy không hay. Ông cũng không mặc ấm. Ông để chân trần, mặc pyjama và áo choàng tắm, mặc dù khi đó là chiều muộn. Bàn chân trần của ông chuyển màu xanh và vàng ngà.

Dẫu sao thì, sâu thẳm trong tim của Billy vẫn là than hồng rực sáng. Thứ khiến chúng bùng cháy như vậy chính là niềm tin của Billy rằng ông sẽ an ủi cho biết bao con người bằng chân lý về thời gian. Chuông cửa trên nhà reo luôn hồi. Là con gái Barbara của ông ở trên đó, cô muốn vào nhà. Bây giờ thì cô đã tự vào được bằng một chiếc chìa khóa, đi ngang qua sàn nhà trên đầu ông và gọi, “Bố? Bố ơi, bố ở đâu?” Và vân vân.

Billy không trả lời cô ấy, thế nên cô ấy gần như bị kích động, cứ nghĩ sẽ tìm thấy xác ông ở đâu đó. Và rồi cô vào cái chỗ cuối cùng cô có thể nghĩ đến - đấy là phòng giải trí.

“Sao con gọi bố không trả lời?” Barbara hỏi, cô đứng đó ngay cửa phòng giải trí. Trên tay cô là tờ báo buổi chiều, trong đó có bài Billy tả những người bạn của mình ở Tralfamadore.

“Bố không nghe thấy con,” Billy nói.

Cục diện của khoảnh khắc đó là như thế này: Barbara mới hai mươi mốt tuổi, nhưng cô nghĩ bố mình đã lẩm cẩm, mặc dù ông mới chỉ bốn mươi sáu - lẩm cẩm vì đầu ông đã bị chấn thương trong vụ rơi máy bay. Cô cũng nghĩ rằng mình là người đứng đầu gia đình, bởi vì cô đã phải lo đám tang của mẹ, vì cô phải kiếm người giúp việc cho Billy, và ti tỉ thứ khác. Ngoài ra, Barbara và chồng cũng phải coi sóc phần lợi tức kinh doanh cũng khá đáng kể của Billy, bởi Billy có vẻ không ngó ngàng gì tới công việc kinh doanh nữa. Từng ấy trách nhiệm ở một cái tuổi còn trẻ như vậy khiến cô trở nên đồng bóng nông nổi. Trong khi đó Billy vẫn cố giữ lấy phẩm giá của mình, cố thuyết phục Barbara và mọi người rằng còn lâu ông mới lẩm cẩm, mà trái lại ông đang hiến mình đáp lại một nghĩa vụ cao cả hơn nhiều việc kinh doanh đơn thuần.

Ông nghĩ mình giờ đây đang nhất nhất làm một việc đấy là kê mắt kính chuẩn cho những linh hồn Trái đất. Quá nhiều những linh hồn Trái đất lạc lối và bất hạnh, Billy tin thế, bởi vì họ chẳng thể nào nhìn rõ như những người bạn bé nhỏ màu xanh lá ở Tralfamadore.

“Bố đừng có mà nói dối,” Barbara nói, “con biết chắc chắn bố có nghe thấy con gọi.” Barbara là một cô gái khá xinh xắn, trừ việc cô có cặp giò giống như một chiếc đại dương cầm đời vua Edward. Cô đang nổi khùng với ông về lá thư trên báo. Cô nói ông đang biến mình và cả những người liên quan thành trò cười.

“Bố ơi là bố,” Barbara nói, “chúng con biết làm gì với bố đây? Bố định bắt tụi con phải đẩy bố vào cái chỗ bà nội đang ở sao?” Mẹ của Billy hãy còn tại thế. Bà nằm liệt giường trong một nhà dưỡng lão tên là Pine Knoll ở ngoại vi Ilium.

“Thư bố có gì mà con nổi đóa đến vậy?” Billy cật vấn.

“Nó điên rồ quá đỗi. Toàn chuyện bịa.”

“Toàn chuyện có thật chứ.” Cơn giận của Billy sẽ không bùng lên cùng với cơn giận của con gái. Ông không bao giờ nổi đóa về bất cứ chuyện gì. Về khía cạnh ấy, Billy là một con người tuyệt vời.

“Làm gì có hành tinh nào là Tralfamadore.”

“Không thể phát hiện ra nó từ Trái đất đâu, nếu ý con là như vậy,” Billy nói. “Mà thực ra cũng không thể phát hiện Trái đất từ Tralfamadore. Cả hai đều rất nhỏ. Chúng ở cách nhau rất xa.”

“Bố kiếm đâu ra cái tên điên rồ Tralfamadore đấy?”

“Những sinh vật sống ở đó gọi nơi đó bằng cái tên đấy.”

“Ôi Chúa ơi,” Barbara nói, cô quay lưng lại với ông. Cô thể hiện sự bất lực bằng cách vỗ tay. “Con hỏi bố một câu đơn giản được không?”

“Tất nhiên.”

“Tại sao bố chưa bao giờ nhắc mấy chuyện này trước vụ máy bay rơi?”

“Lúc đó bố không nghĩ thời gian đã chín muồi.”

Và đại để thế. Billy nói lần đầu ông trôi dạt trong thời gian là năm 1944, khá lâu trước chuyến đi đầu tiên của ông đến Tralfamadore. Người Tralfamadore không dính dáng gì đến việc ông bị trôi dạt. Chỉ đơn giản là họ có thể giúp ông hiểu thấu những gì thật sự đang diễn ra.

Billy trôi dạt trong thời gian lần đầu tiên khi Đệ nhị Thế chiến còn đang diễn ra. Trong chiến tranh Billy là trợ lý cho cha tuyên úy. Trợ lý cha tuyên úy theo lệ thường vẫn được lấy ra làm trò cười trong quân đội Mỹ. Billy không phải là ngoại lệ. Anh vô hại với kẻ thù và vô ích với bạn bè. Thực tế, anh chẳng có bạn bè. Anh là đầy tớ của giáo sĩ, không trông mong thăng cấp hay huân chương gì, không mang vũ khí, và có niềm tin nhu mì vào một đấng Giêsu bác ái mà hầu hết binh lính đều thấy đồi bại.

