Lò Sát Sinh Số 5

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ba

❊ ❊ ❊

Đám lính Đức và con chó phải tham gia một chiến dịch quân sự mang một cái tên hiển nhiên đến nực cười, một công vụ hiếm khi được mô tả chi tiết, một công vụ chỉ cần nhắc đến tên thôi trong các bản tin hoặc trong lịch sử là đã có thể mang đến cho những thành phần cuồng nhiệt với chiến tranh một kiểu cảm giác thỏa mãn giống như sau khi làm tình. Trong trí tưởng tượng của đám người mê đánh nhau, đó là một hành động ái tình uể oải đầy thiêng liêng theo sau cơn cực khoái chiến thắng. Nó được gọi là “thu dọn”.

Con chó, trước đó đã sủa những tiếng nghe thật dữ dằn từ xa vọng lại, hóa ra là một con béc giê cái. Nó run rẩy. Đuôi cụp giữa hai chân sau. Người ta mượn nó từ một nông dân sáng hôm đó. Chưa bao giờ nó ra chiến trường. Nó chẳng biết người ta đang chơi cái trò gì. Nó tên là Công chúa.

Trong đám lính Đức, có hai cậu nhóc tầm mười mấy tuổi. Ngoài ra còn hai ông già xiêu vẹo - một đám dãi dớt mồm móm mém như miệng hố. Họ đều là lính không chính quy, được trang bị quân trang tạm bợ trưng dụng từ những tay lính thật vừa mới chết. Đời là thế. Họ vốn là nông dân ở ngay bên kia biên giới Đức, cách đó không xa.

Tay chỉ huy là một hạ sĩ ở tuổi trung niên - mắt đỏ ngầu, xương xẩu, héo quắt như khô bò, ngán ngẩm chiến tranh. Ông ta đã bị thương bốn lần - và được vá víu lại rồi gửi lại ra chiến trường. Ông ta là một tay lính cừ - sắp sửa bỏ cuộc, sắp sửa kiếm ai đó để đầu hàng. Đôi chân vòng kiềng của ông ta xỏ đôi bốt kỵ binh vàng mà ông lấy từ xác một viên đại tá người Hung ở mặt trận Nga. Đời là thế.

Đôi bốt đó gần như là tất cả những gì ông sở hữu trên thế gian này. Chúng là nhà của ông. Một giai thoại: Có lần một tân binh nhìn ông đánh bóng đôi bốt vàng đó, ông giơ một chiếc về phía cậu tân binh nói, “Nếu cậu nhìn vào đây đủ sâu, cậu sẽ nhìn thấy Adam và Eva.”

Billy Pilgrim chưa nghe giai thoại này. Nhưng, nằm đó trên mặt băng đen, Billy trừng trừng ngó cái bề mặt bóng lộn của đôi bốt của viên hạ sĩ, nhìn thấy Adam và Eva trong những hun hút vàng. Họ trần truồng. Họ thật thơ ngây, thật mong manh, thật háo hức muốn cư xử đứng đắn. Billy Pilgrim yêu họ.

Cạnh đôi bốt vàng là một cặp chân bó giẻ. Chúng được cột chằng chéo bằng dây vải, được xỏ vào đôi guốc gỗ. Billy ngước nhìn gương mặt đi theo đôi guốc gỗ đó. Đó là gương mặt của một thiên thần tóc vàng, một cậu bé mười lăm tuổi.

Cậu bé xinh đẹp như Eva.

Billy được cậu bé đáng yêu ấy, thiên thần phi giới tính, giúp đứng dậy. Những người khác tiến lại phủi tuyết cho Billy, và rồi họ lục soát anh để tìm vũ khí. Anh chẳng có gì. Thứ nguy hiểm nhất họ tìm thấy trên người anh là một mẩu bút chì năm xăng ti mét.

Ba tiếng đoàng vô thưởng vô phạt vọng lại từ xa. Đó là tiếng súng trường Đức. Hai trinh sát bỏ rơi Billy và Weary vừa mới bị bắn. Họ đã bị lính Đức phục kích. Họ bị phát hiện và bị bắn từ đằng sau. Giờ họ hấp hối trên tuyết, không cảm thấy gì, máu họ biến tuyết thành màu kem mâm xôi. Đời là thế. Như vậy, Roland Weary là người cuối cùng trong Ba người lính Ngự lâm.

Và Weary, trợn mắt hãi hùng, đang bị tước vũ khí. Viên hạ sĩ giao khẩu súng lục của Weary cho cậu bé xinh trai. Cậu ta sững sờ nhìn con dao găm hiểm ác của Weary, nói bằng tiếng Đức rằng Weary chắc chắn sẽ sử con dao với cậu, đâm toác mặt cậu ra bằng mấy đốt gai, cắm lưỡi dao vào bụng hay cổ họng cậu. Cậu không nói được tiếng Anh, còn Billy và Weary không hiểu tí tiếng Đức nào.

