Những Cuộc Phiêu Lưu Đầy Hoan Lạc Của Aristide Pujol

Lượt đọc: 45 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii. Cuộc Phiêu Lưu Với Nàng Người Arles

❊ ❊ ❊

Aristide Pujol từ biệt tôi bằng một nụ cười rạng rỡ ngay trước cửa khách sạn Hôtel du Luxembourg ở Nîmes, rồi xách va-li, với dáng vẻ bồng bột quen thuộc, lao vút qua Quảng trường Place de l’Esplanade.

Tôi cảm thấy nhói lòng khi nhìn bóng anh khuất dần, bởi theo chính lời thú nhận của anh, trong túi anh lúc đó không có lấy một xu dính túi. Tôi tự hỏi làm sao anh có thể lo nổi chuyện ăn ở, chưa kể đến thuốc lá, rượu khai vị và những nhu cầu thiết yếu khác của cuộc sống. Ý nghĩ một con người vui vẻ như vậy phải chịu cảnh đói khát thật khiến người ta chạnh lòng. Thế nhưng, lời mời ở lại khách sạn làm khách của tôi cho đến khi hoàn cảnh tài chính khá hơn đã bị anh lịch sự từ chối.

Sáng hôm sau, từ sớm tinh mơ, tôi đã thấy anh chờ sẵn ở phòng chờ và đang phì phèo một điếu xì-gà hảo hạng. Anh giải thích rằng một người bạn thân thiết như tôi phải là người đầu tiên nghe tin vui này. Chiều hôm qua, ơn trời, anh đã tình cờ gặp lại một người quen sơ là một chủ xưởng kẹo nougat ở Montélimar; họ đã ngồi với nhau mấy tiếng đồng hồ, kết quả là anh đã thuyết phục được người kia hai điều:

thứ nhất, loại bánh nougat khô, xốp, giống bánh quy bơ của Montélimar vẫn còn là một ẩn số ở nước Anh — nơi người ta chỉ ăn một thứ bột nhão dính nhầy nhụa, thứ đã khiến các bác sĩ phải quy cho nó là thủ phạm gây ra chứng khó tiêu hoành hành trong dân chúng; và thứ hai, vị tông đồ duy nhất được trời phu phướng để truyền bá phúc âm huy hoàng của món kẹo nougat Montélimar đi khắp chiều dài và chiều rộng của Vương quốc Anh chính là bản thân Aristide Pujol. Một mức lương hậu hĩnh đã được ấn định, và anh thậm chí đã ứng trước một khoản — hinc illae lacrimae, à nhầm, hinc ille Colorado — ngày mai anh sẽ lên đường cùng ông chủ sang Montélimar, bắt đầu cuộc hành trình chinh phục nước Anh. Trong lúc này, anh tự do tự tại như gió trời và sẽ dành trọn cả ngày để dẫn tôi đi khám phá những kỳ quan của thị trấn.

Tôi chúc mừng cho vận may gần như hoang đường của anh và vui vẻ nhận lời đề nghị đó.

"Tôi muốn hỏi anh một điều thế này," tôi nói. "Chiều hôm qua, anh từ chối thịnh tình của tôi và ra đi không một xu dính túi. Anh đã làm thế nào vậy? Tôi hỏi chỉ vì tò mò thôi. Làm sao một người có thể sống sót mà chẳng có gì trong tay?"

"Rất đơn giản," anh đáp. "Tôi đã nói với anh rồi, và chính anh cũng thấy đấy, tôi không bao giờ bỏ lỡ một cơ hội nào cả. Hơn thế nữa. Quy tắc sống của tôi là hoặc kết thân với Ma-môn Bất chính — gã Ma-môn đó ngốc nghếch lắm, và anh hoàn toàn có thể tránh xa sự bất chính của gã nếu đủ khôn ngoan — hoặc là thả con tép bắt con tôm, gieo hạt giống lòng tốt xuống dòng đời với niềm tin chắc chắn sẽ gặt lại sau nhiều ngày. Trong trường hợp này, tôi chọn cách thứ hai. Tôi đã 'gieo hạt' từ một hoặc hai năm trước tại khu nhà tắm La Mã — nơi sáng nay tôi sẽ rất hân hạnh được dẫn anh đi tham quan — và tối qua tôi đã gặt lại nó tại khách sạn Hôtel de la Curatterie."

Trong suốt ngày hôm đó, anh đã kể cho tôi nghe câu chuyện ngây thơ sau đây.

Aristide Pujol đến Nîmes vào một ngày tháng Bảy nắng cháy da cháy thịt. Trong túi anh rủng rỉnh tiền và trong tim ngập tràn tiếng cười. Anh cũng đã gửi chiếc va-li của mình tại Hôtel du Luxembourg — mà ai cũng biết là khách sạn sang trọng nhất thị trấn. Niềm vui sướng tột độ trong tim đã thúc đẩy anh làm một việc mà những người dân Nîmes tốt bụng cho là điên rồ giữa cái nóng hầm hập của tháng Bảy: anh đi dạo qua những con phố như thiêu như đốt chỉ vì thích thế.

Aristide Pujol đang thành lập một công ty, một quá trình mang lại cho anh niềm vui sướng ngây ngất chẳng khác nào cảm giác lần đầu tiên thả một chiếc tàu đồ chơi xuống nước của một đứa trẻ. Đó là một công ty xây dựng khách sạn ở Perpignan, nơi việc phá dỡ các công sự do Hoàng đế Charles V xây dựng gần đây đã giải phóng một không gian rộng lớn và đầy giá trị ở bờ bên kia con sông nhỏ chạy qua thị trấn cổ. Vì khách sạn tốt nhất ở Perpignan lại là nơi người ta chỉ muốn chuồn càng nhanh càng tốt do diện tích quá chật hẹp, Aristide đã nảy ra ý định xây dựng một tòa khách sạn nguy nga, rộng lớn ở khu vực mới của thị trấn, nhằm thu hút toàn bộ giới lái xe ô tô và khách du lịch trên thế giới đến với thiên đường chốn Pyrenees ấy. Bằng sự táo bạo tột cùng, anh đã thành công trong việc lôi kéo một kiến trúc sư lừng danh ở Paris tham gia vào dự án của mình. Một khi đã lắng nghe Aristide Pujol thì chỉ có nước sập bẫy. Anh kết hợp sự sắc sảo của gã thủy thủ già trong thơ Coleridge với sức hút quyến rũ chết người của phụ nữ. Để thoát thân, bạn chỉ có thể chọn cách từ chối gặp mặt anh — như tất cả các kiến trúc sư có tên bắt đầu từ chữ R trở về trước trong danh mục đã làm — hoặc nhét sáp vào tai theo cách của Ulysses, một sự cẩn trọng mà vị kiến trúc sư lừng danh M. Say đã vô tình bỏ qua. M. Say đã đến Perpignan và trở về trong một niềm phấn khích ngấm ngầm.

