Lò Sát Sinh Số 5

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Năm

❊ ❊ ❊

Billy Pilgrim nói rằng, đối với các sinh vật Tralfamadore, Vũ trụ không hiện lên như vô số đốm sáng nhỏ. Các sinh vật này có thể nhìn thấy mỗi ngôi sao từng ở đâu và đang đi tới đâu, thế nên các tầng trời tràn ngập món spaghetti loãng, sáng lóng lánh. Và các sinh vật Trafamadore cũng không xem con người là những sinh vật hai chân. Chúng nhìn họ như những động vật chân rết khổng lồ - “với toàn những chân em bé ở một đầu và chân người già ở đầu còn lại,” Billy Pilgrim nói.

Trên chuyến đi tới Tralfamadore, Billy hỏi xin gì đó để đọc. Những kẻ bắt anh có năm triệu cuốn sách Trái đất trên vi phim, nhưng không có cách nào chiếu những cuốn sách đó trong khoang của Billy. Họ chỉ có một cuốn sách giấy viết bằng tiếng Anh, sau này sẽ được đặt trong một bảo tàng của Tralfamadore. Đó là cuốn Thung lũng búp bê của Jacqueline Susann.

Billy đọc cuốn sách, thấy nó có nhiều chỗ khá hay. Nhân vật trong truyện tất nhiên có những quãng thăng giáng. Nhưng Billy không muốn đọc đi đọc lại những thăng giáng y hệt nhau. Anh hỏi bộ không có thứ gì khác để đọc quanh đây sao.

“Chỉ có tiểu thuyết Tralfamadore thôi, tôi e rằng ngài không hiểu được chút nào,” loa trên tường nói.

“Cứ cho tôi xem thử một cuốn.”

Thế là họ mang đến cho anh vài cuốn. Trông chúng nhỏ xíu. Hẳn là một tá sách đó cũng hầu như từa tựa Thung lũng búp bê - với tất cả những thăng giáng, giáng thăng của nó.

Dĩ nhiên Billy không đọc được tiếng Tralfamadore, nhưng ít nhất anh có thể nhìn thấy cách những quyển sách được trình bày - thành những chùm nhỏ các ký hiệu được phân cách với nhau bởi các dấu sao. Billy nhận xét rằng những chùm đó có thể là ký hiệu điện tín.

“Chính xác,” giọng nói vang lên.

“Chúng là điện tín?”

“Trên Tralfamadore không có điện tín. Nhưng ngài nói đúng: mỗi chùm biểu tượng là một thông điệp ngắn, khẩn - mô tả một tình huống, một cảnh tượng. Người Tralfamadore chúng tôi đọc chúng cùng một lúc, không phải cái trước cái sau. Không có mối quan hệ cụ thể nào giữa các thông điệp, ngoại trừ việc tác giả đã chọn lựa chúng cẩn thận, sao cho khi được nhìn thấy cùng một lúc, chúng tạo ra một hình ảnh đẹp đẽ, kinh ngạc và sâu sắc về cuộc đời. Không có khởi đầu, không đoạn giữa, không kết thúc, không căng thẳng, không luân lý, không nguyên nhân, không hệ quả. Điều chúng tôi yêu trong những cuốn sách của mình là chiều sâu của nhiều khoảnh khoắc tuyệt diệu được nhìn thấy tại cùng một thời điểm.”

Một thoáng sau, đĩa bay đã bay vào một xoáy thời gian, và Billy bị ném ngược trở về thời thơ ấu. Lúc này anh mười hai tuổi, đang lẩy bẩy đứng bên cha mẹ ở mũi Bright Angel, bên rìa Grand Canyon. Gia đình bé nhỏ này đang chăm chú nhìn xuống đáy khe núi, sâu một dặm thẳng xuống.

“Hừ,” cha Billy vừa nói vừa hùng dũng đá bốp một hòn cuội văng vào khoảng không, “là nó đó”. Họ đã lái xe đến thắng cảnh này bằng ô tô. Trên đường bị xịt lốp bảy lần.

“Cũng đáng công đi mà” mẹ Billy mê mẩn nói. “Lạy Chúa, thật là đáng mà.”

Billy ghét cay ghét đắng cái khe núi. Cậu tin chắc mình sẽ rơi tòm xuống đó. Mẹ cậu vừa chạm vào người thì quần cậu đã ướt rồi.

Cũng có những du khách khác đang nhìn xuống khe núi, và có một tay kiểm lâm ở đó trả lời các câu hỏi. Một người Pháp lặn lội từ Pháp tới hỏi tay kiểm lâm bằng thứ tiếng Anh bồi rằng có nhiều người nhảy xuống đó tự tử phải không.

“Vâng, thưa ngài,” tay kiểm lâm nói. “Mỗi năm khoảng ba người.” Đời là thế.

Rồi Billy lại làm một chuyến đi ngắn xuyên thời gian, lần này chỉ nhảy cóc mười ngày, nên lúc đó anh vẫn đang mười hai tuổi, vẫn đang chu du bờ Tây cùng gia đình. Họ đang ở động Carlsbad, còn Billy đang cầu Chúa mang nó ra khỏi đó trước khi trần hang sập.

Một nhân viên kiểm lâm đang giải thích rằng động này được khám phá ra bởi một tay cao bồi thấy một bầy dơi khổng lồ bay ra khỏi một cái lỗ trên mặt đất. Và rồi anh ta nói mình sẽ tắt hết đèn, và với hầu hết mọi người có mặt ở đó, đây sẽ là lần đầu tiên trong đời họ đứng trong một thứ bóng tối hoàn toàn.

Đèn tắt ngóm. Billy thậm chí còn không biết mình còn sống hay không. Và rồi có gì đó ma mị bồng bềnh bên trái nó. Trên đó có những con số. Cha nó đang lấy đồng hồ bỏ túi ra xem. Đồng hồ có dạ quang.

Billy đi từ bóng tối hoàn toàn sang nơi ánh sáng hoàn toàn, thấy mình trở lại giữa thời chiến, trở lại khu khử chấy rận. Cuộc tắm rửa đã xong. Một bàn tay vô hình đã tắt nước.

Khi Billy lấy lại quần áo, chúng chẳng sạch hơn tí nào, nhưng những sinh vật bé nhỏ từng sống ở đó nay đã chết. Đời là thế. Cái áo khoác mới của anh đã rã đông và mềm rũ. Nó quá nhỏ so với Billy. Nó có cổ áo lót lông và một hàng lụa thắm, có vẻ như nó được may cho một ông bầu to cỡ con khỉ của một nghệ sĩ đường phố. Nó đầy lỗ đạn.

Billy Pilgrim mặc quần áo. Anh cũng choàng chiếc áo khoác bé tẹo lên. Lưng áo xẻ ra, và trên vai hai cái tay áo cộc tớn lên. Thành thử chiếc áo khoác trở thành áo gi lê cổ lông. Đáng lý nó phải loe ra ở eo, đằng này nó lại loe ra ở nách Billy. Đám lính Đúc thấy anh là một trong những thứ buồn cười nhất chúng từng thấy trong suốt Đệ nhị Thế chiến. Chúng cười ngặt nghẽo.

Rồi đám lính Đức bắt mọi người xếp thành hàng năm, lấy Billy làm chốt. Và đám diễu ra khỏi cửa, qua hết cổng này tới cổng khác. Đã thấy nhiều hơn những lính Nga đói khát có bộ mặt như đồng hồ dạ quang. Trông đám lính Mỹ có sinh khí hơn trước. Nhảy nhót với nước nóng đã khiến họ tươi tắn hơn. Họ tới một cái lán ở đó một viên hạ sĩ chỉ còn một tay và một mắt viết tên và số hiệu của mỗi tù nhân vào một cuốn sổ to màu đỏ. Mọi người giờ được xem như còn sống về mặt pháp lý. Trước khi tên, số được ghi sổ, họ bị coi là mất tích trong chiến đấu và có thể đã chết.

Đời là thế.

Trong lúc đám lính Mỹ đang chờ di chuyển tiếp, một vụ cãi lộn nổ ra ở hàng sau chót. Một lính Mỹ lẩm bẩm gì đó mà tên gác không ưa. Tên gác biết tiếng Anh, thế là hắn lôi cổ tay lính Mỹ ra khỏi hàng và đánh anh ta gục xuống.

Tay người Mỹ kinh ngạc. Anh ta run run đứng dậy, nhổ máu ra. Anh bị gãy hai cái răng. Rõ là anh ta không có ý gây hấn khi nói, và không tưởng được tay gác sẽ nghe và hiểu được.

“Sao lại là tôi?” anh ta hỏi tên gác.

Tên gác xô anh vào hàng lại. “Xao là mày? Xao là ai?” hắn nói.

Khi tên Billy Pilgrim được ghi vào sổ trại, anh cũng được gán một con số và một thẻ bài sắt có dập con số đó. Một lao nô Ba Lan phụ trách dập số. Anh ta giờ đã chết. Đời là thế.

Billy được dặn đeo thẻ này lên cổ cùng cái thẻ bài Mỹ, và Billy làm theo. Cái thẻ giống như mẩu bánh quy mặn, ở giữa có đục lỗ để một người khỏe mạnh có thể bẻ đôi bằng tay không. Giả dụ Billy chết, trường hợp này không xảy ra, nửa mảnh thẻ sẽ đánh dấu xác anh và nửa kia đánh dấu mộ anh.

Về sau này, khi Edgar Derby đáng thương, thầy giáo trung học, bị bắn ở Dresden, một bác sĩ tuyên bố ông đã chết và bẻ thẻ bài của ông làm đôi. Đời là thế.

Sau khi được ghi tên và đeo thẻ chỉnh tề, đám lính Mỹ lại được dẫn qua hết cánh cổng này đến cánh cổng khác. Hai ngày nữa gia đình họ sẽ được Tổ chúc Chữ thập đỏ Quốc tế báo tin còn sống.

Kế bên Billy là gã Paul Lazzaro nhỏ thó, kẻ từng hứa báo thù cho Roland Weary. Lúc này Lazzaro không nghĩ về chuyện báo thù. Gã đang bận nghĩ về cơn đau bụng khủng khiếp. Bụng gã rút lại bằng cỡ quả óc chó. Cái túi khô nhăn nheo ấy đau như một cái nhọt.

Kế Lazzaro là Edgar Derby già nua bất hạnh và đáng thương, thẻ bài Đức và Mỹ phô ra như dây chuyền bên ngoài quần áo. Ông đã kỳ vọng sẽ thành đại úy hay chỉ huy đại đội nhờ vào sự thông thái và tuổi tác. Bây giờ ông ở đây trên biên giới Tiệp Khắc lúc nửa đêm.

“Dừng lại!” một tên gác ra lệnh.

Toán người Mỹ dừng lại. Họ đứng đó im lìm trong cái lạnh. Những cái lán quanh họ bề ngoài không khác gì hàng nghìn cái lán khác họ từng đi qua. Tuy nhiên, có chút khác biệt: những lán này có ống khói thiếc, từ đó bắn ra những chòm tia lửa xoay tít.

