Lò Sát Sinh Số 5

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sáu

❊ ❊ ❊

Nghe này:

Billy Pilgrim nói rằng anh tới Dresden, Đức, vào ngày hôm sau cái đêm moóc phin trong khu dành cho người Anh ở trung tâm của trại thanh trừng tù binh người Nga. Billy thức dậy tờ mờ sáng ngày hôm đó, là một ngày tháng Giêng. Trong cái bệnh viện bé tí không có cửa sổ, và những ngọn nến ma mị đã lụi. Thành ra ánh sáng duy nhất lọt vào từ những cái lỗ kim châm trên vách và từ khung chữ nhật xộc xệch viền lấy cái cửa được lắp một cách lỏng lẻo. Paul Lazzaro nhỏ thó, với một cánh tay gãy, ngáy khò khò trên một chiếc giường. Edgar Derby, thầy giáo trung học sau này sẽ bị bắn, khò khò trên một chiếc giường khác.

Billy ngồi dậy trên giường. Anh không biết bây giờ đang là năm nào hay mình đang ở hành tinh nào. Bất kể đây là hành tinh nào, nó cũng lạnh cóng. Nhưng không phải cái lạnh đánh thức Billy. Mà là hấp lực của loài thú khiến anh run rẩy, ngứa ngáy. Nó khiến cơ bắp của anh đau miên man, cứ như anh đã tập tành cực nhọc lắm.

Hấp lực đến từ phía sau lưng anh. Nếu buộc Billy đoán, ắt anh sẽ bảo có một con dơi hút máu treo ngược trên bức tường sau lưng mình.

Billy nhích xuống chân giường rồi mới ngoảnh lại để xem cái thứ đó. Anh không muốn con vật nhào vào mặt anh, cào mắt hay cắn sứt cái mũi to của anh. Rồi anh ngoảnh lại. Cái thứ phát ra hấp lực kia thực sự giống một con dơi. Đó chính là cái áo choàng cổ lông của Billy. Nó được treo trên một cây đinh.

Billy lui về phía cái áo, nhìn qua vai mình, cảm thấy hấp lực tăng lên. Rồi anh quỳ trên giường, đối diện với nó, cả gan sờ soạng nó. Anh đang tìm cho ra đích xác cái nguồn phát xạ.

Anh tìm thấy hai nguồn nhỏ, hai cục u cách nhau khoảng ba xăng ti và nằm lẩn trong đường viền. Một cái có hình dạng như hạt đậu. Cái kia hình dạng như một móng ngựa nhỏ. Billy nhận được một thông điệp do bức xạ mang tới. Anh được bảo là đừng cố tìm hiểu cục u kia là cái gì. Anh được khuyên hãy hài lòng biết rằng chúng có thể mang đến cho anh phép mầu, với điều kiện anh chớ nên cố sức tìm hiểu bản chất của chúng. Với Billy Pilgrim như thế cũng ổn. Anh thấy biết ơn. Lòng anh vui sướng.

Billy thiếp đi, rồi lại thức dậy trong bệnh viện nhà tù một lần nữa. Mặt trời đã lên cao. Bên ngoài là những âm thanh gợi nhớ Golgotha[1] từ đám người khỏe mạnh đang đào hố chôn những thân gỗ thẳng đứng trên nền đất cứng ngắc. Người Anh đang xây cho mình một nhà xí mới. Họ đã bỏ nhà xí cũ cho đám người Mỹ, cũng như cả cái nhà hát nơi họ đã tổ chức bữa tiệc.

Sáu người Anh lễ mễ khênh chiếc bàn bi-a chất đống những đệm trên đó xuyên qua bệnh viện. Họ chuyển nó đến khu ở kề bệnh viện. Theo sau họ là một người Anh khác kéo lê tấm đệm của mình và vác theo tấm ván phóng dao.

Cái tay cầm tấm ván phóng dao chính là Nàng tiên xanh đã gây thương tích cho Paul Lazzaro bé nhỏ. Y dừng bước bên giường Lazzaro, thăm hỏi gã.

Lazzaro bảo y gã sẽ kiếm người xử y sau khi chiến tranh kết thúc.

“Thật sao?”

“Mày phạm sai lầm rất lớn,” Lazzaro nói. “Đứa nào chạm tới tao, tốt hơn hết đứa đó hãy giết tao luôn, còn không thì tao sẽ xử nó.”