Một công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập, với Aristide Pujol — một con người dày dặn kinh nghiệm thương trường — giữ chức tổng giám đốc. Thế nhưng tiền bạc lại nhỏ giọt quá chậm. Cần phải có một nhà tài chính. Aristide lục lọi xấp danh thiếp của mình và phát hiện ra chiếc danh thiếp của một nhà tài phiệt gang thép bị lãng tai ở St. Étienne — người mà anh đã từng cứu mạng tại một ga tàu bằng cách kéo ông ta ra khỏi đường ray ngay trước mũi một đoàn tàu tốc hành đang lao tới ầm ầm. Là một kẻ hành động theo cảm tính, Aristide lập tức lên đường đến St. Étienne để lay động lòng biết ơn của nhà tài phiệt. Trong khi đó, M. Say — một người có cái nhìn thực tế hơn — chợt nhớ đến một khách hàng là triệu phú người Mỹ đang quá cảnh ở Paris, người từng đầu tư rất nhiều vào lĩnh vực khách sạn. Vị triệu phú, vốn đặt niềm tin vào kiến trúc sư M. Say lừng danh, tỏ ra khá hứng thú với dự án. Ông chuẩn bị đi Nhật Bản nhưng đồng ý ghé qua dãy Pyrénées vào ngày hôm sau để khảo sát địa điểm ở Perpignan trước khi lên tàu tại Marseilles. Nếu các khảo sát làm ông hài lòng và ông có thể đạt được thỏa thuận với tổng giám đốc, ông sẵn sàng đầu tư khoảng một triệu đô la vào dự án này. Xin bạn hãy nhớ rằng tôi không đảm bảo tính chính xác từng câu chữ trong mọi chuyện mà Aristide Pujol kể lại.

Vấn đề mấu chốt lúc này là cuộc gặp gỡ giữa vị triệu phú và tổng giám đốc. Vì Aristide đang ở St. Étienne, họ thống nhất sẽ gặp nhau tại một điểm trung gian trong hành trình từ Perpignan đến Marseilles của vị tổng giám đốc. Khách sạn Hôtel du Luxembourg ở Nîmes được chọn làm địa điểm, và thời gian hẹn là hai giờ chiều thứ Năm.

Trong lúc ấy, Aristide phát hiện ra rằng nhà tài phiệt gang thép kia đã qua đời từ nhiều tháng trước. Đó là một gáo nước lạnh, nhưng vận may lại bù đắp cho anh. Phần này trong câu chuyện của anh có chút mơ hồ, nhưng tôi đại khái hiểu rằng anh đã bị một người quen mới quen rủ rê vào một sòng bạc và vô tình thắng được con số khổng lồ hai nghìn franc. Với số tiền kêu lanh keng trong túi, anh rời khỏi thị trấn và đến Nîmes vào sáng thứ Tư, sớm hơn một ngày so với lịch hẹn.

Đó là lý do tại sao anh lại vui vẻ đi dạo giữa những con phố ngập nắng. Cuối cùng thì vận may cũng mỉm cười. Anh không mảy may nghi ngờ về sự thành công trong cuộc gặp gỡ với vị triệu phú. Anh vừa đi vừa vẽ ra những lâu đài nguy nga ở Perpignan — nhân tiện xin nói thêm là nơi này cách Tây Ban Nha không xa lắm. Hơn nữa, như bạn sẽ nghe kể sau đây, anh còn có một món nợ phải thanh toán với thị trấn Perpignan.

Cuối cùng anh cũng đến Jardin de la Fontaine, khu vườn lớn và trang nghiêm với những bậc thềm, cầu bắc qua dòng nước và lan can tuyệt đẹp bao quanh hệ thống nhà tắm cổ của người La Mã — kiệt tác do chính bộ óc thiên tài từng được Louis XIV giao trọng trách thiết kế Vườn Versailles tạo nên.

Aristide ngả người xuống một chiếc ghế băng và dùng chiếc mũ cói để quạt lấy quạt để.

"Trời ạ, nóng quá đi mất!" anh lẩm bẩm với người ngồi cùng ghế.

Đó là một người phụ nữ, và khi cô ấy quay mặt lại, anh nhận ra đó là một phụ nữ vô cùng xinh đẹp. Chiếc khăn voan trắng và khăn đội đầu lụa đen thắt gọn gàng trên đỉnh đầu, vừa khít phần rẽ ngôi của mái tóc xoăn dày, tố cáo cô là người đến từ thị trấn Arles lân cận. Cô sở hữu trọn vẹn nét đẹp đậm chất La Mã của phụ nữ Arles — những đường nét sắc sảo, hàng lông mày thẳng và điềm đạm, đôi môi mọng, khuôn mặt bầu bĩnh mềm mại và làn da ngăm khỏe khoắn. Cô cũng có đôi mắt nâu long lanh; chỉ có điều, chúng đang ngấn lệ. Cô chỉ liếc nhìn anh một giây rồi lại tiếp tục công việc dở dang là nức nở. Aristide là một người mềm lòng. Anh xích lại gần hơn.

"Ơ hay, cô đang khóc kìa, thưa madame!" anh nói.

"Rõ ràng thế rồi còn gì," người phụ nữ thì thầm.

"Khóc ra những giọt nước mắt bỏng rát trong cái thời tiết này ư? Nóng quá thể! Giá mà cô có thể khóc ra nước đá thì chắc là sẽ dễ chịu hơn biết mấy."

"Anh đang đùa cợt đấy à, thưa monsieur," cô vừa nói vừa lau nước mắt.

"Đâu có," anh đáp. "Thấy một người phụ nữ đẹp thế này phải đau khổ quả là một nỗi dằn vặt."

"Ah!" cô thở dài. "Tôi đang vô cùng bất hạnh."

Aristide lại xích lại gần hơn chút nữa.

"Kẻ nào," anh hỏi, "là tên khốn đã dám làm cô ra nông nỗi này?"

"Chồng tôi," người phụ nữ đáp, cố nuốt tiếng nấc.

"Đồ khốn nạn!" Aristide thốt lên.

Người phụ nữ nhún vai và nhìn xuống chiếc nhẫn cưới đang lấp lánh trên bàn tay thon thả, rám nắng và được chăm sóc hoàn hảo. Aristide vẫn luôn tự hào mình là một kẻ sành sỏi về bàn tay.

"Chưa từng có gã chồng nào," anh nói thêm, "biết trân trọng một người vợ đẹp cả. Chồng ngốc chỉ xứng đáng nhận vợ dữ."

"Đúng thế thật," người phụ nữ Arles thừa nhận, "bởi vì khi vợ đẹp thì họ lại hay ghen."

"À, rắc rối là ở chỗ đó phải không?" Aristide nói. "Hãy kể cho tôi nghe đầu đuôi câu chuyện xem nào."

Nàng thiếu nữ Arles xinh đẹp lại ngắm nghía những ngón tay thon dài của mình.

"Tôi có quen biết gì anh đâu, monsieur."

"Nhưng rồi chúng ta sẽ quen nhau nhanh thôi," Aristide nói bằng chất giọng ngọt ngào cùng ánh mắt lấp lánh đầy thách thức. Cô liếc nhanh anh qua khóe mắt.

"Monsieur," cô nói, "tôi đã kết hôn được bốn năm và vẫn luôn chung thủy với chồng."

"Thật đáng khen ngợi," Aristide bình luận.

"Và tôi yêu anh ấy rất nhiều."

"Thật đáng tiếc!" Aristide thốt lên.

"Đáng tiếc ư?"

"Rõ ràng rồi!" Aristide đáp.

Ánh mắt họ chạm nhau. Cả hai bật cười phá lên. Người phụ nữ nhanh chóng lấy lại bình tĩnh và những giọt nước mắt lại trực trào ra.

"Làm sao người ta có thể đùa cợt khi lòng nặng trĩu âu lo; và lòng tôi thì đang nặng trĩu lắm." Cô sụp đổ vì sự tủi thân của chính mình. "Ôi, tôi thật xấu hổ quá!" cô kêu lên.