Trong thời gian tập trận ở Nam Carolina, Billy chơi những bài thánh ca anh biết từ khi còn nhỏ bằng một chiếc organ nhỏ màu đen không thấm nước. Nó có ba mươi chín phím và hai nút điều âm - nhân âm và thiên âm. Billy cũng phụ trách một án thờ di động, một cái thùng màu xanh lính có chân có thể thu lại. Nó được viền vải nhung đỏ thắm, và nằm gọn trong tấm vải thiết tha ấy là một thập tự mạ kền và một cuốn Kinh Thánh.

Án thờ và cây organ do một công ty sản xuất máy hút bụi ở Camden, New Jersey sản xuất - nghe nói thế.

Một lần trong khi tập trận Billy chơi bản “Thành trì vĩ đại là chúa của chúng ta”, nhạc của Johann Sebastian Bach và lời của Martin Luther. Đó là một sáng Chủ nhật. Billy và cha tuyên úy tập hợp một giáo đoàn gồm chừng năm mươi binh sĩ trên một triền đồi Carolina. Một viên trọng tài quản sự xuất hiện. Trọng tài quản sự có mặt ở mọi nơi, họ là những người xác định ai thắng ai thua trận chiến lý thuyết, ai sống và ai chết.

Vị trọng tài quản sự mang theo những tin tức nực cười. Thì ra giáo đoàn về lý thuyết đã bị phát hiện từ trên không bởi một kẻ thù lý thuyết. Tất cả bọn họ về lý thuyết giờ đã chết. Những xác chết lý thuyết cười rộ rồi chén một bữa trưa linh đình.

Khi nhớ lại sự kiện này nhiều năm sau đó, Billy choáng váng bởi đó đích thị là một cuộc phiêu lưu với cái chết kiểu Tralfamadore, tức là chết và ăn cùng một lúc.

Khi các cuộc tập trận gần kết thúc, Billy được về phép đột xuất vì cha anh, một thợ hớt tóc ở Ilium, New York, bị một người bạn bắn chết trong lúc họ đi săn hươu. Đời là thế.

Khi Billy hết phép và trở lại quân ngũ, có lệnh điều động anh xuất ngoại. Người ta cần anh ở đại bản doanh một trung đoàn bộ binh chiến đấu ở Luxembourg. Tay trợ lý tuyên úy của trung đoàn đã chết trong khi làm nhiệm vụ. Đời là thế.

Lúc Billy gia nhập trung đoàn thì nó đang trong quá trình bị người Đức tiêu diệt trong trận chiến vùng Ardennes [2] nổi tiếng. Thậm chí Billy chưa bao giờ gặp được cha tuyên úy mà đáng ra anh là trợ lý, cũng như chưa bao giờ được cấp mũ sắt và ủng lính. Lúc đó là tháng Mười hai năm 1944, giữa đợt tấn công dữ dội cuối cùng của quân Đức trong cuộc chiến.

Billy sống sót, nhưng thành một kẻ lang thang mê mụ ở sâu trong phòng tuyến mới của quân Đức. Ba kẻ lang thang khác, không mê mụ lắm, cho Billy bám càng. Hai trong số họ là trinh sát, người kia là pháo thủ chống tăng. Họ không có thức ăn hay bản đồ. Trốn tránh quân Đức, họ lẩn vào sự tĩnh mịch thăm thẳm ngàn đời vẫn thế của thôn quê. Họ ăn tuyết.

Họ đi theo đội hình một hàng. Dẫn đầu là hai tay trinh sát, nhanh nhẹn, di chuyển nhẹ nhàng, lặng lẽ. Họ có súng trường. Đi kế là tay pháo thủ chống tăng, vụng về, nặng nề, một tay khẩu Colt .45 tự động tay kia dao găm hòng dọa quân Đức tránh xa.

Đi cuối là Billy Pilgrim, tay không, ủ rũ sẵn sàng đón nhận cái chết. Billy trông rất ngớ ngẩn, người cao mét chín, ngực và vai giống hộp diêm. Anh không mũ sắt, không áo choàng, không vũ khí và không ủng. Dưới chân anh là đôi giày dân sự cổ thấp rẻ tiền mà anh mua để dự đám tang cha. Billy bị mất một bên gót, khiến anh đi bước cao bước thấp. Cái điệu nhảy miễn cưỡng thấp rồi lại cao, cao rồi lại thấp ấy làm anh đau nhói hai khớp háng.

Billy mặc một áo khoác lính mỏng, một sơ mi và quần len thô, và chiếc quần lót dài sũng mồ hôi. Anh là người duy nhất trong nhóm bốn người có râu. Đó là một bộ râu tùy tiện, lởm chởm, vài cọng đã bạc, mặc dù Billy chỉ mới hai mươi mốt tuổi. Anh cũng sắp hói tới nơi. Gió, cái lạnh và vận động quá sức khiến mặt anh đỏ thẫm.

Trông anh không ra lính tí nào. Trông anh giống một con hồng hạc bẩn thỉu.

Vào ngày lang thang thứ ba, ai đó nhắm bắn vào bốn người bọn họ từ xa - bắn bốn phát khi họ băng qua con đường hẹp lát gạch. Một phát về phía hai tay trinh sát. Phát kế tiếp về phía tay pháo thủ chống tăng tên là Roland Weary.

Viên thứ ba là dành cho con hồng hạc bẩn thỉu, kẻ chết đứng giữa đường khi con ong giết người vù qua tai. Billy đứng đó đầy lịch thiệp, trao cho tay thiện xạ kia một cơ hội nữa. Theo những hiểu biết rối rắm của anh về những quy tắc trong chiến tranh, tay thiện xạ phải được trao cơ hội thứ hai. Phát kế tiếp cách xương bánh chè của Billy vài xăng ti mét, theo tiếng gió rít thì hẳn là viên đạn bay rất thẳng.