Một lính gác gõ cửa.

Cánh cửa được mở tung từ bên trong. Anh sáng tuồn qua cửa, thoát khỏi nhà tù với tốc độ 186.000 dặm một giây. Từ bên trong bước ra năm mươi người Anh trung niên. Họ hát vang bài “Hoan hô, hoan hô, bè lũ ta đây” trong vở Cướp biển vùng Penzance.

Những giọng ca khỏe khoắn, hồng hào này nằm trong số những tù binh nói tiếng Anh đầu tiên bị bắt trong Đệ nhị Thế chiến. Bây giờ họ hát cho những người bị bắt gần như cuối cùng. Họ đã không nhìn thấy đàn bà hay trẻ em trong suốt bốn năm hoặc hơn. Họ cũng không nhìn thấy bất kỳ con chim nào. Cả chim sẻ cũng chẳng bao giờ bay vào trại.

Đám người Anh là sĩ quan. Mỗi người trong bọn họ từng cố trốn khỏi một nhà tù khác ít nhất một lần. Bây giờ họ ở đây, ngay chính giữa một biển người Nga đang hấp hối.

Họ có thể đào hầm bao nhiêu tùy thích. Họ chắc chắn sẽ trồi lên giữa một hình chữ nhật dây kẽm gai, sẽ thấy mình được thờ ơ chào đón bởi những người Nga hấp hối không tiếng Anh, không thực phẩm, không thông tin hữu ích, không kế hoạch đào tẩu của riêng mình. Họ có thể bày mưu tùy thích để trốn trên xe hay đánh cắp một chiếc, nhưng chẳng có phương tiện nào từng chạy vào khu của họ. Họ có thể vờ bệnh, nếu muốn, nhưng việc đó cũng chẳng đưa họ tới đâu. Bệnh viện duy nhất trong trại là một trạm sáu giường ngay trong khu giam giữ người Anh.

Đám người Anh sạch sẽ, nhiệt tình, tươm tất, khỏe mạnh. Họ hát cực hay. Họ hát cùng nhau hằng đêm bao năm rồi.

Đám người Anh cũng cử tạ và tập xà hàng năm trời. Bụng họ phẳng lỳ như thớt. Bắp chân bắp tay họ to như đạn đại bác. Họ còn đều là những kiện tướng cờ ca rô, cờ vua, bài bridge, bài kippi, đô mi nô, trò đảo chữ, đố chữ, bóng bàn và bi-a.

Họ nằm trong số những kẻ giàu có nhất châu Âu, xét về lương thực. Một lỗi đánh máy hồi đầu cuộc chiến, khi thực phẩm hãy còn được chuyển tới các tù binh, đã khiến Hội Chữ thập đỏ gửi cho họ năm trăm bưu kiện hằng tháng thay vì năm mươi. Đám người Anh tích trữ chỗ ấy khéo đến nỗi tận lúc này, khi chiến tranh sắp kết thúc, họ còn ba tấn đường, một tấn cà phê, nửa tấn sô cô la, ba trăm cân thuốc lá, ba trăm rưởi cân trà, hai tấn bột mì, một tấn bò hộp, năm trăm rưởi cân bơ hộp, hai trăm bảy mươi cân phô mai hộp, ba trăm rưởi cân sữa bột và hai tấn mứt cam.

Họ giữ toàn bộ hàng hóa trong một căn phòng không cửa sổ. Họ chống chuột bằng cách lót tường phòng bằng những hộp thiếc cán dẹt.

Người Đức yêu mến họ, nghĩ rằng quý ông Anh đúng phải là như vậy. Họ khiến cho chiến tranh trông có vẻ sành điệu và hợp lẽ, và vui vẻ nữa. Thế nên người Đức dành cho họ bốn lán, mặc dù một lán cũng đủ chỗ cho họ rồi. Và để đổi lấy cà phê, sô cô la hay thuốc lá, người Đức cho họ sơn, gỗ, đinh và vải để sửa sang đồ đạc.

Từ mười hai tiếng trước, nhóm người Anh đã biết các vị khách Mỹ đang trên đường đến đây. Trước giờ họ chưa từng có khách, thế là họ bắt tay vào việc như những chú lùn đáng yêu, quét tước, lau chùi, nấu nướng, dọn những tấm đệm rơm và túi vải thô, bày biện bàn ăn, mỗi nơi đều có đặt quà.

Giờ đây, giữa đêm đông, họ cất tiếng hát chào đón các vị khách. Quần áo họ ngát hương thơm của bữa đại tiệc họ dày công chuẩn bị. Họ ăn bận nửa để ra trận, nửa để chơi quần vợt hay bóng vồ. Họ hoan hỉ với lòng hiếu khách của mình, và bởi tất cả những món ngon chờ đợi bên trong, nên không nhìn kỹ lắm các vị khách trong khi hát. Và họ hình dung rằng mình đang hát cho các sĩ quan đồng nghiệp mới từ chiến trường trở về.

Họ âu yếm lôi toán lính Mỹ về phía cửa lán, không ngớt ba hoa xích đế thắm tình huynh đệ. Họ gọi nhóm người Mỹ là các cậu “Mẽo“, bảo họ “Hay lắm”, hứa hẹn với họ là “Bọn Jerry[1] đang sun vòi”, và đại để vậy.

Billy Pilgrim lờ mờ tự hỏi Jerry là ai.

Bấy giờ anh đã vào bên trong lán, ngồi cạnh một bếp lò đang rực đỏ. Hàng chục ấm trà đang sôi ở đó. Một số ấm có còi. Và còn có một vạc lớn đầy xúp sền sệt óng vàng. Những bong bóng bập bùng nổi lên với vẻ đường bệ uể oải khi Billy Pilgrim chòng chọc nhìn vạc xúp.

Những chiếc bàn dài được bày biện cho bữa tiệc. Mỗi chỗ ngồi có một cái bát làm từ vỏ hộp sữa bột. Một vỏ hộp nhỏ hơn được dùng làm cốc. Một vỏ hộp khác cao hơn, ốm hơn dùng làm ly. Các ly đều được rót đầy sữa nóng.

Ở mỗi chỗ ngồi đều có dao cạo râu, khăn mặt, một gói lưỡi lam, một thanh sô cô la, hai điếu xì gà, một bánh xà phòng, mười điếu thuốc, một hộp diêm, một cây bút chì và một cây nến.

Chỉ có nến và xà phòng là hàng của Đức. Cả hai đều có màu trắng đục, ma mị. Người Anh chẳng thể nào biết được nến và xà phòng này được làm từ mỡ của người Do Thái, dân du mục, người đồng tính và cộng sản cũng như những kẻ thù khác của Nhà nước.

Đời là thế.

Sảnh tiệc được thắp sáng bằng nến. Trên bàn ngồn ngộn bánh mì trắng mới ra lò, những tảng bơ, những hũ mứt trái cây. Có cả những mâm thịt bò hộp cắt lát. Xúp, trứng ốp lết và bánh mứt nóng chưa được dọn lên.

Và phía cuối lán, Billy nhìn thấy những mái vòm màu hồng với màn màu thiên thanh treo ở giữa, một đồng hồ to tướng, hai ngai vàng, một cái xô và giẻ lau. Chính trong khung cảnh này màn trình diễn của buổi tối sẽ diễn ra, một phiên bản nhạc kịch của Lọ Lem, câu chuyện phổ biến nhất từng được kể.

Billy đang bốc cháy, do đứng quá gần bếp lò lóng lánh. Gấu chiếc áo choàng bé tí của anh đang cháy. Đó là một ngọn lửa lặng lẽ, nhẫn nại - như củi mục cháy.

Billy băn khoăn không biết có chiếc điện thoại nào đâu đây không. Anh muốn gọi cho mẹ, báo tin mình còn sống và vẫn ổn.

Im lặng bao trùm bữa tiệc khi đám người Anh kinh ngạc nhìn những sinh vật nhếch nhác mà họ mới nồng nhiệt dìu vào. Một người thấy Billy đang bốc cháy. “Cậu cháy kìa!” anh ta nói, kéo Billy cách xa bếp lò và lấy tay dập tắt chỗ cháy.

Thấy Billy không nói năng gì, tay người Anh hỏi, “Cậu nói được chứ? Nghe được chứ?”

Billy gật đầu.

Tay người Anh sờ nắn Billy khắp người, ngập tràn thương xót. “Ôi Chúa - chúng nó đã làm gì cậu? Đây không còn là người nữa. Đây là một con diều đứt dây.”

“Cậu có phải là người Mỹ thật không?” tay người Anh hỏi.

“Phải,” Billy nói.

“Cấp bậc của cậu?”

“Binh nhì.”

“Ủng cậu bị làm sao vậy?”

“Tôi không nhớ.”

“Cái áo choàng đó là giỡn hả?”

“Thưa gì cơ?”

“Cậu kiếm cái đó từ đâu ra?”

Billy phải nghĩ rất lung về câu hỏi. Cuối cùng anh nói, “Người ta đưa cho tôi.”

“Jerry đưa cho cậu?”

“Ai cơ?”

“Bọn Đức đưa cho cậu?”

“Phải.”

Billy không thích các câu hỏi. Chúng làm anh kiệt sức.

“Ôi, ôi cậu Mẽo ôi,” tay người Anh bảo, “cái áo choàng đó là sự sỉ nhục.”

“Gì cơ?”

“Người ta cố tình làm thế để lăng nhục cậu đấy. Cậu không được để bọn Jerry làm như thế.”

Billy Pilgrim ngất đi.

Billy lần tới một chiếc ghế hướng về sân khấu. Làm thế nào đó mà anh cũng đã ăn xong, và giờ anh đang xem vở Lọ Lem. Phần nào đó trong anh rõ ràng thích thú với màn trình diễn. Billy cười ngặt nghẽo.

Các vai nữ trong vở kịch thật ra do đàn ông đóng, dĩ nhiên. Đồng hồ vừa điểm nửa đêm, và Lọ Lem đang tiếc nuối:

“Ối giời ôi, đồng hồ đã nhắc

Ôi đời tôi thật đen vãi cả c…”

Billy cảm thấy hai câu thơ hài đến nỗi anh không chỉ cười, mà còn rú lên. Anh tiếp tục rú cho đến khi bị cáng ra khỏi lán và đưa vào một lán khác, vốn là bệnh viện. Đó là một bệnh viện có sáu giường. Không còn bệnh nhân nào khác trong đó.

Billy được đặt xuống giường và cột lại, được tiêm một liều moóc phin. Một lính Mỹ khác tình nguyện trông chừng anh. lình nguyện viên này là Edgar Derby, ông thầy giáo trung học sẽ bị xử bắn ở Dresden. Đời là thế.

Derby ngồi trên một cái ghế đẩu ba chân. Người ta đưa ông một cuốn sách để đọc. Đó là cuốn Huy hiệu Dũng cảm màu đỏ của Stephen Crane. Derby đọc cuốn này rồi. Bây giờ ông đọc lại trong lúc Billy Pilgrim bước vào thiên đường moóc phin.