Nàng tiên xanh cũng biết dăm ba điều về chuyện giết chóc. Y nở một nụ cười quan tâm với Lazzaro, “vẫn còn thời gian để tao xử mày,” y nói, “nếu mày thật sự thuyết phục được tao làm thế là hợp lý.”

“Sao mày không cút con mẹ nó đi?”

“Đừng tưởng tao chưa thử,” Nàng tiên xanh trả lời.

Nàng tiên xanh đi khỏi, vừa thích thú vừa tỏ ra kẻ cả. Khi y đi rồi, Lazzaro hứa với Billy và ông già Edgar Derby đáng thương rằng gã sẽ trả thù, và trả thù là một điều hết sức ngọt ngào.

“Đó sẽ là thứ ngọt ngào nhất trên đời,” Lazzaro nói. “Ai chơi tao,” gã nói, “chúng sẽ biết thế nào là hối hận. Tao sẽ cười ngặt nghẽo. Tao đếch quan tâm đó là trai hay gái. Nếu Tổng thống Hoa Kỳ chơi tao, tao sẽ ăn miếng trả miếng với lão. Nhẽ ra chúng bây nên thấy tao đã làm gì một con chó.”

“Chó à?” Billy hỏi.

“Con khốn kiếp ấy đớp tao. Thế là tao kiếm một tảng thịt bò và một cái lò xo đồng hồ. Tao cắt vụn lò xo ra. Tao vát nhọn đầu các mảnh lò xo. Chúng sắc như dao cạo. Tao nhồi chúng vào tảng thịt, sâu vào trong. Rồi tao đi ngang chỗ họ cột con cẩu đó. Nó lại muốn cắn tao. Tao bảo nó, ‘Thôi nào, chó ngoan - ta làm bạn nhé. Đừng làm kẻ thù của nhau nữa. Tao không khùng đâu.’ Nó tin tao.”

“Nó tin à?”

“Tao quẳng cho nó tảng thịt. Nó đớp một phát nuốt trọn cả tảng. Tao chờ chừng mười phút.” Mắt Lazzaro chợt lấp lánh. “Máu bắt đầu chảy ra từ mồm nó. Nó bắt đầu rên rỉ, lăn lộn dưới đất, như thể bị dao đâm từ bên ngoài chứ không phải từ bên trong. Rồi nó cố cắn giật những gì trong bụng mình ra. Tao cười ha hả, bảo nó, ‘Mày nghĩ đúng đó. Xé ruột của mày ra đi, nhóc. Là tao ở trỏng cùng mấy con dao đó.”’ Đời là thế.

“Nếu bao giờ có ai hỏi quý vị thứ ngọt ngào nhất trong cuộc đời là gì,” Lazzaro nói, “thì đó là trả thù.”

Về sau này khi Dresden bị phá hủy, thật tình cờ, Lazzaro không hề hoan hỉ. Gã bảo mình chả có gì phản đối người Đức. Ngoài ra, gã cũng bảo gã thích xử lý kẻ thù của mình từng tên một. Gã tự hào chưa bao giờ làm tổn thương một người ngoài cuộc vô tội. “Chưa bao giờ có ai vô can mà lại bị Lazzaro hại cả,” gã nói.

Ông già Edgar Derby đáng thương, thầy giáo trung học, xen vào câu chuyện. Ông hỏi Lazzaro có định cho Nàng tiên xanh ăn thịt bò với lò xo đồng hồ không.

“Cứt,” Lazzaro nói.

“Hắn khá to con,” Derby nói. Bản thân Derby dĩ nhiên cũng khá to con.

“Kích cỡ chả có ý nghĩa gì.”

“Cậu định bắn hạ hắn?”

“Tao sẽ mướn người bắn hạ hắn,” Lazzaro nói. “Hết chiến tranh, hắn sẽ về nhà. Hắn sẽ là một anh hùng. Đàn bà con gái đu theo hắn khắp nơi. Hắn sẽ an cư. Một vài năm trôi qua. Và một ngày nọ có người sẽ gõ cửa nhà hắn. Hắn sẽ mở cửa và đứng đó là một người lạ. Người lạ hỏi hắn có phải là ông nọ ông kia không. Khi hắn nói hắn chính là người đó, người lạ sẽ bảo, ‘Paul Lazzaro sai tôi tới.’ Nói rồi người lạ rút súng bắn bay của quý của hắn. Người lạ sẽ cho hắn vài giây suy nghĩ Paul Lazzaro là ai và đời hắn sẽ như thế nào khi thiếu mất con cu. Rồi tên đó sẽ bắn hắn một phát vào bụng rồi bỏ đi.” Đời là thế.

