Những Thành Phố Giấy

Lượt đọc: 528 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Agloe

❊ ❊ ❊

Tốc độ giảm dần từ năm mươi lăm xuống bốn mươi lăm, rồi ba mươi lăm dặm một giờ. Qua vài đoạn đường tàu, chúng tôi đã đến Roscoe. Chúng tôi từ từ lái xe qua khu trung tâm ngái ngủ với một quán cà phê, một cửa hàng quần áo, một tiệm bán đồ đồng giá, và mấy gian hàng có mặt tiền toàn là cửa ván xếp.

Tôi nhoài về phía trước, nói, “Tôi có thể tưởng tượng được Margo ở trong đó.”

“Ừ,” Ben đồng tình. “Trời ạ, tôi không muốn đột nhập vào mấy tòa nhà đó tí nào. Chắc tôi không trụ nổi nhà tù New York đâu.”

Nhưng ý tưởng thám hiểm những căn nhà đó không khiến tôi đặc biệt sợ hãi, vì toàn bộ nơi này như đã bị bỏ không. Không có tiệm nào mở cửa. Qua khu trung tâm, có một phố duy nhất cắt qua đường cao tốc. Trên con phố đó là khu dân cư đơn côi và trường tiểu học Roscoe. Những ngôi nhà khung gỗ khiêm tốn như những chú lùn núp dưới hàng cây cao, tán rậm rạp.

Chúng tôi rẽ vào một đường cao tốc khác, tăng tốc chạy nhanh như trước, nhưng thực ra Radar lái cũng chậm. Chưa đi được một dặm, bọn tôi thấy một đường đất ở bên trái, không có biển báo hiệu nào cả.

“Có thể là chỗ này,” tôi nói.

“Là đường cho xe đi thôi,” Ben nói, nhưng Radar vẫn rẽ vào. Thực ra trông đúng là giống đường cho xe đi thật, một dải đường chạy trên nền đất rắn. Ở bên trái bọn tôi, cỏ dại mọc cao đến bánh xe; tôi không thấy gì, nhưng hơi lo rằng nếu ai đó muốn trốn trong đồng cỏ này thì cũng chẳng mấy khó khăn. Chúng tôi lái xe thêm một đoạn nữa thì dải đường chạy vào một ngôi nhà nông thôn kiến trúc thời Victoria. Bọn tôi vòng ra sau, quay đầu trở lại đường cao tốc hai làn, đi tiếp về phía bắc. Đường cao tốc rẽ vào đường Cat Hollow, chúng tôi chạy xe cho đến khi thấy một dải đường đất giống đường đất lúc nãy, lần này ở bên phải, dẫn vào nơi trông như một nhà kho ọp ẹp bằng gỗ đã bạc màu. Hàng kiện cỏ khô hình trụ nằm thành hàng trên những cánh đồng ở cả hai bên chúng tôi, cỏ trên đồng đã bắt đầu mọc trở lại. Radar lái chưa đến năm dặm một giờ. Chúng tôi đang tìm những dấu hiệu bất thường. Chút nứt rạn trên phong cảnh nên thơ hoàn hảo này.

“Mọi người có nghĩ đó có thể là Hiệu Tạp Hóa Agloe không?”

“Nhà kho ấy á?”

“Ừ.”

“Không biết nữa,” Radar đáp. “Đã từng có hiệu tạp hóa trông giống nhà kho sao?”

Tôi nhả một hơi dài qua hai môi méo xẹo. “Biết chết liền.”

“Kìa–trời ơi, xe của Margo!” Lacey hét lên ngay cạnh tôi. “Đúng đúng đúng đúng đúng đúng xe của Margo xe của Margo!”

Radar dừng xe trong khi tôi nhìn theo hướng Lacey chỉ qua cánh đồng, phía sau nhà kho. Một chớp ánh bạc. Cúi sát lại chỗ Lacey, tôi thấy cạnh cong ở nóc xe. Có Chúa mới biết làm sao chiếc xe lại ở đó, vì không có đường nào dẫn ra hướng đấy.