Dưới tác dụng của moóc phin, Billy mơ thấy hươu cao cổ trong một khu vườn. Những con hươu cao cổ lần theo lối đi rải sỏi, dừng chân nhai mấy quả lê ngọt từ trên ngọn cây. Billy cũng là hươu cao cổ. Anh xơi một quả lê. Đó là một quả cứng ngắc. Nó chống trả lại hàm răng của anh quyết liệt. Rồi vỡ ra trong sự phản đối mọng nước.

Lũ hươu cao cổ chấp nhận Billy như một thành viên trong bầy, như một sinh vật vô hại cũng được thiết kế riêng theo một lối lố bịch hệt như chúng. Hai con lại gần anh từ hai phía đối diện, chúng tựa vào anh. Chúng có môi trên dài, khỏe, có thể tạo hình như loa kèn. Chúng hôn anh bằng những cái môi này. Chúng là những con hươu cái, lông màu kem và vàng chanh. Chúng có sừng như nắm đấm cửa. Những nắm đấm cửa được phủ nhung.

Tại sao?

Đêm đến trong khu vườn hươu cao cổ, Billy Pilgrim ngủ không mộng mị gì được một lúc thì lại du hành xuyên thời gian. Anh thức dậy, đầu dưới chăn, trong phân khoa dành cho bệnh nhân tâm thần không bạo lực trong bệnh viện dành cho cựu chiến binh gần hồ Placid, New York. Khi ấy là mùa xuân năm 1948, ba năm sau khi chiến tranh kết thúc.

Billy hé đầu ra. Các cửa sổ trong khoa đều mở. Bên ngoài chim chóc líu lo. “Tu-tu-huýt?” một con chim hỏi anh. Vầng dương đã nhô cao. Có hai mươi chín bệnh nhân khác khoa, nhưng họ thảy đều đang ở bên ngoài, tận hưởng ngày đẹp trời. Họ có thể đến và đi tùy thích, thậm chí về nhà nếu muốn, cả Billy Pilgrim cũng vậy. Họ đã tự nguyện đến đây, vì thấy bất an về thế giới bên ngoài.

Billy đã tự tìm đến nơi này khi đang học dở chừng năm cuối tại trường Chăm sóc Thị lực Ilium. Không ai mảy may ngờ vực rằng anh sắp phát điên. Tất cả mọi người đều nghĩ anh trông bình thường và hành xử bình thường. Giờ đây anh nằm viện. Các bác sĩ đồng ý: Anh sắp phát điên.

Họ không nghĩ rằng việc anh phát điên có liên quan gì tới cuộc chiến. Họ tin chắc Billy mất trí là do cha anh đã ném anh xuống đầu sâu của hồ bơi YMCA khi anh còn là một cậu bé con, và rồi mang anh đến rìa Grand Canyon.

Nằm giường cạnh Billy là một cựu đại úy bộ binh tên Eliot Rosewater. Rosewater ốm và đã chán việc lúc nào cũng say mèm.

Chính Rosewater là người giới thiệu Billy với tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, và cụ thể là tác phẩm của Kilgore Trout[2]. Rosewater có một bộ sưu tập hoành tráng tiểu thuyết khoa học viễn tưởng bìa mềm dưới gầm giường. Y mang đống sách đến bệnh viện trong một cái rương. Những cuốn sách cũ kỹ được chủ nâng niu đó tỏa mùi khắp khoa, như mùi pyjama vải dạ hàng tháng không thay, hay mùi món hầm Ái Nhĩ Lan.

Kilgore Trout trở thành tác giả còn sống yêu thích của Billy, còn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng trở thành thể loại duy nhất mà Billy đọc được.

Rosewater thông minh gấp đôi Billy, nhưng y và Billy đang đương đầu với những khủng hoảng tương tự nhau theo những cách thức tương tự nhau. Cả hai đều thấy cuộc đời vô nghĩa, một phần vì những gì họ chứng kiến trong chiến tranh. Ví dụ, Rosewater từng bắn một cậu lính cứu hỏa mười bốn tuổi vì nhầm cậu ta với lính Đức. Đời là thế. Còn Billy từng chứng kiến vụ thảm sát lớn nhất lịch sử châu Âu, đó là trận oanh tạc Dresden. Đời là thế.

Thành thử họ đang cố gắng tái tạo bản thân cũng như vũ trụ của mình. Tiểu thuyết khoa học viễn tưởng rất chi là có ích.

Một lần Rosewater nói với Billy một điểm thú vị về một cuốn sách không phải là tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Y nói tất cả mọi điều cần biết về cuộc đời đều nằm trong bộ Anh em nhà Karamazov của Fyodor Dostoevsky. “Nhưng bây giờ nó không còn đủ nữa,” Rosewater nói thêm.

Một lần khác Billy nghe Rosewater nói với viên bác sĩ tâm lý. “Tôi nghĩ các ông sắp phải bịa ra thật nhiều những lời dối trá lý thú mới, nếu không thì người ta chẳng thiết sống nữa đâu.”

Trên bàn đầu giường của Billy có một bức tranh tĩnh vật - hai viên thuốc, một gạt tàn với ba điếu thuốc lem son môi trong đó, một điếu còn đang cháy dở, và một ly nước. Nước đã chết. Đời là thế. Không khí đang cố gắng thoát khỏi ly nước đã chết đó. Bong bóng bám vào thành ly, quá yếu ớt nên không trèo ra được.

Những điếu thuốc là của bà mẹ rít thuốc như điên của Billy. Bà đã đi kiếm nhà vệ sinh nữ, vốn nằm gần khoa dành cho nữ quân nhân, nữ tình nguyện viên, lực lượng nữ tuần duyên dự bị, lực lượng nữ không lực, những người đã phát điên. Bà sẽ quay lại bất cứ lúc nào.

Billy lại kéo chăn trùm đầu. Anh luôn luôn trùm đầu khi mẹ anh tới thăm anh trong khoa tâm thần, luôn luôn ốm nặng hơn chừng nào bà còn chưa đi khỏi. Không phải là bà xấu xí, hôi miệng hay xấu tính. Bà là một phụ nữ da trắng tóc nâu hoàn toàn dễ thương, đạt chuẩn, có học vấn trung học.

Bà làm Billy bực bội đơn giản vì bà là mẹ của anh. Bà làm anh thấy xấu hổ, vô ơn và yếu đuối bởi vì bà quá mất công mất sức mang cuộc sống đến cho anh, duy trì cuộc sống đó, mà Billy thì thực chẳng ưa cuộc sống chút nào.

Billy nghe tiếng Rosewater đi vào và nằm xuống.

Nghe tiếng lò xo giường của Rosewater là biết. Rosewater là một gã to cao, nhưng không mạnh mẽ lắm. Trông y như thể được tạo ra từ sáp làm mũi giả.

Mẹ Billy từ nhà vệ sinh nữ quay lại, ngồi xuống trên chiếc ghế giữa giường Billy và giường Rosewater. Rosewater chào bà nồng ấm du dương, hỏi rằng hôm nay bà khỏe không. Dường như y vui sướng khi nghe bà vẫn khỏe. Y đang thử đồng cảm nhiệt tình với mọi người y gặp. Y nghĩ rằng điều ấy có thể làm cho thế giới phần nào đó trở nên nơi dễ sống hơn chút xíu. Y gọi mẹ của Billy là “bác yêu quý”. Y đang thử nghiệm gọi tất cả mọi người bằng chữ “yêu quý”.

“Một ngày nào đó,” bà hứa với Rosewater, “khi bác vào đây, Billy sẽ giở chăn trùm đầu nó ra, và cháu có biết nó sẽ nói gì không?”

“Cậu ấy sẽ nói gì, hả bác yêu quý?”

“Nó sẽ nói, ‘Chào mẹ’, và nó sẽ mỉm cười. Nó sẽ nói, ‘Ôi, gặp mẹ con mừng lắm. Dạo này mẹ có khỏe không?’ “

“Biết đâu chính là hôm nay.”

“Đêm nào bác cũng cầu nguyện.”

“Đấy là điều nên làm.”

“Người ta hẳn sẽ ngạc nhiên nếu biết bao nhiêu thứ trên thế giới này có được nhờ những người cầu nguyện.”

“Bác không thể nói đúng hơn được nữa, bác yêu quý ạ.”

“Mẹ cháu có thường đến thăm cháu không.”

“Mẹ cháu mất rồi,” Rosewater nói. Đời là thế.

“Bác xin lỗi.”

“Ít ra thì mẹ cháu hạnh phúc đến phút cuối.”

“Thật là một niềm an ủi.”

“Vâng.”

“Bố Billy cũng mất rồi,” mẹ Billy nói. Đời là thế.

“Con trai cần có bố.”

Và cứ thế tiếp diễn, màn song ca giữa bà già cầu nguyện dở hơi và anh chàng to con, trống rỗng chất ngất những tiếng vọng yêu thương.

“Nó đang dẫn đầu lớp thì bị nông nỗi này,” mẹ Billy nói.

“Chắc cậu ấy học chăm quá,” Rosewater nói. Y cầm cuốn sách mình muốn đọc, nhưng y quá lịch sự nên không cùng lúc đọc và nói được, đưa ra những câu trả lời vừa ý mẹ Billy cũng chẳng khó khăn gì. Cuốn sách tên là Những gã khùng trong chiều không gian thứ tư của Kilgore Trout. Đó là cuốn sách về những người bị bệnh tâm thần không chữa khỏi được vì những nguyên nhân gây bệnh đều nằm trong chiều thứ tư, do đó các bác sĩ ba chiều người Trái đất không thể nào nhìn ra những nguyên nhân đó, hay thậm chí tưởng tượng ra chúng.

Một điều Trout nói mà Rosewater rất thích, đó là thực sự có ma cà rồng, ma sói, yêu tinh, thiên thần và vân vân, nhưng chúng đều nằm trong chiều thứ tư. Cả nhà thơ yêu thích nhất của Rosewater là William Blake cũng vậy, theo Trout. Thiên đường và địa ngục cũng vậy.

“Nó đã đính hôn với một con bé rất giàu,” mẹ Billy nói.

“Hay quá,” Rosewater nói. “Đôi khi tiền nong có thể là nguồn khuây khỏa rất lớn.”

“Quả có thể như thế”

“Tất nhiên là có thể rồi.”

“Giật gấu vá vai chẳng lấy gì làm vui.”

“Dư dả một chút thì cũng dễ chịu.”

“Cha con bé là chủ trường chăm sóc thị lực nơi Billy đang theo học. Ông ta còn có sáu văn phòng mé tiểu bang nhà bác. Ông ta có máy bay riêng và có nhà nghỉ mùa hè ở hồ George nữa.”

“Cái hồ đó đẹp tuyệt.”

Dưới chăn, Billy ngủ thiếp đi. Khi tỉnh lại, anh thấy mình bị trói trên giường trong bệnh viện trong tù. Anh mở một mắt, thấy ông già Edgar Derby tội nghiệp đang đọc cuốn Huy hiệu Dũng cảm màu đỏ dưới ánh nến.