Cô quay mặt đi, vùi mặt vào hai bàn tay. Chiếc váy khoét sâu để lộ phần gáy uốn lượn uyển chuyển từ đôi bờ vai. Hai lọn tóc nhỏ bướng bỉnh tuột ra khỏi búi tóc. Phía sau vành tai nhỏ nhắn, áp sát vào đầu, mang một vẻ hồng hào vô cùng khiêu khích. Tư thế của cô lúc đó, hệt như một nàng Niobe trẻ tuổi ngập chìm trong nước mắt nhưng cũng đầy những đường cong quyến rũ, có thể đánh gục bất kỳ vị tu sĩ khắc khổ nào.

Xin hãy nhớ cho rằng Aristide là một đứa con của miền Nam. Một kẻ sinh ra ở phương Bắc, khi ngắm nhìn một người phụ nữ quyến rũ, sẽ chỉ nghĩ xem làm thế nào để tán tỉnh cô ấy và lãng phí thời gian để đắn đo cách thực hiện. Còn một đứa con của miền Nam thì chẳng cần nghĩ ngợi hay đắn đo gì sất; hắn lao vào tán tỉnh ngay lập tức.

"Madame," Aristide nói, "cô thật đáng yêu, và tôi yêu cô đến phát cuồng rồi đây."

Cô giật mình đứng phắt dậy. "Monsieur, anh đang quá lời đấy!"

“Nếu anh còn nhớ được bất cứ thứ gì trên cõi đời này ngoài em, thì đó sẽ là một sự xách mé đáng tiếc. Anh quên hết thảy. Em làm anh say đắm, cướp đoạt trái tim anh, và thắp lên niềm hân hoan trong tâm hồn anh.”

Lúc bấy giờ, anh nói điều đó hoàn toàn xuất phát từ đáy lòng.

"Lẽ ra tôi không nên nghe anh nói những lời này," cô đáp, "nhất là khi tôi đang bất hạnh thế này."

"Đó lại càng là lý do chính đáng để tìm kiếm sự xoa dịu," Aristide đáp.

"Monsieur," cô nói sau một thoáng im lặng, "anh trông có vẻ là một người tốt và đáng tin cậy. Tôi sẽ kể cho anh nghe mọi chuyện. Chồng tôi đang vu oan cho tôi, mặc dù tôi biết bề ngoài mọi thứ có vẻ đang chống lại tôi. Anh ấy chỉ cho phép tôi ở nhà vì tình nghĩa và đang tiến hành thủ tục ly hôn."

"thưa madame, cô thật đáng yêu, và tôi yêu cô đến phát cuồng"

"Quá tuyệt!" Aristide kêu lên đầy phấn khích, vung mạnh chiếc mũ cói trên tay khiến nó lượn vòng trong không khí và suýt chút nữa chém cụt đầu một người lính đang đi ngang qua. "Quá tuyệt! Cứ để hắn ly hôn cô. Khi đó cô sẽ được tự do. Cô hoàn toàn có thể thuộc về tôi mà chẳng gặp trở ngại nào nữa."

"Nhưng tôi vẫn yêu chồng tôi," cô cười buồn bã.

"Bah!" anh thốt lên với sự hoài nghi của một kẻ si tình và mang dòng máu Provençal. "Mà nhân tiện, chồng cô là ai thế?"

"Đó là anh Émile Bocardon, chủ khách sạn Hôtel de la Curatterie."

"Còn cô?"

"Tôi là Mme. Bocardon," cô đáp với một chút tinh nghịch thoáng hiện.

"Nhưng tên thánh của cô là gì? Làm sao tôi có thể nghĩ đến cô với cái tên Mme. Bocardon được chứ?"

Họ tranh luận về vấn đề đó. Cuối cùng cô cũng thú nhận tên mình là Zette.

Sự tin tưởng không dừng lại ở đó, cô kể cho anh nghe về nguồn gốc cái tên của mình; cách cô được nuôi dưỡng bởi người dì Léonie ở Raphèle, cách Arles chừng năm dặm, và nhiều chi tiết tẻ nhạt khác về những năm tháng tuổi thơ. Tên khai sinh của cô là Louise. Mẹ cô, người qua đời khi cô còn nhỏ, thường gọi cô là Louisette. Dì Léonie, một người rất bận rộn và không có thời gian cho những âm tiết thừa thãi, gọi cô là Zette.

"Zette!" Anh ngước mắt lên trần nhà như thể cô đã được phong thánh và anh đang khẩn cầu cô trong sự tôn sùng ngây ngất. "Zette, anh tôn thờ em!"

Zette vô cùng lấy làm tiếc. Về phần mình, cô lại tôn thờ người chồng tàn nhẫn M. Bocardon. Tiện thể, cô cũng biết được tên tuổi và nghề nghiệp của Aristide. Anh là một nhà môi giới kinh doanh, vô cùng giàu có — chẳng phải anh đang có trong túi hai nghìn franc và một triệu phú người Mỹ hay sao?

"M. Pujol," cô nói, "trên đời này chỉ có một thứ duy nhất mà tôi khao khát, đó là tình yêu và sự tin tưởng của chồng tôi."

"Gã Bocardon tốt tính đó bắt đầu trở nên phiền phức rồi đấy," Aristide lẩm bẩm.

Đôi môi Zette hé mở khi cô chỉ tay về phía một bóng đen nhỏ xíu ở cổng sắt ra vào.

"Trời ơi! Anh ấy kìa!"

"Hắn ta quả thực đã trở nên phiền phức," Aristide nhận xét.

Cô đứng dậy, khoe trọn vẹn vóc dáng mềm mại và uy quyền của mình. Cô ngẩng cao đầu với phong thái của một bậc đế vương. Aristide ngắm nhìn cô với sự ngưỡng mộ không chút giấu diếm.

"Người ta có thể tưởng như nữ thần Juno đang giáng thế."

Mặc dù chưa từng nghe về nữ thần Juno, và đang là một người phụ nữ bất hạnh và đau khổ bậc nhất ở Nîmes, đôi má Zette vẫn ửng hồng vì thích thú. Cô cũng là một đứa con của miền Nam, và những người phụ nữ miền Nam luôn thích được ngợi khen, cho dù có đường đột đến đâu đi chăng nữa. Tôi nghe nói những "Nữ nhi xứ tuyết" cũng chẳng mấy chán ghét điều này. Cô thở dài.

"Tôi phải đi thôi, monsieur. Anh ấy không được phép bắt gặp tôi ở đây với anh. Tôi đã phải chịu đựng đủ những lời quở trách rồi. Ah, thật bất công — quá đỗi bất công!" cô kêu lên, siết chặt hai bàn tay trong khi những giọt nước mắt lại trực trào và khóe môi xinh đẹp co giật vì đau đớn. "Quả thực," cô nói thêm, "tôi biết mình thật sai lầm khi ngồi đôi co với anh thế này. Nhưng biết làm sao được? Đó đâu phải lỗi tại tôi. Vĩnh biệt anh, monsieur."

Trước hình ảnh cô đứng đó trong vẻ đẹp bi thương, lồng ngực Aristide nhói lên từng hồi.

"Không phải vĩnh biệt đâu — mà là hẹn gặp lại, Mme. Zette," anh kêu lên.

Cô phản đối trong làn nước mắt. Đó chính là lời tạm biệt. Aristide lao tới chỗ chiếc mũ vừa bị vứt bỏ, độiụp lên đầu. Anh bước theo cô và thề rằng sẽ gặp lại cô bằng mọi giá. Sẽ không có chuyện Aristide Pujol để mặc cô bị xé xác bởi hàm răng của con cá sấu M. Bocardon. Thề có Chúa, anh sẽ bảo vệ cô đến giọt máu cuối cùng. Anh tuôn ra đủ mọi lời khoác lác hoa mỹ.

