Những Cuộc Phiêu Lưu Đầy Hoan Lạc Của Aristide Pujol

Lượt đọc: 45 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv: Cuộc Phiêu Lưu Về Đứa Trẻ Bỏ Rơi

❊ ❊ ❊

Đã có thời Aristide Pujol, người một mình đảm nhận việc lái chiếc ô tô, thong thả lái xe phăng phăng trên các nẻo đường nước Pháp. Tôi dùng từ này có suy tính hẳn hoi. Nếu bạn tận tai nghe thấy âm thanh khủng khiếp phát ra từ chiếc xe lúc nó lướt qua, bạn sẽ đồng ý rằng đó là từ duy nhất diễn tả đúng cái cách di chuyển kỳ dị của nó. Đó là một chiếc xe thùng tồi tàn, chắp vá, trầy xước, hai chỗ ngồi và đã cũ mòn từ thuở khai thiên lập địa, thuộc về thời thơ ấu của nhân loại. Không chỉ loài ngựa, mà cả những chiếc ô tô khác cũng phải hoảng hốt tránh xa nó. Đó là một cỗ xe đáng cười chê. Thế nhưng, Aristide lại nhìn nó với niềm tự hào rực rỡ và cầm lái với sự liều lĩnh tột độ đến mức các bộ phận trên xe dường như chỉ có thể gắn kết lại với nhau nhờ một phép màu đầy kinh ngạc. Cậu ta từng bảo với tôi rằng, nếu không có chiếc ô tô ấy, cậu đã chẳng nhận cái công việc kém sang trọng mà cậu đang làm khi đó — đó là đi bán dạo thuốc chữa chai chân ở nơi công cộng của các thị trấn nhỏ và làng mạc.

Đó chẳng phải là một nghề nghiệp thích hợp cho một cựu giám đốc điều hành của một công ty đại chúng và một cựu giáo sư tiếng Pháp tại một học viện nữ sinh ở Anh. Ma phôi, cậu ta muốn vươn lên, chứ đâu muốn tụt dốc trong thang bậc xã hội. Nhưng khi cái đói hoành hành — biết làm sao được? Hơn nữa, lại có chiếc ô tô kia kìa. Đúng là cậu đã bị ràng buộc bởi hợp đồng phải gắn một tấm biển ở phía sau xe in hình phóng đại về sự thành công của thuốc chữa bệnh kèm theo dòng chữ: “Guérissez vos cors”, và trưng bày một biểu ngữ với nội dung tương tự khi thời tiết cho phép. Thế nhưng, dẫu sao, vẫn còn có chiếc ô tô.

Nó đã nằm ì suốt bao nhiêu mùa ô tô trong nhà kho của những ông chủ bào chế thuốc, hãng Maison Hiéropath ở Marseille, bị bỏ mặc, cô quạnh, bị rỉ sét và mọt mối gặm nhấm, thì đột nhiên một ý tưởng lóe lên trong đầu óc kinh doanh của họ. Tại sao họ không dùng chiếc ô tô để quảng cáo và bán thuốc khắp vùng nông thôn nhỉ? Người tông đồ phụ trách sẽ tự trả tiền xăng cho mình, nhận hoa hồng cao trên doanh thu và khoản hoa hồng thông thường của nhân viên du lịch cho các đơn đặt hàng mà anh ta có thể kiếm được. Nhưng tìm đâu ra một tông đồ đây? Những kẻ can đảm và tuyệt vọng từng ôm hy vọng lớn lao đến ngắm nghía chiếc xe, rồi lắc đầu ngao ngán và bỏ đi. Cuối cùng, trong tình cảnh khốn cùng nhất, Aristide xuất hiện. Sự vĩ đại của ý tưởng ấy — bản thân Aristide theo cách nào đó cũng là một thi sĩ, và Ý tưởng luôn là thứ khiến cậu say đắm — sự vĩ đại của ý tưởng phóng xe đến các khách sạn trên chính chiếc ô tô của mình đã khiến cậu choáng váng. Cậu tưởng tượng ra cảnh mình phóng với tốc độ một trăm cây số một giờ và để lại đằng sau những làn mây vinh quang bất cứ nơi nào cậu đi qua. Đối với một đứa trẻ, con ngựa gỗ bập bênh đã bị mọt ăn là một chú Ả Rập tuấn mã oai hùng trên thảo nguyên; còn đối với Aristide Pujol, món đồ phế thải lừa phỉnh này chẳng khác nào một cỗ xe sấm sét sáu mươi mã lực chuyên nuốt chửng không gian.

Làm thế nào mà họ nhồi nhét, sửa chữa được phần nội thất để nó có thể di chuyển mà không cần đẩy là một điều bí ẩn mà Aristide, vì không tài nào hiểu nổi, nên cũng chẳng thể tiết lộ; và việc cậu tự học lái ô tô ở đâu, vào lúc nào cũng là điều mơ hồ. Tôi tin rằng năng bẩm sinh đã mang lại sự hiểu biết ấy. Cậu là một kẻ có vô số tài năng kỳ lạ. Cậu biết làm trò ảo thuật; cậu có thể nặn chim muông thú vật từ ruột bánh mì; cậu biết đánh trống — giỏi đến mức cậu đeo một chiếc trống định âm trước ngực trong suốt thời gian tại ngũ; cậu có thể làm trứng ốp-lết và chuồng thỏ; cậu có thể bắt chước bất kỳ con vật nào từng phát ra tiếng kêu — một ân huệ khiến cậu rất được trẻ em yêu mến; cậu có thể làm hầu như bất cứ thứ gì bạn muốn — ngoại trừ việc ở yên một chỗ và tích lũy tài sản vật chất. Việc cậu chưa từng làm điều gì trước đó không phải là bằng chứng cho thấy cậu không thể làm được. Với sự tự tin tuyệt đối của mình, cậu sẵn sàng nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy dàn nhạc tại Covent Garden hoặc điều khiển một con tàu biển vượt Đại Tây Dương. Biết được điều này, tôi bèn thôi không bận tâm đến một chuyện nhỏ nhặt như cách cậu học lái ô tô.

Hãy hình dung cậu ấy vào một buổi sáng tháng Ba lạnh lẽo, đang phóng vù vù trên con đường dẫn từ Arles đến Salon ở xứ Provence. Cậu mặc một chiếc áo khoác bằng da dê và đội chiếc mũ da dê sụp xuống tận tai. Khuôn mặt tuấn tú có râu, với đôi mắt sáng ngời, vui tươi, lấp ló một cách kỳ lạ giữa đám lông lá bao quanh. Nhìn dọc theo con đường dài thẳng tắp chìm dần vào lớp sương mù xa tít tắp, chẳng có một ngã rẽ nào hiện ra; chẳng có một đốm nhỏ nào cho thấy bóng dáng xe cộ hay sinh vật sống. Aristide Pujol phó mặc bản thân cho sự phấn khích tột độ của tốc độ và thúc giục cỗ máy sắp nổ tung đạt tới tốc độ hai mươi dặm một giờ. Mặc dù mặt đường phẳng lì như đường đua, chiếc xe điên rồ vẫn chòng chành và xóc nảy; các bên của phần mui xe ọp ẹp va đập vào nhau kêu lanh lảnh như chập cheng; mọi van xe đều rít lên và kêu éc éc; mọi con ốc vít dường như đều lỏng ra và kêu lộc cộc đáng sợ; những âm thanh lạo xạo, cục cằn, chói tai phát ra từ mọi bộ phận; nó cọt kẹt và lách cách như một chiếc tàu chở hàng mua bảo hiểm quá mức trong trận cuồng phong; nó chao đảo như thể mắc bệnh thất điều vận động; và những làn khói độc nồng nặc phun ra từ ống xả hở toác chẳng khác nào một lò lửa Địa Ngục di động. Nhưng tất cả đều là âm thanh tuyệt vời trong tai Aristide. Chiếc xe vẫn đang chạy (dù không phải lúc nào nó cũng chịu chạy), con đường lùi vèo vèo dưới chân cậu, và làn gió buổi sáng táp thẳng vào mặt đầy buốt giá. Khoảng khắc ấy, cậu chẳng mòng gì hơn ở cuộc đời này.