“Đồ chơi của mi đẹp đấy,” viên hạ sĩ bảo Weary, và ông ta giao con dao cho một ông già. “Trông nó không thú vị sao? Hử?”

Ông ta xé áo choàng và áo khoác của Weary. Mấy cái nút đồng bay như bắp rang. Viên hạ sĩ thò vào hõm ngực của Weary như thể ông định moi quả tim đang đập của hắn, nhưng thay vào đó ông lấy cuốn Kinh Thánh chống đạn của Weary ra.

Một cuốn Kinh Thánh chống đạn là cuốn Kinh Thánh đủ nhỏ để nhét vào túi áo ngực của người lính, ngay trước tim. Nó được bọc thép.

Viên hạ sĩ tìm thấy bức ảnh đồi trụy chụp người đàn bà và con ngựa trong túi hông của Weary. “Con ngựa may mắn ghê, hỉ?” ông ta nói. “Hừm? Hừm? Mi có mong mi là con ngựa đó không?” Ông giao tấm ảnh cho ông già kia. “Chiến lợi phẩm đấy! Của ông đấy, tất cả của ông, ông già may mắn ạ.”

Rồi ông ta bắt Weary ngồi xuống tuyết cởi đôi bốt lính, rồi ông đưa nó cho cậu bé xinh trai. Ông ta đưa cho Weary đôi guốc gỗ của cậu bé. Thành thử cả Weary lẫn Billy giờ đều không có giày nhà binh đàng hoàng, và họ phải cuốc bộ hàng dặm, với tiếng lộc cộc từ đôi guốc của Weary, trong khi Billy thì bước thấp bước cao, thỉnh thoảng lại va vào Weary.

“Xin lỗi,” Billy sẽ nói, hoặc “Thứ lỗi cho tôi.”

Rốt cuộc họ được đưa tới một căn nhà đá nơi một ngã ba đường. Đó là điểm tập trung tù binh chiến tranh.

Billy và Weary được đưa vào bên trong, ở đó ấm áp và mịt mờ khói. Trong lò sưởi có lửa xì xèo, bập bùng. Nhiên liệu là đồ đạc. Trong đó có khoảng hai mươi người Mỹ nữa, ngồi trên sàn dựa lưng vào tường, chằm chằm nhìn ngọn lửa - nghĩ về bất cứ thứ gì họ có thể nghĩ tới, tức là không gì hết.

Không ai mở miệng. Không ai có chuyện gì hay ho về cuộc chiến để kể.

Billy và Weary tìm được chỗ cho mình, và Billy thiếp ngủ, đầu gác lên vai một viên đại úy; ông này cũng để yên cho Billy gác đầu. Viên đại úy là một cha tuyên úy. Ông là một giáo sĩ Do Thái. Ông bị bắn xuyên qua bàn tay.

Billy du hành xuyên thời gian, mở mắt ra, thấy mình đang nhìn chằm chằm vào đôi mắt thủy tinh của một con cú máy xanh lục bảo. Con cú được treo ngược từ một sợi dây thép không gỉ. Con cú là máy đo thị lực của Billy trong văn phòng của mình ở Ilium. Máy đo thị lực là dụng cụ để đo các tật khúc xạ trong mắt giúp bác sĩ kê đúng loại mắt kính phù hợp.

Billy ngủ gục trong lúc khám cho một bệnh nhân nữ đang ngồi trên ghế phía bên kia con cú. Trước đây anh đã từng ngủ trong lúc làm việc. Thoạt đầu chuyện ấy khá buồn cười. Bây giờ thì Billy bắt đầu lo lắng về việc đó, về đầu óc mình nói chung. Anh cố nhớ ra mình đã bao tuổi, nhưng chịu. Anh cố nhớ đang là năm bao nhiêu. Nhưng anh cũng không thể nhớ nổi.

“Thưa bác sĩ,” bệnh nhân khẽ nói.

“Hử?” anh nói.

“Ông im lặng quá.”

“Xin lỗi.”

“Ông đang nói đó - và đột nhiên ông lại im lặng.”

“Ừm.”

“Ông thấy gì tồi tệ sao?”

“Tồi tệ?”

“Mắt tôi có vấn đề?”

“Không, không,” Billy nói, muốn ngủ tiếp. “Mắt bà tốt lắm. Bà chỉ cần kính để đọc sách báo thôi.” Anh bảo bà ta đi qua hành lang để chọn trong rất nhiều các gọng kính ở đó.

