Những Cuộc Phiêu Lưu Đầy Hoan Lạc Của Aristide Pujol

Lượt đọc: 37 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V - Cuộc Phiêu Lưu Của Cái Đầu Heo

❊ ❊ ❊

XƯA KIA, Aristide Pujol thấy mình đứng bên ngoài nơi cư trú ở Paris, số 213 bis, phố Saint Honoré, mà trong túi không còn một xu dính túi. Đồng xu cuối cùng của anh đã thuộc về bà Bidoux, người trông coi một cửa hàng rau quả nhỏ xanh tươi ở số 213 bis và cho Aristide thuê một căn phòng nhỏ đến mức nực cười ở phía sau với một cái giá hàng tuần cũng nhỏ đến mức nực cười, mỗi khi anh chiếu cố đến thủ đô nước Pháp. Trong thời gian anh vắng mặt, bà giữ giùm những bức thư gửi đến cho anh; và vì đây là địa chỉ thường trú duy nhất của anh, lại thêm việc Aristide chỉ cho bà Bidoux biết tung tích của mình theo những khoảng thời gian mơ hồ, nên việc giao dịch thư tín với Aristide Pujol, “Đại lý, số 213 bis, phố Saint Honoré, Paris,” trở nên vô cùng khó khăn.

Anh đã quen biết bà Bidoux từ một quá khứ mờ mịt nào đó; và cuộc gặp gỡ ấy diễn ra theo cách thức trực tiếp và chớp nhoáng quen thuộc của anh. Nhân dịp đi dạo xuống phố Saint Honoré, anh đã chứng kiến một thảm kịch. Bà Bidoux, mập mạp, mặt đỏ bừng, mắt rưng rưng lệ và giọng nói thì thé thé, đang ôm trong tay một chú chó lai nhỏ - báu vật của đời bà - vừa mới bị xe tông ngoài đường, và cả hai người đang làm náo loạn cả không gian bằng tiếng khóc than cùng những lời la ó.

Aristide cất mũ, cứ như thể anh sắp sửa chào một nữ công tước, và nở nụ cười duyên dáng với bà.

– Thưa bà, – anh nói, – tôi nhận thấy chú chó nhỏ của bà bị gãy chân. Vì tôi rành mọi thứ về loài chó, xin phép bà, tôi sẽ nẹp lại xương, băng bó cố định và bảo đảm chữa khỏi hoàn toàn. Khỏi phải nói, tôi hoàn toàn không tính tiền dịch vụ của mình.

Chộp lấy con chó từ vòng tay của người phụ nữ đang ngẩn ngơ, anh lao vụt vào cửa hàng theo kiểu chuồn chuồn bay lượn, đưa ra hàng trăm mệnh lệnh cho một người phụ tá đang ngơ ngác, và – để rút ngắn câu chuyện mà Aristide đã kể lại cho tôi với rất nhiều chi tiết – anh đã chữa lành cho chú chó quý giá và giành được lòng biết ơn vô hạn của bà Bidoux. Đối với bà Bidoux, trên đời không có người đàn ông nào đáng chú ý hơn Aristide Pujol; và đối với Aristide, thế giới không có người bạn nào tận tụy hơn bà Bidoux. Nhiều bữa ăn ngon lành, do góa phụ tài trợ – chưa bao giờ thú vị hơn là vào mùa hè khi bà dọn một chiếc bàn sắt nhỏ cùng đôi ghế sắt ra vỉa hè trước cửa hàng – đã cứu anh khỏi cảnh chết đói; và bao nhiêu món đồ trang sức linh tinh gửi từ Luân Đôn hay Marseilles hoặc những vùng đất xa xôi tương tự đã làm ngập tràn trái tim bà niềm tự hào. Kể từ khi quen biết Aristide, bản thân tôi cũng từng đến thăm người phụ nữ tuyệt vời này, và tôi hy vọng mình đã chiếm được cảm tình của bà, dẫu tôi chưa bao giờ có vinh dự được ăn món chân giò heo và dưa cải muối cùng bà trên vỉa hè phố Saint Honoré. Đó là một vinh dự mà một người khiêm tốn như tôi cảm thấy e dè.

Đáng tiếc là bà Bidoux không còn liên quan gì đến câu chuyện mà tôi chuẩn bị kể nữa, ngoại trừ một điểm duy nhất:—

Đã có một ngày – đó là một ngày tháng Mười u ám, khi những khó khăn tài chính tạm thời của bà Bidoux trùng hợp với hoàn cảnh của Aristide. Không hề hay biết về sự trùng hợp ngẫu nhiên này, bà đã tâm sự với anh về những rắc rối của mình. Anh liền dốc sạch những đồng tiền ít ỏi trong ví vào tay bà.

– Bà Bidoux, – anh vừa nói vừa vung tay điệu bộ như một vị hoàng tử, – sao bà không nói với tôi từ trước? – và không đợi lời chúc phúc của bà, anh bước ra đường tay trắng.

Aristide chưa bao giờ hạnh phúc hơn khi trong thiên hạ anh không có nổi một xu dẻ dách. Tôi mường tượng rằng, anh có một niềm tin mơ hồ nào đó vào Thiên Chúa, Đức Mẹ, Nước Thánh và Đức Giáo Hoàng; nhưng niềm tin khiến anh say sưa đến mức thăng hoa chính là niềm tin vào việc những điều bất ngờ chắc chắn sẽ xảy ra. Anh hiên ngang bước đi để đón chào nó với nhịp đập rộn ràng của một người lính xông trận giành chiến thắng hay một vị thánh chịu tử đạo. Anh đi ngược phố Saint Honoré, phố de la Paix, dọc theo các Đại lộ Lớn, mỉm cười với một thế giới ngập tràn những điều bất ngờ, cho đến khi anh đến một quán cà phê trên Đại lộ des Bonnes Filles de Calvaire. Nơi đây, anh bị Số phận chặn đứng, dưới hình hài một người đàn ông rách rưới mặc đồ đen, từ góc sân hiu hắt lao ra, ôm chầm lấy anh và hôn lên cả hai má.

– Ma vàu, xê tút toa, Pujol! (Mais, c’est toi, Pujol!)

– Xê tút toa, Roulard! (C’est toi, Roulard!)

Roulard kéo Aristide vào chiếc bàn lạnh ngắt của anh ta và gọi đồ uống. Roulard từng thổi kèn trumpet trong ban nhạc trung đoàn nơi Aristide từng đánh trống định âm. Trong thời gian tại ngũ, họ như hình với bóng. Kể từ những ngày tháng hạnh phúc và điếc cả tai ấy, họ chưa từng gặp lại nhau. Họ nhìn nhau, cười lớn và đập vào vai nhau.

– Ôi lão Roulard già! (Ce vieux Roulard!)

– Lão Pujol chết tiệt! (Ce sacré Pujol.)

– Và anh đang làm gì thế? – Aristide hỏi, sau những phút giây kinh ngạc và ôn lại chuyện cũ qua đi.

Một đám mây xám xịt phủ lên nét mặt của người đàn ông tơi tả. Anh ta có một người vợ và năm đứa con, hiện đang chơi đàn trong các dàn nhạc kịch. Vào thời điểm này, anh ta là tay kèn trombone trong đoàn kịch hát lưu động “Tournée Gulland”. Cuộc sống chẳng có gì vui vẻ đối với một nghệ sĩ nhạy cảm như anh ta, và kèn trombone khiến người ta khát khô cổ đến mức phải tốn nửa tuần lương mới giải tỏa nổi. Nhưng biết sao được, đành chịu thôi? (Mais enfin, que veux-tu?) Đó là cuộc đời, một cuộc đời chó má, nhưng cuộc đời vốn dĩ là thế. Anh ta đoán chắc Aristide đang kiếm được khối tiền. Aristide ngả đầu ra sau, cười vang trước sự hài hước đến tột cùng của giả thiết đó, rồi vui vẻ thổ lộ hoàn cảnh nghèo túng chẳng khác gì Micawber của mình. Roulard ngồi trầm ngâm im lặng một lúc. Chẳng mấy chốc, một tia cảm hứng đã xua tan đám mây mù trên gương mặt tơi tả ấy.

– Nghe này, anh bạn già, – anh ta nói, – tôi có một ý hay.

Đó là một ý kiến rất đáng để Aristide cân nhắc. Tay đánh trống của đoàn Tournée Gulland vừa bị sa thải vì tội say xỉn. Vị trí trống vẫn chưa có ai thay thế. Nhiều nghệ sĩ từng đến đánh thử việc – đây lại là tuần nghỉ của chuyến lưu diễn – đã khiến người nhạc trưởng suýt phát điên vì muốn giết người. Tại sao Aristide, một bậc thầy về nghệ sĩ đánh trống, lại không tìm một vị trí danh giá trong dàn nhạc của đoàn Tournée Gulland chứ?

Đôi mắt Aristide ánh lên, đôi ngón tay anh ngứa ngáy thèm cầm dìu trống, anh vùng đứng dậy.