Billy nhắm con mắt đó lại, nhìn thấy trong ký ức về tương lai của mình ông già Edgar Derby tội nghiệp đứng trước một đội hành hình giữa những hoang tàn của Dresden. Chỉ có bốn người trong đội súng. Billy từng nghe nói rằng theo lệ thường một người trong đội hành hình sẽ được trao một khẩu súng nạp đạn rỗng[3]. Billy không nghĩ người ta sẽ cấp đạn rỗng cho một đội hành hình ít người đến thế, trong một cuộc chiến tranh già nua đến thế.

Bây giờ người đứng đầu toán người Anh tới bệnh viện kiểm tra tình hình Billy. Ông ta là một đại tá bộ binh bị bắt ở Dunkirk. Chính ông là người chích moóc phin cho Billy. Trong khu này không có một bác sĩ thực sự, nên ông đảm nhiệm công việc bác sĩ. “Bệnh nhân thế nào rồi?” ông hỏi Derby.

“Ngủ như chết.”

“Nhưng chưa chết phải không?”

“Không.”

“Thích thật - không cảm thấy gì, mà vẫn được coi là sống.”

Bấy giờ Derby bỗng đứng nghiêm, vẻ u ám.

“Thôi, thôi, cứ tự nhiên cho. Chỉ có hai lính cho mỗi sĩ quan, mà lính thì ốm sạch, tôi nghĩ ta có thể bỏ qua nghi thức thông thường giữa sĩ quan và lính.”

Derby vẫn đứng nghiêm. “Trông anh già hơn những người còn lại,” viên đại tá nói.

Derby bảo ông ta mình đã bốn mươi lăm tuổi, nghĩa là hơn viên đại tá hai tuổi. Viên đại tá bảo những người Mỹ khác đã cạo râu hết rồi, chỉ còn Billy và Derby là vẫn còn để râu. Và ông nói thêm, “Anh biết không, ở đây chúng tôi phải tưởng tượng ra cuộc chiến tranh, và chúng tôi đã tưởng rằng tham gia đánh nhau là những gã già đầu như anh và tôi. Chúng tôi quên mất rằng ra trận toàn là bọn trẻ nít. Nhìn những gương mặt mới được cạo râu sạch sẽ đó, tôi bị sốc. “Lạy Chúa, lạy Chúa,” tôi tự nhủ, “Đây là cuộc Thập tự chinh Con nít.”

Viên đại tá hỏi Derby làm thế nào mà bị bắt, và Derby kể lại chuyện ông ở trong một vạt rừng với khoảng một trăm lính khác đang hoảng sợ. Trận đánh đã kéo dài năm ngày. Một trăm lính này đã bị xe tăng dồn vào vạt rừng đấy.

Derby mô tả cái thời tiết nhân tạo khó tin mà đôi khi người Trái đất tạo ra cho những người Trái đất khác khi họ không muốn những người Trái đất kia cư trú trên Trái đất nữa. Đạn pháo nổ ầm ầm kinh khủng trên những ngọn cây, ông nói, giội xuống những cơn mưa dao, đầu dùi và lưỡi lam. Những cục chì nhỏ khoác áo đồng cắt qua vạt rừng dưới những trận pháo nổ bên trên, xé gió bay nhanh hơn nhiều vận tốc âm thanh.

Rất nhiều người đã bị thương hoặc chết. Đời là thế.

Rồi trận nã pháo ngừng lại, có tiếng loa từ một tên Đức không thấy mặt kêu gọi lính Mỹ bỏ vũ khí xuống ra khỏi rừng tay đặt trên đầu, nếu không pháo sẽ tiếp tục giội. Và nó sẽ không ngừng lại cho đến khi nào tất cả mọi người trong đó đều chết.

Thế là lính Mỹ bỏ vũ khí xuống, ra khỏi rừng, tay đặt trên đầu, bởi lẽ họ vẫn muốn sống, nếu có thể.

Billy lại du hành xuyên thời gian trở lại bệnh viện cựu chiến binh. Chăn đang phủ đầu anh. Bên ngoài chăn mọi thứ có vẻ yên ắng. “Mẹ tớ đi chưa?” Billy hỏi.

“Rồi.”

Từ dưới chăn Billy hé nhìn ra. Hôn thê của anh đang ở ngoài, ngồi trên ghế dành cho khách. Nàng tên là Valencia Merble. Valencia là con gái của ông chủ trường Chăm sóc Thị lực Ilium. Nàng rất giàu. Nàng to như cái đình bởi không thể nào ngừng ăn. Nàng đang ăn. Nàng đang tóp tép một thanh kẹo Ba người lính Ngự lâm. Nàng mang cặp kính ba tròng với gọng lòe loẹt có gắn kim cương giả, cũng lấp lánh như hạt kim cương thật trên nhẫn đính hôn của nàng. Hạt kim cương này được bảo hiểm một nghìn tám trăm đô la. Billy đã tìm thấy viên kim cương này ở Đức. Đó là của ăn cắp trong chiến tranh.

Billy chẳng muốn cưới cô nàng Valencia xấu xí này. Cô nàng là một trong những triệu chứng căn bệnh của anh. Anh biết mình phát điên khi nghe chính mồm anh cầu hôn nàng, khi anh cầu xin nàng nhận lấy chiếc nhẫn kim cương và trở thành bạn đời của anh.

Billy nói với nàng, “Chào em,” nàng bèn hỏi anh muốn ăn kẹo không, và anh nói, “Thôi, cảm ơn em.”

Nàng hỏi anh thấy thế nào, anh bảo, “Đỡ nhiều, cảm ơn em.” Nàng bảo mọi người ở trường Chăm sóc Thị lực đều lo lắng khi anh ốm và hy vọng anh sẽ sớm bình phục, và Billy nói, “Chừng nào em gặp họ bảo anh gửi lời chào.”

Nàng hứa sẽ chuyển lời.

Nàng hỏi anh có cần nàng mang gì vào không, anh bảo, “Không. Anh gần như tất cả mọi thứ anh cần rồi.”

“Còn sách thì sao?” Valencia nói.

“Anh nằm ngay cạnh một trong những thư viện tư nhân lớn nhất thế giới,” Billy trả lời, ý nói đến bộ sưu tập sách khoa học viễn tưởng của Eliot Rosewater.

Rosewater ngồi đọc sách trên giường bên cạnh, và Billy lôi y vào cuộc trò chuyện, hỏi y đang đọc gì.

Thế là Rosewater kể với anh. Đó là cuốn Phúc âm từ Vũ trụ, của Kilgore Trout. Cuốn sách kể về một vị khách đến từ vũ trụ, hình dáng kể ra rất giống một người Tralfamadore. Vị khách đến từ vũ trụ này thực hiện một nghiên cứu nghiêm túc về Kitô giáo, để tìm hiểu, nếu có thể, vì đâu mà người theo đạo Kitô lại dễ dàng trở nên độc ác. Ông ta kết luận rằng ít nhất một phần vấn đề nằm ở cách kể chuyện cẩu thả của Tân ước. Ông ta cho rằng chủ định của các sách Phúc âm là, bên cạnh những điều khác, dạy người ta trở nên nhân từ, thậm chí đối với những kẻ hạ đẳng nhất.

Nhưng các sách Phúc âm thật ra dạy thế này:

Trước khi ngươi giết ai, cần đảm bảo tuyệt đối kẻ đó không dây mơ rễ má gì với những người quyền thế. Đời là thế.

Vị khách từ vũ trụ nói rằng sai lầm trong các câu chuyện về Giêsu đó là ở chỗ Giêsu, mặc dầu trông rõ vớ vẩn, thật ra lại chính là Con Trai của Thực thể Quyền lực nhất Vũ trụ. Độc giả cũng hiểu điều đó, cho nên, khi đọc đến đoạn đóng đinh câu rút, cố nhiên họ nghĩ rằng, và Rosewater đọc to đoạn này:

Ối cha, lần đó chắc chắn chúng hành hình nhầm người rồi!

Và suy nghĩ này có một người anh em: “Có những người rất phù hợp để đem hành hình.” Đó là ai? Là bọn tứ cố vô thân. Đời là thế.

Vị khách từ vũ trụ tặng cho Trái đất một Phúc âm mới làm quà. Trong đó, Giêsu thật sự là một kẻ tầm thường, và là một cái gai trong mắt những người thạo quan hệ hơn. Ngài vẫn nói tất cả những điều đáng yêu và đánh đố như trong các Phúc âm khác.

Thành thử một ngày nọ người ta tiêu khiển bằng cách đóng đinh ngài lên một thập giá rồi trồng thập giá xuống đất. Những kẻ hành hình nghĩ bụng không thể nào có hậu quả gì được. Độc giả cũng nghĩ như vậy, bởi lẽ bản Phúc âm mới nhai đi nhai lại trắng phớ ra rằng Giêsu đúng là một kẻ tầm thường.

Và rồi, ngay trước khi kẻ tầm thường kia chết, các tầng trời mở ra, sấm vang chớp lóe. Tiếng của Thượng đế ầm ầm vọng xuống. Ngài bảo mọi người rằng ngài nhận gã ăn bám kia làm con nuôi, trao cho y toàn bộ sức mạnh và đặc quyền của Con trai Đấng sáng tạo Vũ trụ suốt đến vĩnh hằng. Thượng đế truyền: Kể từ giây phút này trở đi, Ngài sẽ trừng phạt tàn khốc bất cứ kẻ nào dám giày vò một kẻ ăn bám không thân thích!

Hôn thê của Billy đã nhá xong thanh kẹo Ba người lính Ngự lâm. Giờ nàng đang xơi thanh Dải Ngân Hà.

“Quên mấy cuốn sách đi,” Rosewater nói, ném đúng cuốn sách đó xuống gầm giường. “Chán bỏ mẹ ra.”

“Cuốn đó nghe có vẻ thú vị mà,” Valencia nói.

“Lạy Chúa! Phải chi mà Kilgore Trout biết viết!” Rosewater thốt lên. Y nói cũng có ý đúng: Kilgore Trout đáng kiếp vô danh. Văn của ông ta gớm chết. Được mỗi ý tưởng hay.

“Tôi nghĩ là Trout chưa bao giờ ra nước ngoài,” Rosewater tiếp tục. “Trời ạ, ông ta suốt ngày suốt buổi viết về người Trái đất, và tất cả bọn họ đều là người Mỹ. Thực tế chẳng có ai trên Trái đất là người Mỹ cả.”

“Ông ta sống ở đâu?” Valencia hỏi.

“Chẳng ai biết,” Rosewater đáp. “Theo chỗ tôi biết thì tôi là người duy nhất từng nghe nói về ông ta. Mỗi cuốn sách đều in ở một nhà xuất bản khác nhau, và mỗi khi tôi gửi thư cho ông ta thông qua nhà xuất bản, thư đều bị trả lại vì nhà xuất bản không liên lạc được với ông ấy.”

Y đổi đề tài, chuyển sang chúc mừng Valencia về nhẫn đính hôn.

“Cảm ơn anh,” nàng nói, và chìa nó ra để Rosewater có thể nhìn kỹ hơn. “Anh Billy kiếm được viên kim cương này trong chiến tranh.”