Lazzaro nói gã có thể thuê giết bất kỳ ai trên thế giới với giá một nghìn đô la cộng chi phí đi lại. Gã có sẵn một danh sách trong đầu, gã nói.

Derby hỏi có những ai trong danh sách, và Lazzaro nói, “Quý vị chỉ cần đảm bảo mình không lọt vào danh sách là được. Đừng chọc vào tao, chỉ vậy thôi.” Một quãng im lặng, rồi gã thêm, “Và đừng chọc vào bạn bè tao.”

“Cậu có bạn sao?” Derby tò mò.

“Trong chiến tranh?” Lazzaro hỏi. “Ừ, tao có một anh bạn trong chiến tranh. Anh ấy chết rồi.” Đời là thế.

“Thật đáng buồn.”

Mắt Lazzaro lại lấp lánh. “Ừ. Anh ấy là bạn cùng toa tàu với tao. Anh ấy tên là Roland Weary. Anh ấy chết trên tay tao.” Rồi gã trỏ sang Billy bằng bàn tay còn cử động được. “Anh ấy chết vì cái thằng chó má ngu xuẩn này. Nên tao đã hứa với anh ấy sẽ thuê người xử cái thằng chó ngu xuẩn này sau chiến tranh.”

Billy Pilgrim chực nói nhưng Lazzaro phẩy tay. “Thôi quên đi nhóc,” gã nói. “Cứ tận hưởng cuộc sống khi còn có thể đi. Năm, mười, mười lăm, hai mươi năm tới sẽ không có gì xảy ra đâu. Nhưng để tao cho mày một lời khuyên nho nhỏ: Lúc nào chuông cửa reo, thì hãy kêu ai khác ra mở cửa.”

Billy Pilgrim cũng nói rằng đúng là anh sẽ chết theo cách đó. Là một nhà du hành thời gian, anh đã chứng kiến cái chết của mình nhiều lần, đã mô tả nó trong một băng ghi âm. Băng ghi âm được khóa cùng di chúc và những tài sản quý giá khác trong két an toàn ở Quỹ tín thác và Ngân hàng Quốc gia thương nhân Ilium, anh nói.

Tôi, Billy Pilgrim, cuốn băng bắt đầu, sẽ chết, đã chết, và luôn luôn sẽ chết vào ngày mười ba tháng Hai năm 1976.

Vào thời điểm chết, ông nói, ông đang ở Chicago nói chuyện với đám đông cử tọa về đề tài đĩa bay và bản chất của thời gian. Nhà của ông vẫn ở Ilium. Ông đã phải ba lần băng qua biên giới quốc gia mới tới được Chicago. Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã bị Ban-căng hóa, bị chia thành hai mươi quốc gia nhỏ để không còn là mối nguy với hòa bình thế giới. Chicago đã bị những người Trung Quốc giận dữ ném bom hydro. Đời là thế. Ở Chicago giờ mọi thứ đều mới tinh.

Billy phát biểu trước cử tọa len chặt một sân vận động bóng chày có mái vòm trắc địa. Sau lưng ông là cờ tổ quốc. Đó là một con bò giống Hereford trên đồng cỏ xanh. Billy dự đoán mình sẽ chết trong vòng một tiếng đồng hồ. Ông cười ha hả về chuyện đó, còn mời đám đông cùng cười với mình. “Đã đến lúc tôi phải chết rồi,” ông nói. “Nhiều năm về trước,” ông nói, “có một người hứa sẽ sai người giết tôi. Bây giờ ông ta đã già, sống không xa đây lắm. Ông ta đã đọc mọi tin tức liên quan đến sự xuất hiện của tôi trong thành phố tuyệt vời của quý vị. Ông ta mất trí rồi. Đêm nay ông ta sẽ giữ lời hứa.”

Đám đông ồ lên phản đối.