– Ôi anh bạn Roulard già của tôi! – anh kêu lên, – anh đã cứu đời tôi. Hơn thế nữa, anh đã hồi sinh một nghệ sĩ. Đúng vậy, một nghệ sĩ. Thề có Chúa! Hãy đưa tôi đến gặp người nhạc trưởng này.

Thế là Roulard, khi giờ tập luyện đã cận kề, bèn dẫn Aristide đến góc khuất u tối của một nhà hát nhỏ tồi tàn ở Batignolles, nơi Aristide đã biểu diễn những màn tấu trống thần sầu đến mức anh được nhận ngay vào làm tay trống cho đoàn Tournée Gulland với mức lương lóa mắt ba mươi franc một tuần.

Kể lại chuyện Aristide đã đánh trống và chập cheng cho các vở Les Huguenots, Carmen, La Juive, La Fille de Madame Angot và L’Arlésienne xuyên suốt nước Pháp chẳng khác nào viết lại cuốn “Capitaine Fracasse”. Nghe gã này ba hoa về chuyện đó khiến cổ họng tôi khô khốc như lò gạch và da gà da cóc nổi lên hết cả. Anh ta chính là Adonis, là Apollo, là Don Juan, là kẻ không thể cưỡng lại của đoàn lưu diễn. Mấy tay bass hung hăng và tenor kiêu kỳ đều phải chuồn mất dạng khi có mặt anh; từ các nữ danh ca cho đến nữ ca sĩ giọng trầm để ria mép trong dàn hợp xướng, tất cả phụ nữ đều nín thở chờ đợi chiếc khăn tay của anh rơi xuống; trên thực tế, anh được công nhận là một gã sát gái cự phách. Nhưng bất chấp những chiến tích đó, việc khua chiêng múa trống, đánh trống định âm, tam giác, chập cheng, xéc-ba-nê và tambourine, dẫu ban đầu mang lại cho anh niềm vui sướng tột cùng và trẻ con, cuối cùng lại biến thành một sự đơn điệu máy móc khiến anh gần như phát điên. Suốt cả ngày dài, ý nghĩ về góc khuất thiếu ánh sáng ở phía cực hữu của dàn nhạc, nơi có những thứ nhạc cụ gây ồn ào đáng nguyền rủa mà nghĩa vụ buộc anh phải lao vào lúc tám giờ tối, cứ lơ lửng trên đầu anh như một định mệnh gớm ghiếc. Những nữ ca sĩ có giọng ca ngọt ngào cũng đành bất lực chẳng thể an ủi nổi anh. Anh lạnh lùng bước qua họ, để rồi mấy tay tenor kiêu kỳ và bass nghênh ngang lại được dịp lấy lại can đảm.

– Nhưng lạy Chúa, đó là nghề nghiệp mà! – Roulard thanh minh.

– Một cái nghề chết tiệt! – Aristide thốt lên. Anh vốn dĩ không hề phù hợp với guồng quay tàn nhẫn của một dàn nhạc nhà hát, chẳng khác nào loài ngựa vằn quagga mà lại bắt kéo xe ngựa công cộng cả. – Đúng là cái nghề hành xác! Người ta chẳng còn ra con người nữa. Chỉ là một cỗ máy tự động phát tín hiệu sương mù mà thôi!

Trong tâm trạng sa đọa đó, anh đã đặt chân đến Perpignan, nơi xảy ra câu chuyện mà tôi sắp kể sau đây.

Giờ thì hãy nói về Perpignan, thị trấn cực nam của nước Pháp nằm bên vịnh Lions, cách biên giới Tây Ban Nha vài dặm. Từ đây, bạn có thể nhìn thấy gã khổng lồ trắng xóa Le Canigou, niềm tự hào của vùng Pyrénées Đông, đứng sừng sững ở đằng xa tắp, chắn ngang thung lũng sông Têt đang lững lờ trôi qua thị trấn nhỏ. Quai Sadi-Carnot (có thị trấn tỉnh lẻ nào ở nước Pháp mà không có lấy một con đường hay quảng trường mang tên Sadi-Carnot đâu cơ chứ?) nằm ở bờ trái sông Têt; một đầu là quảng trường hiện đại Place Arago, đầu kia là Le Castillet, một pháo đài bằng gạch đỏ hình tròn có các lỗ châu mai vô cùng dài và sâu mang kiến trúc thế kỷ 14, cùng một vài phần được xây thêm dưới thời Louis XI (vị vua cũng cho xây dựng Porte Notre Dame liền kề để làm lối vào thành phố). Nằm giữa Castillet và Place Arago, Quai Sadi-Carnot là nơi tọa lạc của Tòa thị chính (Préfecture), Khách sạn Lớn (Grand Hôtel), nhiều biệt thự cùng các khu nghỉ dưỡng khác của giới quý tộc. Bất kỳ con phố nhỏ nào rẽ khỏi đây cũng sẽ dẫn bạn bước vào trung tâm sôi sục của nhịp sống Perpignan – Place de la Loge, một khu nhà cổ rộng lớn được bao quanh bởi bốn bề là những con phố hẹp bày bán cửa hiệu, quán cà phê, nhà riêng, nơi đâu cũng có ban công và cửa chớp che nắng, tất cả đều chật chội, rêu phong, mang đậm phong cách Tây Ban Nha và đẹp như tranh vẽ. Cổ kính nhất trong khối kiến trúc hỗn hợp này là tòa nhà nằm ở góc phố, Loge de Mer, một cung điện thế kỷ XIII từng là sở giao dịch vải vóc trong những ngày tháng huy hoàng khi Perpignan còn là thành phố cảng và các vương công thương gia nơi đây buôn bán với các vị Sultan, Doge cùng những bậc quyền quý tương tự ở Địa Trung Hải. Thế nhưng ngày nay vinh quang ấy đã phai tàn. Ngay bên dưới những ô cửa sổ lớn theo phong cách Gothic là mái hiên của một quán cà phê chiếm trọn tầng trệt. Ôm sát lấy nó là tòa Mairie (Tòa thị chính nhỏ), và ôm sát tòa đó là Hôtel de Ville. Nơi đây, mọi tâm hồn trong thị trấn kiểu gì cũng phải hướng về vào một thời điểm nào đó trong ngày. Luật sư và khách hàng, bác sĩ và bệnh nhân, thương nhân, những đôi tình nhân, binh lính, những bà bán hàng ngoài chợ, kẻ lang thang, ngựa, chó, xe ngựa, tất cả chen chúc trong một khung cảnh hỗn độn ồn ào dọc theo những con đường nhỏ lát đá cuội xung quanh quảng trường Loge. Tất nhiên, vẫn còn những con phố khác quanh co, nồng nặc mùi và mát mẻ đan xen trong phố cổ, cùng nhiều không gian mở khác, nổi bật trong số đó là quảng trường chợ rộng lớn với một bên kề cận nhà hát thành phố Théâtre Municipal.

Từ nhà hát, Aristide Pujol bước ra vào một buổi sáng sau buổi tổng duyệt, và để mặc các đồng nghiệp, trong đó có cả tay Roulard lúc nào cũng khát cổ họng, tự giải khát ở một quán cà phê khiêm tốn gần đó, anh một mình đi tìm khuây khỏa. Anh lảng vảng quanh Place de la Loge, trò chuyện lơ đễnh với một bồi bàn cho đến khi người này thốt lên câu “Voilà! Voilà!” đầy mất tập trung rồi cắm cổ chạy đi phục vụ khách, đoạn anh thong thả đi qua Porte Notre Dame để ra Quai Sadi-Carnot. Ở đó, một âm thanh quen thuộc lọt vào tai anh – tiếng trống dồn theo sau là những lời rao bằng một giọng cao vút, run rẩy. Đó chính là Người rao mõ của thị trấn, người mà anh đã kịp làm quen như những người anh em nghệ sĩ vào ngày hôm trước.

Họ gặp nhau bên bức tường chắn dọc bờ kè Quai, đúng lúc cha Bracasse vừa dứt tiếng rao. Ông lão đầu tóc điểm bạc, da ngăm đen và chi chít nếp nhăn, tựa người đầy mệt mỏi vào lan hiên.

– Dạo này thế nào rồi, cha Bracasse?

– Hỡi ôi, thưa ngài tốt bụng, mọi chuyện chỉ từ tệ đến tệ hơn, – ông lão thở dài. – Tôi đã kiệt sức rồi. Giọng tôi mất hẳn, còn cái chứng thấp khớp quái ác ở vai cứ hành hạ tôi đau đớn khôn cùng mỗi khi tôi đánh trống.

– Ông còn phải đi bao nhiêu vòng nữa? – Aristide hỏi.

– Tôi mới chỉ bắt đầu thôi, – cha Bracasse đáp.

Ánh nắng miền Nam tỏa xuống từ bầu trời không một gợn mây; cơn gió nhẹ sắc lạnh thổi từ ngọn núi Canigou phủ đầy tuyết ở đằng xa làm máu huyết rần rật chảy. Một ý nghĩ điên rồ lóe lên trong đầu Aristide. Anh giật phăng quai đeo trống qua đầu ông lão.