“Đó là điểm quyến rũ của chiến tranh,” Rosewater nói. “Nhất định ai cũng kiếm chác được chút ít.”

Về chuyện Kilgore Trout sống ở đâu: thực ra ông ta sống ở ngay Ilium, quê nhà của Billy, không bằng hữu và bị khinh ghét. Billy sẽ gặp ông ta sớm thôi.

“Anh Billy này,” Valencia Merble nói.

“Hả?”

“Anh có muốn bàn về bộ đồ ăn bằng bạc của chúng ta không?”

“Dĩ nhiên.”

“Em rút gọn danh sách lại rồi, hoặc Royal Danish hoặc Rambler Rose thôi.”

“Rambler Rose đi,” Billy nói.

“Chuyện này ta không vội được đâu,” nàng nói. “Ý em là, bất kể chúng ta quyết định thế nào, chúng ta sẽ phải sống với những thứ đó suốt phần đời còn lại.”

Billy ngắm nghía hình. “Royal Danish,” cuối cùng anh nói.

“Colonial Moonlight cũng đẹp.”

“Ừ, cũng đẹp,” Billy Pilgrim nói.

Và Billy du hành xuyên thời gian tới sở thú trên Tralfamadore. Lúc này anh bốn mươi bốn tuổi, đang được trưng bày dưới một cái mái vòm trắc địa. Anh đang nằm duỗi trên một chiếc ghế dài đã là nôi của anh trong suốt chuyến đi xuyên không gian. Anh trần như nhộng.

Người Tralfamadore quan tâm đến cơ thể của anh - toàn bộ cơ thể. Hàng nghìn người bọn họ ở bên ngoài, giơ những chiếc tay bé xíu lên để mắt họ có thể nhìn thấy anh. Billy đã ở trên Tralfamadore được sáu tháng Trái đất rồi. Anh đã quen với đám đông.

Khỏi nghĩ đến chuyện trốn thoát. Khí quyển bên ngoài nhà vòm toàn là xyanua, còn Trái đất thì cách xa 446.120.000.000.000.000 dặm.

Ở đó, trong sở thú, Billy được trưng bày trong một sinh quyển Trái đất giả lập. Hầu hết đồ đạc được đánh cắp từ nhà kho của Sears Roebuck ở thành phố Iowa, bang Iowa. Có một cái ti vi màu và một ghế xô pha có thể chuyển đổi thành giường. Bên cạnh ghế xô pha là mấy cái bàn nhỏ trên có để đèn và gạt tàn. Có một quầy bar gia đình và hai chiếc ghế đẩu. Có một bàn bi-a nhỏ. Có thảm vàng chóe trải kín sàn, ngoại trừ khu vực bếp và nhà tắm và nắp che lỗ thoát nước bằng sắt giữa sàn. Có các tạp chí sắp xếp hình quạt trên bàn uống trà trước ghế xô pha.

Có một cái máy hát âm thanh nổi. Máy hát còn hoạt động. Ti vi thì không. Có hình một chàng cao bồi giết một cao bồi khác dán vào ti vi. Đời là thế.

Trong nhà vòm không có vách, không có chỗ nào để Billy ẩn mình. Các thiết bị nhà tắm màu xanh bạc hà nằm tênh hênh ở đó. Bấy giờ Billy leo xuống ghế, vào nhà tắm và đi tiểu. Đám đông rú rít ầm ĩ.

Billy đánh răng trên Tralfamadore, gắn răng giả vào rồi đi vào bếp. Cái bếp ga, tủ lạnh và máy rửa bát của anh cũng màu xanh bạc hà. Có một bức tranh được vẽ trên cánh cửa tủ lạnh. Lúc tủ lạnh được mang tới tranh đã ở đó rồi. Đó là tranh về một cặp đôi thời Những Năm Chín Mươi Vui Tươi[4] trên một chiếc xe đạp đôi.

Billy nhìn bức tranh, cố nghĩ ra điều gì đó về cặp đôi. Anh không nghĩ ra gì cả. Dường như chẳng có gì để nghĩ về hai con người đó.

Billy ăn bữa sáng ngon lành từ đồ hộp. Anh rửa ly, dĩa, dao, nĩa và chảo, rồi cất chúng đi. Rồi anh tập mấy bài thể dục hồi đi lính - bật nhảy, uốn cong người, thụt dầu và hít đất. Hầu hết người Tralfamadore không thể nào biết được thân hình và gương mặt Billy chẳng đẹp đẽ gì. Họ cho rằng anh là một mẫu vật tráng lệ. Điều này khiến Billy khoan khoái: lần đầu tiên anh hứng thú với cơ thể mình.

Sau khi tập thể dục anh tắm và xén móng chân. Anh cạo râu, xịt nước khử mùi dưới nách, trong khi bên ngoài, một hướng dẫn viên của sở thú đứng trên bục giải thích Billy đang làm gì, và tại sao. Hướng dẫn viên giảng giải bằng thần giao cách cảm, đơn giản chỉ đứng đó, phát ra những luồng sóng ý nghĩ về phía đám đông. Trên bệ cùng với anh ta là một thiết bị bàn phím nhỏ anh ta dùng để chuyển câu hỏi từ đám đông tới Billy.

Câu hỏi đầu tiên phát ra từ loa của ti vi: “Ở đây ông có hạnh phúc không?”

“Hạnh phúc chẳng kém ở trên Trái đất,” Billy Pilgrim nói, mà quả đúng vậy.

Có năm giới tính trên Tralfamadore, mỗi giới tính thực hiện một bước cần thiết trong quá tạo ra một cá thể mới. Trong mắt Billy, họ giống nhau y đúc, bởi những khác biệt về giới tính đều nằm trong chiều không gian thứ tư.

Một trong những thông tin chấn động nhất về mặt luân lý mà người Tralfamadore trao cho Billy, tình cờ lại liên quan tới giới tính trên Trái đất. Họ nói phi hành đoàn đĩa bay của họ đã xác định không ít hơn bảy giới tính trên Trái đất, mỗi giới tính đều thiết yếu đến sự nhân giống. Một lần nữa, Billy không cách nào tưởng tượng ra năm trong bảy giới tính đó dính dáng gì tới việc làm ra em bé, bởi lẽ chúng chỉ vận hành trong chiều không gian thứ tư.

Người Tralfamadore cố gắng cho Billy những manh mối có thể giúp anh tưởng tượng ra tình dục ở chiều vô hình. Họ bảo anh rằng không thể nào có các em bé Trái đất nếu không có người đồng tính nam. Có thể có em bé mà không cần có người đồng tính nữ. Không thể có em bé nếu không có phụ nữ trên sáu mươi lăm tuổi. Có thể có em bé mà không cần đàn ông trên sáu mươi lăm tuổi. Không thể có các em bé mà không có các em bé khác chỉ sống được một tiếng đồng hồ hoặc ít hơn sau khi sinh. Và vân vân.

Với Billy, nó hoàn toàn vô nghĩa.

Rất nhiều thứ Billy nói cũng vô nghĩa đối với người Tralfamadore. Họ không thể nào tưởng tượng ra thời gian trông như thế nào đối với anh. Billy đã bỏ cuộc không giải thích nữa. Hướng dẫn viên bên ngoài phải cố gắng hết sức để giải thích.

Hướng dẫn viên đề nghị đám đông tưởng tượng rằng họ đang nhìn, xuyên qua một sa mạc, và thấy một dãy núi vào một ngày quang đãng, sáng rỡ. Họ có thể ngắm một đỉnh núi, một cánh chim hay một áng mây, một phiến đá ngay trước mắt, hay thậm chí nhìn xuống một khe núi sau lưng họ. Nhưng trong số họ có sinh vật Trái đất đáng thương này, đầu hắn ta bị nhốt trong một quả cầu bằng thép mà hắn không bỏ ra được. Chỉ có một lỗ nhỏ để hắn ta có thể nhìn ra, và hàn vào cái lỗ đó là một cái ống dài sáu bộ.

Đây chỉ mới là khỏi đầu những khổ sở của Billy trong phép ẩn dụ. Anh còn bị ràng vào một cái lưới thép buộc vào một toa kéo trên đường ray, nên không có cách nào xoay đầu hoặc chạm vào cái ống. Đầu kia của ống được gác trên một cái giá hai chân cũng được chốt vào toa kéo. Billy chỉ có thể thấy được cái chấm nhỏ xíu ở cuối ống. Anh không biết mình ở trên toa kéo, thậm chí còn không nhận ra hoàn cảnh của mình có gì kỳ quặc.

Toa kéo thỉnh thoảng trườn đi, đôi khi đi cực nhanh, thường thường ngừng lại, đi lên đồi, xuống dốc, vào cua, đi thẳng. Dù Billy đáng thương thấy được gì qua cái ống đó, anh không có lựa chọn nào ngoài tự nhủ thầm, “Đó là cuộc sống.”

Billy cho rằng người Tralfamadore sẽ phải ú ớ, hốt hoảng bởi các thể loại chiến tranh và giết chóc trên Trái đất. Anh cho là họ phải e sợ sự kết hợp, đặc trưng của giống Trái đất, giữa sự tàn bạo và những thứ vũ khí ngoạn mục rốt cuộc có thể hủy diệt một phần hoặc toàn bộ cái Vũ trụ vô tội này. Tiểu thuyết khoa học viễn tưởng đã khiến anh tin như vậy.

Nhưng chẳng ai đả động tới đề tài chiến tranh cho đến khi tự Billy khơi ra. Có ai đó trong đám người tham quan sở thú hỏi anh thông qua hướng dẫn viên, rằng đâu là thứ quý nhất mà anh đã học được trên Tralfamadore cho tới giờ phút này, và Billy đáp, “Cách mọi cư dân của toàn hành tinh chung sống trong hòa bình! Như quý vị biết, tôi tới từ một hành tinh mà từ thuở hồng hoang đã đắm chìm trong giết chóc vô nghĩa. Bản thân tôi từng chứng kiến cảnh thân thể các nữ sinh bị luộc sống trong một tháp nước bởi chính tay đồng bào tôi, những người đồng thời cũng tự hào mình đang chiến đấu chống lại cái ác thuần túy.” Điều này là có thật. Billy thấy những thân thể bị luộc chín ở Dresden. “Và ban đêm trong tù tôi thắp sáng bằng nến làm từ mỡ của những người bị tàn sát bởi những người anh, những người cha của những nữ sinh bị luộc đó. Người Trái đất chắc chắn là nỗi khiếp đảm của Vũ trụ! Nếu các hành tinh khác hiện chưa gặp mối nguy nào từ Trái đất, thì cũng sẽ sớm thôi. Vậy hãy nói cho tôi điều bí mật để tôi có thể mang trở về Trái đất và cứu rỗi tất cả chúng ta: Làm thế nào một hành tinh có thể sống trong hòa bình?”

Billy cảm thấy anh đã cao giọng. Anh ớ người khi thấy người Tralfamadore nắm bàn tay lại che mắt. Từ kinh nghiệm trước đây anh biết thế có nghĩa là: Anh đang tỏ ra ngu ngốc.