Billy Pilgrim quở họ. “Nếu quý vị phản đối, nếu quý vị nghĩ rằng cái chết là điều kinh khủng, thì có nghĩa quý vị chưa hiểu một lời nào của tôi cả.” Ông khép lại diễn văn của mình như khép lại mọi bài diễn văn, bằng những từ này: “Tạm biệt, xin chào, tạm biệt, xin chào.”

Cảnh sát vây quanh ông khi rời sân khấu. Họ có mặt để bảo vệ ông khỏi công chúng chen lấn xô đẩy. Kể từ năm 1945 mạng sống của ông chưa từng bị đe dọa. Cảnh sát đề xuất ở cùng ông. Họ sẵn lòng đứng thành vòng tròn bao quanh ông suốt đêm, súng gây tê rút sẵn.

“Không, không,” Billy bình thản nói. “Đã tới lúc các anh về nhà với vợ con, và đã tới lúc tôi chết đi một lát - rồi lại sống trở lại.” Ngay khắc đó, vầng trán nhô cao của Billy nằm trong tầm ngắm của một khẩu súng la de năng lượng cao. Nó được nhắm vào ông từ khu báo chí lúc này tối đen như mực. Trong khắc kế tiếp, Billy Pilgrim chết. Đời là thế.

Thế nên Billy trải nghiệm cái chết một lát. Đơn giản chỉ là ánh sáng màu tím và tiếng vo vo. Không có ai khác ở đó. Thậm chí cả Billy Pilgrim cũng không ở đó.

Rồi ông bật trở lại sự sống, thẳng một mạch về thời điểm một tiếng đồng hồ sau khi Lazzaro đe dọa lấy mạng ông - vào năm 1945. Người ta bảo anh phải ra khỏi giường bệnh viện và mặc đồ vào, anh khỏe mạnh. Anh cùng với Lazzaro và ông già Edgar Derby đáng thương nhập hội với các bạn bè khác ở nhà hát. Ở đó họ sẽ chọn ra lãnh đạo của nhóm bằng cách bỏ phiếu kín trong một cuộc bầu cử tự do.

Billy cùng Lazzaro và ông già Edgar Derby đáng thương băng qua sân nhà tù để đến nhà hát. Billy mang theo chiếc áo khoác nhỏ của mình như thể nó là bao tay lông của quý bà. Nó quấn vài vòng quanh bàn tay của Billy. Anh là tên hề trung tâm trong phiên bản méo mó của bức tranh sơn dầu nổi tiếng “Tinh thần năm 76.[2]”

Edgar Derby đang viết thư nhà trong đầu, kể với vợ rằng mình còn sống và khỏe mạnh, rằng bà chớ lo, chiến tranh sắp kết thúc và ông sẽ sớm về nhà.

Lazzaro đang tự lảm nhảm một mình về những người mà gã sẽ cho giết sau chiến tranh, những mánh mung gã sẽ thực hiện, và những đàn bà gã sẽ bắt ngủ với gã, mặc cho họ muốn hay không. Nếu gã là một con chó trong thành phố, cảnh sát ắt sẽ bắn gã và gửi đầu gã tới phòng thí nghiệm để xem gã có bị bệnh dại hay không. Đời là thế.

Tới gần nhà hát, họ gặp một người Anh đang dùng gót giày vạch một cái rãnh trên nền đất. Anh ta đang đánh dấu ranh giới giữa khu người Anh và khu người Mỹ trong trại. Billy, Lazzaro và Derby không phải hỏi cái vạch đó có ý nghĩa gì. Đó là một biểu tượng quen thuộc từ thời thơ ấu.

Nhà hát ngổn ngang những thân hình Mỹ nằm cuộn mình như những chiếc thìa. Hầu hết đám người Mỹ đang gần như bất tỉnh hoặc đang ngủ. Bụng họ đang run rẩy, khô rang.

“Đóng cái cửa chết tiệt lại,” ai đó bảo Billy. “Mày đẻ ra trong một cái chuồng à?”[3]

Billy đóng cửa, rút một tay ra khỏi bao tay của mình và sờ vào bếp. Nó lạnh như băng. Sân khấu của vở Lọ Lem vẫn còn nguyên. Những tấm rèm thiên thanh buông xuống từ những vòm cong hồng chóe. Có cả ngai vàng và cái đồng hồ giả, các kim đang chỉ nửa đêm. Đôi hài của Lọ Lem, vốn là đôi giày phi công sờn bạc, nằm nghiêng ngửa cạnh nhau dưới chân ngai vàng.