Roland Weary và hai tay trinh sát đã an toàn dưới một cái hào, và Weary rít lên với Billy, “Tránh khỏi con lộ, đụ mẹ thằng kia.” Từ cuối cùng này hãy còn mới mẻ trong ngôn ngữ của dân da trắng vào năm 1944. Nó mới mẻ và đáng kinh ngạc đối với Billy, kẻ chưa từng đụ một ai - và nó có tác dụng. Nó đánh thức anh và lôi anh ra khỏi con lộ.

“Tao lại cứu mạng mày lần nữa đó, thằng đần kia,” Weary nói với Billy trong con hào. Hắn đã cứu mạng Billy bao nhiêu lần rồi, nguyền rủa, đá đít, tát tai, buộc anh di chuyển. Tuyệt đối cần thiết phải tàn ác với anh, bởi Billy chẳng chịu làm gì để giữ mạng chính mình. Billy chỉ muốn bỏ cuộc. Anh rét, đói, ngẩn ngơ, bất lực. Giờ đây, vào ngày thứ ba, hầu như anh không còn khả năng phân biệt giữa thức và ngủ, cũng chẳng thấy có sự khác biệt quan trọng nào giữa việc cuốc bộ và đứng yên.

Anh ước gì mọi người để mặc mình. Anh lặp đi lặp lại, “Các anh đi đi, mặc tôi.”

Weary cũng như Billy, chân ướt chân ráo bước vào chiến tranh. Hắn cũng là lính thay thế. Là một thành viên trong đội pháo, hắn đã giúp bắn một phát đạn trong cơn giận dữ - từ một khẩu chống tăng 57 li. Khẩu súng rít lên một tiếng xoẹt kỳ diệu nghe như tiếng Đấng Toàn Năng kéo khóa quần. Khẩu súng liếm lên tuyết và cây cỏ thành một vệt đèn hàn dài gần mười mét. Lửa để lại một mũi tên đen trên nền đất, giúp cho quân Đức thấy chính xác khẩu súng được giấu chỗ nào. Phát bắn đó bị hụt.

Và cái họ bắn hụt là một chiếc tăng Tiger. Nó xoay cái mũi 88 li đánh hơi, thấy mũi tên trên đất. Nó khai hỏa. Nó giết tất cả thành viên của đội pháo, ngoại trừ Weary. Đời là thế.

Roland Weary mới mười tám tuổi, đang ở đoạn cuối của thời thơ ấu bất hạnh mà phần nhiều ở Pittsburgh, Pennsylvania. Hắn là đứa khó ưa ở Pittsburgh. Hắn khó ưa vì hắn ngu, béo ú và xấu tính, lại còn bốc mùi thịt muối bất kể có tắm rửa kỹ càng như thế nào. Hắn luôn bị hắt hủi ở Pittsburgh bởi những người không muốn chung đụng gì với hắn.

Việc đó khiến cho Weary ghét bị hắt hủi. Khi Weary bị hắt hủi, hắn sẽ tìm ai đó thậm chí còn khó ưa hơn hắn, và hắn sẽ láng cháng bên cạnh đứa đó một thời gian, giả đò thân thiện. Rồi hắn sẽ kiếm cớ đập cho đứa đó ra bã.

Đó là một hình mẫu lặp đi lặp lại. Đó là một mối quan hệ điên khùng, gợi tình và chết chóc giữa Weary và những người rốt cuộc sẽ bị hắn tẩn. Hắn kể cho họ nghe về bộ sưu tập súng, gươm, dụng cụ tra tấn và cùm chân và vân vân của bố hắn. Bố của Weary, một ông thợ ống nước, thực sự có sưu tầm mấy món đó, và bộ sưu tập của ông ta được mua bảo hiểm bốn nghìn đô la. Ông ta không chỉ một mình. Ông là thành viên của một hội lớn toàn những người sưu tầm những món tương tự.

Có lần bố Weary tặng mẹ Weary một đồ nghiền ngón tay[3] của Tây Ban Nha vẫn còn dùng được - làm đồ chặn giấy nhà bếp. Lần khác ông tặng bà một cái đèn bàn mà đế là một mô hình cao ba tấc của “Trinh Nữ sắt Nuremberg” nổi tiếng. Trinh Nữ sắt thật ra là một dụng cụ tra tấn thời Trung cổ, một thứ khuôn có hình dạng bên ngoài giống một người phụ nữ - và bên trong có đinh sắt. Mặt trước người phụ nữ là hai cánh cửa. Người ta sẽ đặt kẻ phạm tội vào trong và từ từ đóng hai cánh cửa lại. Có hai cái đinh sắt ở chỗ mắt của phạm nhân. Dưới đáy có rãnh để máu chảy ra.

Đời là thế.

Weary đã kể cho Billy nghe về Trinh Nữ sắt, về cái rãnh ở dưới đáy - và về công dụng của nó. Hắn đã nói với Billy về đạn nở. Hắn kể cho Billy về khẩu Derringer của bố mình, có thể nhét vừa trong túi áo gi lê, nhưng vẫn có thể khoét được một cái lỗ trên người đủ rộng cho “một con ó đêm bay lọt qua không chạm cánh.”

Weary có lần khinh khỉnh cá rằng Billy thậm chí không biết rãnh thông máu là gì. Billy đoán là cái rãnh dưới đáy Trinh Nữ sắt, nhưng không phải. Rãnh thông máu hóa ra là cái rãnh nông trên mặt lưỡi kiếm hay lưỡi lê.

Weary kể cho Billy nghe về những ngón nghề tra tấn hắn đã đọc được hay đã xem trên phim hay nghe trên đài phát thanh - về những ngón nghề tra tấn hắn sáng tạo ra. Một trong những phát minh đó là cắm mũi khoan nha sĩ vào tai người ta. Hắn hỏi Billy kiểu xử tử kinh khủng nhất là gì. Billy tịt. Đáp án đúng hóa ra là thế này: “Mày trói nó trên một tổ kiến trong sa mạc, nhé? Cho nó nằm ngửa mặt lên, rồi mày lấy mật ong bôi khắp hạ bộ của nó, rồi mày cắt mí mắt của nó đi để nó nhìn chằm chằm vào mặt trời cho tới chết.” Đời là thế.