Con đường giữa Arles và Salon này chạy qua một trong những vùng hoang vu nhất nước Pháp: một đồng bằng dài, tận cùng không thấy lối, rộng khoảng năm dặm, nằm giữa hai dãy đồi thấp và dài. Nơi đây rải rác những tảng đá nhẵn thín khổng lồ trông giống như một bãi tha ma Golgotha kỳ quái, không phải sọ người, mà là những hòn đá cuội to lớn xếp chồng chất lên nhau như đá dăm trên bãi biển. Cỏ dại mọc lởm chởm ở những kẽ hở ít ỏi tìm thấy; nhưng ngoài ra chẳng có gì mọc nổi. Chẳng thứ gì có thể sinh sôi. Vào một ngày không có ánh nắng dưới bầu trời âm u, đây là vùng đất bị nguyền rủa. Hết dặm này đến dặm khác, kéo dài gần hai mươi dặm là khoảng đất hoang vu cằn cỗi và đầy đá sỏi ấy. Không một bóng người làm vui mắt, bởi từ thứ thổ nhưỡng ấy chẳng bàn tay con người nào có thể vắt kiệt lấy nổi một chút thức ăn nuôi sống mình. Chỉ có lác đác vài phương tiện qua lại từ Arles đến Salon và từ Salon đến Arles lướt qua trên đường. Khung cảnh nhộn nhịp vui tươi của con đường lớn hoàn toàn vắng bóng; không có trẻ con, không có chó mèo, không có vịt gà, không có những người đàn ông đàn bà lững thững đi làm; không có những người lính quần đỏ đạp xe, không có những bác nông dân mặc áo blouse xanh, mặt dày sương gió đang lóc cóc cưỡi trên những chiếc xe kéo nhỏ. Tầm mắt vươn xa đến đâu cũng chẳng có gì gợi nhớ đến con người xuất hiện trong tầm nhìn. Chẳng có gì ngoài sự cằn cỗi vô tận của đồng bằng, những dãy đồi ở hai bên, con đường dài, thẳng tắp, vô tận đang rẽ đôi vùng đất hoang vu tột cùng tẻ nhạt này.

Đi bộ qua nơi này sẽ là một công việc chán nản hết chỗ nói mà một phàm nhân có thể thực hiện. Nhưng đối với một kẻ say mê tốc độ, đó lại là sự hiện thực hóa những viễn cảnh mờ ảo và xao xuyến về Thiên Đàng. Cần gì phải nhìn sang phải hay sang trái khi bạn đang nuốt trọn từng dặm đường chóng mặt hoàn toàn tự do? Aristide chẳng thèm nhìn sang phải hay sang trái, và biết rằng cuối cùng thì đây chính là thiên đường.

lấp ló giữa các lớp chăn là khuôn mặt của một đứa trẻ đang ngủ

Tuy nhiên, đột nhiên cậu nhận ra một đốm đen nhỏ xíu ở phía trước, nằm ngay chính giữa phần đường trống trải. Khi đến gần, trông nó giống như một hòn đá lớn. Cậu lách xe tránh qua nó, và khi nhìn kỹ, cậu thấy đó là một bọc đồ được quấn trong một chiếc chăn kẻ sọc. Sự việc nằm ở đó trông thật kỳ lạ khiến sự tò mò của cậu trỗi dậy, cậu bèn dừng xe lại và đi bộ ngược lại vài thước để kiểm tra. Càng đến gần, nó càng chẳng giống một bọc đồ bình thường tẹo nào. Cậu cúi xuống, và ôi chao! Lấp ló giữa các nếp chăn là khuôn mặt của một đứa trẻ đang ngủ.

“Nom de Dieu!” Aristide kêu lên. “Nom de Dieu de nom de Dieu!”

Lẽ ra cậu không nên thốt lên câu đó, nhưng sự kinh ngạc của cậu là quá lớn. Cậu trân trân nhìn đứa bé, rồi ngước nhìn dọc con đường phía trước và phía sau, rồi đảo mắt nhìn quanh chân trời. Chẳng một bóng người. Làm sao đứa bé lại có thể ở đó được? Theo lịch sử ghi lại, bầu trời đã từng mưa xuống rất nhiều thứ trong suốt thời gian qua: bánh mì, chim cút, máu, ếch nhái, và đủ thứ linh tinh khác; nhưng chẳng có tài liệu nào nhắc đến việc trời từng mưa ra trẻ con cả. Do đó, nó không thể rơi từ trên mây xuống. Nó thậm chí cũng không thể rớt ra từ đuôi chiếc xe chở hàng nào, vì nếu vậy thì nó đã bị cán chết, hoặc ít nhất cũng phải gãy xương và nói chung sẽ trở thành một đứa trẻ hoàn toàn khác chứ không thể lành lặn, bụ bẫm và ngủ yên bình như thể bãi tha ma Golgotha xứ Provence này đã là cái nôi của nó từ lúc mới sinh ra được. Nó không thể tự nhiên xuất hiện ở đó một cách tình cờ. Những bàn tay cố ý đã đặt nó xuống; hơn nữa lại còn đặt ngay giữa đường. Tại sao lại không đặt ở bên lề, nơi nó có thể tránh xa đường đi của những chiếc ô tô gầm rú? Khi mục đích sát nhân trở nên rõ mồn một, Aristide rùng mình và cảm thấy buồn nôn. Cậu thốt lên những lời nguyền rủa đầy phẫn nộ và chân thành đối với cái đầu của những kẻ ác tâm nhẫn tâm đã bỏ rơi đứa bé đến mức chịu chết. Rồi cậu cúi xuống, dịu dàng bế bọc đồ lên tay.

Khuôn mặt nhỏ xíu nhăn lại trong chốc lát và đôi chân tay nhỏ xíu giãy giụa mạnh mẽ; rồi đôi mắt đen mở lớn, trang nghiêm và đầy kinh ngạc nhìn thẳng vào mặt Aristide. Hẳn là đứa trẻ Remus thuở ấy cũng từng nhìn người mẹ sói của nó với ánh mắt như thế. Tuy nhiên, sau khi xác định rằng mình sẽ không bị ăn thịt, nó bắt đầu khóc ré lên, hé lộ hai chiếc răng trắng nhỏ xíu ở hàm dưới.

“Mon pauvre petit, con đang đói bụng phải không,” Aristide vừa nói vừa bế đứa bé ra chiếc xe đang rung lắc bởi tiếng động cơ gầm rú. “Không biết lần cuối cùng con được ăn là khi nào nhỉ? Ước gì ta có một chút bánh quy và rượu vang để cho con; nhưng hỡi ôi! Chẳng có gì ngoài xăng và thuốc chữa chai chân, mà ta tin rằng chẳng thứ nào trong số đó tốt cho trẻ em cả. Chờ đã, chờ đã, mon chèri, cho đến khi chúng ta tới Salon. Ở đó ta hứa sẽ cho con ăn uống đầy đủ đàng hoàng.”

Cậu bế đứa bé nhún nhảy lên xuống trong vòng tay và phát ra những âm thanh điên rồ nhớ được một nửa, cuối cùng cũng mang lại hiệu quả là khiến nó trở lại với vẻ ngơ ngác tĩnh lặng ban đầu.

“Voilà,” Aristide hào hứng nói. “Bây giờ chúng ta có thể lên đường.”

Cậu đặt đứa bé lên chiếc ghế trống, trèo lên sau tay lái và khởi hành. Nhưng không phải với tốc độ chóng mặt hai mươi dặm một giờ. Cậu lái xe chậm rãi và cẩn thận, tim đập chân tay run lẩy bẩy theo từng cú xóc của chiếc ô tô khốn khổ, nơm nớp lo sợ đứa bé sẽ bị hất văng khỏi chỗ ngồi trơn trượt của nó. Nhưng hỡi ôi! Cậu chẳng đi được bao xa. Hết một cây số, động cơ chết máy hoàn toàn. Cậu nhảy tót xuống để xem chuyện gì đã xảy ra, và sau vài giây lúng túng đến kiệt sức, cậu chợt nhớ ra. Cậu thậm chí còn chẳng có cả xăng để cho đứa bé, vì đã quên mất — đúng là cái đồ đầu đất — không đổ đầy bình trước khi xuất phát, lại còn quên mang theo một bình dự phòng. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc kiên nhẫn đợi cho đến khi có một chiếc ô tô khác chạy qua để cậu có thể mua lượng xăng cần thiết giúp mình tiếp tục đến Salon. Trong lúc đó thì đứa bé đành phải nhịn đói bữa sáng. Aristide trèo lại lên ghế ngồi, bế đứa bé lên đùi và hết lời thương xót cho nó. Ngồi đó trên chiếc cỗ xe trông có vẻ như tự chế ở nhà, giữa khung cảnh tĩnh lặng kỳ quái của vùng hoang vu cằn cỗi và ủ rột, đầu đội mũ và mặc áo khoác bằng da dê xù xì, cậu trông chẳng khác nào một nàng Robinson Crusoe hiện đại đang nựng nịu một đứa bé Thứ Sáu.