"Nhưng anh có thể làm gì được chứ, tội nghiệp M. Pujol của tôi?" cô hỏi.

"Rồi em sẽ thấy," anh đáp.

Họ chia tay. Anh dõi theo bóng cô cho đến khi hòa vào một dấu chấm nhỏ và nhập vào một dấu chấm khác — người chồng của cô — rồi khuất hẳn tầm mắt. Sau đó, anh rảo bước qua khu vườn ngập nắng để trở về khách sạn Hôtel du Luxembourg ở đầu bên kia thị trấn.

Aristide đã phải lòng. Anh yêu với ngọn lửa cuồng nhiệt của người vùng Provençal. Anh đã từng trải qua cảm xúc ấy hàng trăm lần trước đây; nhưng lần này, anh tự nhủ, chính là tiếng sét ái tình — coup de foudre. Nàng thiếu nữ Arles kiều diễm chiếm ngự toàn bộ tâm trí và các giác quan của anh. Chẳng còn thứ gì khác trên đời này quan trọng nữa. Chẳng có gì khác ngoài hình ảnh ấy ngự trị trong đầu anh. Anh lao vút qua những con phố nóng như đổ lửa hệt như một khối thiên thạch mang hình hài con người. Một gã đàn ông mập mạp đang nhấm nháp nước si-rô dưới bóng râm của mái hiên Café de la Bourse giật mình đứng dậy, ngẩn ngơ nhìn theo bóng anh rồi lại ngồi phịch xuống, đưa tay lau trán đầm đìa mồ hôi.

Chẳng bao lâu sau, Aristide xách va-li xuất hiện tại quầy lễ tân của khách sạn Hôtel de la Curatterie. Đó là một khách sạn nhỏ tồi tàn với tấm biển hình bầu dục rách nát treo bên ngoài, nằm trên con phố hẹp mang cùng tên. Bên trong, mọi thứ khá sạch sẽ và ngăn nắp. Phía bên phải sảnh vào tối tăm là phòng ăn, bên trái là quầy lễ tân và một góc nhỏ tẻ nhạt đề biển salon de correspondence. Một hành lang rất hẹp dẫn xuống nhà bếp, phần còn lại của sảnh bị chặn bởi cầu thang. Một gã đàn ông to lớn với khuôn mặt béo tròn ngây ngô và mái tóc trông như chiếc bàn chải máy hình tròn đang ngồi cạnh cửa sổ quầy lễ tân trong trang phục áo sơ-mi tay ngắn. Aristide cất tiếng chào.

"M. Bocardon?"

"Tôi xin nghe, monsieur."

"Tôi có thể thuê một phòng ngủ chứ?"

"Được chứ." Gã khẽ hất tay về phía chồng vali mẫu hàng bọc da viền đinh đồng nằm lỏng chỏng ở sảnh. "Xe buýt đã chở hành lý của anh tới rồi. Anh là M. Lambert phải không?"

"M. Bocardon," Aristideõ dõng dạc tuyên bố, "tôi là M. Aristide Pujol chứ không phải nhân viên tiếp thị. Tôi đến đây để thưởng ngoạn cảnh đẹp của Nîmes, và chọn khách sạn này vì tôi có vinh dự là họ hàng xa của vợ anh, Mme. Zette Bocardon — người mà tôi đã nhiều năm không gặp. Cô ấy dạo này thế nào?"

"Sức khỏe cô ấy rất tốt," M. Bocardon cụt lủn trả lời. Ông ta giật chuông gọi.

Một người đàn ông áo quần xộc xệch khoác chiếc tạp dề bằng vải nỉ xanh bước ra từ phòng ăn và xách chiếc va-li của Aristide.

"Phòng 24," M. Bocardon nói. Sau đó, nhoài nửa thân hình lực lưỡng qua khung cửa sổ chật hẹp của quầy lễ tân, ông ta hét lớn xuống hành lang: "Euphémie!"

Một giọng nữ vang lên, và ngay lập tức chủ nhân của giọng nói xuất hiện — một phụ nữ xanh xao, hốc hác nhưng trẻ hơn Zette, với quầng thâm mệt mỏi vì mất ngủ hoặc bệnh tật ẩn dưới đôi mắt luôn nhìn đời bằng ánh mắt rụt rè.

"Nói với em gái cô rằng," M. Bocardon nói, "có họ hàng của cô đến khách sạn lưu trú."

Ông ta thu người lại phía sau quầy lễ tân và không buồn đếm xỉa gì đến vị khách nữa.

"Họ hàng ư?" Euphémie ngẩn người nhắc lại, trân trân nhìn Aristide đang nở nụ cười với đôi mắt long lanh — kẻ mà bộ óc không lúc nào ngừng nghỉ đang tự hỏi làm thế nào để qua mặt người em gái không được chào đón và hoàn toàn bất ngờ này.

"Thì thế. Aristide, họ hàng của người dì Léonie đáng kính ở Raphèle của cô đây mà. À mà... cô còn quá trẻ để có thể nhớ tôi."

"Tôi sẽ báo cho Zette," cô nói rồi biến mất hút vào con hẻm hành lang chật chội.

Aristide bước ra cửa, đứng đó nhìn ra con phố chẳng mấy sạch sẽ gì. Ở phía bên kia đường — khuất trong bóng râm, chủ nhân của những cửa hàng nhỏ khiêm nhường đang ngồi trước cửa hoặc trên những chiếc ghế bành đặt ngoài vỉa hè. Họ xì xào bàn tán và liên tục liếc nhìn về phía anh. Chẳng mấy chốc, những tiếng bước chân phía sau khiến anh quay người lại. Zette đang đứng đó.

Rõ ràng cô đã khóc từ lúc chia tay cho đến tận bây giờ bởi đôi mắt đã đỏ hoe. Cô giật mình khi nhìn thấy anh.

"Anh?"

Anh bật cười và nắm lấy đôi bàn tay đang ngập ngừng của cô.

"Là anh đây, Aristide. Em lớn nhanh quá đấy! Pécaïre! Em lớn bổng lên thế này cơ à!" Anh buông tay cô ra và bật cười giòn giã trước đôi mắt ngơ ngác của cô. "Ai mà ngờ được cô bé Zette ngày xưa tóc buộc đuôi sam và mặc váy ca-rô ngắn nay lại trở thành một người phụ nữ tuyệt mỹ thế này! Tôi phải ngợi khen gu chọn vợ của anh đấy, M. Bocardon."

M. Bocardon không đáp lại, nhưng cái liếc mắt nhanh như chớp của Aristide kịp nhận ra một tia đau đớn thoáng qua trên khuôn mặt rộng của gã.

"Còn người dì Léonie kính yêu thì sao? Dì ấy khỏe chứ? Dì ấy còn nấu món lươn hầm matelote nổi tiếng nữa không? Ôi, những món lươn hầm đó ngon tuyệt."

"Dì Léonie mất cách đây hai năm rồi," Zette đáp.

"Tội nghiệp cụ! Vậy mà tôi chẳng hề hay biết. Kể cho tôi nghe về dì ấy đi."

Cửa phòng ăn đang mở hé. Anh kéo cô bước vào đó bởi thứ sức hút kỳ lạ của mình. Họ bước vào trong và anh khép cửa lại.

"Voilà!" anh nói. "Tôi đã bảo là chúng ta sẽ còn gặp lại nhau mà đúng không?"

"Vous avez un fameux toupet, vous!" Zette thốt lên vẻ nửa hờn dỗi.