Giờ đây, nằm trong mương cùng với Billy và hai tay trinh sát sau khi suýt bị ăn đạn, Weary bắt Billy nhìn thật kỹ con dao chuyên đánh giáp lá cà của hắn. Đó không phải là loại nhà nước cấp. Đó là quà của bố hắn. Phần lưỡi của nó dài chừng hai tấc rưỡi có tiết diện tam giác. Tay cầm của nó gồm những khuy đồng, là một chuỗi các vòng khuyên để Weary xỏ những ngón tay tròn trĩnh của hắn vào. Những vòng khuyên không trơn lu mà có những cái gai lởm chỏm.

Weary áp những cái gai lên má Billy, thúc vào má anh với một sự kiềm chế đầy quan tâm theo lối man rợ. “Mày thích bị xiên bằng cái này chứ hả? Hảảảảảảảảảả?” hắn hỏi.

“Tôi không,” Billy nói.

“Biết tại sao lưỡi dao hình tam giác không?” “Không.”

“Nó sẽ làm cho vết thương không kín miệng được.” “Ồ.”

“Khoét một cái lỗ ba cạnh trên người. Mày thọc một con dao bình thường vô một thằng nào đó, chỉ có một vết đâm. Đúng không? Vết đâm liền lại ngay. Đúng không?” “Đúng.”

“Cứt. Mày biết cái gì? Ở đại học người ta dạy mày cái con khỉ gì?”

“Tôi có được đi học mấy đâu,” Billy nói, mà đúng thế. Anh chỉ đi học đại học có sáu tháng, mà đó cũng không phải đại học chính quy. Đó là lớp học ban đêm ở trường Chăm sóc Thị lực Ilium.

“Đúng là đồ sinh viên trói gà không chặt,” Weary hằn học nói.

Billy nhún vai.

“Đời phong phú hơn những thứ mày đọc trong sách vở,” Weary nói. “Mày sẽ vỡ ra thôi.”

Billy cũng không trả lời câu này khi ở trong con hào đó, bởi anh không muốn cuộc trò chuyện kéo dài hơn mức cần thiết. Mặc dù vậy, anh cảm thấy một thôi thúc mơ hồ muốn nói, rằng anh cũng biết đôi chút về chuyện đổ máu. Dù gì Billy đã chứng kiến sự tra tấn và những vết thương gớm guốc vào sáng sớm và tối muộn, hầu như tất cả mọi ngày trong suốt thời thơ ấu. Billy có một tượng thập ác cực kỳ kinh khủng treo trên tường căn phòng ngủ nhỏ của mình ở Ilium. Một bác sĩ phẫu thuật quân đội hẳn sẽ khâm phục sự trung thực chính xác về mặt giải phẫu khi nghệ sĩ tái hiện trên bức tượng tất cả những vết thương của Giêsu - vết thương do giáo đâm, vết thương do vòng gai, những cái lỗ do các gai sắt tạo ra. Giêsu của Billy chết một cách khủng khiếp. Ngài thật đáng thương.

Đời là thế.

Billy không phải là người theo đạo, mặc dù anh lớn lên với một tượng thập ác rùng rợn trên tường. Cha anh vô thần. Mẹ anh là người chơi organ dự bị cho vài nhà thờ quanh thành phố. Bà mang Billy theo mỗi khi bà chơi, bà cũng dạy cho anh chơi chút chút. Bà nói bà sẽ tham gia một nhà thờ nào đó chừng nào bà quyết định được nhà thờ nào là phù hợp với bà.

Bà đã không bao giờ đưa ra quyết định. Dẫu vậy bà nuôi một lòng khao khát cháy bỏng với thập ác. Và bà đã mua một cái ở một cửa hàng quà tặng ở Santa Fe trong chuyến đi miền Tây cùng gia đình bé nhỏ của mình trong thời Đại Suy Thoái. Như nhiều người Mỹ khác, bà đã cố xây dựng một cuộc sống có ý nghĩa từ những món bà tìm được trong các cửa hàng quà tặng.

Rốt cuộc hình thập ác được treo lên trên tường phòng Billy Pilgrim.

Hai tay trinh sát, mân mê báng súng trường làm bằng gỗ óc chó của mình trong mương, thì thào nói tới lúc phải di chuyển rồi. Mười phút đã trôi qua mà không có ai đến xem thử họ có bị bắn trúng hay không để kết liễu họ. Dù là kẻ nào bắn thì rõ ràng là hắn ở rất xa và chỉ có một mình.

Cả bốn bò ra khỏi mương mà không bị bắn thêm phát nào. Họ bò vào rừng như những con vật to lớn, xui xẻo. Rồi họ đứng dậy và bắt đầu rảo bước. Rừng âm u, lạnh lẽo. Những cây thông được trồng có lớp lang trật tự. Không có cây bụi. Một tấc tuyết dày phủ khắp mặt đất. Đám người Mỹ không có lựa chọn nào khác ngoài việc để lại dấu vết trên mặt đất rõ ràng như những sơ đồ trong sách dạy khiêu vũ - bước, trượt, nghỉ - bước, trượt, nghỉ.

“Đi gần lại và giữ vững cự li!” Roland Weary cảnh báo Billy khi họ di chuyển ra ngoài. Weary trông giống hệt Tweedledum hay Tweedledee[4], đã lên đồ đầy đủ sẵn sàng ra trận. Hắn lùn và đậm người.

Hắn có mọi quân trang từng được cấp, mọi món quà hắn nhận được từ nhà: mũ sắt, miếng lót mũ, mũ len, khăn quàng cổ, găng tay, áo lót cô tông, áo lót len, sơ mi len, áo len, áo gió, áo vét trong, áo khoác ngoài, quần lót cô tông, quần lót len, quần len dài, vớ cô tông, vớ len, ủng đi trận, mặt nạ hơi ngạt, bi đông nước, bộ đồ nấu ăn và dao nĩa, bộ đồ cấp cứu, dao găm, chăn, lều dã chiến, áo mưa, sách Kinh Thánh chống đạn, tờ bướm “Hiểu kẻ thù”, một tờ bướm khác tên “Vì sao ta chiến đấu” và một tờ bướm khác nữa ghi những câu tiếng Đức phiên âm theo tiếng Anh, giúp Weary hỏi bọn Đức những câu như “Đại bản doanh của mày ở đâu?” và “Chúng mày có bao nhiêu pháo?” Hay bảo chúng “Đầu hàng đi. Chúng mày vô vọng rồi”, và vân vân.