Khi bà ta đi khỏi, Billy kéo rèm nhưng chẳng rõ hơn là mấy về những thứ bên ngoài kia. Vẫn còn một tấm mành chắn mất tầm nhìn, anh kéo nó lên kêu lách cách. Anh mặt trời chói lóa ùa vào căn phòng. Bên ngoài anh thấy hàng ngàn chiếc ô tô đậu san sát, lấp lánh trên mặt hồ nhựa đường mênh mông. Văn phòng của Billy nằm trong một trung tâm mua sắm ở ngoại ô.

Ngay bên ngoài cửa sổ là chiếc Cadillac El Dorado Coupe de Ville của chính Billy. Anh đọc những miếng dán ở đuôi xe. Một cái ghi, “Hãy đến Ausable Chasm[1].”

Một cái khác: “Hỗ trợ Sở Cảnh sát của bạn”. Một cái thứ ba ghi: “Hãy lên án Earl Warren[2]“. Các miếng dán về cảnh sát và Earl Warren là quà của bố vợ Billy, thành viên Hội John Birch[3]. Ngày ghi trên bảng số xe là năm 1967, có nghĩa là Billy Pilgrim bốn mươi bốn tuổi. Anh tự hỏi mình: “Bao nhiêu năm tháng đã đi về đâu?”

Billy ngoảnh sang bàn mình. Ở đó có một tờ Tạp chí Chăm sóc thị lực để mở. Trên trang để mở là một bài xã luận, Billy bắt đầu đọc, môi khẽ mấp máy.

Những chuyện xảy ra trong năm 1968 sẽ quyết định vận mệnh các nhà chăm sóc thị lực châu Âu trong ít nhất 50 năm! Billy đọc. Với cảnh báo này, Jean Thiriart, Thư ký Hiệp hội Bác sĩ chăm sóc Thị lực Bỉ, đang kêu gọi thành lập “Hội Bác sĩ chăm sóc Thị lực châu Âu”. Các bác sĩ chăm sóc thị lực, ông nói, hoặc sẽ đạt được vị thế là các chuyên gia, hoặc sẽ bị giáng xuống, vào năm 1971, thành những người bán mắt kính.

Billy Pilgrim cố hết sức chú tâm vào bài báo.

Một hồi còi hụ vang lên, khiến anh sợ đứng tim. Anh ngỡ Đệ tam Thế chiến xảy ra đến nơi. Tiếng còi hụ hóa ra chỉ thông báo chính ngọ. Nó phát ra từ trên vòm một trạm cứu hỏa bên kia đường.

Billy nhắm mắt lại. Khi mở mắt ra, anh đã trở lại thời Đệ nhị Thế chiến. Đầu anh đang ngả vào vai viên tuyên úy bị thương. Một tên Đức đang đá vào chân anh, bảo anh tỉnh dậy, tới giờ đi tiếp rồi.

Những người Mỹ, trong đó có Billy, tạo thành một đám diễu của những thằng ngốc trên con đường bên ngoài.

Có một nhiếp ảnh gia xuất hiện, một phóng viên chiến trường người Đức với một chiếc Leica. Anh ta chụp hình chân của Billy và Roland Weary. Bức ảnh được công bố rộng rãi trên mặt báo hai ngày sau đó như là bằng chứng đầy khích lệ về việc Quân đội Mỹ tiếng là giàu có lại được trang bị nghèo nàn đến thế nào.

Mặc dù vậy, nhiếp ảnh viên lại muốn một cái gì đó sống động hơn, một tấm ảnh chụp một vụ bắt tù binh thực sự. Nên đám lính gác bèn dàn cảnh. Chúng ném Billy vào một bụi rậm. Khi Billy từ bụi rậm thò ra, mặt đầy vẻ thiện ý đần độn, họ chĩa súng máy vào anh đe dọa, làm ra vẻ đang bắt giữ anh vào lúc đó.

Nụ cười của Billy lúc ra khỏi bụi rậm ít nhất cũng lạ lùng y như nụ cười của Mona Lisa, bởi anh cùng lúc vừa cuốc bộ ở Đức vào năm 1944 vừa lái chiếc Cadillac vào năm 1967. Nước Đức lùi xa, và năm 1967 trở nên sáng rõ, hoàn toàn không bị quãng thời gian nào khác chồng lấn. Billy đang trên đường tới một cuộc mít tinh kèm ăn trưa ở câu lạc bộ Lions. Hôm đó là một ngày tháng Tám nóng nực, tuy nhiên xe của Billy có máy lạnh. Anh phải dừng lại trước một trụ đèn giao thông giữa một khu người da đen của Ilium. Dân ở đó căm ghét nó tới mức đã đốt cháy phần lớn cái trụ đèn tháng trước. Đấy là tất cả những gì họ có, vậy mà họ đã phá hỏng nó. Khu này gọi Billy nhớ tới vài thị trấn anh từng thấy trong chiến tranh. Vệ đường và vỉa hè nhiều chỗ bị nghiền nát, dấu tích xe tăng và xe bánh xích của lực lượng Vệ binh Quốc gia.