Anh cười lớn, bởi trong suốt cuộc đời phiêu lưu của mình, anh đã bị gán cho cái tội mặt dày vô lại không biết bao nhiêu lần rồi.

"Nếu tôi nói với chồng tôi, anh ấy sẽ giết anh đấy."

"Chắc chắn rồi. Thế nên em đừng có dại dột mà nói với hắn. Anh tôn thờ em. Anh đến đây để bảo vệ em. Thề có danh dự của người Provençal."

"Cách duy nhất để bảo vệ tôi là chứng minh tôi trong sạch."

"Rồi sao nữa?"

Cô ưỡn ngực, thẳng thắn nhìn thẳng vào mắt anh.

"Tôi sẽ công nhận anh là kẻ có tấm lòng trượng nghĩa, và chúng ta sẽ là những người bạn tốt của nhau."

"Mme. Zette," Aristide kêu lên, "anh nguyện hiến dâng cả cuộc đời này để phục vụ em. Hãy kể cho anh chi tiết về vụ việc này đi."

"Hãy đi mà hỏi M. Bocardon." Cô bỏ lại anh, kiêu hãnh ngẩng cao đầu bước ra khỏi phòng, lướt qua quầy lễ tân.

Nếu Aristide Pujol nuôi dưỡng ý tưởng ho đường là sẽ minh oan cho Mme. Zette, đè bẹp gã chồng béo ú như heo kia, và cuối cùng — theo một cách thức kỳ quái nào đó — cướp lấy người phụ nữ nguyên vẹn và bị xúc phạm ấy đưa đến một chốn bồng lai tiên cảnh nào đó (lâu đài ở Perpignan chẳng hạn — tại sao lại không chứ?), thì bạn phải tráchProvence chứ đừng trách anh, bởi những đứa con của miền Nam nước Pháp, nếu không phải là những kẻ sùng đạo, thì chính là những kẻ ngoại đạo chính hiệu. Đôi khi, họ mang cả hai tố chất đó.

M. Bocardon vẫn ngồi ở quầy lễ tân, giả vờ làm sổ sách và dò từng cột số bằng ngón trỏ to lớn đang run lẩy bẩy. Trông ông ta chẳng khác nào hiện thân của nỗi buồn. Aristide quyết định chờ thời cơ. Anh bước ra đường lần nữa, lần này với mục đích giết thời gian. Buổi chiều đã muộn, những hàng cây và tòa nhà đổ bóng mát rượi giúp việc đi dạo trở nên dễ chịu hơn; và Nîmes — thành phố trong trẻo, rực rỡ với những đại lộ thênh thang và những khoảng không gian rộng mở, mang trong mình cả sự vĩ đại một thời của Đế chế La Mã — quả là thiên đường của những kẻ lang thang nhàn rỗi. Aristide thuộc làu từng ngóc ngách nơi đây; nhưng anh chưa bao giờ thấy chán. Anh lang thang quanh đền Maison Carrée, tận hưởng vẻ kỳ vĩ của ngôi đền với những hàng cột Corinthian soi bóng, những đường diềm trạm trổ cao quý, phần đỉnh trán mái uy nghi và tỷ lệ hoàn hảo; lưu luyến rẽ vào Đại lộ Boulevard Victor Hugo, đi ngang qua trường Lycée và Bourse, vòng qua đấu trường hình bầu dục khổng lồ với hai tầng vòm kiên cố, rồi mới quay trở lại. Đúng như dự đoán, M. Bocardon đã rời quầy lễ tân. Đã đến giờ uống rượu áp-sin. Người gác cổng chỉ cho anh quán cà phê quen thuộc của M. Bocardon. Ở đó, trong một góc tối tăm của hiên quán, Aristide nhìn thấy gã khổng lồ đang ủ rũ ngắm nghía một ly rượu khai vị Dubonnet nhỏ đến kỳ cục. Aristide ngả mũ chào, xin phép được ngồi chung bàn và kéo ghế ngồi xuống.

"M. Bocardon," anh nói, cẩn thận pha chế ly rượu áp-sin mà mình vừa gọi, "tôi được người em họ xinh đẹp của mình cho biết giữa hai người đang có một sự hiểu lầm đáng tiếc, và tôi vô cùng lấy làm tiếc về điều đó."

"Cô ta gọi đó là hiểu lầm ư?" Gã bật cười khan không chút vui vẻ. "Phụ nữ lúc nào chẳng có từ điển riêng của họ. Nghe đây, thưa ngài. Giữa chúng tôi là một sự ô nhục. Khi một người vợ phản bội một người đàn ông như tôi — tử tế, nuông chiều, tin tưởng tuyệt đối, kẻ đã tôn thờ từng bước chân cô ta đi — thì đó không còn là chuyện hiểu lầm nữa. Đó là sự nhơ nhuốc. Nếu cô ta có nơi nào để dung thân, tôi đã tống cổ ra khỏi nhà ngay tối nay rồi. Nhưng cô ta không có. Anh là họ hàng của cô ta, hẳn anh biết tôi cưới cô ta chẳng có một xu hồi môn. Và anh là người duy nhất trong họ hàng nhà cô ta còn sống sót."

Đã có lúc Aristide suýt buột miệng nói rằng anh hoàn toàn sẵn sàng che chở cho cô, nhưng bản năng thận trọng đã kìm anh lại.

"Cô ta đã bóp nát trái tim tôi," Bocardon tiếp lời.

Aristide gặng hỏi chi tiết về vụ việc đau lòng này. Gã đàn ông vạm vỡ chần chừ giây lát, liếc nhìn người đối diện đầy nghi kị; nhưng bị thôi miên bởi đôi mắt sáng rực và trong trẻo kia, hắn bắt đầu tuôn ra một câu chuyện cuồn cuộn với sự phẫn nộ đặc trưng của người miền Nam. Tên khốn đó là một tay buôn cúc áo — chỉ là cúc áo thôi đấy! Bị phản bội bởi một tay bán kim cương thì còn có thể an ủi phần nào — đằng này lại là cúc áo! Cúc vải, cúc xương, cúc đồng, cúc quần đùi! Trở thành một gã buôn bán thứ vô tích sự như khuy áo quả là nỗi nhục nhã thấp kém nhất trên đời. Tên hắn ta là Bondon — gã thốt lên cái tên ấy với giọng điệu đầy khinh miệt, như thể việc hạ mình từ một dòng Bocardon xuống thành một kẻ tên Bondon là điều không tài nào tưởng tượng nổi. Tên Bondon này là khách quen của khách sạn, và là cái loại khách quái quỷ gì cơ chứ! — chưa bao giờ gọi dù chỉ một chai rượu vang cao cấp hay một ly cà phê hay cognac. Một sinh vật đê tiện. Trong một thời gian dài, hắn đã hoài nghi. Bây giờ thì hắn đã chắc chắn. Gã nốc cạn ly Dubonnet, gọi thêm ly nữa và lảm nhảm không đầu không cuối về những tiếng đóng mở cửa, những lời thì thầm, về một sự kiện kinh hoàng mà trung tâm của nó là bóng dáng Zette lướt đi như một thợ săn ma quái dọc hành hành lang. Cuối cùng, chính là bằng chứng xác thực nhất: một bức thư được tìm thấy vào sáng hôm đó trong phòng của Zette. Gã rút một tờ giấy nhàu nát từ trong túi ra và đưa cho Aristide.

"tên khốn đó là một tay buôn cúc áo — cúc áo!"