Việc gửi gắm đứa trẻ ở Salon sẽ rất đơn giản. Sau khi cho nó ăn uống và chăm sóc tại một khách sạn, cậu sẽ đến đồn cảnh sát khai báo, họ sẽ đưa nó đến Enfants Trouvés, cơ quan nhà nước chuyên cung cấp cha mẹ và những mái ấm hạnh phúc cho trẻ mồ côi với chi phí nhà nước đài thọ là hai mươi lăm franc một tháng cho mỗi đứa trẻ. Đúng là những bậc cha mẹ nhận nuôi theo hình thức đó quan tâm đến khoản tiền hai mươi lăm franc hơn là đứa trẻ được tìm thấy. Nhưng đó là chuyện của nhà nước, chứ không phải của Aristide Pujol. Trong lúc đó, cậu tò mò quan sát đứa nhóc. Nó mặc một chiếc áo chui đầu bằng vải calico thô, rất bẩn. Chiếc chăn kẻ sọc thì đầy lỗ rỗ và bốc mùi kinh khủng. Dường như cần phải có một cuộc đại tu sửa nào đó về vệ sinh. Cậu bước xuống xe và lục trong va li những thứ có vẻ cần thiết cho mục đích đó. Chiếc áo chui đầu và chiếc chăn được cậu ném thật xa vào bãi đá cuội. Đứa bé, hoàn toàn trần truồng trong chốc lát, gật gù cười lớn và vươn người như một con non, lộ ra một bé trai cứng cáp khoảng chín tháng tuổi. Khi thấy nó đã sẵn sàng để mặc đồ, Aristide bọc nó lại bằng phần dưới của một bộ đồ ngủ pyjama, khoét những lỗ nhỏ ở hai bên để nhét đôi tay bé xíu của nó vào; và hơn nữa, nhằm mục đích đánh lừa cơn đói của nó, cậu đưa cho nó một chiếc thìa xỏ giày. Cái đầu nhỏ bé không tẻ tạt của cậu khéo léo nhét lọt vào phần miệng bị rách của một chiếc tất bằng len. Aristide ngắm nhìn nó với vẻ đắc thắng. Thằng bé cười khì khì thích thú. Sau đó Aristide cuộn nó lại thật ấm áp trong tấm thảm du lịch và bắt đầu trò chuyện sôi nổi.

Chính vào khoảnh khắc thú vị nhất của cuộc trò chuyện, đứa bé bỗng túm lấy ngón tay của Aristide bằng bàn tay nhỏ xíu rám nắng của mình. Những ngón tay bé xíu bấu chặt lấy.

Một luồng cảm giác kỳ lạ chạy dọc qua cơ thể con người dễ xúc động ấy. Những ngón tay bé xíu dường như đang ôm trọn lấy trái tim cậu.... Đó là một mẩu thịt đáng yêu, tốt tính, lí la lí lô — và đôi mắt trong veo nhìn thẳng vào tâm hồn cậu một cách chân thành.

“Tội nghiệp đứa bé khốn khổ!” Aristide thốt lên, với tư cách là một đứa con của gia đình nông dân, cậu thừa hiểu những gì mình đang nói. “Tội nghiệp đứa bé khốn khổ! Nếu mày bước chân vào Enfants Trouvés, mày sẽ có một quãng đời cực như quỷ sứ cho mà xem.”

Cái nắm tay bé xíu siết chặt hơn. Cứ như thể đứa bé hiểu được, tiếng cười khì khì vụt tắt trên khuôn mặt nó.

“Mày sẽ bị tát, bị đá và chịu đói lả, trong khi người mẹ nuôi đút túi hai mươi lăm franc một tháng, còn mày chẳng thuộc về ai cả, rồi sẽ tự hỏi tại sao cái quái gì mình lại còn sống trên đời, ước gì mình chết đi cho rồi; và nếu mày nhớ lại ngày hôm nay, mày sẽ nguyền rủa tao vì đã không có nổi sự tử tế để cán chết quách mày đi cho rồi.”

Cái nắm tay nới lỏng ra, những nếp nhăn xuất hiện ở khóe miệng đang chảy dãi, và vô số đường nét lo lắng li ti hằn lên trên trán đội chiếc tất.

“Tội nghiệp quỷ nhỏ!” Aristide nói. “Lòng ta đau thắt vì mày, nhất là khi bây giờ mày đang mặc chiếc tất và bộ pyjama của ta, lại còn đang mút cái thìa xỏ giày duy nhất mà ta từng có trên đời.”

Một âm thanh đáng mừng khiến Aristide nhảy vọt ra giữa đường. Cậu nhìn về phía trước, và ở đó, giữa đám mây bụi mù mịt, một vật gì đó giống như quả ngư lôi đang ào tới. Cậu giơ cả hai tay lên, tín hiệu của một tài xế đang gặp nạn. Chiếc ngư lôi đến gần với tốc độ đã giảm và dừng lại. Đó là một chiếc xe đua màu xám xịt, gầm cao, trông hung tợn, và ngồi giữa xe là hai con gấu đeo kính bảo hộ. Con gấu cầm lái nhã nhặn ngẩng mũ lên và hỏi:—

“Chúng tôi có thể giúp gì cho ông, thưa ngài?”

Ngay lúc đó, đứa bé bật khóc nức nở thấu trời xanh. Aristide cởi chiếc mũ da dê ra, để trần đầu, nhìn con gấu, rồi nhìn đứa bé, rồi lại nhìn con gấu.

“Thưa ngài,” cậu nói, “tôi đoán là có hỏi ngài có sữa và bình sữa không thì cũng vô ích nhỉ?”

“Mais dites donc!” con gấu giận dữ gầm lên, tay đặt lên phanh xe. “Dừng một chiếc ô tô thế này chỉ vì lý do vớ vẩn đó sao——?”

Aristide giơ một tay ra hiệu phản đối, và nhìn con gấu bằng đôi mắt tinh ranh không thể cưỡng lại được.

“Xin lỗi ngài, tôi cũng vừa hết xăng rồi. Xin hãy tha thứ cho tâm trạng của một người cha. Đứa bé muốn uống sữa còn tôi cần xăng, và tôi chẳng biết nhu cầu của ai mới là cấp thiết hơn. Nhưng nếu ngài có thể bán cho tôi chút xăng đủ để chạy đến Salon thì tôi vô cùng biết ơn.”

Yêu cầu về xăng là thứ không thể từ chối. Cung cấp nó, nếu có thể, là luật bất thành văn của giới lái xe. Con gấu thứ hai trượt khỏi ghế, lôi ra một chiếc hộp từ trong gầm xe ngư lôi, và đứng chờ trong lúc Aristide đổ đầy bình xăng của mình, một quá trình đòi hỏi phải đặt đứa bé nằm xuống đất. Anh ta mỉm cười.

“Trông anh có vẻ thích thú nhỉ,” Aristide nói.

“Parbleu!” tài xế nói. “Anh đằng sau ô tô thì treo biển bảo người ta chữa chai chân, còn đằng trước thì chở một đứa trẻ.”

“Điều đó,” Aristide đáp, “rất dễ hiểu. Tôi là đại lý của hãng Maison Hiéropath ở Marseille, và đứa bé này, kẻ mà tôi — người cha của nó — đang bế từ chỗ người mẹ đã khuất đến chỗ người dì ốm yếu, tôi đang dùng nó làm vật quảng cáo. May mắn là nó không bị chai chân nào cả, nên tôi có thể trưng bày đôi chân của nó như một bằng chứng về hiệu quả của thuốc trị chai chân.”

Con gấu bật cười rồi nhập hội với bạn đồng hành, chiếc xe ngư lôi gầm rú phóng vụt đi. Aristide đặt đứa bé trở lại chỗ cũ, dùng một hệ thống dây thừng phức tạp buộc chặt nó vào ghế. Đứa bé nín khóc, tóm lấy bộ râu của cậu khi cậu cúi người xuống, và “ư ử” đầy dễ chịu. Trái tim cậu như thắt lại. Làm sao cậu có thể trao một sinh linh nhỏ bé đầy cuốn hút và kiên cường nhường ấy cho Enfants Trouvés cơ chứ? Hơn nữa, nó là của cậu. Chẳng phải cậu đã từng đùa cợt nhận làm cha nó đó sao? Nó đã mang lại cho cậu một tầm vóc quan trọng mới. Cậu có thể thốt lên “mon fils”, cũng giống như cậu có thể nói (với mức độ chân thực tương đương) “mon automobile”. Một luồng cảm giác hào phóng chạy dọc cơ thể cậu. Cậu cười lớn tiếng, vỗ tay và nhảy múa trước sự thích thú của đứa bé.

“Mon petit Jean,” cậu nói với giọng điệu hài hước đầy yểu điệu, “vì ta đoán tên con là Jean; ta sẽ băm vây thành trăm mảnh chứ quyết không để Ban quản lý đưa con đi gửi nuôi ở chỗ lũ sói đâu. Con sẽ không phải đến Enfants Trouvés đâu. Chính ta sẽ nhận nuôi con, mon petit Jean ạ.”

Vì Aristide hoàn toàn chẳng có chỗ ở cố định nào, địa chỉ trên danh thiếp của cậu là “213 bis, Rue Saint-Honoré, Paris” thực chất là của một bà cụ bán rau quả quen biết, nơi cậu trọ mỗi khi ghé thăm thủ đô, nên hành động này chứa đựng một sự liều lĩnh nhất định. Nhưng có khi nào Aristide lại không liều lĩnh đâu cơ chứ? Nếu sự thận trọng là kim chỉ nam trong suốt cuộc đời cậu, thì cậu đã chẳng đi bán thuốc trị chai chân cho hãng Maison Hiéropath, và do đó đã chẳng tìm thấy đứa trẻ ở nơi đầu tiên.