Radar tìm chỗ đỗ, tôi nhảy khỏi minivan và chạy về phía xe của cô ấy. Trống không. Không khóa. Tôi mở thùng xe. Cũng không có gì, trừ một va-li để mở và trống không. Tôi nhìn quanh, và đi về phía mà bây giờ tôi tin là những gì còn lại của Hiệu Tạp Hóa Agloe. Ben và Radar vượt tôi khi tôi chạy qua vạt cỏ đã cắt. Chúng tôi không vào nhà kho qua cửa ra vào mà qua một trong mấy lỗ trống hoác, nơi tường gỗ đơn giản là đã sút ra.

Trong gian kho, mặt trời chiếu xuống những mảng sàn gỗ mục nát qua nhiều lỗ thủng trên mái. Trong khi tìm cô ấy, tôi điểm qua từng thứ: ván sàn ẩm thấp. Mùi hạnh nhân, giống cô ấy. Một bồn tắm có chân ở góc. Đâu đâu cũng cơ man là lỗ nên nơi này đồng thời ở trong và ở ngoài.

Tôi cảm thấy ai đó kéo mạnh áo mình. Tôi quay lại và thấy Ben, mắt nó bắn qua bắn lại giữa tôi và một góc phòng. Phải nhìn qua một vùng sáng trắng tràn từ trần xuống, nhưng tôi có thể thấy được góc đó. Hai tấm nhựa cứng dài cao ngang ngực, cáu bẩn và mờ xám, dựa vào nhau làm thành một góc nhọn, hai cạnh bên có tường gỗ giữ. Một ô làm việc hình tam giác, nếu có thứ tương tự như vậy.

Và đây là điều đáng lưu ý về cửa sổ mờ: ánh sáng có thể lọt qua được. Nên tôi thấy được một khung cảnh xót xa, dù đã qua sắc xám: Margo Roth Spiegelman ngồi trên cái ghế văn phòng bọc da đen, khom người xuống mặt bàn, kiểu bàn học trò, cô ấy đang viết. Tóc Margo ngắn đi nhiều–tóc mái lỉa chỉa xòa xuống lông mày và mọi thứ lộn xộn, như thể điểm nhấn là sự lệch tâm–nhưng đó là cô ấy. Margo còn sống. Cô ấy đã chuyển phòng làm việc từ khu mua sắm mini bị bỏ hoang ở Florida đến một nhà kho bị bỏ hoang ở New York, và tôi đã tìm thấy cô ấy.

Chúng tôi đi về phía Margo, cả bốn, nhưng hình như cô ấy không nhận ra. Margo cứ viết. Cuối cùng, ai đó–Radar, hình như thế–lên tiếng, “Margo. Margo hả?”

Cô ấy đứng dậy và kiễng lên, bàn tay tì vào mép tường cái văn phòng dã chiến này. Nếu có ngạc nhiên khi thấy chúng tôi, đôi mắt cô ấy cũng không biểu hiện ra chút nào. Đây là Margo Roth Spiegelman, cách tôi chừng một mét rưỡi, bờ môi khô nứt, không trang điểm, đất bám ở móng tay, đôi mắt lặng lẽ. Tôi chưa từng thấy mắt Margo chết như vậy, nhưng rồi một lần nữa, có lẽ tôi chưa từng nhìn đôi mắt cô ấy. Margo chằm chằm nhìn tôi. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng cô ấy đang nhìn tôi chứ không phải Lacey hay Ben hay Radar. Tôi chưa từng cảm thấy ánh mắt gắt gao như vậy kể từ khi đôi mắt chết của Robert Joyner nhìn tôi trong Công viên Jefferson.

Margo đứng yên lặng như thế một lúc lâu, tôi sợ ánh mắt cô ấy đến mức không tiến gần lại nữa. “Ta và bí ẩn này đôi bên cùng ở đây,” Whitman đã viết như vậy.

Rút cục, Margo nói, “Cho tớ năm phút,” rồi ngồi xuống và lại viết.