“Liệu, liệu ông có thể cho tôi biết,” anh rụt rè hỏi với hướng dẫn viên, “chuyện này có gì ngớ ngẩn?”

“Chúng tôi biết vũ trụ này kết thúc như thế nào,” hướng dẫn viên nói, “và Trái đất chẳng liên can gì, trừ việc nó cũng bị xóa sổ.”

“Vậy, vậy Vũ trụ kết thúc như thế nào?” Billy hỏi.

“Chúng tôi làm nó nổ tung, khi đang thử nghiệm các loại nhiên liệu mới cho đĩa bay. Một phi công thử nghiệm của Tralfamadore nhấn nút đề, và toàn bộ Vũ trụ biến mất.” Đời là thế.

“Nếu quý vị biết chuyện này,” Billy nói, “chẳng lẽ không có cách nào ngăn chặn nó ư? Quý vị không thể ngăn viên phi công bấm cái nút đó sao?”

“Anh ta đã luôn luôn bấm nó, và anh sẽ luôn luôn bấm. Chúng tôi luôn luôn để anh ta bấm và chúng tôi sẽ luôn luôn để anh ta bấm. Khoảnh khắc ấy được cấu trúc như thê’.”

“Vậy…” Billy dò dẫm nói, “tôi đoán chừng cái ý tưởng ngăn chặn chiến tranh trên Trái đất cũng là ngu ngốc nốt.”

“Tất nhiên.”

“Nhưng quý vị có một hành tinh hòa bình ở đây.”

“Hôm nay thì đúng thế. Vào những ngày khác chúng tôi cũng có những cuộc chiến tranh khủng khiếp như bất cứ cuộc chiến nào ông từng chứng kiến hay đọc được. Chúng tôi chẳng làm gì được, nên đơn giản là chúng tôi không ngó ngàng tới. Chúng tôi lờ nó đi. Chúng tôi dành cả muôn đời để ngắm nhìn những khoảnh khắc khoan khoái, như ngày hôm nay ở sở thú. Đây chẳng phải là một phút giây êm đẹp sao?”

“Vâng.”

“Người Trái đất có thể học hỏi điều này, nếu họ thực sự nghiêm túc: phớt lờ những quãng thời gian tệ hại, và tập trung vào những quãng thời gian tươi đẹp.”

“Ừm,” Billy Pilgrim nói.

Vừa chìm vào giấc ngủ là Billy lại du hành xuyên thời gian đến một thời khắc khác khá dễ chịu, đó là đêm tân hôn của anh với Valencia Merble của trước đây. Anh đã xuất viện được sáu tháng. Anh đã tạm ổn. Anh đã tốt nghiệp trường Chăm sóc Thị lực Ilium - hạng ba trong một lớp gồm bốn mươi bảy sinh viên.

Bấy giờ anh đang nằm trên giường với Valencia trong căn hộ một phòng xinh xắn cất ở phía tận cùng một cầu tàu ở mũi Ann, bang Massachusetts. Lấp loáng trên mặt nước là những ánh đèn thành phố Gloucester. Billy đang ở trên người Valencia, làm tình với nàng. Một kết quả của hành vi này là sự ra đời của Robert Pilgrim, người sẽ trở thành một rắc rối ở trường trung học, nhưng rồi cải tà quy chánh và trở thành thành viên của lực lượng Mũ nồi Xanh nổi tiếng.

Valencia không phải là một người du hành thời gian, nhưng nàng có một trí tưởng tượng sống động. Trong lúc Billy làm tình với mình, nàng tưởng tượng mình là một người đàn bà lừng danh lịch sử. Nàng là Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhất của Anh quốc, còn Billy ắt là Christopher Columbus.

Billy phát ra một tiếng nghe như một cái bản lề nhỏ, gỉ sét. Anh vừa mới trút sạch bầu tinh dịch vào người Valencia, đóng góp phần của mình cho lực lượng Mũ nồi Xanh. Tất nhiên, theo người Tralfamadore, Mũ nồi Xanh sẽ có bảy cha mẹ cả thảy.

Rồi anh lăn khỏi người cô vợ vĩ đại của mình, biểu hiện đê mê của cô nàng không thay đổi khi anh rời khỏi người cô. Anh nằm, các đốt xương sống dọc theo mép đệm, hai tay khoanh sau đầu. Bây giờ anh đã giàu có. Anh đã được tưởng thưởng cho việc lấy một cô gái mà tất cả những ai đầu óc tỉnh táo hẳn sẽ chối đây đẩy. Nhạc phụ đã tặng anh một chiếc Buick Roadmaster cáu cạnh, một ngôi nhà chạy điện hoàn toàn, và biến anh thành quản lý của văn phòng phát đạt nhất của mình, văn phòng Ilium, ở đây Billy có thể nghĩ tới việc kiếm được ít nhất ba mươi nghìn đô một năm. Quá tốt. Cha anh chỉ là thợ cắt tóc.

Như mẹ anh nói, “Nhà Pilgrim đang dần nở mày nở mặt rồi đây.”

Tuần trăng mật diễn ra trong những bí ẩn vừa ngọt ngào vừa cay đắng của những ngày ấm áp trái mùa ở New England. Căn hộ của đôi tình nhân có một bức vách lãng mạn toàn là những cánh cửa kiểu Pháp. Chúng mở ra một ban công và vùng cảng sặc mùi dầu mỡ ở ngoài xa.

Một xuồng câu máy màu xanh lục và cam, chuyển thành màu đen trong đêm, gầm gừ chạy ngang ban công của họ, cách giường cưới chưa đến mười mét. Nó đi ra biển mà chỉ bật đèn sương mù. Những khoang trống rỗng của nó âm vang, khiến cho bài ca của động cơ trở nên ầm ĩ. Cầu tàu bắt đầu ca cùng một bài, và rồi tấm ván đầu giường của những kẻ hưởng tuần trăng mật cũng lên tiếng hát. Và nó còn tiếp tục hát một lúc lâu sau khi xuồng máy đã đi rồi.

“Cảm ơn anh,” cuối cùng Valencia nói. Tấm ván đầu giường đang hát bài ca vo ve của muỗi.

“Đời là thế em.”

“Thật dễ chịu.”

Rồi nàng òa khóc.

“Có chuyện gì sao?”

“Em hạnh phúc quá.”

“Tốt.”

“Em không bao giờ nghĩ sẽ có ai đó cưới em.” “Ừm,” Billy Pilgrim nói.

“Vì anh em sẽ giảm cân,” nàng nói.

“Cái gì?”

“Em sẽ ăn kiêng. Em sẽ đẹp ra vì anh.”

“Anh thích em chỉ vì em là em.”

“Thật sao?”

“Thật,” Billy Pilgrim nói. Nhờ vào du hành thời gian, anh đã nhìn thấy gần hết cuộc hôn nhân của mình rồi, và anh biết dẫu sao cuộc hôn nhân này ít ra cũng không đến mức không thể chịu nổi.

Một chiếc thuyền buồm gắn máy tuyệt đẹp tên là Scheherezade đang lướt ngang giường cưới. Máy thuyền kêu ở một nốt organ rất thấp. Đèn trên thuyền đều sáng.

Hai con người xinh đẹp, một chàng trai và một cô gái vận đồ dạ tiệc đang đứng ở phía lan can nơi đuôi tàu, yêu nhau, yêu những giấc mơ của họ, yêu cả cái hồ. Họ cũng đang hưởng tuần trăng mật. Đó là Lance Rumfoord, người Newport, bang Rhode Island, và cô dâu, trước đây tên là Cynthia Landry, vốn là mối tình thuở thiếu thời của John F. Kennedy ở Hyannis Port, Massachusetts.

Có một trùng hợp nho nhỏ ở đây. Sau này Billy Pilgrim sẽ nằm chung phòng bệnh viện với chú của Rumfoord, Giáo sư Bertram Copeland Rumfoord của Đại học Harvard, sử gia chính thức của Không lực Hoa Kỳ.

Khi hai con người đẹp đẽ kia đi qua, Valencia chất vấn đấng phu quân có vẻ ngoài ngồ ngộ của mình về chiến tranh. Những sinh vật giống cái của Trái đất thật là ngây ngô khi họ cứ gắn tình dục và quyến rũ với chiến tranh.

“Anh có bao giờ nghĩ về cuộc chiến không?” nàng hỏi, một tay đặt trên đùi anh.

“Đôi khi,” Billy Pilgrim nói.

“Đôi khi em nhìn anh,” Valencia nói, “và em có cái cảm giác buồn cười là anh chứa đầy bí mật.”

“Không đâu,” Billy nói. Dĩ nhiên đó là lời nói dối. Anh chưa từng nói với ai về những chuyến du hành xuyên thời gian của mình, về hành tinh Tralfamadore và vân vân.

“Ắt anh phải có bí mật gì đó về cuộc chiến. Hoặc không phải bí mật, mà là những điều anh không muốn nói tới.”

“Không phải.”

“Em hãnh diện vì anh là lính. Anh có biết không?”

“Tốt.”

“Nó kinh khủng không?

“Đôi khi.” Một suy nghĩ điên rồ chợt nảy ra trong Billy. Sự thật đó làm anh giật mình. Đó sẽ là một văn bia tuyệt vời cho Billy Pilgrim - và cả cho tôi nữa.

“Nếu em muốn thì bây giờ anh có kể về cuộc chiến không?” Valencia nói. Trong một cái hốc bé nhỏ trong cơ thể vĩ đại của mình nàng đang tập kết nguyên liệu để tạo ra một Mũ nồi Xanh.”

“Nghe sẽ như một giấc mơ thôi,” Billy nói. “Giấc mơ của người khác thường chẳng có gì thú vị.”

“Em nghe nói có lần anh kể cho cha nghe về một đội hành hình của Đức.” Nàng muốn nói tới vụ hành quyết Edgar Derby.

“Ừm.”

“Anh phải chôn ông ta?”

“Ừ.”

“Ông ta có thấy anh cầm xẻng trước khi bị bắn không?”

“Có.”

“Ông ta có nói gì không?”

“Không.”

“Ổng có sợ không?

“Họ đã đánh thuốc ông ấy. Ông ấy đã đờ đẫn ra rồi.”

“Và họ gắn một cái bia lên người ông ta?”

“Một mẩu giấy,” Billy nói. Anh trèo xuống giường, nói, “Xin lỗi,” rồi bước vào bóng tối của nhà tắm để đi tiểu. Anh mò mẫm bật đèn, chợt nhận ra trong lúc quờ quạng bức tường nham nhám, rằng mình đã du hành ngược về năm 1944, trở lại bệnh viện trong nhà tù ấy.

Ngọn nến trong bệnh viện đã lụi. Ông già Edgar Derby đáng thương đã ngủ gục trên chiếc giường cạnh giường Billy. Billy lần ra khỏi giường, mò mẫm dọc theo tường, cố tìm lối ra ngoài vì anh mắc tiểu quá rồi.