Vô cùng hào hứng với cái kết có hậu cho số phận của bé Jean, cậu khởi động cỗ máy ọp ẹp và hiên ngang lái xe lên đường. Jean, vì kiệt sức bởi những cảm xúc trong nửa giờ qua, đã ngủ thiếp đi một cách bình yên.

“Thiên thần nhỏ!” Aristide thốt lên.

Mặt trời đang chiếu sáng khi họ đến Salon, thị trấn nhỏ vui tươi nhất, duyên dáng nhất và hay cười nhất ở xứ Provence. Đó là một nơi ngập tràn cây cối và không gian mở, những đài phun nước và quán cà phê, cùng những dòng người thong thả đi dạo. Điểm duy nhất có vẻ ảm đạm ở đây là tòa tháp có lỗ châu mai đơn độc nằm ở con phố chính, dấu tích cuối cùng của những bức tường thành cổ; và ngay cả tòa tháp ấy, khi được bao bọc sát rạt ở mỗi bên bởi những ngôi nhà khang trang có các cửa hàng phía dưới, trông giống như một bà cụ già nua, nhăn nheo đang mỉm cười giữa bầy cháu chắt xinh xắn hơn của mình. Dường như tất cả mọi người đều ở ngoài trời. Những người mở cửa hàng thì đứng ngay ở ngưỡng cửa. Viễn cảnh này hứa hẹn những điều tốt đẹp cho hãng Maison Hiéropath.

Aristide dừng lại trước một khách sạn, gỡ Jean ra trong sự quan tâm ngỡ ngàng nhè nhẹ của những người qua đường, rồi bế nhóc ta vào trao tận tay bà chủ khách sạn.

“Thưa bà,” cậu nói, “đây là con trai tôi. Tôi đang đưa thằng bé từ chỗ người mẹ đã qua đời đến với người dì đang đau ốm. Thế nên thằng bé đang thui thủi một mình bên tôi. Nó đang rất đói, và tôi khẩn khoản xin bà cho nó ăn ngay lập tức.”

Người phụ nữ đẫm chất mẫu tính theo bản năng đón lấy đứa bé và gạt tấm thảm du lịch quấn quanh người nó sang một bên. Sau đó bà suýt đánh rơi nó.

“Mon Dieu! Qu’est-ce que c’est que ça?”

Bà trân trân nhìn chiếc mũ tất và đôi ống quần pyjama bằng vải nỉ dài ngoẵng rủ xuống từ cơ thể của đứa trẻ, quanh cổ nó là phần cạp quần được thắt chặt lại. Kể từ khi thế giới hình thành chưa từng có đứa trẻ nào hóa trang trong bộ dạng như thế này cả. Aristide nở nụ cười duyên dáng nhất của mình.

“Hành lý của con trai tôi không may bị thất lạc. Chiếc vali của nó, pauvre petit, bé lắm. Là một kẻ góa vợ nghèo khó, tôi đã làm hết sức có thể. Tôi chỉ là một người đàn ông đơn độc thôi, thưa bà.”

“Hiển nhiên là thế rồi,” người phụ nữ nói với chút gay gắt.

Aristide rút một đồng louis từ trong ví ra. “Nếu bà có thể mua cho nó vài món đồ trang phục cần thiết trong lúc tôi hoàn thành nhiệm vụ với hãng Maison Hiéropath ở Marseille mà tôi đang đại diện, thì bà đã làm ơn cho tôi một việc lớn đấy.”

Bà chủ khách sạn cầm đồng louis với vẻ mặt ngơ ngác. Cho dù cái vali của đứa bé có bị thất lạc đi chăng nữa, thì bà thắc mắc, quần áo mà lẽ ra nó phải mặc đã đi đâu mất rồi? Aristide bắt đầu đưa ra một lời giải thích đầy màu sắc và thực tế. Bà chủ khách sạn thì mập mạp, ngốc nghếch, không tài nào nắm bắt được những chuyện kỳ quái.

“Mon Dieu!” bà nói. “Nghĩ sao mà lại có những con người theo đạo Thiên Chúa lại đi mặc đồ cho con cái thế này chứ!” Bà thở dài sườn sượt, và ôm sát đứa trẻ kỳ dị vào ngực, hậm hực bỏ đi để thực hiện việc chăm sóc làm mẹ đang vô cùng cấp bách.

cậu chứng minh cách áp dụng thuốc chữa bệnh đúng đắn

Aristide thở phào nhẹ nhõm, và sau bữa trưa xứng đáng, cậu mang xe ra Quảng trường Place des Arbres và chuẩn bị hành nghề. Trước tiên, cậu giương cao lá cờ Hiéropath, phấp phới tung bay trong gió. Sau đó, trên một chiếc bàn gấp, cậu bày biện bộ sưu tập hộp thuốc mỡ của mình (cùng với thuốc viên và thuốc trị đau răng mà cậu tự bán riêng) và một mô hình bàn chân người làm bằng sáp trên đó cấy những vết chai chân bằng bột bít-tết ở mọi giai đoạn xơ cứng. Ngay khi nửa tá kẻ rảnh rỗi tụ tập lại, cậu bắt đầu bài diễn văn của mình. Khi số lượng khán giả tăng lên, cậu thực hiện những phép thuật siêu phàm về chăm sóc chân trên mấy vết chai bằng bột bít-tết, và biểu diễn cách bôi thuốc đúng cách. Cậu nói liên hồi không ngừng nghỉ suốt thời gian đó. Cậu từng kể với tôi, theo cái cách thật vĩ đại, rằng giai đoạn này trong sự nghiệp khiến cậu vô cùng chán ghét. Nhưng tôi khó lòng mà tin điều đó. Nếu có ai thích nói chuyện trên đời này, thì đó chính là Aristide Pujol; và còn nghề nghiệp nào, ngoại trừ nghề luật sư, lại mang đến nhiều dịp cho sự ba hoa nịnh hót hơn là nghề bán dạo thuốc dởm ngoài phố? Thực chất, cậu tận hưởng điều đó vô cùng. Khi cậu đề nghị tặng một hộp thuốc chữa bệnh miễn phí cho vị nữ khách đầu tiên thú nhận nhu cầu sử dụng, và một cô nàng đỏ mặt bước lên, gã lợn cợn ấy lập tức tận dụng cơ hội để đùa cợt khiến đám đông đang vui tính cười ồ lên. Cậu thích phát huy quyền năng mang tính thôi miên của mình. Cậu không có tâm hồn của một kẻ bán thuốc rong lừa đảo, bởi tâm hồn Aristide có một chốn trú ngụ cao cả và hào phóng; nhưng cậu sở hữu sự nhanh nhẹn tinh quái và nghịch ngợm của một kẻ bán thuốc rong thành công. Và cậu thành công bởi vì cậu coi đó là một nghệ thuật, chẳng màng đến lợi ích vật chất trong lúc hành nghề, cười sảng khoái giống như bậc tiền bối vĩ đại Tabarin của ký ức bất tử, đồng thời thỏa mãn trọn vẹn bản năng diễn xuất của mình. Mặt khác, kể từ khi bước chân vào đời với chiếc áo khoác ngắn đính cúc đồng của một tiếp viên trong quán cà phê ở Marseille, và mơ mộng về cuộc sống cổ tích của những vị khách bước vào cùng với những quý cô mặc đồ lộng lẫy, cậu luôn có tham vọng xã hội — và địa vị xã hội của kẻ bán thuốc dởm thì, nói giảm nói tránh, là vô cùng mập mờ. Ôi chao! Con người sẽ ra sao nếu thiếu đi những điều không thể với tới nhỉ?

Aristide bỏ tiền thu được vào túi, hạ cờ, dẹp bàn và ghé qua các cửa hàng ở Salon vì lợi ích của hãng Maison Hiéropath. Công việc trong ngày kết thúc, cậu quay lại để hỏi thăm về đứa con giả danh của mình. Bà chủ khách sạn với nụ cười rạng rỡ trên môi đã trao trả cho cậu một bé Jean đã hoàn toàn lột xác, sạch sẽ và thoa phấn thơm phức, diện trên mình bộ cánh tươm tất của tầng lớp tiểu tư sản. Những đôi giày có quả bông trang trí đôi chân nhỏ, và một chiếc mũ phớt điệu đà trang trí bằng ruy băng sa tanh trắng đội trên đầu. Cậu nhóc còn mặc một chiếc áo liền váy thêu và chiếc áo khoác ngắn viền lông thỏ. Jean toe toét cười và chảy dãi đầy tự đắc, khoe hai chiếc răng nhỏ xíu với người cha tự hào nhất thế giới. Bà chủ khách sạn mời người cha hạnh phúc vào căn phòng khách tối tăm nhỏ xíu phía sau quầy lễ tân, và ở đó trưng bày một bói quà chứa quần áo và những dụng cụ mà mục đích sử dụng hoàn toàn là điều bí ẩn đối với Aristide. Bà cũng đòi phần lớn hơn của một đồng louis khác. Aristide bắt đầu nhận ra rằng làm cha mẹ thật tốn kém.