Tôi nhìn cô ấy viết. Trừ một chút lấm lem, trông cô ấy vẫn như trước. Không biết tại sao, nhưng tôi đã luôn nghĩ rằng cô ấy trông khác. Già dặn hơn. Đến mức tôi sẽ hầu như không nhận ra Margo khi rút cục được gặp lại cô ấy. Nhưng cô ấy đây, tôi đang nhìn cô ấy qua tấm nhựa mờ, cô ấy trông giống Margo Roth Spiegelman, cô bạn tôi đã biết từ khi lên hai–cô gái đã là một ý niệm mà tôi đem lòng yêu.

Và chỉ lúc này, khi cô ấy gập sổ lại, bỏ vào trong cái ba-lô bên cạnh và đứng dậy đi về phía chúng tôi, tôi mới nhận ra rằng ý niệm đó không chỉ sai mà còn nguy hiểm nữa. Tin rằng một con người lớn lao hơn chính họ là một ảo tưởng bất trắc biết bao.

“Ê,” Margo nói với Lacey, mỉm cười. Cô ấy ôm Lacey đầu tiên, rồi bắt tay Ben và Radar. Cô ấy nhướn lông mày, nói, “Chào Q,” rồi ôm tôi, thoáng qua và không chặt. Tôi muốn ghì chặt. Tôi muốn một dấu ấn. Tôi muốn cảm thấy cô ấy thổn thức trong lòng mình, nước mắt hoen từ gò má lem nhem bụi thấm vào áo tôi. Nhưng Margo chỉ ôm tôi chóng vánh và ngồi xuống sàn. Tôi ngồi xuống trước mặt cô ấy. Ben, Radar và Lacey cũng ngồi xuống cạnh tôi thành một hàng, để tất cả chúng tôi cùng đối diện Margo.

“Thấy cậu là mừng rồi,” lát sau tôi nói, cảm thấy như mình đang phá một lời cầu nguyện yên lặng.

Margo gạt tóc mái sang bên. Hình như cô ấy đang quyết định chính xác sẽ nói gì trước khi lên tiếng. “Tớ, ừ. Ừ. Tớ không mấy khi bị cạn kiệt từ ngữ, nhỉ? Gần đây không nói chuyện với ai mấy. Ừm. Có khi các cậu nói trước đi, mấy cậu đang làm cái quái gì ở đây?”

“Margo ơi,” Lacey nói. “Có Chúa chứng giám, bọn tớ lo lắm.”

“Lo lắng làm gì,” Margo vui vẻ đáp. “Tớ ổn mà.” Cô ấy giơ hai ngón cái lên. “Tớ ổn loại A luôn.”

“Lẽ ra cậu nên gọi điện báo cho bọn tớ một tiếng,” Ben nói, giọng thoáng nhấm nhẳng cáu. “Để cả lũ đỡ phải lặn lội.”

“Theo kinh nghiệm của tớ, Ben Bỉ Bựa ạ, khi rời khỏi nơi nào đó, tốt nhất cứ thế ra đi thôi. Mà sao cậu mặc váy thế này?”

Ben đỏ mặt. “Đừng gọi cậu ấy thế,” Lacey cao giọng.

Margo quay sang nhìn Lacey. “Ôi trời ơi, cậu đang cặp cậu ta hả?” Lacey không nói gì. “Cậu không thực sự cặp cậu ta rồi,” Margo nói tiếp.

“Thực sự là có đấy,” Lacey nói. “Thực sự cậu ấy rất tốt. Thực sự cậu mới là đồ bựa. Và thực sự, tớ đi đây. Rất vui đã gặp cậu, Margo ạ. Cảm ơn đã làm tớ tá hỏa, làm tớ cảm thấy mình là đồ tồi trong gần hết tháng cuối cùng của năm cuối cấp, và cảm ơn đã là một ả cún bựa khi bọn tớ đi bao xa đến đây để xem cậu thế nào. Rất hân hạnh được quen biết cậu.”