– Cha Bracasse, – anh nói, – cha đang bị thấp khớp, viêm phế quản, sốt và cả chai chân, thế nên cha phải về nhà lên giường nằm ngay. Tôi sẽ đi nốt vòng thay cha. Lắng nghe này, – và anh nện một hồi trống giòn giã mà cha Bracasse chưa từng làm được trong đời. – Lời rao của ông đâu?

Ông lão quá mệt mỏi chẳng còn sức chống cự và bị mê hoặc bởi đôi mắt đang cười của Aristide, bèn chìa ra một tờ giấy dơ bẩn. Aristide đọc lướt qua, tung một hồi trống tuyệt mỹ và lớn tiếng tuyên bố bằng giọng vang sảng như kèn đồng rằng một chiếc vòng tay bằng vàng đã bị mất vào chiều Chủ nhật tại Avenue des Platanes, ai nhặt được đem nộp tại Tòa thị chính sẽ được hậu tạ.

– Chỉ vậy thôi sao? – anh hỏi lại.

– Chỉ vậy thôi, – cha Bracasse đáp. – Nhà tôi ở số 4, phố Rue Petite-de-la-Réal, cậu đem trống trả lại cho tôi ở đó khi làm xong nhé.

Aristide phóng đi như một con chuồn chuồn dưới ánh nắng, hạnh phúc chẳng khác nào một đứa trẻ được món đồ chơi mới. Ở đây, anh có thể đánh trống thỏa thích mà chẳng có bản nhạc hay chiếc đũa thần của nhạc trưởng nào làm phiền. Anh cũng là nhân vật độc nhất vô nhị trong vở kịch đời này, thu hút toàn bộ sự chú ý của khán giả về phía mình. Anh chợt thương cho Roulard tội nghiệp, kẻ chẳng bao giờ có được cơ hội tuyệt vời như thế với cây kèn trombone của hắn...

Hiệu ứng từ tiếng trống của anh trước Café de la Loge quả thật kỳ diệu. Chủ các cửa hiệu chạy túa ra ngoài, các bà nội trợ rướn người qua ban công để lắng nghe. Đến khi anh len lỏi qua khu phố sầm uất và bước ra Place Arago, anh đã thu hút được một đám đông trẻ con ngưỡng mộ theo sau. Tại Place Arago, anh dừng lại ở rìa một đám đông đang vây quanh một gã hàng rong bán thuốc dạo, tiếng trống sấm sét của anh lập tức át đi giọng rao huyên náo của tay kia. Anh cứ đánh trống mãi, đánh liên hồi cho đến khi trở thành tâm điểm của biển người. Sau đó, anh dõng dạc rao về chiếc vòng tay. Đã lâu lắm rồi, kể từ khi rời Paris, anh mới lại có cảm giác vui sướng đến thế.

Anh sải bước bỏ đi với đôi mắt ngời sáng và tâm trạng vui tươi, đằng sau là đám đông bám theo như vệ tinh khi một quý ô lịch lãm với khuôn mặt đỏ bừng, lớp mỡ cổ ngấn mỡ sang trọng cùng dải ruy băng Bắc Đẩu Bội Tinh cài trên khuy áo, bước xuống những bậc thềm của quán cà phê mái kính lớn nhìn ra quảng trường, vội vã tiến đến đặt ngón tay lên tay áo anh.

– Xin lỗi, bạn trẻ, – ông ta nói, – anh đang làm gì thế?

– Ngài sẽ nghe thấy ngay thôi, thưa ngài, – Aristide đáp, tay vẫn nắm chặt dùi trống.

– Vì tình Chúa! – vị kia hoảng hốt ngắt lời. – Hãy nói cho tôi biết anh đang làm gì vậy?

– Tôi đang rao tìm chiếc vòng tay bị mất, thưa ngài!

– Nhưng anh là ai?

– Tôi là Aristide Pujol, và tôi chơi trống, trống định âm, tam giác, chập cheng, xéc-ba-nê và tambourine trong dàn nhạc của đoàn Tournée Gulland. Và giờ, đến lượt tôi, tôi có thể hỏi mình đang có vinh dự nói chuyện với ai không?

– Tôi là Thị trưởng Perpignan.

Aristide lịch sự ngả mũ. – Tôi rất hy vọng, – anh nói, – có được vinh dự hiểu biết hơn về Ngài Thị trưởng.

Vị Thị trưởng, bị thu hút bởi sự châm biếm ngây thơ của gã lưu manh, bật cười.

– Anh sẽ có dịp đấy, anh bạn trẻ, nếu anh cứ tiếp tục đánh cái trống đó. Anh đâu phải là người rao mõ của thị trấn.

Aristide bèn giải thích. Cha Bracasse đang ốm, mắc bệnh thấp khớp, viêm phế quản, sốt và chai chân. Anh chỉ đang làm thay ông ấy thôi. Vị Thị trưởng vặn lại rằng cha Bracasse là một viên chức thành phố nên không thể chuyển giao chức năng của mình nếu không qua cơ quan hành chính. Ngài Pujol phải ngưng ngay việc đánh trống và rao hàng lại. Aristide cúi đầu tuân lệnh chính quyền và tháo quai trống xuống.

– Nhưng tôi đang rất vui mà, Ngài Thị trưởng. Ngài đã phá hỏng ngày vui của tôi rồi đấy, – anh nói.

Vị Thị trưởng lại cười lớn. Gã này toát lên một sức hút khó cưỡng và đầy vẻ tinh quái với khuôn mặt bầu dục thông minh, bộ râu Vandyke đen nhánh và đôi mắt sáng rực rỡ như có phép thuật.

– Tôi cứ tưởng anh đã chán ngấy mấy cái trống trong dàn nhạc của anh rồi chứ.

– A! Ở đó tôi bị gò bó lắm! – Aristide kêu lên. – Tôi căm ghét nó, ghê tởm nó tận xương tủy. Còn ở đây tôi được tự do. Tôi có thể bộc lộ mọi khát vọng của tâm hồn mình!

Vị Thị trưởng vô thức bước đi khỏi chỗ họ vừa đứng. Aristide, vừa vẽ vời thêm cho chủ đề của mình, vừa vô thức bước theo; và ngặt nỗi nước Pháp dân chủ là thế, lại thêm sức mạnh ma mị kiểu "Lão thủy thủ già" của Aristide – chẳng phải chính tôi, trong lần đầu gặp gỡ anh ở Aigues-Mortes, cũng đã rơi vào bùa mê của anh một cách bất lực hay sao – chỉ trong chốc lát, tên người rao mõ nghiệp dư và vị Thị trưởng đã cùng nhau rảo bước bên nhau dọc theo Quai Sadi-Carnot, say sưa trò chuyện một cách cởi mở. Aristide kể cho vị Thị trưởng nghe câu chuyện cuộc đời mình – hoặc những chi tiết phù hợp với tai của một vị Thị trưởng – và khi họ chia tay – vị Thị trưởng đi ăn trưa, còn Aristide mang trả chiếc trống bị cấm về cho cha Bracasse – họ bắt tay nhau nồng nhiệt và cùng bày tỏ mong muốn sớm được gặp lại nhau.

Và họ đã gặp lại nhau; chính Aristide đã sắp xếp việc đó. Họ gặp lại nhau ngay chiều hôm đó tại quán cà phê trên quảng trường Place Arago. Khi Aristide bước vào, anh thấy vị Thị trưởng đang ngồi ở một bàn cùng một quý ông bề thế khác cũng có dải ruy băng đỏ trên ngực áo. Aristide lịch sự chào và hướng về phía vị Thị trưởng. Vị Thị trưởng đáp lễ và giới thiệu anh với Monsieur Quérin, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch (Syndicat d’Initiative) của thị trấn Perpignan. Monsieur Quérin chào hỏi và tuyên bố vô cùng mê mẩn trước cuộc gặp gỡ này. Aristide đứng trò chuyện rôm rả cho đến khi vị Thị trưởng mời anh ngồi vào bàn và cùng thưởng thức đồ uống. Aristide hào hứng nhận lời mời và liếc một cái đầy đắc thắng quanh quán cà phê. Đâu phải phàm nhân nào cũng có vinh dự được làm bạn tri kỷ của một vị Thị trưởng và một Chủ tịch Hiệp hội Du lịch!

Và rồi, một cuộc trò chuyện mang tính bước ngoặt đã diễn ra.