Suy cho cùng, ở đây đã có một đứa trẻ được trang bị đầy đủ để đối mặt với những đòi hỏi khắt khe của một thế giới đầy phán xét; cả về ngoại hình lẫn trang phục đều là niềm tự hào của bất kỳ ông bố nào. Vì buổi chiều trời đẹp, và vì thật phí phạm nếu lãng phí sa tanh và lông thỏ trong không gian u ám bên trong khách sạn, Aristide liền mượn một chiếc xe đẩy trẻ em của bà chủ khách sạn, và hân hoan như một đứa học trò, đẩy đứa bé lộng lẫy dạo qua những đại lộ đầy nắng ở Salon.

Tối hôm đó, một chiếc giường được chuẩn bị sẵn cho đứa trẻ trong phòng của Aristide, cho đến khi chủ nhân của căn phòng đi ngủ, nơi đây bị xâm chiếm bởi bà chủ khách sạn, các cô hầu phòng và toàn bộ lũ nữ tì nhà bếp trong khách sạn. Aristide đành phải đuổi họ ra ngoài và khóa trái cửa lại.

“Thật tuyệt vời,” cậu thốt lên, hướng lời nói đến đứa trẻ đã được cho ăn uống no nê, tắm rửa sạch sẽ và giờ đang ngủ say. “Thật là đỉnh cao. Vì ở khách sạn nào cũng có phụ nữ, và vì người phụ nữ nào cũng nghĩ rằng họ có thể làm mẹ giỏi hơn tôi rất nhiều, thế nên ở mọi khách sạn chúng ta ghé qua, chúng ta đều sẽ tìm thấy một đội ngũ y tá được đào tạo bài bản và đầy nhiệt huyết. Jean ạ, con sẽ sống như một chú gà con trong lồng kính cho mà xem.”

Đêm qua đi giữa những chuyến du ngoạn của Aristide và những phen báo động từ phía Jean. Đôi khi đứa trẻ nằm im thin thít đến mức Aristide phải bật dậy xem nó còn sống hay không. Đôi khi nó lại thể hiện sức sống mãnh liệt đến mức Aristide, vì sợ đánh thức cả khách sạn dậy, lại phải ẵm nó đi vòng quanh phòng vừa ru hời vừa hát. Điều này hoàn toàn phù hợp với quan điểm về sự xa hoa của Jean. Nó “ư ử” đầy vui sướng. Khi Aristide đặt nó trở lại giường, nó lại gào lên. Aristide vội chộp lấy nó lên và nó lại “ư ử” trở lại. Cuối cùng Aristide đành cho nó ăn trong tuyệt vọng, rốt cuộc cũng ru được nó ngủ rồi trở lại chiếc gối đầy phấn khích. Thật là một điều đáng sợ khi một người đàn ông bị bỏ lại một mình giữa đêm khuya vắng với một đứa trẻ sơ sinh.

“Rồi mình sẽ quen thôi,” Aristide tự nhủ.

Sáng hôm sau, cậu mua một chiếc giỏ, khéo léo buộc chặt nó lên chiếc ghế bên trái của xe và một chiếc đệm nhét vừa vặn vào giỏ. Khi cái ổ đã sẵn sàng, cậu đặt bé Jean mặc đồ lộng lẫy vào trong đó và lái xe đi, giữa những lời chúc phúc ngơ ngác của bà chủ khách sạn và bầy tùy tùng.

Cứ như thế, cuộc hành trình kỳ lạ nhất mà người phàm từng dấn thân bắt đầu. Người đàn ông cùng chiếc ô tô, thuốc chữa chai chân và đứa trẻ đã trở thành một huyền thoại ở các ngôi làng vùng Provence. Vào những ngày trời đẹp, bé Jean ngồi trong giỏ tham gia vào buổi biểu diễn kịch tính tại chợ. Trở thành thỏi nam châm thu hút các bà các cô, lại có bản tính vui vẻ và tưng bừng, bé đã giúp cho việc bán thuốc chữa bệnh phát đạt đến không ngờ. Nó tự kiếm đủ tiền nuôi bản thân, như Aristide hân hoan tuyên bố. Chẳng mấy chốc Aristide đã sưu tập được một loạt các trò nghịch ngợm và hành động của nó để giải trí cho những người quen tình cờ gặp trên hành trình lang thang của mình. Đối với một người bạn đồng hành lâu dài, cậu chắc chắn sẽ trở thành kẻ khó ưa. Cậu tự bịa ra cả một cuộc đời cho nó từ ngày chào đời, ghi chép lại thời điểm chiếc răng đầu tiên mọc, khóc thương cho cái chết của người mẹ hư cấu, và bằng cách tưởng tượng của mình, cậu tự thuyết phục bản thân rằng mình chính là cha ruột của nó. Và mỗi ngày trôi qua, đứa trẻ lại càng tiến sâu hơn vào trái tim đầy nắng của người đàn ông ấy.

thật là một điều đáng sợ khi một người đàn ông bị bỏ lại một mình giữa đêm khuya vắng với một đứa trẻ sơ sinh

Bọn họ cùng nhau trải qua biết bao cuộc lang thang và bao phen phiêu lưu. Cơ chế ọp ẹp và điên rồ của chiếc xe vỡ vụn ở những nơi không ngờ tới. Họ trượt dốc không phanh trong gang tấc nguy hiểm tính mạng. Họ chịu đựng sự nhục nhã khi bị những chiếc xe chở rượu kéo đi. Họ trải qua hàng giờ liền bên vệ đường trong lúc Aristide tháo tung chiếc xe ra và, đôi khi với sự giúp đỡ của một tài xế qua đường, lại lắp nó vào. Thỉnh thoảng, một quán trọ nào đó lại chẳng có mống bà chủ nào, chỉ có một cô hầu phòng bù xù đầu tóc và bận rộn ngập đầu từ chối giặt giũ cho Jean. Thế là tự tay Aristide giặt giũ và thoa phấn cho Jean, còn chủ quán thì đứng thảnh thơi nhác dựa ngậm tẩu thuốc đưa ra những lời khuyên. Có bận Jean đổ bệnh, Aristide hoảng hốt gọi bác sĩ, để rồi bị mắng cho một trận vì đã nhồi nhét sữa cho đứa bé đến mức sắp bùng nổ. Thế nhưng, bất chấp việc nuôi dưỡng tạp nham, phơi mình dưới nắng mưa và những cơn gió mistral buốt giá, Jean vẫn lớn nhanh như thổi, và để cho Aristide được một phen mừng rỡ, chú nhóc bắt đầu mọc thêm một chiếc răng nữa. Kẻ tự mãn bắt đầu coi mình là một chuyên gia về nha khoa trẻ em.

Sau một vòng hành trình khá rộng lớn, Aristide với những chiếc hộp đựng hàng trống rỗng và những chiếc túi quần đầy ắp tiền mặt đã đến thị trấn nhỏ Aix-en-Provence. Cậu đến đó không phải không gặp khó khăn. Ngay ở vùng ngoại ô, chiếc xe — vốn đã được dỗ dành miễn cưỡng đi qua bao cây số mệt mỏi — đã rên rỉ, lộc cộc, vo ve, nhảy cẫng lên vài cái co giật rồi đứng khựng lại bất động. Đây là một trong những thói quen dễ thương của nó. Cậu đã quen với việc đó, và cho đến nay cậu vẫn luôn dỗ dành nó chạy tiếp được. Nhưng lần này, dẫu cho dùng hết mọi mưu mẹo và mồ hôi nhễ nhại, cậu cũng chẳng thể khơi gợi thêm nổi một nhịp đập nào nữa từ cỗ máy mệt mỏi ấy. Một tài xế tốt bụng đã kéo họ đến Khách sạn Hôtel de Paris ở Cours Mirabeau. Sau khi sắp xếp phòng ốc và giao bé Jean cho bà chủ khách sạn trông nom, cậu tìm vài người phụ giúp, đẩy chiếc xe đến gara gần nhất. Ở đó, cậu ra lệnh sửa chữa để chiếc xe có thể chạy lại vào sáng hôm sau rồi quay về khách sạn.

Cậu tìm thấy Jean ở sảnh, đang ngả ngốn như một vị vua Thổ Nhĩ Kỳ trên lòng bà chủ khách sạn, trở thành tâm điểm của một vòng tròn ngưỡng mộ bao gồm hai cô bé tóc tết đuôi sam, một bà lão nhà quê và hai quý cô người Anh lớn tuổi nhưng vẫn giữ nét duyên dáng của thời độc thân.

“Cha của cháu đây rồi,” bà chủ khách sạn nói.