“Cậu thì hơn gì. Không có cậu, sao tớ có thể biết rằng tớ béo đến mức nào?” Lacey đứng dậy hằm hằm đi, mỗi bước chân làm rung cả sàn nhà ọp ẹp. Ben đi theo. Tôi nhìn sang, Radar cũng đứng dậy.

“Tớ không hề biết cậu cho đến khi tớ dần biết về cậu qua những manh mối cậu để lại,” Radar nói. “Tớ thấy thích những manh mối ấy hơn là thích cậu.”

“Cậu ta đang lảm nhảm cái quái gì vậy?” Margo hỏi tôi. Radar không đáp, nó chỉ đi khỏi.

Tôi cũng nên đi, tất nhiên rồi. Chúng tôi là bạn–thân hơn Margo, chắc chắn vậy. Nhưng tôi có những câu hỏi. Vì Margo đứng dậy và bắt đầu quay lại góc làm việc, tôi hỏi một câu rành rành. “Sao cậu cư xử chẳng ra sao như vậy?”

Margo quay ngoắt lại, túm lấy ngực áo tôi và quát vào mặt tôi, “Sao không dưng các cậu kéo cả lũ đến đây mà không báo trước gì cả?!”

“Làm sao tớ báo được cho cậu khi cậu hoàn toàn biến mất khỏi bề mặt hành tinh này?!” Tôi thấy Margo nhắm mắt lại lâu, và tôi biết cô ấy không trả lời được, thế là tôi cứ bùng lên. Tôi cáu Margo. Vì... vì, tôi không biết nữa. Không phải Margo tôi đã mong đợi. Không phải Margo tôi nghĩ cuối cùng tôi đã tưởng tượng được đúng. “Tớ đã nghĩ chắc chắn có một lí do chính đáng tại sao cậu không liên lạc với ai sau đêm hôm đó. Và... đây là lí do chính đáng của cậu sao? Hóa ra cậu có thể lang thang sống vô gia cư thế này à?”

Margo thả tay và đẩy tôi ra. “Giờ ai vô gia cư chứ? Tớ ra đi theo cách duy nhất người ta có thể ra đi. Bóc tuột cuộc đời mình ra ngay một lúc–như băng cứu thương ấy. Rồi cậu trở thành cậu, Lacey trở thành Lacey, ai đó trở thành ai đó và tớ trở thành tớ.”

“Ngoại trừ tớ đã không là tớ, Margo ạ, vì tớ tưởng cậu đã chết. Trong khoảng thời gian lâu nhất. Nên tớ đã phải làm tất cả những chuyện tồi tệ hại mà lẽ ra tớ không bao giờ làm.”

Margo hét lên, sát lại gần để có thể nhìn thẳng vào tôi. “Đừng nói nhảm. Cậu không đến đây để đảm bảo rằng tớ bình an vô sự. Cậu đến vì cậu muốn cứu Margo bé bỏng tội nghiệp khỏi cái tôi bé bỏng rắc rối của cô ta, để rồi tớ sẽ ôi-quá-cảm-động trước chàng hiệp sĩ oai phong lẫm liệt mà tự lột sạch xống áo rồi cầu xin cậu hãy hủy hoại tấm thân tớ chứ gì.”

“Nói vớ vẩn gì vậy!” tôi quát, gần như vậy. “Cậu chỉ chơi bọn tớ thôi đúng không? Cậu chỉ muốn đảm bảo rằng dù đã ra đi và có trò vui mới, nhưng cậu sẽ vẫn là cái trục để bọn tớ xoay mòng mòng xung quanh.”

Margo hét trả, to hơn tôi nghĩ cô ấy có thể hét được. “Cậu thậm chí còn chẳng thèm nổi cáu với tớ, Q! Cậu chỉ cáu vì những tưởng tượng về tớ mà cậu giữ rịt trong đầu từ hồi bé thôi!”