Hiệp hội Du lịch (Syndicat d’Initiative) là một tổ chức bán chính thức tồn tại ở hầu hết các thị trấn tỉnh lẻ ở nước Pháp nhằm mục đích tổ chức các lễ hội công cộng cho người dân và khai thác các nguồn lực cũng như tiềm năng của thị trấn để làm hài lòng du khách nói chung. Phải thừa nhận rằng Perpignan vốn dĩ vô cùng đẹp như tranh vẽ, ngập tràn ánh nắng và, bất chấp những cơn gió lạnh ngắt tramontana, thậm chí còn là một nơi vui tươi chẳng kém gì bất kỳ điểm đến nào mà khách du lịch hằng mong ước; và Lễ hội hóa trang Carnival của Perpignan, như một sự bùng nổ tự hoan ca của niềm vui và sắc màu, là nét độc nhất vô nhị ở nước Pháp. Nhưng vì Perpignan nằm ở tận cùng của mọi ngóc ngách và chẳng dẫn đến đâu nên nó thu hút rất ít du khách. Biarritz nằm bên bờ Đại Tây Dương ở đầu bên kia dãy Pyrénées; Hyères, Cannes và Monte Carlo lại nằm ở phía bên kia vịnh Lions. Chẳng có người Anh hay người Mỹ nào – những vị khách duy nhất có trọng lượng trong triết lý du lịch tỉnh lẻ của nước Pháp – đổ xô đến Perpignan cả. Đây là một thực tế đáng buồn khiến Monsieur Quérin phải than thở. Thị trấn đang lụi tàn vì thiếu sự ủng hộ của người Anglo-Saxon. Monsieur Coquereau, vị Thị trưởng, hoàn toàn đồng tình. Nếu người Anh và người Mỹ kéo đến từng đàn tới thiên đường hoa trinh nữ, kiến trúc thế kỷ XIV, ánh nắng mặt trời và lễ hội Carnival có một không hai này, vận mệnh của toàn thể người dân sẽ được đảm bảo. Perpignan sẽ vượt qua cả Nice để trở thành đối thủ đáng gờm. Nhưng phải làm gì đây?

– Hãy quảng cáo nó đi, – Aristide hiến kế. – Ngập tràn thế giới nói tiếng Anh bằng những mô tả đậm chất thơ về nơi này. Xây dựng một dãy khách sạn sang trọng ở khu vực mới của thị trấn. Người Anglo-Saxon vốn chưa hề biết đến nơi này đâu.

– Sao anh có thể chắc chắn điều đó? – Monsieur Quérin hỏi.

– Parbleu! – anh kêu lên, vung rộng hai tay. – Tôi đã hiểu biết về người Anh suốt cả đời mình. Tôi nói ngôn ngữ của họ sõi như tiếng Pháp hay tiếng Provençal mẹ đẻ của tôi. Tôi từng dạy học ở các trường học bên Anh. Tôi rành giọt đất nước và con người họ như trong lòng bàn tay. Họ chưa từng nghe nói đến Perpignan bao giờ.

Những người bạn đồng hành của anh buồn rầu gật đầu đồng tình. Aristide, rực cháy với một nguồn cảm hứng ngạo mạn chợt bùng lên, chồm người qua chiếc bàn cẩm thạch.

– Thưa Ngài Thị trưởng và Ngài Chủ tịch Hiệp hội Du lịch, tôi đã phát ngấy đến tận cổ việc đánh trống, trống định âm, tam giác, chập cheng, xéc-ba-nê và tambourine trong đoàn Tournée Gulland rồi. Tôi sinh ra là dành cho những tầm cao lớn hơn. Hãy giao cho tôi – anh chụm các đầu ngón tay của cả hai bàn tay vào ngực mình – giao cho tôi, Aristide Pujol, việc tổ chức chiến dịch "Perpignan-Ville de Plaisir" (Perpignan - Thành phố của những niềm vui), và các ngài sẽ không phải hối tiếc đâu.

Vị Thị trưởng và vị Chủ tịch bật cười.

Thế nhưng người bạn kỳ lạ của tôi đã thành công – tất nhiên không phải đến mức được bổ nhiệm làm một Petronius, bậc thầy định hình phong cách (arbiter élégantiarum), của thị trấn Perpignan; nhưng chí ít cũng được thuê mướn, dường như ở một vị trí cấp dưới, bởi vị Thị trưởng và Hiệp hội trong công tác tuyên truyền. Đoàn Tournée Gulland đành tìm một tay trống khác và tiếp tục cuộc hành trình đầy giai điệu nhưng mỏi mệt của họ; còn Aristide thì vinh quang ở lại và xoa tay hoan hỉ. Cuối cùng, anh đã tìm thấy sự ổn định trong một cuộc đời vốn dĩ trước nay chỉ toàn là những điều thoáng qua. Cuối cùng, anh đã tìm thấy một sân chơi xứng tầm với thiên tài của mình. Anh bắt đầu nuôi dưỡng những tham vọng điên rồ. Anh sẽ trở thành Ân nhân vĩ đại của Perpignan. Toàn bộ vùng Roussillon sẽ phải tôn vinh tên tuổi anh. Anh đã mường tượng ra bức tượng của mình sừng sững trên Quai Sadi-Carnot.

Sự thăng tiến của anh trong bậc thang xã hội của thị trấn diễn ra nhanh như chớp, chủ yếu nhờ thiện ý của bà Madame Coquereau, thân mẫu góa phụ của vị Thị trưởng. Bà là một cụ bà có nét mặt khắc khổ, với gương mặt tựa như làm bằng tôn lượn sóng sơn màu vàng cùng đôi mắt sắc lẹm của một con diều hâu già. Bà lúc nào cũng mặc đồ đen, rất sùng đạo, giàu có, cố chấp và mang ý chí sắt đá. Aristide được giới thiệu với bà vào một chiều Chủ nhật tại quán cà phê trên quảng trường Place Arago – nơi vào các buổi chiều Chủ nhật, toàn bộ tầng lớp thượng lưu sành điệu của Perpignan tề tựu đông đủ – và – tôi có cần phải nói điều đó không? – bà lập tức sập bẫy, trở thành nạn nhân bất lực trước sức hút của anh. Đi cùng với bà là tiểu thư Stéphanie Coquereau, cháu gái của vị Thị trưởng (một cô mồ côi giàu có, như Aristide nhanh chóng tìm hiểu được), mười chín tuổi, xinh xắn, nết na, được giáo dục cực kỳ quy củ, luôn thưa "Oui, Monsieur" (Vâng, thưa ông) và "Non, Monsieur" (Không, thưa ông) với nét duyên dáng thùy mị đậm chất tu viện tỉnh lẻ Pháp.

Trái tim Aristide liền rời khỏi lồng ngực và lăn lóc dưới chân tiểu thư Stéphanie. Đó vốn là thói quen của trái tim Aristide. Nó lúc nào cũng làm thế. Anh là người vùng Provence chứ không phải ở Peckham Rye hay Hoboken, và anh chẳng thể cưỡng lại được.

Aristide đến thăm bà Coquereau, người đã tiếp đãi anh bằng rượu vang Frontignan ngọt ngào, bánh quy xốp khô và những câu chuyện trò. Chẳng bao lâu sau, anh được mời ở lại ăn tối. Chỉ trong một thời gian ngắn, anh trở thành chỗ thân tình trong nhà, chơi bài piquet với bà Coquereau, và nắm rõ như lòng bàn tay những bí mật gia đình. Đầu tiên, anh hay tin tiểu thư Stéphanie khi đi lấy chồng sẽ mang theo một trăm năm mươi ngàn franc hồi môn. Trái tim Aristide đập thình thịch dưới chân tiểu thư Stéphanie. Thêm nữa, anh thu lượm được rằng, dẫu Monsieur Coquereau là một nhân vật có tiếng tăm và trọng vọng trong các công việc thành phố, nhưng trong chính ngôi nhà của mình, ông chẳng khác nào một đứa trẻ. Bà Coquereau mới là kẻ nắm giữ túi tiền. Con trai bà chẳng có mấy tài sản riêng. Ông đã bước sang tuổi bốn mươi lăm mà vẫn chưa thể kết hôn. Việc kết hôn mà không được sự cho phép của bà Coquereau đồng nghĩa với sự nghèo đói nhãn tiền và di chúc sang tên toàn bộ gia tài của bà Coquereau cho các cơ sở tôn giáo khác nhau. Chẳng có bóng hồng nào lọt vào mắt xanh của Monsieur Coquereau mà làm bà Coquereau vừa ý, và ngược lại, chẳng có ứng viên nào được bà Coquereau đỏ mặt tía tai chấm chọn lại khiến nhịp đập trái tim Monsieur Coquereau rung rinh hơn chút nào. Vị Thị trưởng bày tỏ sự tôn sùng và nỗi sợ hãi tột cùng trước người mẹ kính yêu. Bà nắm thóp ông trong sự phục tùng tuyệt đối. Aristide lần lượt trở thành người tâm sự với triết lý sống chua cay của người mẹ và sự bất lực tuyệt vọng của người con. Còn về phần tiểu thư Stéphanie, cô vẫn tiếp tục thưa "Oui, Monsieur" và "Non, Monsieur" với một âm điệu ngày càng tăng dần độ đoan trang đến phát điên.

Cứ thế, những giờ phút thần tiên trôi qua. Ban ngày, trong một góc văn phòng của vị Thị trưởng, Aristide phác thảo những bản thông cáo hoa mỹ bằng tiếng Anh có lẽ sẽ khiến một tay môi giới nhà đất đang phất ở New Jerusalem cũng phải đỏ mặt ngượng ngùng, còn buổi tối anh chơi bài piquet với bà Coquereau, trong khi tiểu thư Stéphanie, hình mẫu của sự sùng đạo nết na, cặm cụi thêu thùa những hình chim chóc và hoa lá thuần khiết nhưng không tên trên khung thêu của mình. Đương nhiên là sau bữa tối, Ngài Thị trưởng lại đi chơi bài manilla ở quán cà phê, và thường chỉ về nhà ngay trước lúc Aristide chào ra về. Nếu không có sự hiện diện của tiểu thư Stéphanie, cuộc sống của Aristide hẳn đã chẳng có chút vui thú nào. Nhưng tình yêu đã dát vàng lên từng khoảnh khắc.