Cậu đã giải thích về Jean cho người phụ nữ ngỡ ngàng ấy từ trước — các bà chủ khách sạn lúc nào cũng ngỡ ngàng trước sự xuất hiện phi truyền thống của Jean. “Thưa bà,” cậu đã nói theo đúng công thức cứng nhắc, “đây là con trai tôi. Tôi đang đưa thằng bé từ chỗ người mẹ đã qua đời đến với người dì đang đau ốm, thế nên nó đành thui thủi một mình bên tôi. Tôi khẩn khoản xin bà hãy để một người phụ nữ tốt bụng nào đó chăm sóc nhu cầu của nó.”

Chẳng cần phải giải thích gì thêm nữa. Aristide được giới thiệu như thế liền cúi đầu lịch sự, thỉnh chiếc mũ Crusoe của mình và nở nụ cười rạng rỡ với đám đông phụ nữ đang tề tựu. Họ lại tiếp tục bản hợp xướng tôn sùng đối đáp của mình. Đứa nhóc da ngăm đen, vui tính và thân thiện mang một phần sức hút cá nhân của Aristide. Nó có những tiếng bóp bong bóng nước bọt và tiếng “ư ử” dành cho tất cả mọi người. Aristide đứng nhìn với vẻ vô cùng thích thú. Jean là một đứa con trai để mà tự hào.

“Ah! qu’il est fort—fort comme un Turc.”

“Regardez ses dents.”

“Đứa trẻ đáng yêu làm sao!”

“Il est—oh, dear!—il est ravissante!”—với một cú trượt chân thảm hại về giống từ.

“Tiens! il rit. C’est moi qui le fais rire.”

“Thật khó mà tin được,” người phụ nữ người Anh trẻ tuổi hơn quay sang nói với em gái mình, “một đứa bé tí hon thế này lại đi du lịch bằng xe ô tô mui trần!”

“Nó đang có quãng thời gian tuyệt vời nhất cuộc đời đấy. Nó tận hưởng điều đó nhiều như tôi vậy,” Aristide nói bằng chất tiếng Anh tuyệt vời của mình.

Người phụ nữ giật mình. Cô là một phụ nữ lịch thiệp, vui tính ở độ tuổi đầu ba mươi, vóc người đẫm chất, tóc đỏ, các đường nét trên khuôn mặt dẫu không đều nhưng vẫn duyên dáng. Người em gái của cô thì gầy gò, phai nhạt, tóc màu cát và trông có vẻ hiền lành.

“Tôi cứ tưởng anh là người Pháp chứ,” cô nói bằng giọng ngượng ngùng.

“Đúng vậy, tôi là thế,” Aristide đáp. “Người Provençal của vùng Provence, người miền Nam của miền Nam, người Marseille của thành phố Marseille.”

“Nhưng anh nói tiếng Anh hoàn hảo quá.”

“Tôi từng sống ở đất nước xinh đẹp của các bạn mà,” Aristide nói.

“Cậu nhóc nhà anh đáng yêu quá,” người chị lớn tuổi nói. “Nó được mấy tháng rồi?”

“Chín tháng, ba tuần và một ngày,” Aristide đáp ngay lập tức.

Người em gái cúi người xuống ngắm nghía đứa trẻ kỳ diệu.

“Em có thể bế nó không? Est-ce que je puis—oh, dear!” Cô quay sang Aristide với vẻ mặt đầy nét tinh quái.

Cậu dịch lại. Bà chủ khách sạn trao lại đứa bé. Người phụ nữ bế nó đung đưa quanh sảnh với sự vụng về đầy quyến rũ của một cô gái độc thân, nhưng lại mang theo sự chắc chắn theo bản năng của nữ tính, trong khi hai cô bé tóc tết — con gái chủ nhà — lẽo đẽo theo sau giống như những thiên thần sùng bái trên một bức bình phong bàn thờ, và bà cụ nhà quê nhìn theo trìu mến giống như một Thánh Elizabeth nghìn nếp nhăn. Aristide từng thấy Jean được bế bởi hàng tá phụ nữ trong suốt chặng đường đồng hành ngắn ngủi của họ; cậu chẳng mảy may để tâm mấy, vì đó là điều tự nhiên phụ nữ hay làm; nhưng khi người phụ nữ Anh ngọt ngào này chăm sóc Jean thì mọi chuyện dường như lại mang một ý nghĩa rất lớn. Cô ấy nâng Jean và cả chính cậu lên một tầm cao mới. Cái chạm tay của cô ấy giống như một sự thánh hiến.

Đã đến giờ trong ngày mà những đứa trẻ chín tháng tuổi cần phải được tắm rửa và đi ngủ. Bà chủ khách sạn thông báo điều đó và giơ hai tay ra. Jean bám chặt lấy người bảo mẫu người Anh của nó, người đang chơi trò chơi hấp dẫn là giả vờ ăn bàn tay của nó. Bà chủ khách sạn không có năng khiếu đó. Bà ta vừa tẻ nhạt lại vừa thực tế.

“Lại đây để đi tắm nào,” bà nói.

“Ôi, cho tôi đi cùng với nhé,” người phụ nữ Anh kêu lên.

“Bien volontiers, mademoiselle,” người kia đáp. “C’est par ici.”

Người phụ nữ Anh chìa Jean ra để chào tạm biệt người cha. Aristide hôn đứa trẻ trong vòng tay cô. Hành động đó mang lại, trong khoảnh khắc ấy, một sự thân mật kỳ lạ và ngọt ngào.

“Em gái tôi rất thích trẻ con,” người chị lớn lên tiếng mỉm cười giải thích.

“Còn cô?”

“Tôi cũng vậy. Nhưng Anne — em gái tôi — chẳng bao giờ chịu nhường cơ hội cho tôi khi con bé ở gần đó cả.”

Sau bữa tối, Aristide đi lên phòng như thường lệ để xem Jean có còn sống, không đau đớn và đang ngủ say không. Thấy nó còn thức, cậu ngồi bên cạnh và với sự tận tâm của một cô bảo mẫu, vỗ về cho nó chìm vào giấc ngủ. Sau đó cậu rón rén bước ra ngoài và đi xuống lầu. Bên ngoài khách sạn, cậu bắt gặp hai chị ngồi trên băng ghế uống cà phê. Đêm rất đẹp, các bậc thềm của những quán cà phê lân cận đông đúc người qua lại, và toàn bộ nhịp sống của Aix không ở các quán cà phê đều đổ ra đi dạo dọc theo đại lộ rộng rãi và dễ chịu. Hai người phụ nữ mỉm cười. Thằng bé thế nào rồi? Cậu cập nhật tình hình mới nhất. Lời mời gia nhập bàn cà phê của họ được đáp lại một cách nhã nhặn. Người hầu bàn mang đến một chiếc ghế và cậu ngồi xuống. Cuộc trò chuyện chuyển từ đứa bé sang các chủ đề chung. Hai người phụ nữ kể lại câu chuyện giản dị về chuyến du lịch của họ. Họ đã đến Nice và Marseille, và ngày mai họ sẽ tiếp tục đi Avignon. Họ cũng cho biết tên mình là Honeywood. Cậu lờ mờ hiểu được người chị tên là Janet, người em tên là Anne. Họ sống ở Chislehurst khi ở Anh, và thường đến Luân Đôn để tham dự các buổi hòa nhạc ở Queen’s Hall và các buổi biểu diễn kịch tại Nhà hát His Majesty. Họ là những quý cô ngây thơ nhưng tự lập đúng chất mà một nước Anh biệt lập có thể sản sinh ra. Aristide, một người dễ xúc động và nhạy bén, ngay lập tức hòa vào nhịp điệu trò chuyện của họ. Cậu từng kể với tôi rằng sự hiện diện của họ mang lại cho cậu cảm giác giống như đôi bàn tay mát lạnh của các vị thánh chạm vào má vậy.

Cuối cùng, cuộc trò chuyện không tránh khỏi việc quay trở lại với Jean. Bà chủ khách sạn đã kể lại câu chuyện bi thảm về người mẹ đã khuất và người dì đau ốm. Họ bày tỏ sự thương xót cho tình cảnh mồ côi của đứa trẻ quý giá này. Bởi vì nó rất quý giá, họ tuyên bố vậy. Cô Anne đã đưa nó vào trong trái tim mình rồi.

“Giá mà anh thấy nó lúc tắm cơ, Janet!”

Cô quay sang Aristide. “Tôi e rằng,” cô nói rất khẽ, ngập ngừng đôi chút — “Tôi e rằng đây hẳn là một chuyến đi buồn bã đối với anh.”

Cậu nhăn mặt. Sự đồng cảm đó quá chân thành, quá đỗi nữ tính. Phần hào phóng trong con người cậu bỗng nổi dậy chống lại việc đón nhận nó.

“Thưa cô,” cậu nói, “tôi có thể đóng kịch với các bà chủ khách sạn — hóa ra điều đó lại thuận tiện — thực ra là cần thiết. Nhưng với cô thì không. Cô khác lắm. Jean không phải con tôi, và bố mẹ nó là ai thì tôi hoàn toàn chẳng có lấy một manh mối.”