“Em ruột”, là một thông điệp viết bằng sơn hồng bên hông một tiệm thực phẩm đổ nát.

Có người gõ lên cửa sổ xe Billy. Một người đàn ông da đen bên ngoài. Ông ta muốn nói gì đó. Đèn giao thông đổi màu. Billy làm điều đơn giản nhất. Anh lái đi.

Billy lái qua một cảnh tượng còn hoang tàn hơn. Trông như Dresden sau trận oanh tạc - như bề mặt của Mặt trăng vậy. Căn nhà nơi Billy lớn lên từng ở đâu đó trong cái nơi giờ đây quá sức trống vắng này. Khu đô thị đang được cải tạo. Một Trung tâm Chính quyền Ilium mới và một Cung Nghệ thuật và một Hồ Hòa bình và những tòa chung cư cao tầng sẽ nhanh chóng mọc lên ở đây.

Với Billy Pilgrim chuyện này hoàn toàn ổn.

Diễn giả ở câu lạc bộ Lions là một thiếu tá Hải quân. Ông ta nói rằng người Mỹ không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục chiến đấu ở Việt Nam, cho đến khi họ giành được chiến thắng hoặc những người Cộng sản hiểu ra rằng họ không thể áp đặt đường hướng của mình lên những nước nhỏ. Viên thiếu tá đã ở đó trong hai đợt công tác khác nhau. Ông ta thuật lại nhiều chuyện hãi hùng và tuyệt vời mà ông từng chứng kiến. Ông ta ủng hộ tăng cường đánh bom, cũng như đánh bom Bắc Việt trở về thời kỳ Đồ đá nếu họ từ chối nhận ra lẽ phải.

Billy không cảm thấy muốn phản đối việc ném bom Bắc Việt, cũng không rùng mình về những thứ gớm guốc việc ném bom gây ra mà anh từng chứng kiến. Anh chỉ đơn giản là ăn trưa tại câu lạc bộ Lions, nơi giờ anh đã là cựu chủ tịch.

Trên tường văn phòng mình, Billy có một lời cầu nguyện được đóng khung nói lên cái phương cách anh dựa vào để sống tiếp, ngay cả khi anh thờ ơ với sự sống. Nhiều bệnh nhân nhìn thấy lời cầu nguyện trên tường của Billy đã bảo anh rằng nó cũng giúp họ sống tiếp. Nó như thế này:

XIN CHÚA HÃY BAN CHO CON

SỰ BÌNH THẢN ĐỂ CHẤP NHẬN NHỮNG GÌ CON KHÔNG THỂ THAY ĐỔI,

LÒNG DŨNG CẢM

ĐỂ THAY ĐỔI NHỮNG GÌ CON CÓ THỂ,

VÀ TRÍ KHÔN

ĐỂ LUÔN NHẬN THẤY

SỰ KHÁC BIỆT

GIỮA CHÚNG

Nằm trong số những thứ Billy Pilgrim không thể thay đổi là quá khứ, hiện tại và tương lai.

Anh được giới thiệu với viên thiếu tá Hải quân.

Người giới thiệu nói với viên thiếu tá rằng Billy là một cựu chiến binh, có một đứa con trai là trung sĩ trong lực lượng Mũ nồi Xanh ở Việt Nam.

Viên thiếu tá bảo Billy rằng Mũ nồi Xanh rất được việc, và anh nên tự hào về con trai mình.

“Có chứ. Dĩ nhiên là có,” Billy Pilgrim nói.

Sau bữa trưa Billy về nhà ngủ. Bác sĩ yêu cầu anh phải ngủ trưa mỗi ngày. Bác sĩ hy vọng làm thế sẽ giúp Billy giảm bớt một chứng bệnh nhẹ: Thỉnh thoảng, chẳng vì lý do gì rõ ràng, Billy Pilgrim chợt thấy mình khóc. Chưa ai bắt gặp Billy khóc cả. Chỉ mỗi bác sĩ biết. Billy khóc cực kỳ lặng lẽ, và không sụt sùi lắm.

Billy sở hữu một căn nhà kiểu Georgia xinh xắn ở Ilium. Anh giàu như Croesus[4], điều mà anh chưa từng mơ tới, một triệu năm nữa cũng không. Anh có năm bác sĩ chăm sóc thị lực khác làm việc cho mình ở phòng khám chỗ trung tâm mua sắm, lãi ròng hơn sáu mươi nghìn đô la một năm. Thêm vào đó, anh còn sở hữu một phần năm cái khách sạn Holiday Inn mới xây ở ngoài đường 54, và một nửa của ba quầy bán Tastee-Freeze. Tastee-Freeze là một dạng bánh sữa trứng đông lạnh. Nó mang lại tất cả những cái thú của món kem, mà lại không bị cứng và lạnh buốt.