Vào buổi tối đầu tiên của mùa lễ hội Carnival – kéo dài gần hai tuần lễ ở Perpignan, Aristide, bất chấp một câu đáp "Oui, Monsieur" ngọt ngào hơn bao giờ hết từ tiểu thư Stéphanie, đã kiếm cớ chuồn về sớm hơn thường lệ một chút, và khi cánh cửa trước khép lại sau lưng, anh sải bước nhanh qua dải sỏi và phóng qua cánh cổng sắt. Phải biết rằng ngôi nhà nằm ở một vị trí biệt lập thuộc khu phố mới của thành phố. Nó mang dáng dấp phô trương, hiện đại và bị làm xấu đi bởi đủ loại cửa sổ lồi, tháp pháo cùng chóp nhọn khiến nó trông có vẻ nặng nề phần trên, và xung quanh được bao bọc bởi một bức tường gạch thấp. Khi vừa bước qua cánh cổng sắt, Aristide nghe thấy tiếng bước chân chạy vội vã ở phía bức tường gần thị trấn nhất, và anh đến góc tường ngay kịp lúc để nhìn thấy một kẻ hóa trang trong bộ trang phục Pierrot và đội thứ trông giống như một chiếc đầu heo đang khuất dạng sau khúc cua phía xa. Không mảy may quan tâm đến hiện tượng kỳ lạ này, Aristide châm một điếu thuốc và thong thả rảo bước đầy háo hức tới Đại lộ des Plantanes rộng lớn, nơi diễn ra các hoạt động vui chơi cuồng nhiệt của lễ hội Carnival. Aristide còn trẻ, anh thích tán tỉnh, và trò tán tỉnh thì đang nở rộ ở Đại lộ des Plantanes.

Sáng hôm sau, vị Thị trưởng bước vào văn phòng với một gương mặt vô cùng nghiêm trọng.

– Anh có biết chuyện gì đã xảy ra không? Nhà tôi đã bị trộm đột nhập vào đêm qua. Két sắt trong phòng làm việc của tôi đã bị cạy tung, và ba ngàn franc cùng một số trang sức quý giá đã bị đánh cắp. Thật là một tai họa lớn! (Quel malheur!) – ông kêu lên, ngả người phịch xuống ghế và lau trán. – Tôi đâu phải người có khả năng mất ngay ba ngàn franc mà không xót xa. Giá mà chúng khoắng tiền của maman (mẹ) thì lại là chuyện khác rồi.

Aristide bày tỏ sự đồng cảm.

– Ngài nghi ngờ ai chứ? – anh hỏi.

– Tên trộm chứ ai, parbleu! – vị Thị trưởng đáp. – Cảnh sát hiện đang tiến hành điều tra rồi đây.

Cánh cửa mở ra và một thám tử mặc thường phục bước vào văn phòng.

– Thưa Ngài Thị trưởng, – hắn nói với vẻ mặt đầy đắc thắng, – tôi biết mặt kẻ trộm rồi.

Cả hai người đàn ông vùng đứng dậy.

– A! – Aristide thốt lên.

– Khá lắm! (A la bonne heure!) – vị Thị trưởng reo lên.

– Bắt cổ hắn ngay lập tức đi, – Aristide giục.

– Thưa ngài, rất tiếc là tôi chưa thể làm thế, – viên thám tử đáp. – Tôi vừa ghé nhà hắn sáng nay và vợ hắn bảo rằng hắn đã đi miền Bắc từ chiều hôm qua rồi. Nhưng chính José Puégas là kẻ đã nhúng tay vào vụ này. Tôi rõ đường đi nước bước của hắn quá mà.

– Chà! – vị Thị trưởng trầm ngâm nói. – Tôi cũng biết rõ hắn, một tên ác ôn.

– Nhưng sao các anh chưa chịu đi lùng bắt hắn? – Aristide lớn tiếng hỏi.

– Mọi sự sắp xếp đã được chuẩn bị đâu vào đấy rồi, – viên thám tử lạnh lùng đáp.

Aristide chợt nhớ ra kẻ hóa trang lén lút vào đêm hôm trước.

– Tôi có thể chỉ đường dẫn lối cho các anh bắt hắn, – anh nói, rồi kể lại những gì mình đã chứng kiến.

Vị Thị trưởng tỏ vẻ hoài nghi. – Không phải hắn đâu, – ông nhận xét.

– José Puégas, thưa ngài, sẽ chẳng đời nào đi trộm nhà người ta mà lại đội cái đầu heo cả, – viên cảnh sát nói với vẻ khinh miệt sắc bén của một chuyên gia.

– Chắc là hắn làm vì một lời thề vớ vẩn nào đó ấy mà, – Aristide đáp lại, bị kích động đến mức châm biếm. – Tôi vẫn nghe đồn hắn là một người vô cùng sùng đạo cơ mà.

Viên thám tử chẳng thèm hạ cố đáp lời.

– Thưa Ngài Thị trưởng, – hắn nói, – tôi muốn khám nghiệm hiện trường, và xin ngài vui lòng đi cùng tôi.

– Được sự cho phép của Ngài Thị trưởng, – Aristide xen vào, – tôi cũng xin đi cùng.

– Tất nhiên rồi, – vị Thị trưởng đồng ý. – Càng tập trung nhiều trí tuệ vào vụ án này thì càng tốt chứ sao.

– Tôi lại không có chung quan điểm đó, – viên thám tử chảnh chọe nói.

– Đó là ý kiến của Ngài Thị trưởng, – Aristide quở trách, – và thế là quá đủ rồi.

Khi họ đến nơi – khoảng cách ở Perpignan vốn chẳng xa xôi gì – họ thấy cảnh sát đang bận rộn dùng thước dây đo đạc xung quanh khuôn viên. Cụ bà Coquereau trong bộ áo khoác sáng màu bằng vải lanh sạch sẽ, đầu trần, bất chấp cái lạnh buốt giá, đứng sừng sững đầy cương quyết giữa đám đông họ.

– Chào buổi sáng, Monsieur Pujol, anh nghĩ sao về vụ này?

– Đúng là một thảm họa tày trời, – Aristide đáp.

Bà nhún đôi vai sắt đá. – Tôi bảo hắn ta đáng kiếp lắm, – bà chì chiết nói. – Một người có óc thì phải cất tiền dưới nệm chứ ai lại nhét vào cái hộp thiếc đặt cạnh cửa sổ để mặc ai muốn với tay vào lúc nào cũng được. Tôi lấy làm lạ là chúng ta chưa bị cắt cổ ngay trên giường từ trước đến nay đấy.

– Ồ, Maman! – vị Thị trưởng Perpignan thở dài can ngăn.

Nhưng bà quay lưng đi thẳng và tiếp tục hạch sách đám cảnh sát. Sau khi đã săm soi, đo đạc và hội ý với viên thám tử, họ đi đến một kết luận vô cùng chính xác. Tên trộm đã trèo qua bức tường phía sau – đây chính là những dấu chân của hắn. Hắn đã đột nhập qua cửa nhà bếp – đây là những dấu vết cạy phá. Hắn đã phá tung két sắt – đây là tình trạng bất lực của ổ khóa. Chẳng có ai ở Perpignan này, ngoài José Puégas mang dòng máu xã hội đen tồi tệ gốc Barcelona, có thể làm nổi chuyện đó. Những kết quả sáng chói này đạt được sau rất nhiều tiếng la hét, tranh cãi và những biên bản (procès-verbal) đầy vẻ áp đặt. Aristide cảm thấy chán nản một cách kỳ lạ. Anh đã kể câu chuyện về kẻ hóa trang đầu heo của mình cho những đôi tai điếc đặc. Đây là một cảnh tượng đầy kịch tính mà trong đó anh không những không được đóng vai chính, mà thậm chí còn chẳng được cầm lấy một lá cờ. Trở thành một kẻ còn kém cả diễn viên quần chúng trong vở kịch lớn của cuộc đời là điều tối kỵ đối với bản tính của Aristide Pujol.

U ám, anh lang thang rời xa đám đông nhỏ bé ấy. Anh căm ghét cảnh sát cùng cái điệu bộ tự đắc như những vị thần không gì là không biết của họ. Anh không tin vào cái lý thuyết "cửa nhà bếp". Tại sao tên trộm lại không thể đơn giản đột nhập qua cửa sổ phòng làm việc, nơi cũng nằm ở tầng trệt giống như nhà bếp? Anh đi một vòng quanh ngôi nhà và tự mình kiểm tra cửa sổ. Không; chẳng hề có dấu hiệu nào của việc đột nhập cả. Khóa chốt của các tấm chớp bên ngoài và khung cửa sổ cao vẫn còn nguyên vẹn. Cảnh sát đã đúng.