“Không phải con anh ư?” Họ nhìn cậu với vẻ hoài nghi.

“Tôi sẽ kể cho cô nghe — trong sự tin cậy nhé,” cậu nói.

Lịch sử của Jean được kể lại với tất cả những chi tiết đầy màu sắc; những nỗi kinh hoàng của cuộc đời một đứa trẻ mồ côi được phác họa rợn ngợp. Hai chị em lắng nghe với những giọt nước mắt rưng rưng trong đôi mắt ngốc nghếch của họ. Đằng sau những giọt nước mắt ấy, mắt của Anne bỗng sáng lên. Khi cậu kể xong, cô bốc đồng đưa tay ra.

“Ôi, tôi thấy anh thật tuyệt vời làm sao!”

Cậu nắm lấy bàn tay đó và, theo cái cách lịch thiệp kiểu Pháp của mình, chạm môi vào. Cô đỏ mặt, vì theo kiểu người Anh, cô cứ nghĩ cậu sẽ siết chặt nó cơ.

“Sự tán dương của cô, thưa cô, thật ngọt ngào khi được lắng nghe,” cậu nói.

“Tôi hy vọng thằng bé lớn lên sẽ là một niềm an ủi thực sự cho anh, M. Pujol,” cô Janet nói.

“Tôi có thể hiểu một người phụ nữ làm những gì anh đã làm, nhưng khó lòng tưởng tượng nổi một người đàn ông lại làm thế,” cô Anne nói.

“Nhưng, thưa cô kính mến,” Aristide cất lời với một cử chỉ rộng lượng, “chẳng lẽ một người đàn ông không thể có trái tim rung động, hay — hay — ses entrailles, enfin — bị khuấy động bởi những ngón tay bé xíu của trẻ thơ hay sao? Tại sao tình yêu dành cho những sinh linh yếu ớt và vô tội lại bị từ chối đối với anh ta chứ?”

“Ừ nhỉ, tại sao cơ chứ?” cô Janet nói.

Cô Anne bẽn lẽn nói: “Ý tôi chỉ là sự tận tụy của anh dành cho Jean càng trở nên đẹp đẽ hơn thôi, M. Pujol ạ.”

Chẳng bao lâu sau thì họ chia tay, vì gió đêm đã bắt đầu se lạnh. Cả hai người phụ nữ đều bắt tay cậu thật ấm áp.

Bàn tay của Anne nán lại thêm một tích tắc so với Janet. Cô ấy đã được nhìn thấy Jean lúc tắm cơ mà.

Aristide lang thang dọc theo đại lộ vui tươi ra đến con đường lớn và ngước nhìn những vì sao, đọc được trong ánh hào quang của chúng một tương lai rực rỡ cho Jean. Cậu cảm thấy, bằng sự nhạy cảm của mình, rằng hai người phụ nữ Anh có tâm hồn ngọt ngào ấy đã làm sâu sắc thêm và tôn thánh hóa tình yêu của cậu dành cho Jean. Khi trở về khách sạn, cậu hôn người bạn chung phòng khác biệt của mình với sự dịu dàng của một người phụ nữ.

Sáng hôm sau, cậu ghé qua gara. Người thợ cả bước ra đón cậu.

“Thế nào rồi?”

“Chẳng còn cứu được gì nữa đâu, thưa ngài.”

“Anh có ý gì khi nói là ‘không cứu được gì nữa’?” Aristide hỏi.

Hắn nhún vai đôi vai lực lưỡng của mình.

“Nó kiệt sức rồi. Nó cần bộ chế hòa khí mới, xi-lanh mới, hệ thống làm mát nước mới, hệ thống bôi trơn mới, van mới, phanh mới, hệ thống đánh lửa mới, hộp số mới, bu-lông mới, ốc vít mới, mọi thứ đều mới. Tóm lại, nó không thể sửa chữa được nữa.”

Aristide lắng nghe trong sự kinh ngạc hoài nghi. Chiếc ô tô của cậu, chiếc ô tô tuyệt vời, xinh đẹp, va đập ầm ầm và phóng bạt mạng của cậu mà lại không thể sửa được ư! Thật là vô lý. Nhưng chỉ mười lăm phút chứng minh của người thợ cả đã thuyết phục được cậu. Chiếc xe đã chết. Động cơ sẽ chẳng bao giờ gầm rú thêm lần nào nữa. Tất cả số xăng trên thế giới này cũng chẳng thể kích thích nó sống lại được. Sẽ chẳng bao giờ cậu còn được ngồi sau tay lái đó để tận hưởng niềm vui của sự ngạo mạn tốc độ nữa. Chiếc xe — bất chấp vô vàn bệnh tật của nó — mà cậu từng ngây thơ tưởng tượng là bất tử, nay đã chạy đến chặng đường cuối cùng. Aristide cảm thấy lả đi.

“Và thực sự không còn cách nào cứu vãn sao?”

“Không còn gì cả, thưa ngài. Năm mươi franc là tất cả giá trị của nó.”

“Dù sao đi nữa,” Aristide nói, “hãy gửi chiếc giỏ đựng đồ đến Khách sạn Hôtel de Paris nhé.”

Cậu bước ra khỏi gara như một kẻ mộng du. Đến cửa, cậu ngoái lại nhìn lần cuối Niềm Tự Hào Của Cuộc Đời Cậu. Phần đuôi xe quay về phía cậu, và tất cả những gì cậu thấy ở nó là dòng chữ đầy châm biếm: “Cure your Corns.”

Tại khách sạn, cậu thấy chiếc băng ghế bên ngoài chủ yếu bị chiếm dụng bởi Jean. Một trong những cô bé tóc tết đang bế nó, trong khi cô Anne đang đút bình sữa. Nước Pháp vùng tỉnh thành là nơi hạnh phúc nhất trên thế giới — ở chỗ bạn có thể sống cuộc đời nội bộ, gia đình của mình ở nơi công cộng mà chẳng ai thèm bận tâm.

“Tôi hy vọng anh không đến để bảo Jean chuẩn bị lên đường đấy chứ,” cô Anne nói, một nụ cười hiện lên trên khuôn mặt thô kệch mà dễ thương của cô.

“Hỡi ôi!” Aristide nói, được vực dậy tinh thần bởi khung cảnh đáng yêu trước mắt. “Tôi chẳng biết khi nào chúng ta mới có thể đi được nữa. Xe hơi của tôi hỏng hoàn toàn rồi. Lẽ ra tôi phải đến ngay công ty ở Marseille của mình” — cậu nói cứ như thể mình là đối tác trong hãng Maison Hiéropath — “nhưng tôi thực sự không biết phải làm gì với Jean nữa.”

“Ồ, tôi sẽ trông nom Jean hộ anh.”

“Nhưng cô bảo hôm nay sẽ đi Avignon cơ mà.”

một trong những cô bé tóc tết đang bế nó, trong khi cô anne đang đút bình sữa

Cô cười lớn, tay vẫn cầm bình sữa. “Cung điện của các Giáo hoàng đã đứng vững suốt sáu thế kỷ, và nó vẫn sẽ đứng đó vào ngày mai; trong khi Jean——” Đến đây Jean, vì lý do nào đó chỉ có nó mới hiểu, bỗng toe toét cười rộng và ướt sũng. “Chẳng lẽ nó không phải là sinh vật hấp dẫn nhất của thế kỷ XX này sao?” cô thốt lên, bất chấp logic giống như đa số phụ nữ cùng giới. “Anh cứ đi Marseille đi, M. Pujol.”

Thế là Aristide đón tàu đi Marseille — chuyến hành trình nửa tiếng đồng hồ — và tại một khu vực của thành phố trông giống như sự hòa trộn giữa Jarrow, một khu vực lỗi mốt của St. Louis và một vùng ngoại ô sản xuất diêm sinh của Địa Ngục, cậu đã có cuộc phỏng vấn với các nhà chức trách cấp cao của hãng Maison Hiéropath. Khả năng nịnh hót của cậu có thể dẫn dắt con người ta vào những trò điên rồ đủ kiểu, nhưng chẳng tài nào dụ dỗ được gã nhà sản xuất thuốc dởm kỳ cựu ấy cung cấp một chiếc ô tô hoàn toàn mới để phục vụ nhu cầu cá nhân của cậu. Chiếc ô tô cũ đã hỏng. Nhà sản xuất nhún vai. Điều kỳ diệu là nó đã sống dai đến thế. Hắn ta vốn tưởng nó đã phát nổ ngay từ ngày đầu tiên rồi. Ý tưởng ban đầu là của người đối tác trẻ tuổi, một thanh niên ba hoa đôi khi cũng được họ chiều chuộng. Trong khi đó, vì không có ô tô dán biển quảng cáo và cắm cờ, sẽ chẳng có màn quảng cáo nào nữa; do đó họ không còn nhu cầu sử dụng dịch vụ của M. Pujol nữa.