Billy, ông già Edgar Derby đáng thương và Lazzaro ở trong bệnh viện lúc người Anh chuyển chăn và đệm ra, nên họ không có gì cả. Họ phải ứng biến. Khoảng trống duy nhất dành cho họ là ở trên sân khấu, thế là họ leo trên đó, kéo những tấm rèm thiên thanh xuống, làm thành tổ.

Billy, cuộn trong cái tổ màu thiên thanh, thấy mình đang ngó chằm chằm đôi ủng bạc của Lọ Lem dưới chân ngai. Và anh chợt nhớ ra giày của mình đã hỏng, và anh cần có ủng. Anh không muốn chui ra khỏi tổ, nhưng anh buộc bản thân phải làm chuyện đó. Anh bò tới đôi ủng bằng tứ chi, rồi ngồi xuống, xỏ thử.

Đôi ủng vừa khít. Billy Pilgrim là Lọ Lem, và Lọ Lem là Billy Pilgrim.

Đâu đó trong nhà hát là bài thuyết giảng của tay thủ lĩnh người Anh về vệ sinh cá nhân, và sau đó là cuộc bầu cử tự do. Ít nhất một nửa số lính Mỹ ngủ gục suốt buổi. Tay người Anh nhảy lên sân khấu nhịp nhịp cây gậy ngắn vào tay ngai vàng, cất tiếng gọi, “Các chàng trai, xin hãy chú ý.” Và vân vân.

Tay người Anh nói về sinh tồn như thế này: “Nếu các bạn bỏ đi lòng tự tôn về diện mạo của mình, các bạn sẽ chết sớm thôi.” Y nói y đã thấy nhiều người chết theo cách sau: “Họ ngừng đứng thẳng lưng, rồi ngừng cạo râu hay tắm rửa, rồi họ ngừng ra khỏi giường, rồi ngừng nói, rồi chết. Về chuyện đó, ta chỉ có thể nói thế này thôi: đó rõ ràng là một cách ra đi rất dễ dàng và không đau đớn.” Đời là thế.

Tay người Anh nói rằng bản thân y khi bị bắt đã thề với bản thân và đã giữ những lời thề ấy như sau: Đánh răng hai lần một ngày, cạo râu ngày một lần, rửa mặt và tay trước mỗi bữa ăn và sau khi đi vệ sinh, đánh giày ngày một lần, tập thể dục ít nhất nửa tiếng mỗi sáng và rồi đi cầu, thường xuyên soi gương, đánh giá trung thực vẻ ngoài của mình, đặc biệt về tư thế.

Billy Pilgrim nghe tất cả điều này khi đang nằm trong kén của mình. Anh không nhìn vào mặt mà vào mắt cá của tay người Anh.

“Tôi ghen ty với các cậu,” tay người Anh nói.

Ai đó bật cười. Billy tự hỏi cái đó có gì đáng cười.

“Chiều nay các cậu sẽ khởi hành tới Dresden - một thành phố xinh đẹp, tôi nghe nói vậy. Các cậu không bị nhốt trong lồng như chúng tôi. Các cậu sẽ được ra với cuộc sống ngoài kia, và đồ ăn ở nơi đó chắc chắn ê hề hơn ở đây. Nếu có thể thêm một nhắn nhủ riêng tư: Đã năm năm kể từ lần chót tôi nhìn thấy một cái cây, một bông hoa, một người đàn bà hay một em bé - hay một con chó, một con mèo, một nơi giải trí, hay một con người làm bất cứ việc gì có ích.

“Nhân tiện, các cậu không phải lo lắng về bom đạn đâu. Dresden là một thành phố cởi mở. Nó không được phòng vệ, và không hề có nhà máy vũ khí hay điểm đóng quân nào đáng kể.”

Đâu đó trong nhà hát, ông già Edgar Derby được bầu làm trưởng nhóm người Mỹ. Tay người Anh kêu gọi mọi người đề cử nhưng chẳng có đề cử nào. Thành thử y đề cử Derby, ca ngợi ông về sự chín chắn và dày dạn kinh nghiệm đối nhân xử thế. Không có đề cử nào khác, nên khâu đề cử được khép lại.

“Tất cả đồng ý?”