Đó là một bức thư thô tục, sỗ sàng, đáng trách và hoàn toàn cấu thành tội trạng. Aristide cảm thấy lạnh toát người, rùng mình khi nghĩ đến cảnh Zette cao quý và đài các lại dính líu đến thứ ô uế nhơ nhớp này. Anh căm thù Bondon bằng một mối hận thù muốn giết người. Anh uống một ngụm lớn rượu áp-sin và ước gì đó là máu của Bondon. Những giọt nước mắt lớn lăn dài trên khuôn mặt Bocardon, đọng lại ở phần đuôi bộ ria mép xơ xác rồi rơi lộp độp xuống chiếc bàn cẩm thạch.

"Tôi yêu cô ấy biết bao, thưa monsieur," hắn nghẹn ngào.

Tiếng kêu than đầy tính người ấy chạm thẳng đến trái tim Aristide. Một giọt nước mắt đồng cảm lấp lánh trong đôi mắt sáng của anh. Bỗng nhiên, anh tràn ngập một lòng trắc ẩn vô hạn dành cho gã khổng lồ đang đau khổ và bất lực này. Một nét tính cách nữ tính kỳ lạ ẩn sâu trong bản chất của anh thi thoảng lại trỗi dậy ở những thời điểm bất ngờ. Theo bản năng, anh vươn tay ra.

"Anh định đi à?" Bocardon hỏi.

"Không. Đây là biểu tượng của tình bạn đẹp."

Họ siết chặt tay nhau qua chiếc bàn. Một cảm xúc mới mẻ trào dâng trong tâm hồn dễ dao động của Aristide.

"Bocardon, tôi xin hiến dâng vì anh," anh hô lên kèm theo một cử chỉ khoa trương. "Tôi có thể làm gì đây?"

"Than ôi, chẳng làm được gì đâu," gã đáp với vẻ thảm hại.

"Còn Zette? Cô ấy nói sao về tất cả chuyện này?"

Đôi vai lực lưỡng nhún lại đầy vẻ bất lực. "Cô ta chối bay chối biến. Cô ta chưa từng nhìn thấy bức thư đó cho đến khi tôi trưng ra trước mặt cô ta. Cô ta nói không biết nó xuất hiện trong phòng mình bằng cách nào. Làm quái gì có chuyện đó cơ chứ!"

"Nghe có vẻ khó tin thật," Aristide trầm ngâm.

Họ tiếp tục trò chuyện. Bocardon, với giọng nghẹn ngào, kể lại câu chuyện giản dị về hạnh phúc gia đình họ. Đó là một cuộc hôn nhân xuất phát từ tình yêu đích thực, khác biệt với những cuộc hôn nhân toan tính thông thường. Chưa từng có một gợn mây nào kể từ ngày cưới. Họ từng được ví như cặp chim cu gáy của phố Rue de la Curatterie. Hắn thậm chí còn chưa từng biểu lộ sự ghen tuông vốn dĩ có thể hiểu được ở một kẻ sở hữu người vợ quá đỗi xinh đẹp. Hắn đặt trọn niềm tin tưởng tuyệt đối vào cô. Hắn chắc chắn về tình yêu của cô. Thế là đủ. Họ từng có một đứa con, nhưng đã qua đời. Nỗi đau mất con thậm chí còn kéo họ xích lại gần nhau hơn. Và giờ thì nhát dao này lại giáng xuống. Nó giống như một lưỡi dao đang ngoáy sâu trong lồng ngực hắn. Thật là một sự hành hạ tột cùng.

Họ cùng nhau đi bộ trở về khách sạn. Zette — người đang ngồi túc trực ở quầy lễ tân — đứng dậy và lẳng lặng bước đi dọc hành lang mà không nói nửa lời hay liếc nhìn một cái. Bocardon thở dài thườn thượt rồi ngồi vào chỗ của vợ. Đã đến giờ ăn tối. Nửa tá khách lưu trú và khách quen lấp đầy căn sảnh nhỏ trong chốc lát, vài người đứng chờ rửa tay ở chiếc chậu rửa mặt thô sơ đặt dưới chân cầu thang. Aristide theo chân họ vào phòng ăn và dùng bữa trong sự im lặng tĩnh mịch. Bữa tối kết thúc, anh lại đi ra ngoài, bước qua quầy lễ tân nơi Bocardon trong góc tối đang gặm nhấm bữa ăn ảm đạm do cô nàng Euphémie sầu thảm mang tới. Zette, anh đoán chừng, đang ăn tối trong bếp. Bầu không khí thê lương bao trùm lấy không gian, tựa như có một cỗ quan tài đang quàn đâu đó trong nhà.

Aristide ngồi uống cà phê ở quán cà phê gần nhất với một tâm trạng rối bời phức tạp. Anh từng điên cuồng yêu người phụ nữ ấy vì tin rằng cô là nạn nhân của một ông chồng ghen tuông mù quáng. Trong một phút bốc đồng đầy cao thượng, anh đã ôm lấy người chồng vào lòng khi thấy đó là một người tốt đang quằn quại trong đau khổ. Giờ đây, anh vừa yêu người phụ nữ, vừa quý mến người chồng, lại vừa căm thù tận xương tủy tên để tiện Bondon. Bất cứ cảm xúc nào Aristide trải qua, anh đều cảm nhận nó một cách mãnh liệt. Anh sẽ hòa giải hai con người mà anh quý mến này, rồi sau đó sẽ tìm đến — nếu không thể ám sát Bondon — thì ít nhất cũng cho hắn một bài học nhớ đời. Với ý nghĩ đó trong đầu, anh thanh toán tiền cà phê và quay trở lại khách sạn.

Anh bắt gặp Zette đang thế chỗ trực ở quầy lễ tân, bởi vì khách khứa thì vẫn cần được phục vụ ngay cả trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất. Cô đang nói chuyện với một vị khách mới đến, cố gắng nở nụ cười chào đón. Aristide đứng thơ thẩn gần đó, ngắm nhìn khuôn mặt kiều diễm với những đường nét cổ điển hoàn hảo toát lên vẻ thanh cao quý phái. Tâm hồn anh nổi loạn trước ý nghĩ cô lại đi dính líu đến một gã đê tiện thấp hèn như Bondon. Thật không thể tin nổi.

"Eh bien?" cô cất lời ngay khi họ chỉ còn lại hai người.

"Mme. Zette, hôm qua tôi đã gọi chồng cô là đồ khốn và con cá sấu. Tôi đã sai. Tôi nhận ra anh ấy là một người đàn ông có bản chất tuyệt vời."

"Anh không cần phải nói điều đó với tôi đâu, M. Aristide."

"Cô đang bóp nát trái tim anh ấy đấy, Mme. Zette."

"Và anh ấy có đang bóp nát trái tim tôi không? Chắc anh ấy vừa kể lể với anh rồi chứ gì. Lẽ nào tôi phải chịu trách nhiệm về những chuyện mà tôi mù tịt chẳng khác gì đứa trẻ chưa ra đời hay sao? Anh không tin lời tôi nói ư? Bah! Thế còn những lời thề non hẹn biển chiều nay của anh thì sao? Toàn gió với gió, hệt như lời của đàn ông thiên hạ."

"Mme. Zette," Aristide kêu lên, "anh đã nói là anh nguyện hiến dâng cuộc đời để phục vụ em, và anh sẽ làm thế. Anh sẽ đi tìm Bondon và giết chết hắn."

Anh quan sát cô thật kỹ, nhưng cô chẳng hề tái mặt như kiểu phản ứng của một người phụ nữ có người tình đang đối mặt với hiểm nguy chết người. Cô lạnh lùng đáp:

"Tốt hơn hết là anh nên nói chuyện với hắn ta trước đã."