Đột nhiên anh tìm được một cánh cửa, nó bật mở ra, và anh loạng choạng bước ra trong bóng đêm của nhà tù. Billy dật dờ do ảnh hưởng của du hành xuyên thời gian cũng như moóc phin. Anh đâm sầm vào một hàng rào dây kẽm gai, người bị đâm rách hơn chục chỗ. Anh cố lùi ra, nhưng dây kẽm gai cứ níu lấy anh. Thành thử Billy nhảy một điệu ngớ ngẩn với hàng rào, bước qua bên này một bước, rồi qua bên kia, rồi quay lại chỗ ban đầu.

Một tay người Nga cũng mò ra ngoài đi tiểu, thấy Billy nhảy nhót từ phía bên kia hàng rào. Gã tiến lại gần cái hình nộm kỳ cục đó, cố dịu dàng bắt chuyện, hỏi nó từ nước nào tới. Hình nộm lờ tít, tiếp tục nhảy nhót. Thế là tay người Nga lần lượt gỡ từng chỗ móc ra, và hình nộm nhảy nhót biến vào màn đêm mà chẳng cảm ơn một lời.

Tay người Nga vẫy tay chào, gọi với theo bằng tiếng Nga, “Tạm biệt.”

Billy móc con chim của mình ra, trong bóng đêm nhà tù, và tè xối xả ra đất. Rồi anh nhét nó vào, hoặc gần gần thế, rồi bần thần về một vấn đề mới: Anh đi ra từ chỗ nào, và bây giờ anh cần đi đâu?

Đâu đó trong bóng đêm có những tiếng rên rỉ. Không còn ý tưởng nào hay hơn, Billy mò về hướng tiếng rên. Anh băn khoăn không biết bi kịch nào khiến bao nhiêu người phải khóc lóc mò ra ngoài.

Billy tiến lại gần, mà không hay biết mình đang đi tới phía sau của nhà xí. Nó gồm một hàng rào đơn, với mười hai cái xô ở dưới. Hàng rào được che chắn ba mặt bằng vách làm từ gỗ vụn và hộp thiếc cán dẹp. Mặt còn lại đối diện với bức vách giấy dầu đen của cái lán nơi bữa đại tiệc đã diễn ra.

Billy tiến dọc theo bức vách tới chỗ anh có thể nhìn thấy một thông điệp mới được sơn lên vách giấy dầu. Những chữ này được viết bằng cùng loại sơn màu hồng đã dùng làm trang trí phông màn cho vở Lọ Lem. Nhận thức của Billy mờ mịt đến nỗi anh thấy những chữ này như đong đưa trong không trung, có lẽ được sơn trên một tấm màn trong suốt. Và lại có những đốm bạc đáng yêu trên tấm màn nữa. Thực ra đấy là mấy cái đinh giữ cho tấm giấy dầu căng trên lán. Billy không thể hình dung ra làm thế nào mà tấm màn được treo lên hư vô, và anh đinh ninh rằng tấm màn huyền ảo và tiếng rên rỉ rất kịch tính là một phần của một nghi thức tôn giáo mà anh hoàn toàn không hiểu.

Đây là thông điệp:

LÀM ƠN GIỮ NHÀ XÍ NÀY SẠCH SẼ NHƯ KHI BẠN VÀO!

Billy ngó vào nhà xí. Tiếng rên rỉ từ trong đó vọng ra. Chốn này ken đầy lính Mỹ tụt quần. Bữa đại tiệc chào mừng đã khiến bụng họ sôi như núi lửa. Những cái xô đã đầy nhóc hoặc đã bị đá ngả nghiêng.

Một lính Mỹ ngồi gần Billy rên rằng anh ta đã tống ra tất cả mọi thứ trừ óc của mình. Một lát sau hắn rên, “Nó ra rồi, nó ra rồi.” Ý hắn ta là óc của hắn.

Đó là tôi. Đó chính là tôi. Đó là tác giả cuốn sách này.

Billy loạng choạng đi khỏi cảnh tượng Địa ngục. Anh đi ngang ba gã người Anh đang theo dõi cái lễ hội tháo tỏng từ đằng xa. Họ cứng người vì kinh tởm.

“Cài nút quần mày lại!” một gã nói khi Billy đi ngang qua.

Thế là Billy cài nút quần. Anh ngẫu nhiên tiến lại cửa bệnh viện. Anh đi qua cửa, và lại thấy mình đang hưởng tuần trăng mật, từ nhà tắm trở về giường với cô dâu của mình ở Mũi Ann.

“Em nhớ anh,” Valencia nói.

“Anh nhớ em,” Billy Pilgrim nói.

Billy và Valencia đi ngủ, cuộn lấy nhau như những chiếc thìa, và Billy du hành xuyên thời gian trở về chuyến tàu anh đã bắt vào năm 1944, từ nơi diễn tập ở South Carolina tới đám tang của cha ở Ilium. Anh chưa nhìn thấy châu Âu, cũng chưa ra trận. Khi ấy đầu máy hơi nước vẫn còn phổ biến.

Billy phải đổi tàu nhiều lần. Mọi chuyến tàu đều chậm chạp. Các toa tàu hôi mùi khói than, mùi thuốc lá và rượu theo khẩu phần, và mùi rắm của những con người ăn thức ăn thời chiến. Nệm của những ghế sắt lởm chởm lông khiến Billy chẳng ngủ được mấy. Anh chỉ ngủ say khi chỉ còn cách Ilium ba tiếng đồng hồ, hai chân giang về phía lối vào toa ăn đông đúc.

Người bốc xếp đánh thức anh dậy khi tàu tới Ilium. Billy khật khừ xách túi xuống tàu, rồi đứng trên sân ga cạnh người bốc xếp, cố gắng tỉnh táo.

“Ngủ ngon chứ, anh bạn?” người bốc xếp hỏi.

“Vâng,” Billy nói.

“Này,” người bốc xếp nói, “thằng em của anh bạn dậy rồi kia.”

Lúc ba giờ sáng trong cái đêm moóc phin của Billy trong tù, một bệnh nhân mới được hai tay người Anh to khỏe khiêng vào viện. Gã bé tí. Đó chính là Paul Lazzaro, tên trộm xe hơi chấm bi quê ở Ciciro, bang Illinois. Gã bị bắt quả tang chôm thuốc lá dưới gối của một người Anh. Tay người Anh trong con mơ màng đã bẻ gãy tay phải của Lazzaro và đánh gã bất tỉnh.

Tay người Anh thủ phạm đang giúp khiêng Lazzaro vào bệnh viện. Tóc tai y đỏ rực, và không có lông mày. Y đóng vai Nàng tiên xanh mẹ đỡ đầu của Lọ Lem trong vở kịch. Y đang đỡ nửa người của Lazzaro bằng một tay, tay kia đóng cánh cửa sau lưng. “Nặng không bằng một con gà,” y nói.

Tay người Anh khiêng chân Lazzaro chính là viên đại tá đã tiêm cú quyết định khiến Billy bất tỉnh.

Nàng tiên xanh vừa bối rối vừa phẫn nộ. Y nói, “Nếu biết đánh phải một con gà, tôi đã không nặng tay như thế.”

“Ờ.”

Nàng tiên xanh nói huỵch toẹt rằng tất cả bọn Mỹ thật là tởm lạm. “Yếu ớt, hôi hám, yếm thế - tuyền một lũ chó mít ướt, dơ dáy, trộm cắp.” y nói. “Còn tệ hơn cả đám người Nga mắc dịch.”

“Đúng là thật bê bối,” viên đại tá tán thành.

Một viên thiếu tá người Đức đi vào. Hắn coi đám người Anh là bạn cánh hẩu. Hắn ghé thăm đám này hầu như hằng ngày, chơi cờ với họ, giảng cho bọn họ về lịch sử Đức, đánh đàn piano, dạy họ tiếng Đức giao tiếp. Hắn thường bảo nếu không có những người bạn văn minh như họ, hắn đã phát điên. Tiếng Anh của hắn thật tuyệt vời.

Hắn xin lỗi việc đám người Anh phải chịu đựng đám lính trơn Mỹ. Hắn hứa hẹn họ không phải chịu cảnh bất tiện quá một hai ngày nữa, rằng đám Mỹ sẽ sớm được chuyển tới Dresden làm lao công. Hắn có trong tay một tài liệu chuyên khảo do Hiệp hội Quản ngục Đức ấn hành. Đó là một bản báo cáo về thái độ của tù binh Mỹ ở Đức. Báo cáo được viết bởi một cựu công dân Mỹ đã leo cao trong Bộ Tuyên truyền Đức. Ông ta tên là Howard W. Campbell con. Ông này sau sẽ treo cổ tự tử trong lúc đợi phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh.

Đời là thế.

Trong lúc viên đại tá Anh đang xếp lại cánh tay gãy của Lazzaro và trộn thạch cao để đúc khuôn, viên thiếu tá Đức đọc to từng đoạn trong chuyên khảo của Howard W. Campbell con bằng tiếng Anh. Campbell có thời từng là kịch tác gia khá tiếng tăm. Đây là dòng mở đầu của y:

Hoa Kỳ là quốc gia giàu có nhất trên Trái đất nhưng người dân thì đa phần nghèo khổ, và những người Mỹ nghèo bị buộc phải chán ghét bản thân. Ta có thể dẫn lời danh hài người Mỹ Kin Hubbard, “Nghèo không phải là ô nhục, nhưng cũng có thể là ô nhục.” Thực tế nghèo đối với người Mỹ là tội ác, mặc dù Mỹ là một đất nước của người nghèo. Mọi quốc gia khác đều có truyền thống dân gian về những người nghèo nhưng cực kỳ thông thái và đức hạnh, và do đó được trọng vọng hơn bất kỳ ai có quyền lực và tiền tài. Người Mỹ nghèo không có bất cứ câu chuyện nào tương tự. Họ chế nhạo chính mình và tôn vinh những kẻ giàu có hơn. Cửa hàng tồi tàn nhất của một người bản thân cũng nghèo rất có thể có một tấm bảng trên tường viết câu hỏi độc địa này, “Nếu ngươi thông minh thế, sao ngươi không giàu?” Rồi còn có một lá cờ Mỹ không to hơn bàn tay trẻ con gắn vào một que kẹo mút phất phơ bay ở quầy tính tiền.

Tác giả chuyên khảo này, một cư dân của hạt Schenectady, New York, nghe đâu có IQ cao nhất trong số tất cả tội phạm chiến tranh bị buộc phải đối diện án tử bằng cách treo cổ. Đời là thế.

Người Mỹ, cũng như con người ở mọi quốc gia khác, tin vào lắm thứ rõ ràng là dối trá, bài chuyên khảo tiếp tục. Điều dối trá có sức hủy hoại kinh khủng nhất của họ chính là người Mỹ nào cũng kiếm tiền rất dễ dàng. Họ không công nhận trong thực tế kiếm tiền là việc khó khăn đến thế nào, và do đó những người không có tiền không ngừng oán trách bản thân. Cái kiểu tự oán trách này là một kho báu đối với những kẻ giàu có và quyền lực, họ hỗ trợ cho người nghèo, cả công khai lẫn riêng tư, ít hơn bất cứ tầng lớp thống trị nào kề từ, tỷ dụ, thời Napoleon.