Hai, ba người nói, “Đồng ý.”

Rồi ông Derby già đáng thương phát biểu. Ông cảm ơn tay người Anh về lời khuyên hữu ích, nói rằng ông sẽ làm theo đúng y lời khuyên. Ông nói ông chắc chắn rằng tất cả những người Mỹ khác cũng sẽ làm giống như vậy. Ông nói trách nhiệm trên hết của ông bây giờ là phải đảm bảo rằng mọi người được về tới nhà an toàn.

“Cút mẹ nó về với cái bánh vòng của mày đi,” Paul Lazzaro lầm bầm trong cái kén thiên thanh của mình. “Cút mẹ nó lên Mặt trăng mà chơi.”

Nhiệt độ hôm đó tăng cao bất ngờ. Giữa trưa, trời ấm áp. Người Đức mang xúp và bánh mì trong xe hai bánh do đám tù Nga kéo. Người Anh cung cấp cà phê thật, đường, mứt cam, thuốc lá, xì gà, và cánh cửa của nhà hát được để mở cho không khí ấm áp tràn vào.

Nhóm người Mỹ bắt đầu cảm thấy khá hơn nhiều. Họ đã không còn bị đi tháo nữa. Và rồi tới lúc khởi hành đi Dresden. Nhóm người Mỹ nối nhau bước ra khỏi khu người Anh với một phong thái khá lịch lãm. Một lần nữa Billy Pilgrim lại dẫn đầu đoàn diễu hành. Bây giờ anh đã có ủng bạc, bao tay, và một mảnh màn màu thiên thanh khoác trên vai như áo tô ga. Billy vẫn để râu. Bên cạnh anh, ông già Edgar Derby đáng thương cũng vậy. Derby đang hình dung ra những lá thư viết về nhà, môi ông run rẩy mấp máy:

“Margaret yêu dấu - Hôm nay bọn anh khởi hành đi Dresden. Đừng lo. Chỗ này sẽ không bao giờ bị đánh bom. Đó là một thành phố mở. Trưa nay đã diễn ra một cuộc bầu cử, và em đoán thử xem?” Và vân vân.

Họ trở lại sân ga của nhà tù. Họ đã tới nơi này trên hai toa tàu. Họ sẽ ra đi thoải mái hơn nhiều trên bốn toa. Họ lại nhìn thấy gã ma cà bông đã chết. Gã đông cứng trong đám cỏ dại cạnh đường tàu. Gã nằm theo tư thế thai nhi, đến chết cũng cố cuộn mình rúc vào người khác. Bây giờ không có người nào khác. Gã rúc vào hư không và xỉ than. Ai đó đã lấy ủng của gã. Cặp chân trần của gã màu xanh và màu ngà. Thật ra hắn chết rồi cũng tốt. Đời là thế.

Chuyến đi tới Dresden khá vui. Chỉ mất có hai giờ là đến nơi. Những cái bụng quắt queo được no nê. Nắng trời và không khí dìu dịu len vào qua khe thông gió. Khói từ thuốc lá quà của đám người Anh bay mờ mịt.

Toán người Mỹ tới Dresden vào lúc 5 giờ chiều. Cửa các toa tàu mở ra, và khung cửa khuôn lấy thành phố đáng yêu nhất mà hầu hết toán người Mỹ từng nhìn thấy. Hình ảnh thành phố in trên nền trời vừa tinh xảo vừa khêu gợi, vừa mê hoặc vừa phi lý. Với Billy Pilgrim, thành phố trông giống như bức tranh Thiên đường của lớp giáo lý ngày Chủ nhật.

Ai đó sau lưng anh trong toa tàu thốt lên, “Xứ Oz.”

Đó là tôi. Đó chính là tôi. Thành phố duy nhất tôi từng nhìn thấy là Indianapolis, bang Indiana.

Mọi thành phố lớn khác ở Đức đều đã bị đánh bom và bốc cháy dữ dội. Dresden thì chưa chịu tổn thất gì nhiều ngoài một tấm kính cửa sổ bị rạn. Còi báo động kêu hằng ngày, rú lên như địa ngục, mọi người xuống hầm trú ẩn và nghe đài dưới đó. Các máy bay luôn luôn bay tới một thành phố khác - Leipzig, Chemnitz, Plauen, những nơi như vậy. Đời là thế.