Weary có một khúc gỗ balsa ắt dùng để làm gối trong hầm cá nhân. Hắn có một bộ đồ phòng bệnh trong đó có hai bao cao su dày cộm có chữ “Chỉ dùng với mục đích phòng bệnh!”. Hắn có một cái còi mà hắn sẽ không cho ai xem chừng nào hắn chưa được thăng cấp hạ sĩ. Hắn có một tấm ảnh khiêu dâm hình một người đàn bà cố quan hệ tình dục với một con ngựa lùn giống Shetland. Hắn đã bắt Billy phải trầm trồ trước tấm hình đó nhiều lần.

Người đàn bà và con ngựa tạo dáng trước những tấm màn nhung được trang trí bằng bóng sợi. Chúng được giăng trên những cây cột kiểu Hy Lạp. Trước một cây cột là một chậu cọ. Tấm ảnh của Weary là bản in của tấm ảnh khiêu dâm đầu tiên trong lịch sử. Từ nhiếp ảnh được dùng lần đầu năm 1839, và cũng trong năm đó, Louis J. M. Daguerre tiết lộ với Viện Hàn lâm Pháp rằng một hình ảnh trên một đĩa kim loại mạ bạc tráng một lớp i ốt bạc mỏng sẽ hiện lên nếu có hơi thủy ngân.

Năm 1841, chỉ hai năm sau, một trợ lý của Daguerre, André Le Fevre, bị bắt trong vườn Tuileries khi đang cố bán cho một quý ông bức ảnh người đàn bà và con ngựa lùn. Đó cũng là chỗ Weary mua tấm ảnh - ở vườn Tuileries. Le Fevre lập luận rằng tấm ảnh là tác phẩm mỹ thuật, và ý định của anh ta là làm sống lại thần thoại Hy Lạp. Anh nói những cây cột và chậu cọ chứng minh điều đó.

Khi được hỏi anh định thể hiện chuyện thần thoại nào, Le Fevre đáp rằng có hàng nghìn chuyện thần thoại như vậy, những thần thoại có người đàn bà là người trần và con ngựa lùn là vị thần.

Anh ta bị kết án sáu tháng tù. Trong tù anh ta chết vì viêm phổi. Đời là thế.

Billy và hai tay trinh sát đều gầy gò. Roland Weary thì cần đốt mỡ. Hắn là một cái lò lửa bùng cháy bên dưới tất cả những lớp len, dây nhợ, vải vóc. Hắn thừa năng lượng đến nỗi hắn lượn tới lượn lui giữa Billy và hai tay trinh sát, đưa những tin tức ngớ ngẩn không ai gửi mà cũng không ai buồn nhận. Hắn cũng bắt đầu cho rằng, vì bận rộn hơn nhiều so với những người khác, nên hắn phải là chỉ huy.

Thực tế, hắn bị nóng quá và kềnh càng quá nên không thể cảm nhận được nguy hiểm. Tầm nhìn thế giới bên ngoài của hắn bị giới hạn ở những gì hắn có thể nhìn thấy qua khe hẹp giữa viền mũ sắt và khăn quàng cổ nhà gửi, chiếc khăn che gương mặt búng ra sữa của hắn từ sống mũi trở xuống. Hắn trốn quá kỹ trong cái đống đó đến nỗi hắn có thể vờ vịt rằng mình đang an toàn ở nhà, đã sống sót qua chiến tranh, và đang kể cho bố mẹ và em gái nghe một câu chuyện chiến tranh có thật - trong khi câu chuyện chiến tranh có thật hãy còn đang tiếp diễn.

Phiên bản câu chuyện có thật về chiến tranh của Weary là như thế này: Trong một trận tấn công lớn của quân Đức, Weary và đồng đội chống tăng của mình chiến đấu quyết liệt cho đến khi tất cả trừ Weary chết trận. Đời là thế. Và rồi Weary lập đội với hai trinh sát viên, họ thành bạn thân ngay tức thì, và họ quyết chiến đấu tìm đường về phòng tuyến của mình. Họ sẽ đi nhanh. Họ sẽ bị nguyền rủa nếu đầu hàng. Họ bắt tay lẫn nhau. Họ tự gọi mình là “Ba người lính Ngự lâm”.

Nhưng rồi tòi đâu ra thằng nhóc sinh viên chết tiệt này, yếu ớt đến nỗi đáng lẽ không nên nhập ngũ, xin bám theo. Nó thậm chí không có súng hay dao. Nó thậm chí không có mũ sắt hay mũ vải. Nó thậm chí còn không thể bước đi bình thường - cứ bước thấp bước cao, bước thấp bước cao, khiến mọi người phát điên, làm lộ vị trí của bọn họ. Nó thật đáng thương. Ba người lính Ngự lâm đẩy, khuân và kéo thằng nhóc sinh viên này suốt đường về tới phòng tuyến của quân mình, câu chuyện của Weary diễn ra vậy. Họ đã cứu cái mạng thúi của hắn.

Trong đời thực, Weary đang vòng lại, cố tìm hiểu xem chuyện gì xảy ra với Billy. Hắn đã bảo hai tay trinh sát đợi trong lúc hắn quay lại tìm thằng khốn sinh viên. Bấy giờ hắn đi ngang một cành cây dưới thấp. Nó va vào chóp mũ hắn cái bốp. Weary không nghe thấy. Đâu đó có tiếng một con chó rất lớn sủa. Weary cũng không nghe thấy luôn. Câu chuyện chiến tranh của hắn đang đến hồi phấn khích. Một viên sĩ quan đang chúc mừng Ba người lính Ngự lâm, bảo họ ông sẽ đề xuất trao huân chương Sao Đồng cho họ.

“Tôi có thể làm gì cho các cậu nữa?” viên sĩ quan nói.