Đột nhiên, đôi mắt tinh nhanh của anh lướt qua một thứ gì đó trên lối đi rải sỏi và trái tim anh đập thót một nhịp lớn. Đó là một mẩu giấy konfetti (giấy ngũ sắc) tròn nhỏ màu hồng.

Aristide nhặt nó lên và bắt đầu nhảy múa, giơ nắm đấm về phía lực lượng cảnh sát vô hình.

– A ha! – anh reo lên, – giờ thì chúng ta sẽ rõ ai đúng ai sai đây!

Anh bắt đầu lùng sục và chẳng mấy chốc tìm thấy thêm một mẩu konfetti nữa. Đi xa hơn một chút, anh phát hiện ra mẩu thứ ba rồi thứ tư. Dùng gậy chống đi đường để dò la, anh nhận ra chúng tạo thành một vết hằn dẫn thẳng đến một điểm trên bức tường. Anh kiểm tra bức tường. Kìa, nếu đôi mắt không đánh lừa anh, thì đó là những vết vữa bị bong tróc do những mũi giày phạm tội để lại. Và kìa, mirabile visu (thật là một cảnh tượng kỳ diệu)! Ngay sát chân bức tường nằm một chiếc tua rua hoặc cục pompon bằng len nhỏ xíu, đúng loại pompon dùng để trang trí cho giày của mấy gã hề Pierrot. Rõ ràng là tên khốn đã cọ rách nó vào những viên gạch trong lúc trèo qua.

Kẻ hóa trang đầu heo cuối cùng đã lộ diện.

Một kẻ kém mường tượng hơn Aristide hẳn đã ngay lập tức báo cho cảnh sát biết phát hiện của mình. Nhưng Aristide đã bị xúc phạm. Một gã quan liêu cùn mòn, máy móc đi dò tìm tội phạm bằng thước dây lại dám cợt nhả coi thường trí tuệ của anh! Anh sẽ trút trọn cơn thịnh nộ lên cái đầu gỗ mục của chúng.

– Tron de l’air! – Aristide thề một câu thề xứ Provence mà anh chỉ dùng trong những dịp trọng đại – Chính ta sẽ là kẻ tìm ra tên trộm và biến tất cả lũ chúng mày thành trò cười cho cả Perpignan này.

Thế là người bạn đa tài của tôi, tràn đầy tự tin vào năng lực bản thân, chính thức bước vào sự nghiệp lừng lẫy của một thám tử tư.

– Madame Coquereau, – anh nói vào buổi tối hôm đó, khi bà đang chia bài piquet, – bà sẽ nói sao nếu con giải quyết được bí ẩn này và đưa kẻ bất lương ra trước công lý?

– Nói rằng anh có nhiều óc quan sát hơn lũ cảnh sát thì vẫn còn là một lời khen quá rẻ mạt đấy, – cụ bà đáp.

Stéphanie ngước đôi mắt e ấp như nữ tu khỏi khung thêu. Cô ngồi ở góc khuất của căn phòng trang nghiêm được thắp sáng dịu dàng bởi một chiếc đèn có chao.

– Ngài có manh mối nào rồi sao? – cô hỏi với vẻ rụt rè đáng yêu.

Aristide lấy ngón trỏ gõ nhẹ lên trán mình. – Mọi thứ ở trong đó hết rồi, thưa tiểu thư.

Họ trao nhau một cái nhìn – ánh mắt đầu tiên họ dành cho nhau – trong lúc bà Coquereau đang cau mày nhìn những quân bài; và Aristide hiểu ánh mắt ấy như một lời hứa hẹn về phần thưởng tối cao cho những chiến công vĩ đại sắp được hoàn thành.

Vị Thị trưởng trở về từ quán cà phê từ sớm với vẻ mặt ủ rũ. Nỗi mất mát một trăm hai mươi bảng Anh cứ đè nặng tâm trí ông. Ông buồn rầu hôn lên má mẹ, hôn lên trán cháu gái, chìa một bàn tay rũ rượi về phía Aristide, rồi ngã người vào chiếc ghế cứng mô phỏng phong cách Louis XVI, tì hai khuỷu tay lên tay vịn đầy lạnh lẽo và giấu mặt vào hai bàn tay.

– Ôi người chú tội nghiệp của con! Chú đau đớn đến thế cơ à? – Stéphanie thì thầm với niềm trắc ẩn thiêng liêng.

– Tiểu thánh nữ! – Aristide thành kính lầm bầm trong lúc anh hạ bài với bốn con át và ba con đầm.

Vị Thị trưởng ngẩng đầu lên với vẻ đồng cảm. Ông đang phải chịu đựng nỗi đau xé ruột xé gan nhất ở cái ví tiền mà ông từng cảm nhận trong suốt nhiều ngày qua. Sự tập trung của bà Coquereau rời khỏi những quân bài.

– Này Fernand, – bà cộc cằn lên tiếng. – Sao con không đeo nhẫn vậy hả?

Vị Thị trưởng ngẩng lên.

– Thưa Maman, nó bị mất trộm rồi ạ.

– Chiếc nhẫn đẹp tuyệt vời của anh á? – Aristide kêu lên.

Chiếc nhẫn của vị Thị trưởng, thứ mà ông thường xuyên đeo, là một món trang sức cá nhân vô cùng đặc biệt. Nó gồm một cặp rắn vàng cổ ngậm một viên đá topaz khổng lồ ở giữa. Chỉ có một vị Thị trưởng mới đủ tư cách đeo nó một cách đàng hoàng.

– Sao con không nói với mẹ, Fernand? – bà cụ gay gắt vặn hỏi. – Con không hề đả động gì đến nó trong số những món đồ bị trộm cả.

Vị Thị trưởng mệt mỏi đứng dậy. – Là để tránh làm mẹ đau lòng thôi, maman. Con biết mẹ quý trọng chiếc nhẫn của người gìa Philomène đáng kính của chúng ta đến nhường nào.

– Và giờ thì nó mất tiêu rồi, – bà Coquereau nói, vứt phịch những quân bài xuống bàn. – Một chiếc nhẫn thuộc về một vị thánh. Vâng, thưa Monsieur Pujol, một vị thánh, dẫu bà ấy là em gái tôi đi nữa. Một chiếc nhẫn từng được chính Đức Giáo Hoàng ban phước——

– Nhưng thưa maman, – vị Thị trưởng phân bua, – đó chỉ là tưởng tượng của dì Philomène thôi. Chỉ vì dì ấy sang Rome và có buổi yết kiến giống như bao người khác——

– Câm miệng đi, cái tên vô thần bất kính kia! – cụ bà thét lên. – Ta nói cho con biết nó đã được chính Đức Thánh Cha ban phước – và khi ta đã nói điều gì thì đó là sự thật. Bọn trẻ thời nay là thế đấy. Hễ mở mắt ra là sẵn sàng cãi mẹ mình là đồ dối trá ngay được. Đó là một chiếc nhẫn vô giá. Một chiếc nhẫn độc nhất vô nhị trên đời. Thế mà thay vì chăm sóc cẩn thận báu vật gia truyền này, nó lại đem khóa tiệt vào trong két sắt. Hả! Con làm ta thấy xấu hổ quá đi mất. Monsieur Pujol, tôi xin lỗi vì không thể chơi tiếp được nữa, tôi phải lui về phòng đây. Stéphanie, cháu đi cùng ta chứ?

Và túm lấy Stéphanie tựa như một bó hoa tuyết, cụ bà có khuôn mặt bằng tôn vàng quét sơn bắt đầu lướt thướt quét sạch khỏi phòng.

Vị Thị trưởng nhìn Aristide và buông thõng hai tay đầy chán nản.

– Phụ nữ là thế đấy, – ông thốt lên.

– Mẹ tôi suýt vỡ tim chỉ vì tôi không chịu đi tu đấy thôi, – Aristide chia sẻ.

– Ước gì tôi là người Thổ Nhĩ Kỳ, – vị Thị trưởng ngậm ngùi.

– Tôi cũng vậy, – Aristide hưởng ứng.

Anh lấy tẩu và giấy ra để cuốn một điếu thuốc.

– Nếu trên đời có người đàn ông nào dám nói rằng hắn chưa từng cảm thấy như thế dù chỉ một lần trong đời, thì hắn đích thị phải được đem ra hội chợ để triển lãm.

– Sao anh hiểu tôi quá vậy, anh Pujol thân mến, – Monsieur Coquereau nói.