Những lò sưởi hơi nước vẫn reo hớn hở ở Dresden. Tàu điện leng keng. Điện thoại đổ chuông và có người trả lời. Những bóng đèn tắt rồi lại mở khi bấm công tắc. Vẫn có nhà hát và tiệm ăn. Có cả một sở thú nữa. Những xí nghiệp chủ chốt của thành phố là xí nghiệp dược, chế biến thực phẩm và sản xuất thuốc lá.

Mọi người từ sở làm về nhà trong chiều muộn. Họ đều mệt mỏi.

Tám công dân Dresden băng qua những đường ray thép chằng chịt của sân tàu. Họ đang mặc đồng phục mới tinh. Họ mới được tuyên thệ vào quân đội hôm trước đó. Đó là những cậu bé và những người đàn ông quá tuổi trung niên, và hai cựu chiến binh từng bị bắn tơi tả ở Nga. Nhiệm vụ của họ là canh giữ một trăm tù binh Mỹ, những người sẽ là lao công ở đây. Trong đội có một cặp ông và cháu. Người ông là kiến trúc sư.

Tám người tỏ ra u ám khi tiến lại gần các toa tàu chở đối tượng canh giữ của mình. Họ biết rằng chính họ trông mới giống những tên lính ốm yếu và ngu xuẩn biết bao. Một trong số họ thật ra còn phải đeo chân giả, tay cầm không phải là súng trường nạp đạn mà là một cây gậy. Thế mà - người ta lại tin rằng họ sẽ nhận được sự phục tùng và tôn trọng từ đám lính bộ binh Mỹ cao to, vênh váo, giết người như ngóe vừa rời khỏi những cuộc tàn sát nơi tiền tuyến để đến đây.

Và rồi họ nhìn thấy Billy Pilgrim râu ria chưa cạo vận áo tô ga màu thiên thanh, chân mang giày bạc, tay ủ trong khăn trùm. Trông anh ít cũng phải sáu mươi tuổi. Bên cạnh Billy là Paul Lazzaro nhỏ thó gãy một tay. Hắn đang sùi bọt mép như lên cơndại. Bên cạnh Lazzaro là thầy giáo trung học già đáng thương Edgar Derby, sụt sùi ôm ấp lòng ái quốc, tuổi trung niên và trí khôn tưởng tượng. Và vân vân.

Tám công dân Dresden lố bịch biết chắc một trăm sinh vật lố bịch này thật sự là những chiến binh người Mỹ mới từ chiến trường tới đây. Họ nhoẻn cười, rồi chuyển sang cười ngặt nghẽo. Sự hãi hùng của họ đã tan biến. Chẳng có gì phải sợ. Ở đây có nhiều kẻ què quặt hơn, nhiều kẻ ngớ ngẩn hơn, như chính họ vậy. Đây là vở nhạc kịch hài.

Và thế là, đoàn kịch hài diễu hành ra khỏi cổng sân tàu và đi vào những con phố của Dresden. Billy Pilgrim là ngôi sao. Anh dẫn đầu đoàn diễu hành. Hàng nghìn người đi làm về đứng trên vỉa hè. Trông họ nhọt nhạt và vàng vọt, bởi hầu như chỉ ăn khoai tây trong suốt hai năm qua. Họ chẳng trông chờ phúc phận nào hơn thời tiết ôn hòa trong ngày. Đột nhiên - ở đây có trò vui.

Billy không nhìn thấy rất nhiều những cặp mắt đang thấy anh rất có tính giải trí. Anh đang mê mẩn kiến trúc của thành phố. Những tượng thần tình yêu đội vòng hoa trên các bệ cửa sổ. Những nhân dương láu cá và những tiên nữ khỏa thân nhòm xuống Billy từ các mái đua đắp phù điêu. Đám khỉ đá đùa giữa các nét cuốn, vỏ sò và tre.

Billy, với ký ức về tương lai của mình, biết rằng thành phố sẽ bị đập vụn và bị đốt trụi - trong khoảng ba mươi ngày nữa. Anh cũng biết hầu hết những người đứng xem anh hôm nay sẽ sớm chết. Đời là thế.