“Vâng, thưa ngài,” một trinh sát nói. “Chúng tôi muốn ở cạnh nhau cho đến hết cuộc chiến, thưa ngài. Liệu ngài có thể sắp xếp cách nào để không ai chia lìa được Ba người lính Ngự lâm không?”.

Billy Pilgrim đã dừng lại trong khu rừng. Anh dựa vào một thân cây, mắt nhắm tịt. Đầu anh hơi ngả về sau, hai cánh mũi phập phồng. Trông anh như một thi sĩ trong điện Parthenon.

Đó là lần đầu tiên Billy trôi dạt trong thời gian. Trí óc anh như con lắc, bắt đầu quét một nhát qua trọn cuộc đời anh, sang tận cõi chết có ánh sáng màu tím. Nơi đó không có ai khác, cũng chẳng có gì. Chỉ có ánh sáng tím và tiếng o o.

Rồi Billy đu ngược lại về cõi sống, đi ngược chiều cho đến tận thời điểm trước lúc chào đời, ở đó là ánh sáng màu đỏ và tiếng bong bóng nước phập phồng. Và rồi anh vụt lại về cõi sống và ngừng lại. Anh là một cậu bé đang tắm cùng ông bố lông lá của mình ở YMCA Ilium[5]. Cậu ngửi thấy mùi clo từ hồ bơi bên cạnh, nghe tiếng bùm từ ván nhảy.

Cậu bé Billy hoảng hốt, bởi bố cậu bảo rằng Billy sẽ học bơi theo phương pháp nhất sống nhì chết. Bố cậu

Sắp sửa ném Billy xuống chỗ nước sâu đầu hồ bơi, và Billy sẽ bơi nhoay nhoáy.

Thật chẳng khác nào một vụ hành hình. Billy tê cứng người khi ông bố mang cậu từ phòng tắm ra hồ bơi. Mắt cậu nhắm tịt. Khi mở mắt, cậu đã ở dưới đáy bể, và khắp nơi vang lên một thứ âm nhạc tuyệt vời. Cậu bất tỉnh, nhưng tiếng nhạc cứ tiếp tục vang lên. Cậu lờ mờ cảm nhận được có ai đó cứu mình. Billy bất bình về điều đó.

Từ đó anh đi xuyên thời gian đến năm 1965. Anh bốn mươi mốt tuổi, đang thăm bà mẹ già nua của mình ở Pine Knoll, một nhà dưỡng lão mà anh đưa mẹ vào mới một tháng trước. Bà bị viêm phổi, và người ta nghĩ bà chẳng sống được bao lâu nữa. Mặc dù vậy, bà đã sống thêm nhiều năm nữa.

Giọng của bà gần như đã mất, cho nên để nghe được bà, Billy phải kề tai vào đôi môi mỏng dính của bà. Rõ ràng bà có điều gì rất quan trọng cần nói.

“Làm thế nào…” bà bắt đầu, rồi bà ngưng lại. Bà đã quá mệt. Bà hy vọng rằng mình không cần phải nói hết câu, rằng Billy sẽ nói hộ bà phần còn lại.

Nhưng Billy không hề biết bà đang nghĩ gì. “Làm thế nào… cái gì, mẹ’” anh nhắc.

Bà nuốt mạnh, vài giọt nước mắt ứa ra. Rồi bà gom hết năng lượng từ khắp cơ thể tàn tạ của mình, thậm chí từ cả ngón chân và đầu ngón tay. Rốt cuộc bà cũng gom đủ hơi để thì thào trọn câu:

“Làm thế nào mà mẹ lại già đến ngần này?”

Bà mẹ già nua của Billy bất tỉnh, và Billy được một y tá xinh đẹp đưa ra khỏi phòng. Xác một ông già phủ khăn được đẩy qua ngay khi Billy bước vào hành lang. Người đàn ông đó là một vận động viên marathon nổi tiếng vào thời của ông. Đời là thế. Nhân tiện, chuyện này xảy ra trước khi Billy vỡ đầu trong vụ máy bay rơi - trước khi anh đi kể khắp nơi về đĩa bay và du hành xuyên thời gian.

Billy ngồi ở phòng chờ. Anh chưa góa vợ. Anh cảm thấy cái gì đó cưng cứng bên dưới chiếc gối tựa lưng trên chiếc ghế bành dày ngộn của mình. Anh moi ra, phát hiện ra đó là một cuốn sách, nhan đề Cuộc hành hình binh nhì Slovik của William Bradford Huie. Đó là câu chuyện có thật về cái chết trước đội hành hình Mỹ của binh nhì Eddie D. Slovik, số quân 36896415, binh sĩ Mỹ duy nhất bị bắn vì tội hèn nhát kể từ cuộc Nội chiến Mỹ. Đời là thế.

Billy đọc ý kiến của một thành viên hội thẩm đã xem xét vụ Slovik, đoạn cuối như sau: Anh ta đã trực tiếp thách thức thẩm quyền của chính quyền, và vấn đề kỷ luật trong tương lai tùy thuộc vào sự đáp trả cứng rắn đối với thách thức này. Nếu án tử có từng được áp dụng cho tội đào ngũ, thì nó nên được áp dụng trong trường hợp này, không phải để trừng phạt hay báo thù, mà là để duy trì kỷ luật, thứ nền tảng độc nhất một đội quân dựa vào để có thể chiến thắng kẻ thù. Trường hợp này không nên khoan hồng và cũng không có đề xuất khoan hồng nào được đưa ra. Đời là thế.

Billy nháy mắt vào năm 1965, đi xuyên thời gian đến năm 1958. Anh đang ở một bữa tiệc tôn vinh một đội bóng chày trong giải Little League mà thằng Robert nhà anh là thành viên. Huấn luyện viên, một người chưa từng kết hôn, đang phát biểu. Anh ta nghẹn ngào. “Thề với Thượng đế,” anh ta nói, “tôi coi ngay cả việc làm người phục vụ nước uống cho các cậu bé này đã là một niềm vinh dự.”

Billy nháy mắt trong năm 1958, đi xuyên thời gian đến năm 1961. Đó là đêm giao thừa, và Billy say quắc cần câu trong một bữa tiệc mà tất cả mọi người đều trong ngành chăm sóc thị lực hay kết hôn với một bác sĩ chăm sóc thị lực.