Bao điều tân kỳ đã đến từ nước Mỹ. Thứ choáng váng nhất trong đó, một thứ không có tiền lệ, là một đại đoàn những kẻ nghèo bị vô lại hóa. Họ không yêu thương nhau bởi lẽ họ chẳng yêu thương bản thân. Khi hiểu được điều này, thì cái cách hành xử kém cỏi của tù binh Mỹ trong các nhà tù Đức không còn là điều bí ẩn.

Howard W. Campbell con giờ chuyển sang bàn về đồng phục lính Mỹ trong Đệ nhị Thế chiến: Mọi đội quân khác trong lịch sử, dù giàu có hay không, đều ráng cấp cho ngay cả lính cấp bậc thấp nhất của mình phục trang sao cho họ trở nên ấn tượng với chính bản thân cũng như với người khác, chẳng khác gì những chuyên gia sành điệu trong vấn dề nhậu nhẹt, giao phối, cướp bóc và chết bất đắc kỳ tử. Tuy nhiên, Quân đội Mỹ lại dưa người của mình đi đánh nhau và chết trong bộ trang phục công sở được sửa sang lại, rõ ràng vốn được may cho người khác, một món quà tiệt trùng nhưng nhúm nhó nhận từ một tổ chức từ thiện vẫn bịt mũi khi chuyển quần áo cho những gã say khướt trong các khu ổ chuột.

Khi một sĩ quan ăn vận láng lẩy nói chuyện với một kẻ ăn vận luộm thuộm như thế, ông ta sẽ la mắng gã kia, vốn là điều thường tình đối với sĩ quan thuộc bất cứ đội quân nào.

Nhưng sự khinh bỉ của sĩ quan không mang tính trình diễn bề trên thân thiện như trong các đội quân khác. Mà đó là một biểu hiện thành thật sự ghét bỏ người nghèo, những kẻ chẳng biết oán trách ai về sự khốn khổ của mình ngoại trừ chính mình.

Một quản ngục tiếp xúc với tù binh Mỹ lần đầu cần được cảnh báo: Đừng trông mong gì về tình huynh đệ, kể cả giữa anh em với nhau. Không có sự gắn kết nào giữa các cá nhân. Mỗi người đều là một đứa con nít hờn dỗi thường mong mình chết đi cho rồi.

Campbell thuật lại kinh nghiệm của người Đức về tù binh Mỹ. Ở mọi nơi họ đều có tiếng là những kẻ ưa tủi thân nhất, ít tương thân tương ái nhất và bẩn thỉu nhất trong số tất cả tù binh chiến tranh, Campbell nói. Họ không có khả năng hành động vì chính bản thân họ. Họ khinh ghét bất cứ kẻ nào trong số bọn họ lên làm thủ lĩnh, từ chối đi theo hoặc thậm chí lắng nghe anh ta, viện lẽ anh ta chẳng tốt đẹp gì hơn bọn họ, rằng anh ta nên ngừng lên mặt đi.

Và vân vân. Billy Pilgrim đi ngủ, rồi thức dậy đã là một người đàn ông góa vợ trong căn nhà trống rỗng của mình ở Ilium. Barbara con gái ông đang trách móc ông vì đã viết những lá thư ngớ ngẩn cho báo chí.

“Bố có nghe con nói gì không?” Barbara chất vấn. Bấy giờ lại là năm 1968.

“Tất nhiên.” Ông đang lơ mơ.

“Nếu bố cứ cư xử như trẻ con, thì có lẽ chúng con sẽ phải đối xử với bố như trẻ con đấy.”

“Đó không phải là điều diễn ra kế tiếp,” Billy nói.

“Chúng ta sẽ thấy điều gì diễn ra kế tiếp.” Barbara đẫy đà giờ co ro. “Trong này rét quá. Bố có bật sưởi không?”

“Sưởi?”

“Lò sưởi - cái thứ ở tầng hầm, cái thứ làm cho không khí nóng từ các khe này đi ra. Con không nghĩ là nó đang hoạt động.”

“Chắc là không.”

“Bố không lạnh à?”

“Bố không để ý.”

“Ôi Chúa ơi, bố đúng là một đứa bé. Nếu bọn con để bố một mình, bố sẽ chết cóng, bố sẽ chết đói.” Và vân vân. Cô rất phấn khích tước đi phẩm giá của bố nhân danh tình yêu.

Barbara gọi thợ sửa máy sưởi, và cô bắt Billy đi ngủ, bắt ông hứa phải nằm dưới cái chăn điện cho đến khi máy sưởi hoạt động. Cô bật điều khiển chăn ở mức cao nhất, chẳng mấy chốc giường của Billy đủ nóng để nướng bánh mì.

Khi Barbara đi ra, đóng sập cửa sau lưng mình, Billy du hành xuyên thời gian quay lại sởthú trên Tralfamadore. Người ta mang đến cho anh một bạn tình từ Trái đất. Nàng tên là Montana Wildhack, một minh tinh màn bạc.

Montana đang bị say thuốc nặng. Những người Tralfamadore mang mặt nạ hơi độc mang nàng vào, đặt nàng trên chiếc ghế dài màu vàng của Billy; rồi rút lui thông qua buồng kín khí của anh. Bầy sinh vật đông đúc bên ngoài sung sướng. Mọi kỷ lục về số người viếng thăm sở thú đều bị phá vỡ. Tất cả mọi người trên hành tinh này đều muốn xem người Trái đất giao phối.

Montada trần truồng và dĩ nhiên Billy cũng vậy. Tình cờ, anh có một công cụ truyền thống khổng lồ. Quý vị chưa từng thấy cái nào to đến thế đâu.

Giờ nàng chớp chớp mắt. Lông mi nàng giống như cái roi ngựa. “Tôi đang ở đâu?” nàng lên tiếng hỏi.

“Mọi thứ đều ổn cả,” Billy dịu dàng nói. “Xin đừng sợ hãi.”

Montana đã bất tỉnh trong suốt chuyến đi từ Trái đất. Người Tralfamadore chưa nói chuyện với nàng, chưa lộ diện với nàng. Điều cuối cùng nàng còn nhớ đó là mình đang phơi nắng bên một hồ bơi ở Palm Springs, California. Montana mới hai mươi tuổi. Trên cổ nàng đeo một sợi dây chuyền bạc với mặt hình trái tim buông xuống giữa ngực.

Bây giờ nàng mới ngoảnh đầu nhìn thấy biển người Tralfamadore ở bên ngoài nhà vòm. Họ đang hoan nghênh nàng bằng cách nắm lại rồi xòe ra thật nhanh những bàn tay xanh lét nhỏ nhắn của mình.

Montana rú lên không ngớt.

Mọi bàn tay xanh lét nhỏ nhắn đều nắm chặt, bởi thật khó chịu khi phải chứng kiến cơn hãi hùng của Montana. Giám đốc sở thú ra lệnh cho một người điều khiển cần cẩu đang đứng cạnh đó thả một lớp màn màu xanh hải quân phủ lấy nhà vòm, để giả lập màn đêm Trái đất bên trong. Đêm thực sự chỉ buông xuống sở thú này một giờ trong suốt sáu mươi hai giờ Trái đất.

Billy bật ngọn đèn sàn. Ánh đèn từ một nguồn sáng duy nhất khiến những đường nét ba rốc của cơ thể Montana hiển hiện sắc nét. Nó gợi Billy nhớ về kiến trúc kỳ tuyệt của Dresden, trước khi bị ném bom.

Dần dà, Montana bắt đầu yêu thương và tin tưởng Bill Pilgrim. Anh không chạm vào nàng cho đến khi nàng nói toạc ra rằng nàng muốn anh. Sau khi ở trên Tralfamadore đâu đó chừng một tuần theo giờ Trái đất, nàng thẹn thùng hỏi chẳng lẽ anh không ngủ với nàng sao. Anh nhận lời. Chuyện ấy thật tuyệt.

Billy du hành xuyên thời gian từ cái giường sung sướng đó đến cái giường năm 1968. Đó là giường của ông ở Ilium, với chiếc chăn điện nóng sực. Mồ hôi ông nhễ nhại, mơ hồ nhớ rằng con gái mình đã cho mình đi nằm, đã bảo ông ở yên chỗ đó cho đến khi người ta sửa xong máy sưởi.

Có người gõ cửa phòng ngủ.

“Ai đó?” Billy nói.

“Thợ sửa máy sưởi đây.”

“Sao hả?”

“Bây giờ nó chạy êm rồi. Phòng đang ấm lên.”

“Tốt quá.”

“Chuột cắn dây trong bộ điều nhiệt.”

“Kỳ lạ!”

Billy nhảy mũi. Cái giường nóng hổi bốc mùi như hầm ủ nấm. Ông đã có một giấc mộng tinh về Montana Wildhack.

Vào buổi sáng sau giấc mơ ướt đó, Billy quyết định quay trở lại văn phòng của mình trong trung tâm mua sắm. Công việc làm ăn phát đạt như thường lệ. Các trợ lý của ông đã làm tròn phận sự. Họ ngạc nhiên khi thấy ông. Họ đã nghe con gái ông nói có lẽ ông sẽ không bao giờ hành nghề trở lại.

Nhưng Billy thoăn thoắt đi vào phòng khám, yêu cầu đưa bệnh nhân đầu tiên vào. Thế là họ gửi vào cho ông một cậu bé mười hai tuổi đi cùng bà mẹ góa. Họ là những người mới chuyển đến thị trấn. Billy hỏi han họ một chút, biết được rằng cha cậu bé đã chết ở Việt Nam - trong trận đánh năm ngày nổi tiếng để chiếm đồi 875 gần Đắk Tô. Đời là thế.

Khi khám mắt cho cậu bé, Billy thản nhiên kể cho cậu bé nghe về những chuyến phiêu lưu của mình ở Tralfamadore, đảm bảo với cậu bé mồ côi cha rằng cha cậu hãy còn sống mạnh khỏe trong những thời khắc mà cậu bé sẽ còn gặp đi gặp lại.

“Chẳng phải điều đó rất an ủi sao?” Billy hỏi.

Và đâu đó bên trong, mẹ cậu bé đi ra bảo tiếp tân rằng Billy rõ ràng là loạn trí. Billy được đưa về nhà. Con gái ông lại hỏi, “Bố ơi là bố ơi - chúng con biết làm gì với bố bây giờ?”

❀ ❀ ❀

[1] Jerry: từ chỉ lính Đức trong Đệ nhị Thế chiến.

[2] Một nhân vật tiểu thuyết gia xuất hiện trở lại trong nhiều tác phẩm khác của Kurt Vonnegut.

[3] Blank cartridge: chỉ đạn chỉ có thuốc nổ mà không có đầu đạn. Khi bắn vẫn có tiếng nổ nhưng không có đầu đạn bắn ra.

[4] Gay Nineties: cụm từ mang màu sắc luyến tiếc, chỉ thời kỳ thịnh vượng những năm 1890 ở Mỹ.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.