"Hắn ta đang ở đâu?"

Cô nhún vai. "Làm sao tôi biết được? Hắn đã đi chuyến tàu sớm sáng nay chạy theo hướng Tarascon rồi."

"Thế thì ngày mai," Aristide — kẻ rành rẽ đường đi nước bước của giới thương gia — nhủ thầm, "hắn sẽ có mặt ở Tarascon, hoặc ở Avignon, hoặc ở Arles."

"Tôi nghe hắn nói hắn vừa đi thị sát Arles xong."

"Tant mieux (Càng tốt). Tôi sẽ tóm được hắn ở Tarascon hoặc Avignon. Và thề có con quái vật Tarasque của Thánh Marta, tôi sẽ mang cái đầu của hắn về để cô treo lên biển hiệu và đổi tên khách sạn thành 'Hôtel de la Tête Bondon'."

anh bật cười phá lên

Sáng sớm hôm sau, Aristide bắt đầu cuộc truy lùng mà không thèm báo trước dự định của mình cho M. Bocardon tốt bụng. Anh sẽ đi thẳng đến Avignon, vì đó là nơi có nhiều khả năng nhất. Việc dò hỏi tại các khách sạn sẽ giúp anh nhanh chóng tóm được con mồi; và rồi — anh cũng chưa rõ chuyện gì sẽ xảy ra sau đó — nhưng chắc chắn nó sẽ rất ấn tượng, rất bất ngờ đối với Bondon, và sẽ được quyết định bởi nguồn cảm hứng ngẫu hứng lúc bấy giờ. Dù thế nào đi nữa, anh cũng sẽ rửa sạch vết nhơ cho gia phả nhà này. Lúc này, anh đã tự thôi miên rằng mình thực sự thuộc về dòng họ Bocardon.

Hành khách duy nhất ngồi cùng khoang hạng nhất với anh là một phụ nữ lớn tuổi người Anh có gương mặt cau có. Aristide, với cái đầu ngập tràn hình ảnh Zette và Bondon, hầu như chẳng thèm liếc nhìn bà ta. Tàu khởi hành và xé gió lao qua vùng đất ngập tràn nắng gió của những giàn nho và cây ô-liu.

Họ suýt đến Tarascon thì một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu anh, mạnh mẽ như một cú đấm giáng thẳng vào mặt. Anh hít một hơi thật sâu, rồi bất ngờ bật cười phá lên, đá chân tung tóe và khua khoắng tay chân với vẻ phấn khích như một kẻ điên. Sau đó anh đứng dậy và nhảy múa. Bà lão người Anh mặt cau có vô cùng sợ hãi, vội vã tháo chạy ra hành lang. Chắc hẳn bà ta đã mách lại hành vi kỳ quặc của Aristide với nhân viên kiểm vé, bởi chỉ một lát sau, người nhân viên đó đã xuất hiện ở cửa khoang.

"Qu'est-ce qu'il y a?" (Có chuyện gì thế?)

Aristide khựng lại giữa tràng cười ngất.

"Monsieur," anh nói, "tôi vừa mới nghĩ ra việc mình sẽ làm với M. Bondon rồi."

Sự hào hứng sủi bọt trong người khi anh bước đi từ Ga xe lửa Avignon lên đại lộ Cours de la République. Tên đê tiện Bondon đã nằm gọn trong tầm tay anh. Tuy nhiên, anh chưa đi được bao lâu thì đôi mắt tinh tường đã bắt gặp một món đồ bày bán lộn xộn trong một cửa hàng đồ cổ. Anh khựng lại trước cửa kính, hoàn toàn bị mê hoặc. Anh dụi mắt.

"Không," anh lẩm bẩm; "đây không phải là mơ. Chúa trời đang đứng về phía tôi."

Anh bước vào cửa hàng và mua món đồ đó. Đó là một chiếc còng số 8.

Hơn ba giờ chiều một chút, chiếc xe buýt nhỏ ọp ẹp của khách sạn trờ tới trước cửa Hôtel de la Curatterie, bước xuống xe là Aristide Pujol với đôi mắt sáng ngời, cùng một gã đàn ông lùn xơ xác có bộ râu dê, kính kẹp mũi và cái trán hói bóng loáng — kẻ đang tái mét, run lẩy bẩy và trông như thể đang chết khiếp vì sợ hãi. Đó chính là Bondon. Cả hai bước vào sảnh nhỏ. Vừa nhìn thấy kẻ thù, đôi mắt Bocardon bừng lên sát khí, phát ra một tiếng gầm gừ không rõ lời, hắn lao bổ từ quầy lễ tân ra với đôi nắm đấm giơ cao đầy tử khí. Tên Bondon sợ hãi lùi phắt vào góc tường, được che chở bởi Aristide — người đang nở nụ cười hiền từ như một sứ giả hòa bình, đứng ra chặn đứng đà lao của gã khổng lồ.

"Bình tĩnh nào, M. Bocardon bình tĩnh nào."

Nhưng Bocardon quyết không bình tĩnh. Hắn đã lấy lại được giọng nói.

"À, đồ khốn! Tên đê tiện! Đồ vô loại! Kẻ phản bội!" Khi vốn từ ngữ chửi rủa và hơi thở cạn kiệt, hắn khựng lại và đưa tay lau trán.

Bondon bước lên một hai bước.

"Tôi biết, monsieur, mọi lỗi lầm đều thuộc về tôi. Sự tức giận của anh là hoàn toàn có cơ sở. Nhưng tôi chưa bao giờ dám mơ tới những hậu quả tàn khốc từ hành động của mình. Xin anh hãy để tôi gặp cô ấy, M. Bocardon tốt bụng, tôi cầu xin anh."

"Để mày gặp cô ấy á?" Bocardon gầm lên, mặt đỏ tía tai.

Đúng lúc đó, Zette từ hành lang chạy xộc ra.

"Có tiếng náo động gì thế này?"

"Trời ơi, madame!" Bondon háo hức kêu lên, "Tôi đau lòng lắm. Cô là người nhân hậu — xin hãy cho tôi gặp cô ấy."

"Hein?" Bocardon há hốc mồm kinh ngạc thốt lên.

"Gặp ai cơ?" Zette hỏi.

"Người vợ quá cố thân yêu của tôi. Nàng Euphémie đáng thương, người đã tự sát."

"Nhưng gã này điên rồi!" Bocardon gào lên bằng chất giọng vang dội. "Euphémie! Euphémie! Ra đây mau!"

Vừa trông thấy Euphémie — người đang xanh xao và run rẩy vì sợ hãi — Bondon liền sụp xuống chiếc ghế băng sát tường. Hắn trân trân nhìn cô như thể vừa nhìn thấy bóng ma.

"Tôi không hiểu gì cả," hắn thì thầm yếu ớt, đưa đôi mắt như thỏ sập bẫy nhìn Aristide Pujol — người đang đứng thảnh thơi chống nai ở cách đó không xa.

"Tôi cũng chẳng hiểu nổi," Bocardon quát lên.

Một luồng sáng bừng lên trên khuôn mặt kiều diễm của Zette. "Thì ra là thế." Cô trao đổi ánh mắt với Aristide. Anh bước lên trước.