Nhà Billy vắng hoe. Con gái Barbara của anh sắp lấy chồng, nên nó đã cùng vợ anh đi vào thành phố để chọn họa tiết cho các đồ bạc và pha lê của nó. Trên bàn nhà bếp có mẩu giấy nhắn ghi như vậy. Không có người giúp việc nhà. Người ta không còn hứng thú với nghề giúp việc nhà nữa. Cũng không có con chó nào.

Từng có một con chó tên Spot, nhưng nó đã chết. Đời là thế. Billy từng rất thích con Spot, và con Spot cũng từng thích anh.

Billy đi lên cầu thang trải thảm và vào phòng ngủ của hai vợ chồng. Căn phòng có giấy dán tường hoa. Có một cái giường đôi với một đồng hồ radio trên bàn bên cạnh. Trên bàn còn có cái điều khiển chăn điện, và công tắc để bật một máy rung nhẹ được gắn vào lò xo của tấm đệm. Nhãn hiệu của máy rung là “Magic Fingers”. Cái máy rung này cũng là ý tưởng của tay bác sĩ.

Billy bỏ chiếc kính ba tròng[5] ra, cởi áo khoác, cà vạt và giày, rồi anh buông mành cửa và kéo rèm, rồi nằm ườn lên tấm trải giường. Nhưng giấc ngủ không tới. Thay vào đó là nước mắt. Chúng cứ ứa ra. Billy bật Magic Fingers lên rồi vừa nẩy tưng vừa khóc.

Chuông cửa reo. Billy ra khỏi giường nhìn qua cửa sổ xuống bậc thềm trước, coi thử đó có phải là người nào quan trọng không. Dưới đó có một người đàn ông què, lơ lửng trong không gian như Billy Pilgrim trong thời gian. Những cơn co giật khiến cho ông ta phải nhảy nhót suốt, và cũng khiến ông ta thay đổi cả vẻ mặt, cứ như ông đang cố bắt chước những minh tinh màn bạc nổi tiếng.

Một người khuyết tật khác đang bấm chuông bên kia đường. Ông ta đi nạng. Ông chỉ có một chân. Ông ta tụt giữa đôi nạng của mình sâu đến độ vai ông ta tuồng che mất cả hai tai.

Billy biết mấy gã què cụt này muốn gì. Họ đang bán đăng ký dài hạn cho những tạp chí không bao giờ giao đến. Mọi người đăng ký bởi vì những người bán hàng quá tội nghiệp. Cách đây hai tuần Billy đã nghe một diễn giả ở câu lạc bộ Lions - một người của Cục Kinh doanh Lành mạnh[6] - nói về trò lừa đảo này. Ông ta nói rằng tất cả mọi người nếu thấy đám què cụt bán đăng ký tạp chí trong khu phố thì nên gọi cảnh sát ngay.

Billy nhìn xuống đường, thấy một chiếc Buick Riviera cáu cạnh đỗ cách chừng nửa dãy nhà. Trong xe có một người đàn ông, Billy đoan chắc đó là kẻ đã thuê những người khuyết tật làm việc này. Billy vẫn nhỏ lệ không ngừng khi anh ngẫm nghĩ về đám què cụt và gã chủ của họ. Chuông cửa nhà anh réo chói lói.

Anh nhắm mắt, và rồi lại mở ra. Anh vẫn còn khóc, nhưng anh đã quay lại Luxembourg. Anh đang đi theo đoàn cùng nhiều tù binh khác. Chính ngọn gió mùa đông đã làm anh chảy nước mắt.

Kể từ khi Billy bị quẳng vào bụi rậm vì một bức ảnh, anh đã nhìn thấy ánh lửa của thánh Elmo[7], một dạng điện quang quanh đầu các bạn đồng hành và đám lính Đức. Nó cũng ở trên những ngọn cây và nóc các tòa nhà Luxembourg nữa. Nó thật đẹp.

Billy bước đi hai tay đặt lên đầu, và những người Mỹ khác cũng vậy. Billy bước thấp bước cao. Anh vô ý va vào người Roland Weary. “Cho tôi xin lỗi,” anh nói.

Mắt Weary cũng ướt nhèm. Weary khóc vì những cơn đau kinh hồn ở chân. Đôi giày đế gỗ đang biến chân hắn thành cái bánh pút đinh đẫm máu.

Ở mỗi giao lộ đoàn người của Billy lại được bổ sung thêm nhiều người Mỹ tay đặt trên đầu tỏa hào quang. Billy mỉm cười với tất cả. Họ di chuyển như nước, chảy mãi xuống đồi, và cuối cùng họ tuôn ra một xa lộ chính dưới đáy một thung lũng. Xuyên qua thung lũng trôi một dòng Mississippi những người Mỹ bị lăng nhục. Hàng vạn người Mỹ lê bước về phía đông, hai tay siết vào nhau trên đỉnh đầu. Họ thở dài và rên rỉ.