Billy thường không uống nhiều, bởi chiến tranh đã làm hỏng dạ dày của anh, nhưng tất nhiên lúc này anh đã uống ngà ngà rồi, và anh đã phản bội Valencia vợ anh lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất. Bằng cách nào đấy anh đã thuyết phục được một cô nàng vào trong phòng giặt quần áo của ngôi nhà, và ngồi lên trên máy sấy chạy bằng gas, lúc ấy đang chạy.

Bản thân cô nàng kia cũng đang rất say, và cô ta giúp Billy cởi quần tất của mình. “Anh đang định nói về cái gì nhỉ?” cô ta nói.

“Không sao,” Billy nói. Anh thành thực nghĩ là không sao. Anh không thể nào nhớ ra tên cô ta.

“Sao người ta gọi anh là Billy thay vì William?”

“Vì lý do công việc,” Billy nói. Quả đúng vậy. Bố vợ anh, người sở hữu trường Chăm sóc Thị lực Ilium, cũng như tạo dựng công việc kinh doanh cho anh, là một thiên tài trong lĩnh vực của mình. Ông bảo Billy nên khuyên khích mọi người gọi mình là Billy - bởi vì tên ấy dễ nhớ với mọi người. Nó cũng khiến anh một chút gì đó huyền ảo, bởi xung quanh chẳng có một Billy trưởng thành nào. Nó cũng khiến mọi người ngay lập tức nghĩ về anh như một người bạn.

Đâu đó trong kia là một cảnh tượng tồi tệ, mọi người tỏ thái độ kinh tởm với Billy và cô ả kia, và Billy thấy mình trong xe của mình, đang cố gắng tìm vô lăng.

Bây giờ quan trọng là phải tìm ra vô lăng. Đầu tiên, Billy quờ quạng cả hai cánh tay, hy vọng may ra tìm thấy nó. Khi cách ấy không hiệu quả, anh bắt đầu tìm kiếm có phương pháp hơn, áp dụng một cách thức để cái vô lăng chẳng thể nào thoát được anh. Anh ép sát mình vào cửa trái, lục soát từng phân vuông khu vực trước mặt. Khi không tìm thấy vô lăng, anh nhích qua non một gang tay, và lại lục tìm. Thật đáng kinh ngạc khi cuối cùng anh ép mình sát cánh cửa bên phải mà vẫn không tìm thấy vô lăng. Anh kết luận nó đã bị đánh cắp. Điều này khiến anh giận điên trong lúc lịm đi.

Anh đang ở băng ghế sau xe, đó là lý do tại sao anh không thể tìm thấy vô lăng.

Bấy giờ ai đó đang lay Billy tỉnh dậy. Billy cảm thấy mình vẫn còn say, vẫn còn giận dữ vì cái vô lăng bị đánh cắp. Anh đã quay trở lại Đệ nhị Thế chiến, phía sau phòng tuyến quân Đức. Người đang lay anh là Roland Weary. Weary đã túm lấy ngực áo khoác của Billy. Hắn dộng Billy vào thân cây, rồi kéo anh ra, quẳng anh theo hướng lẽ ra anh phải đi bằng chính sức của mình.

Billy đứng lại, lắc đầu. “Các anh đi tiếp đi,” anh nói.

“Cái gì?”

“Các anh đi đi mặc tôi. Tôi ổn.”

“Mày sao?”

“Tôi ổn.”

“Ôi Chúa ơi, tao ghét phải thấy kẻ nào ốm yếu,” Weary nói, qua năm lớp khăn quàng ẩm ướt nhà gửi. Billy chưa bao giờ nhìn thấy mặt Weary. Có lần anh đã cố tưởng tượng ra nó, và đã tưởng tượng ra một con cóc trong bình cá cảnh.

Weary vừa đá vừa xô Billy đi được chừng một phần tư dặm. Hai tay trinh sát đang đợi dưới lòng một con suối đã đóng băng. Họ nghe tiếng chó sủa. Họ cũng nghe thấy tiếng người gọi nhau lao xao - nghe như tiếng đám thợ săn biết rõ con mồi của mình đang ở chỗ nào.

Bờ suối đủ cao để cho hai tay trinh sát đứng mà không bị nhìn thấy. Billy ngơ ngẩn lê bước xuống suối. Weary đi sau anh, xủng xoẻng, leng keng và nóng bức.

“Nó đây nè tụi bây,” Weary nói. “Nó không muốn sống, nhưng dẫu sao nó cũng sẽ sống thôi. Chừng nào nó thoát khỏi đây, thề có Chúa, nó sẽ nợ Ba người lính Ngự lâm cái mạng nó.” Đây là lần đầu tiên đám trinh sát nghe Weary coi hắn và bọn họ là Ba người lính Ngự lâm.”

Billy Pilgrim đứng đó giữa lòng con suối, nghĩ rằng mình, Billy Pilgrim, đang nhẹ nhõm biến thành hơi nước. Nếu tất cả mọi người để cho anh yên một chút thôi, anh nghĩ, anh sẽ không gây phiền toái cho ai nữa. Anh sẽ biến thành hơi nước bay lơ lửng trên các ngọn cây.

Đâu đó lại có tiếng chó sủa. Nhờ nỗi sợ hãi, tiếng vọng và sự thinh lặng mùa đông, tiếng con chó đó nghe như tiếng một cái chiêng đồng bự chảng.

Roland Weary, mười tám tuổi đầu, lách mình vào giữa hai trinh sát, dang cánh tay nặng nề khoác vai cả hai. “Vậy Ba người lính Ngự lâm làm gì bây giờ?” hắn nói.

Billy Pilgrim đang có một ảo giác đầy sung sướng. Anh đang diện vớ trắng dài, khô ráo, ấm áp, và đang trượt trên sàn khiêu vũ. Hàng ngàn người reo hò. Đây không phải là du hành thời gian. Điều đó chưa bao giờ xảy ra, cũng sẽ không bao giờ xảy ra. Đó là cơn mất trí của một chàng trẻ tuổi đang hấp hối trong đôi giày ngập tuyết.