Những ngày tiếp theo trôi qua vô cùng bận rộn với Aristide. Anh dành mọi thời gian rảnh rỗi cho nhiệm vụ mới của mình. Anh soi mói từng inch đất từ cửa sổ phòng làm việc cho đến bức tường; anh vẽ những đường thẳng tỏa ra từ điểm trên bức tường nơi kẻ gian đã bắt đầu cuộc hành trình về nhà và đã thành công trong việc tìm thêm nhiều mẩu konfetti. Anh tra khảo từng người bán giày pierrot và đầu heo ở Perpignan. Những nghiên cứu của anh chẳng mấy chốc lọt đến tai cảnh sát, những kẻ vẫn đang miệt mài lần theo dấu vết của tên José Puégas bí ẩn. Một viên trung sĩ vui tính nào đó – người mà thứ tiếng Pháp kiểu Catalan khiến Aristide thấy khó hiểu nhưng với người này anh đã thiết lập được một tình bạn kiểu trêu ngươi – đã giục anh từ bỏ cái nhiệm vụ vô vọng ấy đi.

– Jamais de la vie! (Không bao giờ có chuyện đó!) – anh hét lên – Danh dự của Aristide Pujol đang bị đặt lên bàn cân đấy.

Mọi chuyện đã trở thành một nỗi ám ảnh. Không chỉ danh dự mà cả tương lai của anh cũng đang bị đe dọa. Nếu tìm ra tên trộm, anh sẽ trở thành nhân vật được bàn tán nhiều nhất ở Perpignan. Anh sẽ biết cách nâng tầm vị thế của mình. Anh sẽ vươn lên những tầng cao chóng mặt. Perpignan-Ville de Plaisir sẽ tung hô anh như vị cứu tinh của thành phố. Chính phủ sẽ trao huân chương cho anh. Và cuối cùng, cả vị Thị trưởng lẫn Madame Coquereau sẽ trao tiểu thư Stéphanie đầy e thẹn và đáng yêu vào vòng tay anh cùng với của hồi môn hai trăm năm mươi ngàn franc nhét túi. Chưa bao giờ một giải thưởng chói lọi đến thế lại lấp lánh trước mắt anh ở cự ly gần như vậy.

Vào đêm thứ Bảy cuối cùng của mùa lễ hội Carnival, một buổi diễu hành corso đặc biệt dành cho dân chúng được tổ chức tại Đại lộ des Plantanes, con đại lộ rợp bóng cây plane dài tuyệt đẹp nằm ngay sát bên ngoài Porte Notre Dame, niềm tự hào đặc biệt của Perpignan. Những người hóa trang nhảy múa theo tiếng nhạc của ba hoặc bốn ban nhạc. Họ ném konfetti và dây ruy băng giấy serpentin. Họ cưỡi ngựa gỗ và dùng bong bóng heo đập vào nhau. Họ tụ tập thành từng nhóm thanh nam thiếu nữ và cuồng nhiệt nhảy múa dọc theo Đại lộ trong cơn say sưa Bacchus. Đó là một buổi corso blanc (diễu hành trắng), và tất cả mọi người đều mặc đồ trắng – chủ yếu là các biến thể của trang phục Pierrot – và ai nấy đều đeo mặt nạ. Những chiếc đèn lồng Trung Hoa treo lủng lẳng từ cành cây và kết thành chuỗi quanh các bệ nhạc, bay lượn trong tay những người trẩy hội. Phía trên, những ngọn đèn điện tiêu chuẩn lớn đổ luồng ánh sáng trắng lóa xuống dòng người đang cuồn cuộn xoáy tròn, tạo ra vô vàn chiếc bóng kỳ dị. Tiếng hò hét, tiếng cười và âm thanh vang dội cả không gian.

Aristide trong chiếc mặt nạ màu đỏ ghê rợn cùng chiếc túi đựng konfetti kẹp dưới nách, hào hứng lao vào cuộc vui. Để tận hưởng niềm vui, bạn chỉ cần vòng tay ôm lấy eo một cô gái và kéo cô ấy xoay tít theo nhịp điệu cuồng nhiệt của âm nhạc. Nếu muốn buông cô ấy ra, bạn cứ việc làm thế; còn không, bạn có thể trò chuyện bằng giọng nóiéi réo rắt vốn là quy tắc quen thuộc của lễ hội Carnival. Ngược lại, bất kỳ cô gái nào cũng có thể túm lấy bạn và lôi tuột bạn đi cùng cô ấy. Cuộc đua cuồng loạn của bạn thường kết thúc giữa một đám đông chen chúc cùng trận chiến konfetti hỗn loạn. Tuy nhiên, có một cô nàng hóa trang xinh đẹp đã thu hút sự chú ý đặc biệt của Aristide. Chuyển động của cô ấy thật uyển chuyển, vóc dáng thon thả và những lời đáp trả hóm hỉnh đằng sau chiếc mặt nạ còn sắc sảo hơn bình thường.

– Trò náo nhiệt này, – anh nói, kéo cô vào một góc yên tĩnh của dòng người, – chẳng phải là chốn dành cho sự hòa quyện của hai tâm hồn đồng điệu.

– Hỡi chiếc mặt nạ tuấn tú, – cô đáp, – ta nhận thấy chàng là một người vô cùng đa cảm đấy.

– Hay chúng ta tìm một nơi nào đó có thể hòa quyện sự dạt dào trong bản tính tuyệt mỹ của đôi ta nhỉ?

– Tùy chàng thôi.

– Allons! Hop! (Nào! Nhảy thôi!) – anh hô lên, túm lấy vòng tay cô luồn lách qua đám đông hóa trang đi thẳng đến tận cuối Đại lộ.

– Có một góc khuất ở quanh đây này, – anh nói.

Họ quay lại. Góc khuất ấy, một chiếc ghế dài nằm dưới bóng cây plane với một ngọn đèn hồ quang đơn độc chiếu rọi thẳng vào, đã có người chiếm chỗ.

– Tiếc thật đấy! – cô gái lạ mặt lẩm bẩm.

Nhưng Aristide thì đứng lặng ng người. Anh trân trân nhìn. Trên chiếc ghế dài đang ngồi một cặp đôi tình tứ. Người phụ nữ mặc chiếc áo domino màu trắng và đeo mặt nạ đen. Gã cavaliere (nam nhân), người đang vòng tay ôm eo cô gái, đội chiếc đầu heo và mặc trang phục chú hề hoặc Pierrot.

Ánh mắt Aristide rơi xuống đôi giày của gã. Trên một chiếc giày, chùm tua rua pompon đã biến mất.

Bàn tay trái của người phụ nữ đang âu yếm vỗ nhẹ lên cái mõm bằng bìa cứng của người tình. Ánh sáng gay gắt của ngọn đèn hồ quang chiếu rọi vào bàn tay đó và phơi bày, trên ngón áp út, một chiếc nhẫn topaz, viên đá topaz được giữ chặt bởi hai đầu con rắn.

Aristide trân trân nhìn suốt hai giây; với anh, khoảng thời gian ấy dài như hai thế kỷ. Sau đó, anh đơn giản quay người lại, túm lấy bạn nhảy của mình một lần nữa, và với câu khẩu hiệu “Allons, Hop!”, anh cắm cổ chạy ngược về giữa đám đông. Ở đó, giữa chốn chen chúc, anh vô tâm bỏ quên cô nàng, và phóng như một kẻ cuồng phong về phía cổng ra vào. Người bạn trung sĩ của anh vô tình đang làm trực ban. Anh tự giật mặt nạ ra, kéo viên cảnh sát tách khỏi đám đông, thở hổn hển, nửa cuồng loạn, kể cho hắn nghe phát hiện kinh hoàng vừa rồi.

– Tôi đã đúng, anh bạn già! Ở ngay cuối Đại lộ, anh sẽ tìm thấy bọn chúng. Kẻ lảng vảng đầu heo mà tôi đã thấy, với chiếc pompon trên giày đã mất tích, và người tình của hắn đang đeo chiếc nhẫn bị trộm. A! Lũ cảnh sát các anh với mấy cái thước dây và cái tên José Puégas của các anh! Chính tôi, Aristide Pujol, mới là kẻ phải đến Perpignan này để dạy cho các anh cách làm việc!

– Anh muốn tôi phải làm gì nào? – viên trung sĩ điềm tĩnh hỏi.

– Làm gì á? – Aristide thét lên. – Bộ anh tưởng tôi muốn anh đến hôn chúng nó và rải hoa hồng lên đầu chúng chắc? Anh thường làm gì với bọn trộm ở Perpignan này hả?

– Bắt giữ chứ sao, – viên trung sĩ đáp.

– Được lắm! (Eh bien!) – Aristide nói. Rồi anh khựng lại – có lẽ sự kịch tính của tình huống đã chạm đến anh. – Không, chờ đã. Hãy đi tìm chúng đi. Đừng rời mắt khỏi chúng một giây nào. Tôi sẽ chạy đi gọi Ngài Thị trưởng để ông ấy nhận dạng tài sản của mình – et puis nous aurons la scène à faire (và rồi chúng ta sẽ được xem màn kịch hay).

Viên trung sĩ lực lưỡng càu nhàu đồng ý rồi nặng nề bước đi dọc theo Đại lộ. Aristide với lồng ngực phập phồng, trái tim hoan hỉ, cắm cổ chạy về nhà vị Thị trưởng. Trông anh lúc bấy giờ là hiện thân của sự kiêu hãnh đang thở dốc hơn là một con người. Anh đã đánh bại lực lượng cảnh sát Perpignan. Anh đã tìm ra tên trộm. Anh là anh hùng của thị trấn. Chẳng mấy chốc tiếng chuông cưới sẽ vang lên... Anh thèm khát bức tượng cẩm thạch của mình trong tương lai. Anh ước gì bản thân được đứng ngay trên bệ đá ấy.