Billy và nhóm của mình gia nhập dòng sông bẽ bàng ấy, vầng dương cuối chiều ló ra từ những đám mây. Không chỉ có mỗi đám người Mỹ trên đường. Làn đường đi về phía tây sôi động, huyên náo những xe cộ đang hối hả chuyển lực lượng quân Đức dự bị ra mặt trận. Quân dự bị là những gã hung tợn, mặt mày sương gió, râu ria tua tủa. Răng chúng trông tựa phím đàn piano.

Chúng được điểm tô với những đai lưng súng máy, chúng hút xì gà và nốc ruợu mạnh. Chúng ngốn ngấu xúc xích, bàn tay múp míp mân mê những quả lựu đạn chày[8].

Một gã lính mặc đồ đen đang một mình ngật ngưỡng say rượu trên nóc một chiếc tăng. Gã nhổ nước bọt vào đám lính Mỹ. Bãi nước bọt trúng vai Roland Weary, tặng cho Weary một dây biểu chương[9] toàn đờm dãi, xúc xích huyết, bã thuốc lá và rượu Schnapps.

Billy thấy trong buổi chiều hôm ấy một niềm phấn khích rờn rợn. Có bao nhiêu thứ để xem: những bãi chông chống tăng, những cỗ máy giết người, các xác chết chân trần màu xanh và vàng ngà. Đời là thế.

Bước thấp bước cao, Billy nhoẻn cười trìu mến với một ngôi nhà thôn quê màu oải hương tươi sáng đã bị đạn súng máy bắn lỗ chỗ. Đứng ở lối vào chênh vênh của căn nhà là một viên đại tá Đức. Cùng với hắn ta là một ả điếm mặt mộc.

Billy húc vào vai của Weary, khiến hắn thốt lên nức nở. “Đi thẳng! Đi thẳng!”

Họ đang trèo lên một con dốc thoai thoải. Lên tới đỉnh là họ không còn trong địa phận Luxembourg nữa. Họ đã ở Đức.

Ở biên giới, người ta dựng một máy quay phim để quay lại cảnh chiến thắng huy hoàng. Hai dân thường mặc áo khoác da gấu đang dựa vào máy quay lúc Billy và Weary đi ngang. Họ đã hết phim cách đây nhiều tiếng rồi.

Một trong hai người chú mục vào gương mặt Billy một lát, rồi lại quay ra nhìn xa xăm. Phía xa xăm có một làn khói mỏng. Có một trận đánh ở đó. Người ta đang chết ở đó. Đời là thế.

Khi mặt trời lặn xuống, Billy thấy mình đang cà nhắc trong bãi đỗ tàu. Hàng hàng toa xe đang chờ ở đó. Chúng đã đưa quân dự bị ra tiền tuyến. Bây giờ chúng sắp sửa đưa tù binh vào nội địa nước Đức.

Anh đèn pin nhảy nhót điên loạn.

Bọn Đức phân loại tù binh theo cấp bậc. Chúng xếp trung sĩ với trung sĩ, thiếu tá với thiếu tá, và cứ thế. Một đội toàn đại tá bị chặn lại gần chỗ Billy. Một người trong đám bị viêm cả hai phổi. Ông ta sốt cao và chóng mặt. Khi sân tàu chùng xuống và quay quanh viên đại tá, ông cố giữ cho mình đứng vững bằng cách nhìn chằm chằm vào mắt Billy.

Viên đại tá ho sù sụ, rồi hỏi Billy, “Cậu là lính của tớ phải không?” Đây là một con người đã mất toàn bộ một trung đoàn, khoảng bốn nghìn rưỡi quân - thực ra nhiều người trong số đó là trẻ con. Billy không trả lời. Câu hỏi chẳng có ý nghĩa gì.

“Quân phục của cậu trông thế nào?” viên đại tá nói. Ông lại ho sù sụ. Mỗi khi hít vào phổi ông kêu loẹt xoẹt như những túi giấy bết mỡ.

Billy không thể nhớ ra quân phục của mình trông như thế nào.

“Cậu thuộc Bốn mươi mốt phải không?”

“Bốn mươi mốt gì ạ?” Billy nói.

Một quãng im lặng. “Trung đoàn bộ binh,” cuối cùng viên đại tá nói.

“Vậy à,” Billy Pilgrim nói.

Rồi lại một quãng im lặng kéo dài nữa, khi đó viên đại tá hấp hối, chết đuối ngay nơi ông đang đúng. Rồi ông chợt thét lên, giọng sòng sọc, “Là tớ đây, các chàng trai! Là Bob Hoang đây!” Ông luôn muốn được lính của mình gọi bằng tên ấy: “Bob Hoang”.