"Rất đơn giản," anh nói, chiếm trọn sân khấu với sự đắc thắng ngây thơ như trẻ con. "Sáng nay tôi đi tìm Bondon để giết hắn. Trên tàu, tôi chợt có một linh cảm bất chợt, một sự khải thị từ thiên đường. Người tình của Bondon không phải là Zette mà là Euphémie. Tôi cười lớn khiến một bà cô già người Anh răng dài được một phen khiếp vía hồn xiêu phách lạc. Liệu tôi nên xuống tàu ở Tarascon rồi quay về Nîmes báo tin, hay cứ đi tiếp? Tôi quyết định đi tiếp. Tôi vạch ra kế hoạch. Mà ngộ lắm, khi tôi đã lên kế hoạch thì chỉ trong tích tắc, một tia chớp, phuýt! Tới Avignon, tôi thấy một cặp còng số 8. Tôi mua luôn. Tôi mất hàng giờ lùng sục tên khốn đó. Cuối cùng tôi cũng túm được hắn ở ga tàu khi hắn chuẩn bị đi Lyon. Tôi bảo hắn tôi là mật vụ cảnh sát. Tôi cho hắn xem còng số 8, thế là hắn tin sái cổ. Tôi thông báo rằng Euphémie vì quá đau buồn khi bức thư bị phát hiện nên đã tự sát. Có một biên bản vụ án đang cần sự có mặt của hắn. Tôi triệu tập hắn đi theo danh nghĩa pháp luật — và thế là hắn có mặt ở đây."

“còn anh!” bocardon gào lên, lao vào ôm chầm lấy aristide; “tôi cũng phải ôm anh một cái mới được”

"Thế hóa ra bức thư đó không phải gửi cho vợ tôi à?" Bocardon — kẻ vốn không lấy gì làm nhanh trí — ngẩn ngơ hỏi.

"Đồ ngu ngốc, chứ còn gì nữa!" Aristide quát.

Bocardon ôm chầm lấy vợ trong vòng tay vạm vỡ. Nước mắt hắn tuôn rơi.

"Ôi, Zette bé bỏng của anh, Zette bé bỏng ơi, em có bao giờ tha thứ cho anh không?"

"Oui, je te pardonne, gros jaloux," Zette dịu dàng đáp. "Vâng, em tha thứ cho anh, đồ ghen tuông ngốc nghếch."

"Còn anh nữa!" Bocardon hét lên, lao vào ôm chầm lấy Aristide; "Tôi cũng phải ôm anh một cái!" Hắn hôn chụt vào cả hai má Aristide theo phong cách phóng khoáng của người miền Nam, rồi đẩy anh về phía Zette.

"Anh có thể hôn cả vợ tôi nữa. Chính tôi — Bocardon này — cho phép đấy."

Ngọn lửa của sự kiêu hãnh cao đẹp sục sôi trong huyết quản Aristide. Anh là một người hùng. Anh biết rõ điều đó. Đó là khoảnh khắc đáng sống biết bao.

Sau những màn ôm ấp và bày tỏ niềm vui sướng, lòng biết ơn tạm lắng xuống, sự chú ý dồn vào cặp đôi kém phần anh hùng nãy giờ chưa thốt nổi nửa lời với nhau. Lời giải thích cho hành động của họ cũng có vẻ rất đơn giản. Họ yêu nhau. Cô không có hồi môn. Hắn không thể cưới cô vì bố mẹ nhất quyết không đồng ý. Về phần cô, cô sợ chết khiếp khi bức thư bị phát hiện, sợ rằng Bocardon sẽ tống cổ cô ra khỏi nhà.

"Mức hồi môn bao nhiêu thì bố mẹ cậu đồng ý?"

"Không dưới mười hai nghìn franc."

"Tôi cho," Bocardon hào phóng tuyên bố trong niềm hạnh phúc mới tìm lại được. "Cưới cô ấy đi."

Đồng hồ ở quầy lễ tân điểm bốn giờ. Aristide rút đồng hồ ra xem.

"Saperlipopette!" anh thốt lên rồi biến mất nhanh như chớp ra ngoài phố.

"Nhưng mà hắn bị làm sao thế nhỉ?" Bocardon kinh ngạc hỏi.

Zette bước ra cửa. "Anh ấy chạy cứ như có quỷ đuổi đằng sau ấy."

"Hắn lúc nào cũng thế à?" chồng cô hỏi.

"Lúc nào là thế nào?"

"Parbleu! Thời gian cậu ta hay lui tới chỗ dì Léonie của em ấy."

Zette đỏ bừng mặt. Việc phủ nhận ân nhân cứu mạng của cả gia đình là một hành động bội bạc quá đỗi tối tăm đối với trái tim ngây thơ của cô.

"À, vâng," cô bình tĩnh đáp khi bước trở lại sảnh. "Tụi em vẫn hay gọi anh ấy là 'Cậu Chàng Thủy Ngân'."

Ra đến đại lộ lớn, Aristide vẫy một chiếc xe ngựa đang chạy qua.

"Đến Hôtel du Luxembourg — phóng hết tốc lực!"

Trong sự phấn khích tột độ của những giờ qua, đứa con của cảm xúc và ánh nắng mặt trời này — gã đàn ông bay nhảy như chuồn chuồn — đã hoàn toàn quên mất cuộc hẹn lúc hai giờ với vị triệu phú người Mỹ và khối tài sản phụ thuộc vào nó. Chắc chắn ông ta sẽ rất tức giận vì phải chờ đợi. Aristide từng tiếp xúc với người Mỹ rồi. Bộ óc lanh lợi của anh liền sáng chế ra một lời bào chữa vô cùng công phu.

Anh nhảy xuống xe và bước vào tiền sảnh khách sạn.

"Tôi có thể gặp ông M. Congleton được không?" anh hỏi ở quầy lễ tân.

"Một quý ông người Mỹ á? Ông ấy đi rồi, monsieur. Ông ấy đi chuyến tàu ba giờ rưỡi rồi. Anh là M. Pujol phải không? Có một bức thư gửi cho anh này."

Với trái tim trĩu nặng, anh bóc thư ra đọc:

Thân gửi Ông, — Tôi đã có mặt ở khách sạn này lúc hai giờ đúng theo thỏa thuận. Vì chuyến tàu cuối cùng của tôi đi Nhật Bản khởi hành lúc ba giờ rưỡi, tôi rất tiếc không thể chờ đợi sự tiện lợi của ông được nữa. Địa điểm xây dựng khách sạn thì đạt yêu cầu. Nhưng phương thức kinh doanh của ông thì không. Do đó, tôi rất tiếc không thể tiếp tục bàn thảo vấn đề này thêm nữa. — Trân trọng,

William B. Congleton.

Anh trân trân nhìn những dòng chữ trong vài giây chết lặng. Sau đó, anh nhét vội bức thư vào túi và bật cười phá lên.

"Zut!" anh thốt lên, dùng thứ thảng thốt bất lịch sự mà người Pháp hay dùng để biểu thị sự khinh miệt đối với hoàn cảnh. "Zut! Nếu tôi mất đi một gia tài, thì tôi lại kiếm được hai người bạn vô cùng tận tụy, thế nên tôi vẫn là kẻ thắng cuộc trong công việc ngày hôm nay."

Nói đoạn, anh vui vẻ quay trở lại vòng tay của gia đình Bocardon và ở lại đó — với tư cách là 'Cậu Chàng Thủy Ngân' cùng vị anh hùng được sùng bái và hạnh phúc viên mãn — cho đến khi sự phẫn nổ của kiến trúc sư M. Say lừng danh triệu tập anh trở về Paris.

Và đó là cách mà Aristide Pujol có thể sống nhăn mà chẳng tốn xu nào ở Nîmes, bất cứ khi nào anh hứng chí ghé thăm thị trấn lịch sử ấy.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.