“Tốt thôi,” Aristide tự nhủ khi bước ra con phố tồi tàn. “Đó là một nghề nghiệp đồi bại, và tôi rất vui vì đã thoát khỏi nó. Trong lúc này, Marseille đang ở ngay trước mắt tôi, và sẽ là điều đáng ngạc nhiên nếu tôi không tìm ra một con đường mới dẫn đến vận may trước khi ngày tàn.”

Aristide lê bước suốt cả ngày qua các con phố của Marseille, nhưng con đường mà cậu tìm kiếm vẫn bặt vô âm tín. Cậu quay trở lại Aix trong nỗi hoang mang tột độ. Cậu đã quen với việc bị cắt đứt đột ngột khỏi các phương tiện kiếm sống. Đó là trạng thái kinh niên của cuộc đời cậu. Sự tháo vát vui vẻ của cậu luôn giúp cậu vượt qua tất cả. Nhưng trước kia thì chỉ có một mình cậu để mà lo lắng. Còn bây giờ thì đã có Jean. Lần đầu tiên sau nhiều năm, đôi cánh của chú chuồn chuồn bắt đầu rũ xuống. Jean — cậu phải làm gì với Jean đây?

Jean đã chìm vào giấc ngủ khi cậu về đến nơi. Cả ngày hôm nay nhóc ta ngoan như cục vàng, cô Anne đã khẳng định thế. Về phần mình, cô ấy đã trải qua ngày hạnh phúc nhất trong đời.

“Tôi không ngạc nhiên khi anh lại quấn quýt lấy thằng bé đến thế, M. Pujol,” cô nói. “Nó có những cử chỉ đáng yêu nhất trong số tất cả những đứa trẻ mà tôi từng gặp.”

“Vâng, thưa cô,” Aristide đáp, giọng khàn đục bất thường, “tôi vô cùng quấn quýt lấy nó. Có vẻ kỳ lạ khi một người đàn ông lại say mê một đứa trẻ chín tháng tuổi — nhưng — sự thật là thế. Đúng vậy. Je l’adore de tout mon cœur, de tout mon être,” cậu thốt lên trong một cơn bùng nổ đam mê bất chợt.

Cô Anne mỉm cười dịu dàng, chẳng mảy may hay biết về nỗi bận tâm của cậu, cô thấy sự nồng nhiệt mang phong cách miền Nam của cậu thật buồn cười. Cô Janet gia nhập nhóm ở sảnh. Họ cùng nhau đi ăn tối, Aristide ngồi ở bàn chung d’hôte ở giữa, còn hai người phụ nữ ngồi ở chiếc bàn nhỏ riêng của họ. Sau bữa tối, họ lại gặp nhau bên ngoài khách sạn, uống cà phê và trò chuyện qua hết buổi tối. Cậu không còn là một người bạn đồng hành rạng rỡ như đêm hôm trước nữa. Sự vui vẻ của cậu hoàn toàn là gượng gạo. Cậu nói về mọi thứ trên đời ngoại trừ Jean. Cậu kìm nén sự cám dỗ muốn trút bỏ những rắc rối tài chính của mình vào đôi tai đầy cảm thông của hai người phụ nữ quý giá này. Họ coi cậu ngang hàng về mặt xã hội, như một người đàn ông có của cải đang làm ăn kinh doanh gì đó ở Marseille; họ đã mời cậu đưa Jean đến thăm họ ở Chislehurst nếu có dịp quay lại nước Anh. Niềm kiêu hãnh cấm cậu thú nhận mình là một kẻ lang thang vô gia cư, khố rách áo ôm. Sự quyến rũ tuyệt vời trong sự thân mật bộc trực của họ sẽ bị phá vỡ. Hơn nữa, họ có thể làm gì được cơ chứ?

Họ đi ngủ sớm. Aristide lại tìm kiếm thông điệp từ những vì sao; nhưng bầu trời đã bị mây che khuất, và chẳng mấy chốc một cơn mưa phùn bắt đầu rơi. Một ly bia bock tại quán cà phê chẳng mang lại cho cậu sự an ủi hay nguồn cảm hứng nào cả. Cậu quay trở lại khách sạn, lẩn tránh bà chủ khách sạn đang khát tin tức, rồi đi thẳng lên phòng mình.

Phải làm gì đây? Cả đứa trẻ đang ngủ lẫn bản thân cậu đều chẳng thể đưa ra bất kỳ gợi ý nào. Có một điều phũ phàng là không thể tránh khỏi. Cậu và Jean phải chia tay nhau. Đưa nó đi đây đi đó như một vị hoàng tử nhỏ trong một chiếc ô tô xét cho cùng là một chuyện đơn giản; còn lôi nó lê lết qua những gian khổ chẳng biết ở đâu trong cái sự tồn tại chắp vá của mình là điều bất khả thi. Theo cách sống bốc đồng như trẻ con của mình, cậu đã chẳng nghĩ đến tương lai khi nhận nuôi Jean. Aristide luôn coi vận may của khoảnh khắc hiện tại như thể nó sẽ kéo dài mãi mãi. Những sự lừa dối trong quá khứ chưa bao giờ ảnh hưởng đến sự lạc quan không thể cứu chữa của cậu. Giờ đây Jean và cậu phải chia tay nhau. Aristide cảm thấy ngày tận thế đã đến. Tiếng bước đi qua đi lại của cậu làm đứa bé thức giấc, và nhóc ta đòi hỏi theo cách riêng của mình sự vỗ về đung đưa từ vòng tay của người cha. Ở đó, nó lí la lí lô và “ư ử” cho đến khi trái tim Aristide như muốn vỡ vụn.

“Ta phải làm gì với con đây, mon petit Jean?”

Rốt cuộc lại phải đưa vào Enfants Trouvés sao? Cậu nghĩ đến điều đó với một cái rùng mình.

Khi đứa trẻ đã ngủ trở lại, cậu đặt nó lên giường, rồi ngồi thao thức suốt đêm dài trong vô vọng. Cuối cùng, một trong những tia cảm hứng đột ngột bừng sáng trong tâm trí cậu. Đó là cách duy nhất. Cậu rút đồng hồ ra. Đã bốn giờ sáng. Những gì phải làm thì phải làm thật nhanh chóng.

Trong chiếc giỏ du lịch được gửi từ gara tới, cậu đặt một chiếc gối, và lên trên chiếc gối đó, với sự cẩn trọng đến nín thở, cậu chuyển bé Jean đang ngủ sang, rồi bọc nó lại thật ấm áp và snug trong chăn đệm. Sau đó, cậu gấp gọn những bộ quần áo mặc ban ngày nhỏ xíu nằm trên ghế, thu gom những món đồ lặt vặt thuộc về đứa trẻ, lấy từ va-li phần còn lại trong tủ quần áo nhỏ xíu của Jean và đặt chúng ở chân giỏ. Người đàn ông khốn khổ nhất nước Pháp lúc này đếm số tiền của mình, chia nó thành hai phần và viết một bức thư vội vã, rồi cùng với xấp tiền nhét vào một phong bì.

“Jean nhỏ bé của ta,” cậu vừa nói vừa đặt bức phong bì lên ngực đứa trẻ. “Đây là số tiền hơi nhỉnh hơn một nửa gia tài của ta. Một nửa dành cho con và phần dư ra chút ít để trả hóa đơn khách sạn cho người cha tồi tệ của con. Tạm biệt, Jean nhỏ của ta nhé. Je t’aime bien, tu sais — và đừng oán trách ta nhé.”

Khoảng một giờ sau, cô Anne thức dậy và lắng nghe, rồi chỉ một lát sau cô Janet cũng tỉnh giấc.

“Janet, chị có nghe thấy gì không?”

“Có tiếng trẻ con khóc. Nó ở ngay ngoài cửa phòng kìa.”

“Nghe giống tiếng của Jean ấy.”

“Vớ vẩn nào, em yêu!”

Nhưng Anne bật đèn lên và tự mình ra xem; và ở đó, trong căn phòng tiền sảnh nhỏ xíu ngăn cách phòng ngủ với hành lang, cô tìm thấy chiếc giỏ — một nàng công chúa Ai Cập thời hiện đại trước một cậu bé Moses nhỏ bé trong đám sậy lác. Trong sự ngỡ ngàng, cô mang chiếc nôi đó vào phòng và đọc bức thư gửi cho Janet và chính cô. Cô bật khóc nức nở. Tất cả những gì cô thốt lên chỉ là:

“Ôi Janet, sao anh ấy lại không nói với chúng ta cơ chứ?”

Và rồi cô ôm chầm lấy đứa trẻ vào ngực.

Trong khi đó, Aristide Pujol, đầu đội mũ da dê, mặc áo khoác da dê, tay xách va-li, đang lầm lũi bước đi trong cơn mưa để tìm kiếm thứ ảo ảnh khó nắm bắt mang tên Vận May; mang trong mình một sự chắc chắn huy hoàng rằng cậu đã đảm bảo tương lai cho Jean, nhưng đồng thời lại mang theo một nỗi đau thắt ở tim chưa từng có trong đời.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.