Trong số những người có thể nghe thấy ông, không ai là lính trung đoàn ông cả, trừ Roland Weary, mà Weary thì chẳng nghe thấy gì. Cái chân đau quằn quại khiến Weary không thể nghĩ về cái gì khác.

Nhưng viên đại tá tưởng tượng ra mình đang nói với đoàn quân yêu dấu của mình một lần sau chót, ông bảo họ rằng họ không có gì phải xấu hổ, rằng có đầy lính Đức phơi thây chiến trường đã cầu Chúa giá như chúng chưa bao giờ nghe đến tên trung đoàn Bốn mươi mốt. Ông nói sau chiến tranh ông sẽ tổ chức họp mặt trung đoàn ở quê ông, ở Cody, thuộc Wyoming. Ông sẽ nướng cả một con bò thiến.

Ông ta vừa nhìn chằm chằm vào mặt Billy vừa nói tất cả những lời đó. Ông ta làm cho vang vọng trong cái sọ của Billy tội nghiệp những lời vô nghĩa. “Chúa phù hộ cho các chàng trai của ta!” ông nói, và câu nói đó cứ vọng lại, vọng lại. Và rồi ông nói, “Nếu các cậu có khi nào ghé qua Cody ở bang Wyoming, cứ hỏi Bob Hoang!”

Tôi đã ở đó. Cũng như chiến hữu của tôi, Bernard V. O’Hare.

Billy Pilgrim bị nhồi vào một toa xe cùng với nhiều binh nhì khác. Anh và Roland Weary bị tách ra. Weary bị nhồi vào một toa khác trên cùng chuyến tàu.

Có những khe thông khí hẹp ở các góc toa, phía dưới mái chìa. Billy đứng cạnh một trong những khe thông khí đó, và vì đám đông ép anh lại, anh trèo lên thanh giằng chéo ở thành toa để có thêm chỗ. Ở chỗ đó, mắt anh ngang tầm với khe thông khí khiến anh có thể nhìn thấy một đoàn tàu khác cách chừng chục thước.

Bọn Đức đang viết lên các toa tàu bằng phấn xanh - số người trong mỗi toa, cấp bậc, quốc tịch, và ngày được đưa lên tàu. Những tên Đức khác đang cố định các móc khóa trên cửa các toa tàu bằng dây và đinh và những món rác rưởi ven đường tàu khác. Billy cũng nghe tiếng ai đó viết lên toa của mình nhưng không nhìn thấy người đó.

Hầu hết các binh nhì trong toa của Billy còn rất trẻ - đang sắp sửa hết thời thơ ấu. Nhưng bị kẹp vào trong góc với Billy là một gã ma cà bông bốn mươi tuổi.

“Tao từng đói hơn thế này,” gã ma cà bông nói với Billy. “Tao từng ở những chỗ tồi tệ hơn ở đây. Thế này thì thấm gì.”

Từ toa tàu bên kia đường một người kêu với qua khe thông gió rằng trong đó có người vừa chết. Đời là thế. Bốn tên lính gác nghe thấy tiếng kêu. Chúng không hào hứng lắm với cái tin đó.

“Yo, yo,” một tên nói, mơ màng gật gật. “Yo, yo.”

Và đám lính gác không buồn mở cửa toa có người chết. Thay vào đó chúng mở toa kế tiếp, và những thứ trong đó khiến Billy chết mê. Nơi ấy giống như thiên đường. Có nến, có giường tầng với chăn và tấm phủ. Có một cái bếp tròn bằng sắt trên đó có một ấm cà phê bốc hơi nghi ngút. Có một chiếc bàn với chai rượu vang, một ổ bánh mì và một cái xúc xích trên đó. Có bốn chén xúp.

Trên các vách có hình những lâu đài, hồ nước và các cô gái đẹp. Đây chính là căn nhà di động của đám gác đường ray, công việc của họ là mãi mãi canh giữ hàng hóa luân chuyển từ nơi này sang nơi khác. Bốn tên gác đi vào trong toa, đóng cửa lại.

Lát sau chúng bước ra hút xì gà, nói chuyện với nhau đầy vẻ mãn nguyện bằng cái tông trầm của tiếng Đức. Một đứa trong bọn nhìn thấy mặt Billy ở chỗ khe thông gió. Hắn vẫy một ngón tay dọa dẫm đầy âu yếm, ý bảo Billy cư xử cho ngoan ngoãn.

Những người Mỹ ở toa bên kia lại kêu với đám gác về người chết trong toa họ. Đám gác lấy từ trong toa tàu ấm cúng của mình ra một chiếc cáng, mở cửa toa tàu có người chết và đi vào trong. Toa có người chết không có nhiều người. Trong đó chỉ có sáu viên đại tá còn sống và một viên đã chết.