Một tay trinh sát cúi đầu, để nước bọt rơi khỏi môi. Tay kia cũng làm y vậy. Họ nghiên cứu các tác động cực nhỏ của nước bọt lên tuyết và lịch sử. Họ nhỏ con, tướng tá thanh nhã. Họ đã nhiều lần luồn sâu vào phòng tuyến quân Đức - sống như thú rừng, sống từng khắc một trong cơn hãi hùng hữu ích, hành động theo phản xạ của tủy sống chứ không phải theo suy nghĩ của bộ não.

Bấy giờ họ xoay người bứt ra khỏi cánh tay yêu thương của Weary. Họ bảo Weary rằng anh ta và Billy tốt hơn hết là tìm ai đó mà xin đầu hàng. Các trinh sát sẽ không đợi họ nữa.

Và họ bỏ mặc Weary và Billy trong lòng suối.

Billy Pilgrim tiếp tục trượt, biểu diễn những ngón nghề trong đôi tất, những ngón nghề mà hầu hết mọi người đều cho là không thể - xoay người, dừng đột ngột và vân vân. Tiếng reo hò vẫn vang lên, nhưng âm điệu đã bị thay đổi khi ảo giác nhường chỗ cho du hành thời gian.

Billy ngừng trượt, thấy mình ở bên một chiếc bục trong một quán ăn người Hoa ở Ilium, New York, vào đầu một buổi chiều thu năm 1957. Anh đang được mọi người câu lạc bộ Lions đứng dậy hoan hô. Anh vừa được bầu vào chức Chủ tịch, và anh cần phải phát biểu. Anh sợ cứng người, ngờ rằng có một lầm lẫn kinh khủng đã xảy ra. Tất cả những người cự phách, thành đạt ngoài kia bây giờ sẽ phát hiện ra rằng họ đã bầu cho một gã vạ vật lố lăng. Họ sẽ nghe thấy giọng nói the thé của anh, cái giọng của anh trong chiến tranh. Anh nuốt khan, biết rằng giọng mình chẳng khác gì tiếng rít khi quất cái roi liễu. Tệ hơn - anh chẳng có gì để nói. Đám đông lắng xuống. Mọi người đều hồng hào và rạng rỡ.

Billy mở miệng và tuôn ra một chất giọng trầm vang. Giọng anh là một nhạc cụ tuyệt hảo. Nó kể những chuyện tiếu lâm khiến tất cả bò ra cười. Nó trở nên nghiêm túc, rồi lại kể chuyện đùa, và kết thúc đầy khiêm nhường. Giải thích cho phép lạ này đó là: Billy đã học một khóa nghệ thuật diễn thuyết.

Và rồi anh trở lại trong lòng con suối đông cứng. Roland Weary sắp sửa nện cho anh vỡ mặt.

Lòng Weary tràn ngập một cơn phẫn nộ thê lương. Hắn lại bị bỏ rơi lần nữa. Hắn nhét khẩu súng ngắn vào bao. Hắn luồn con dao vào vỏ. Lưỡi dao ba cạnh có những đường thông máu trên cả ba mặt. Và rồi hắn lay mạnh Billy, khua xương anh côm cốp, nện anh vào bờ suối.

Weary kêu gào, rên rỉ qua những lớp khăn quàng từ nhà gửi tới. Hắn nói gì đó không hiểu được, về những hy sinh hắn dành cho Billy. Hắn lảm nhảm về lòng mộ đạo và chủ nghĩa anh hùng ở Ba người lính Ngự lâm, và khắc họa, bằng những màu sắc lóng lánh và nồng nhiệt nhất, đức hạnh và lòng hào hiệp của họ, vinh dự vĩnh cửu họ mang về cho bản thân, và những công lao vĩ đại họ dâng hiến cho Kitô giáo.

Weary cảm thấy việc cái đội hình chiến đấu này phải tan rã hoàn toàn là do lỗi của Billy, và Billy sẽ phải trả giá cho chuyện đó. Weary nện một cú ra trò vào một bên hàm Billy, khiến Billy bắn khỏi bờ suối, ngã nhào lên mặt băng phủ đầy tuyết. Lúc Billy đang lồm cồm trên mặt băng, thì Weary đá vô mạn sườn, khiến anh lăn qua một bên. Billy cố cuộn tròn người lại.

“Mày không nên có mặt trong Quân đội,” Weary nói.

Billy không nén nổi những tiếng kêu thắt lại nghe giống hệt tiếng cười. “Mày thấy buồn cười lắm hả?” Weary hỏi. Hắn vòng ra sau lưng Billy. Áo khoác, sơ mi và áo lót của Billy đã bị dồn lên tận vai trong lúc bị đánh đập, thế nên mảng lưng trần của anh lộ ra. Ngay đó, cách mũi giày lính của Weary vài xăng ti mét, là những đốt sống đáng thương của Billy.

Weary co cẳng phải, nhắm đá vào cột sống, vào đường ống chứa nhiều dây nhợ quan trọng của Billy. Weary sắp sửa đá vỡ cái ống đó.

Chính lúc ấy Weary nhận ra mình có khán giả. Năm tên lính Đức và một con chó quân cảnh dây cột cổ đang nhìn xuống lòng suối. Những cặp mắt xanh biếc của đám lính tràn đầy vẻ hiếu kỳ đờ đẫn của thường dân: vì sao xa quê hương đến thế mà một người Mỹ muốn giết một người Mỹ khác, và vì sao nạn nhân lại cười.

❀ ❀ ❀

[1] Một người chỉ được giải ngũ danh dự nếu anh ta được đánh giá từ tốt đến xuất sắc trong thời kỳ thực hiện quân ngũ.

[2] Battle of the Bulge hay Battle of the Ardennes: chiến dịch quân sự lớn cuối cùng của Đức trên mặt trận phía Tây trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

[3] Thumbscrew: một loại dụng cụ tra tấn thời Trung cổ.

[4] Hai nhân vật trong tiểu thuyết Alice ở xứ sở diệu kỳ.

[5] YMCA là viết tắt của Young Men’s Christian Association, một tổ chức tương tế của nhà thờ.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.