Billy mân mê hai bàn tay mình trong cái khăn trùm tay trong lúc diễu hành. Những đầu ngón tay anh, ngó ngoáy trong bóng tối nóng sực của khăn trùm tay, muốn biết hai cái u trong lớp vải lót chiếc áo khoác bé tí là gì. Những ngón tay lần vào bên trong lớp vải lót. Chúng sờ mó những cục u, cái hình hạt đậu và cái hình móng ngựa. Đoàn diễu hành phải ngừng lại ở một góc phố đông đúc. Đèn đỏ.

Ở góc phố đằng kia, nổi bật lên giữa khách bộ hành, là một bác sĩ giải phẫu đã phải phẫu thuật cả ngày. Anh ta là dân thường, nhưng lại có điệu bộ nhà binh. Anh ta đã phục vụ trong hai cuộc thế chiến. Bộ dạng Billy làm anh ta chướng mắt, đặc biệt sau khi đám gác bảo anh ta rằng Billy là người Mỹ. Dường như với anh ta Billy khiến người khác phải kinh tởm, giả định rằng Billy đã trải qua rất nhiều rắc rối ngu xuẩn mới thành ra ăn vận như thế.

Viên bác sĩ phẫu thuật nói được tiếng Anh, và anh ta nói với Billy, “Tôi đồ rằng ông coi chiến tranh là một thứ rất đỗi hài hước.”

Bill lơ đãng nhìn anh ta. Billy tạm thời không còn nhớ mình đang ở đâu và làm thế nào mình đến đây. Anh không hề biết người ta đang nghĩ anh đang đóng vai hề. Dĩ nhiên chính Số Mệnh đã phục trang cho anh - Số Mệnh và một ý chí sinh tồn nhu nhược.

“Ông nghĩ chúng tôi sẽ cười à?” viên bác sĩ hỏi anh.

Viên bác sĩ muốn có câu trả lời thỏa mãn. Billy hoang mang. Billy muốn thân thiện, muốn giúp đỡ, nếu có thể, nhưng anh chẳng có gì trong tay. Những ngón tay anh bây giờ đang nắm hai vật thể trong lớp lót của chiếc áo khoác. Billy quyết định cho viên bác sĩ thấy chúng là cái gì.

“Ông nghĩ chúng tôi sẽ thích thú khi bị nhạo báng sao?” viên bác sĩ nói. “Còn các ông có cảm thấy tự hào khi đại diện cho nước Mỹ trong bộ dạng này?”

Billy rút một tay ra khỏi khăn trùm, gí vào mũi viên bác sĩ. Trên lòng bàn tay anh là một viên kim cương hai ca ra và bộ răng giả. Bộ răng giả là một thứ đồ vật kinh tởm - có màu bạc, màu ngà, và màu quýt. Billy mỉm cười.

Đoàn diễu hành đi nghênh ngang, loạng choạng và nghiêng ngả vào cổng lò sát sinh Dresden, và rồi đi hẳn vào trong. Lò sát sinh không còn là chỗ nhộn nhịp nữa. Gần như mọi con vật có móng ở Đức đã bị con người, chủ yếu là lính, giết, ăn thịt và phóng uế ra. Đời là thế.

Toán người Mỹ được đưa lên tòa nhà thứ năm. Đó là một khối xi măng một tầng có cửa trượt phía trước và phía sau. Nó vốn được xây làm chuồng cho bọn lợn sắp bị thịt. Giờ đây nó trở thành mái ấm tha hương của một trăm tù binh Mỹ. Trong đó có giường tầng, hai bếp lò và một vòi nước. Phía sau là nhà xí, gồm một thanh chắn ngang phía dưới có xô.

Có một con số lớn phía trên cánh cửa của tòa nhà. Đó là số năm. Trước khi toán người Mỹ được đi vào trong, tên gác duy nhất biết nói tiếng Anh bảo họ học thuộc địa chỉ đơn giản của mình, trong trường hợp bị lạc trong thành phố lớn. Địa chỉ của họ là: “Schlachthof-funf.” Schlachthof là lò sát sinh. Funf chính là số năm.

❀ ❀ ❀

[1] Golgotha: nơi Giêsu bị đóng đinh câu rút.

[2] “Tinh thần năm 76” là bức tranh của họa sĩ Mỹ Archibald Willard, tôn vinh tinh thần Cách mạng Mỹ.

[3] Gợi đến tích Chúa Giêsu được sinh ra trong một cái chuồng.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 16 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.