Bọn Đức khiêng cái xác ra. Cái xác là Bob Hoang. Đời là thế.

Trong đêm, mấy chiếc đầu máy hụ còi gọi nhau, rồi bắt đầu chuyển động. Đầu máy và toa cuối của mỗi đoàn tàu được đánh dấu bằng một dải băng sọc đen và cam, để các máy bay biết rằng đoàn tàu không phải là mục tiêu, để báo hiệu nó đang chở tù binh.

Chiến tranh đang dần đến hồi kết. Các đầu máy bắt đầu di chuyển về hướng đông vào cuối tháng Mười hai. Các nhà tù Đức khắp nơi đều đầy nghẹt, chẳng còn tí thực phẩm nào cho tù binh nữa, và cũng không còn tí nhiên liệu nào để sưởi ấm cho họ. Tuy thế, tù binh vẫn tiếp tục được đưa đến.

Đoàn tàu của Billy Pilgrim, đoàn tàu dài nhất, đã hai ngày liền không nhúc nhích.

“Thế này đâu có tệ,” vào ngày thứ hai gã ma cà bông bảo Billy. “Thế này thì thấm gì.”

Billy nhìn qua khe thông gió. Sân tàu giờ đây đã trống lốc, ngoại trừ một đoàn tàu y tế có dấu thập đỏ ở phía xa xa. Đầu máy của nó hụ còi. Đầu máy đoàn tàu chở Billy Pilgrim hụ còi đáp lại. Chúng đang nói với nhau, “Chào cậu.”

Mặc dù đoàn tàu của Billy không nhúc nhích, các toa tàu vẫn bị khóa chặt. Không ai được xuống trước điểm đến cuối cùng. Với đám lính gác đi lên đi xuống bên ngoài, mỗi toa trở thành một sinh vật duy nhất, nó ăn, uống và bài tiết thông qua khe thông gió. Nó cũng nói hoặc thỉnh thoảng kêu réo qua khe thông gió nữa. Đầu vào là nước, bánh mì đen, xúc xích và phó mát, và đầu ra là cứt, nước đái và ngôn từ.

Những con người trong đó bài tiết vào những chiếc mũ sắt sẽ được chuyền tới cho những người đứng ở khe thông gió để đổ đi. Billy là một người phụ trách việc đổ chất thải. Những con người cũng chuyền các bi đông cho đám gác đổ nước vào. Khi đồ ăn vào, các con người đó trở nên yên lặng, đáng tin, và đẹp đẽ. Họ chia sẻ.

Những con người trong đó thay phiên nhau đứng hay nằm xuống. Chân của những người đứng giống như những cọc rào cắm vào mặt đất ấm nóng, vặn vẹo, xì hơi và thở dài. Mặt đất kỳ dị là một tranh khảm những người nằm ngủ cuộn mình như những chiếc thìa.

Giờ đoàn tàu bắt đầu bò về hướng đông.

Ở nơi nào đó về hướng ấy đang có lễ Giáng sinh. Billy Pilgrim nằm còng queo như chiếc thìa với gã ma cà bông vào đêm Giáng sinh, anh thiếp đi, rồi du hành xuyên thời gian trở lại năm 1967 - đến cái đêm mà anh bị chiếc đĩa bay của xứ Tralfamadore bắt cóc.

❀ ❀ ❀

[1] Một địa điểm du lịch ở New York.

[2] Earl Warren (1891-1974) là một luật sư và chính trị gia người Mỹ. Ông từng giữ chức Chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ông là đối tượng chỉ trích của các tổ chức cực hữu.

[3] Hội John Birch: một tổ chức cực đoan cực hữu. Tổ chức này đã tài trợ để cắm các tấm biển “Kết án Earl Warren” trên các đường quốc lộ ở Mỹ vào những năm 1960.

[4] Croesus là vua nước Lydia từ năm 560 trước Công nguyên, ông nổi tiếng vì sự giàu sang của mình.

[5] Tri-focals: loại mắt kính được chia thành 3 vùng với tiêu điểm khác nhau, thường dành cho một số nghề đặc thù như dược sĩ, những người thường xuyên phải đọc các văn bản được in nhỏ trên giấy.

[6] Better Business Bureau: một tổ chức thu thập thông tin về các công ty để đánh giá mức độ tin cậy.

[7] Là một hiện tượng thời tiết xảy ra trong cơn bão mạnh.

[8] Nguyên văn: Potato masher grenade, một loại lựu đạn của Đức, có hình dáng đặc biệt, trông giống một cái chày nghiền khoai.

[9] Fourragere (tiếng Pháp trong nguyên bản).

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.