Anh xô cửa lao vụt qua cô hầu gái đang mở cửa và xông thẳng vào phòng khách trang nhã. Madame Coquereau đang ở một mình, chuẩn bị lui về phòng nghỉ ngơi. Tiểu thư Stéphanie đã đi ngủ từ lâu.

– Lạy Chúa, chuyện gì thế này? – bà kêu lên.

– Thưa bà, – anh hô lớn, – tin vui động trời đây. Tôi đã tìm ra tên trộm rồi!

Anh say sưa kể lại câu chuyện của mình. Thế còn Ngài Thị trưởng đâu?

– Nó vẫn chưa về từ quán cà phê.

– Tôi sẽ đi tìm ông ấy, – Aristide quả quyết.

– Rồi lại tốn thời gian á? Nhảm nhí! – cụ bà mặt sắt đáp, với lấy một chiếc khăn choàng lụa đen. – Tôi sẽ đi cùng anh để nhận dạng chiếc nhẫn của người chị thánh thiện Philomène của tôi. Còn ai rành về nó hơn tôi nữa chứ?

– Tùy bà thôi, thưa Madame, – Aristide đáp.

Hai phút sau, họ đã lên đường. Madame Coquereau, bất chấp tuổi sáu mươi lăm, vẫn sải bước với nguồn năng lượng phơi phới.

– Người ta không còn đúc ra thứ kim loại giống như tôi thời nay nữa đâu, – bà mỉa mai nói.

Khi họ đến cổng Đại lộ, đội cảnh sát gác cổng đứng nghiêm chào. Thân mẫu của Ngài Thị trưởng là một nhân vật có quyền lực tối thượng ở Perpignan.

– Thưa anh, – Aristide nói với giọng bề trên với một viên cảnh sát, – phiền anh dọn một lối đi qua đám đông cho Madame Coquereau, rồi sau đó giúp Trung sĩ Pésac bắt giữ tên trộm đã đột nhập vào nhà Ngài Thị trưởng nhé.

Viên cảnh sát vâng lệnh, đi tiên phong dọn đường bằng thái độ ngang ngược của luật pháp, còn Aristide đỡ tay Madame Coquereau kiêu hãnh bước theo sau. Khi đoàn người ấn tượng tiếp tục tiến lên, đám đông trẩy hội ngừng ngay cuộc vui và lũ lượt kéo theo sau Aristide. Ở cuối Đại lộ, Trung sĩ Pésac đang làm nhiệm vụ gác. Hắn bước tới.

– Chúng vẫn ở đó, – hắn báo cáo.

– Tốt lắm, – Aristide phán.

Hai sĩ quan cảnh sát, Aristide và Madame Coquereau rẽ qua góc khuất. Ngay khi nhìn thấy cảnh sát, cặp đôi tội phạm giật mình vùng đứng dậy. Madame Coquereau chồm tới như một con diều hâu vồ lấy bàn tay của kẻ đang đeo mặt nạ.

– Ta nhận ra nó rồi, – bà thét lên. – Trung sĩ, hãy bắt giữ mấy kẻ này vì tội trộm cắp đi.

Đám đông đeo mặt nạ trắng tràn ngập xung quanh nhóm người, ở giữa tâm điểm là một Aristide đang phổng mũi tự đắc. Đây là khoảnh khắc đỉnh cao của đời anh. Anh vung vẩy chiếc mặt nạ đỏ ở một bên tay và chiếc pompon móc từ trong túi ra ở tay kia.

– Thứ này tôi nhặt được, – anh dõng dạc tuyên bố, – ngay bên dưới bức tường khu vườn của Ngài Thị trưởng. Và kìa, hãy nhìn chiếc giày của kẻ bị buộc tội đi.

Đám đông hò reo tán thưởng và ngưỡng mộ. Không một ai trong hai kẻ phạm tội nhúc nhích. Chiếc đầu heo vẫn nhăn nhở cười ngây ngô với thế giới bằng điệu cười được sơn phết ngớ ngẩn. Một giọng nói trầm đục phát ra từ bên dưới cái đầu đó:

– Chúng tôi sẽ đi theo các anh một cách tử tế.

– Xin vui lòng giữ trật tự, – cảnh sát hô lên, và mỗi người tóm chặt một cánh tay của phạm nhân để mở đường qua đám đông. Madame Coquereau và Aristide bám sát ngay phía sau.

– Tôi đã bảo anh thế nào nào? – Aristide khoe khoang với viên trung sĩ.

– Dù gì thì đó vẫn là thằng Puégas thôi, – viên trung sĩ lầm bầm qua vai.

– Tôi cá với anh là không phải đâu, – Aristide quả quyết, rồi sải bước thật nhanh ra phía sau phạm nhân nam, giật phăng chiếc đầu heo ra và bày bày trước đám đông đang hóa đá bộ mặt quen thuộc của Ngài Thị trưởng Perpignan.

Aristide trân trân nhìn ông ta suốt hai, ba giây với cái miệng há hốc, rồi ngã quỵ vào vòng tay của Trung sĩ Pésac, cười ré lên một cách co giật. Đám đông nhanh chóng bị lây nhiễm bầu không khí vui nhộn. Tiếng hét vang dội cả không gian. Biển người hóa trang ôm bụng cười ngặt nghẽo, ngã nhào thành từng đống, đàn ông lẫn đàn bà quăng quật cả quần áo của nhau khi ngã xuống.

Aristide, bị Trung sĩ Pésac thả bịch xuống đất, vẫn cứ cười và cười không ngớt. Khi anh dần lấy lại được ý thức về môi trường xung quanh, anh nhận ra vị Thị trưởng đang cúi người lừ lừ nhìn anh và tuôn ra những lời lẽ có lẽ sẽ khiến cả địa ngục (Tophet) phải lấy tay bịt tai lại. Anh đứng dậy. Madame Coquereau quơ quơ đôi bàn tay gầy guộc trước mặt anh.

– Đồ ngu ngốc! Đồ đầu đất ba trợn! – bà thét lên.

Aristide quay đầu chuồn thẳng. Chẳng còn cách nào khác.

Và đó chính là đoạn kết cho sự nghiệp của anh tại Perpignan. Những giấc mơ về một vị thế danh giá nơi đô thị đã tan thành mây khói; bức tượng trên Quai Sadi-Carnot tan biến vào không khí loãng; hình ảnh tiểu thư Stéphanie nết na đội vòng hoa cam cũng phai mờ; và hai trăm ngàn năm mươi ngàn franc bay đi vĩnh viễn. Kể từ thời điểm Alnaschar đá văng sọt gốm sứ của hắn, chưa từng có một sự sụp đổ thê thảm nào của hy vọng lại diễn ra đến thế.

Nếu vị Thị trưởng được phép cải trang đi thẳng đến đồn cảnh sát, ông đã có thể tự thân tiết lộ danh tính của mình và người phụ nữ kia trong sự riêng tư với các viên chức đang kính sợ. Hẳn ông đã tha thứ cho Aristide. Nhưng Aristide lại phơi bày ông trước sự chế giễu của toàn bộ xứ Roussillon và cơn thịnh nộ không bao giờ dứt của Madame Coquereau. Aristide hối hận tự hỏi bản thân câu hỏi: tại sao vị Thị trưởng lại không tâm sự với anh về vụ trốn đi hóa trang lãng mạn đó? Tại sao ông không kể cho anh nghe về người góa phụ xinh đẹp mà ông đang tán tỉnh sau lưng mẹ mình? Tại sao ông lại cho phép cô ấy đeo chiếc nhẫn mà ông đã tặng để chọc tức người dì Philomène thánh thiện của mình? Và tại sao ông lại tiếp tục đội cái đầu heo đó sau khi Aristide đã thổ lộ những nghi ngờ của mình? Trong sự nuối tiếc, Aristide chẳng tìm được câu trả lời nào ngoài sự ngu ngốc chung của nhân loại.

– Nếu đó không phải là một vở hề quá hay thì tôi đã khóc như một con bò cái rồi, – Aristide nói sau khi kể lại câu chuyện này. – Nhưng mỗi lần muốn khóc, tôi lại thấy buồn cười. Thề có Chúa! Lẽ ra anh phải nhìn thấy mặt ông ta! Và cả gương mặt của Madame Coquereau nữa! Bà ấy há hốc miệng rộng đến mức lộ ra mười cái răng vàng và kêu lên éc éc như một con thỏ! Ồ, đó quả là một vở hề xuất sắc! Ông ấy rất giận tôi, – anh nói thêm sau một khoảng lặng mỉm cười, – và khi tôi trở lại Paris, tôi đã cố gắng làm hòa với ông ấy.

– Anh đã làm gì nào? – tôi hỏi.

– Tôi gửi tặng ông ấy bức ảnh chân dung của tôi, – Aristide đáp.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.