Cô ấy cố gắng chạy khỏi tôi, nhưng tôi giữ lấy hai vai Margo, xoay cô ấy đứng trước mặt mình và nói, “Đã bao giờ cậu nghĩ sự ra đi của cậu có tác động thế nào chưa? Đến Ruthie? Đến Lacey hoặc tớ hoặc bất cứ ai khác quan tâm đến cậu? Cậu không nghĩ gì cả. Tất nhiên là cậu không nghĩ gì rồi. Bởi cậu mà không bị sao tức là chẳng có gì đáng bận tâm cả. Phải thế không, Margo? Phải không?”

Bây giờ cô ấy không kháng cự nữa. Margo chỉ so vai quay đi, trở lại góc làm việc. Cô ấy đá đổ cả hai tấm nhựa cứng dựng làm tường, chúng va mạnh vào bàn và ghế rồi trượt xuống sàn. “IM ĐI IM ĐI ĐỒ TỒI.”

“Được,” tôi nói. Điều gì đó trong cơn bột phát hoàn toàn mất kiểm soát cảm xúc của Margo đã khiến tôi ghìm được bản thân lại. Tôi cố gắng nói như mẹ tôi. “Tớ sẽ im lặng. Cả hai đứa mình đều không vui. Còn rất nhiều, ừ, vướng mắc chưa gỡ được từ phía tớ.”

Margo ngồi xuống chiếc ghế xoay, bàn chân đặt trên cái từng là tường ngăn góc làm việc. Cô ấy nhìn một góc nhà kho. Chúng tôi cách nhau ít nhất ba mét. “Thế quái nào các cậu tìm được tớ vậy?”

“Tớ tưởng cậu muốn bọn tớ đi tìm,” tôi đáp, nói rất nhỏ nhưng ngạc nhiên là Margo vẫn nghe thấy. Cô ấy xoay ghế lại và chăm chú nhìn tôi.

“Chắc chắn là tớ đâu có muốn như vậy.”

“‘Tự khúc,’” tôi nói. “Guthrie dẫn tớ đến Whitman. Whitman dẫn tớ đến cánh cửa. Cánh cửa dẫn tớ đến khu mua sắm mini. Bọn tớ phát hiện ra cách đọc hàng chữ graffiti đã bị sơn đè lên. Tớ không hiểu ‘những thành phố giấy’ nghĩa là gì; cũng có thể là những tiểu khu không bao giờ được xây xong, thế là tớ nghĩ rằng cậu đã đến một khu như vậy và sẽ không bao giờ quay lại. Tớ tưởng cậu đã chết ở một trong những nơi như thế, rằng cậu đã tự vẫn và vì lí do nào đó muốn tớ tìm thấy cậu. Tớ đã đến cả đống nơi như vậy, tìm cậu. Nhưng rồi tớ khớp được tấm bản đồ trong cửa hàng lưu niệm với những lỗ ghim trên tường. Tớ bắt đầu đọc bài thơ kĩ hơn, hiểu ra rằng có lẽ cậu không chạy trốn mà chỉ đang lánh ở đâu đó, lập nên các kế hoạch. Viết vào cuốn sổ đó. Tớ tìm ra Agloe trên bản đồ, đọc được bình luận của cậu trên phụ trang thảo luận trong Toàn Thư Đủ Thứ, tớ bỏ dự lễ tốt nghiệp và lái xe thẳng đến đây.”

Margo cào cào tóc xuống, nhưng mái tóc không còn đủ dài để che kín gương mặt cô ấy nữa. “Ghét kiểu tóc này quá,” Margo nói. “Tớ chỉ muốn trông khác đi, nhưng– hóa ra ngố quá.”

“Tớ thích kiểu này,” tôi nói. “Tóc ôm lấy mặt cậu trông rất hợp.”

“Tớ xin lỗi vì đã làm nhặng lên chẳng ra sao cả,” cô ấy nói. “Cậu phải hiểu là–không dưng các cậu mò vào đây, làm tớ sợ cứng luôn–”

“Lẽ ra cậu chỉ cần nói là, ‘Này, các bồ làm tôi sợ cứng lại luôn rồi đấy’ thôi.” tôi nói.

Margo cười nhạt. “Ừ, phải rồi, vì đó là Margo Roth Spiegelman mà ai cũng biết và yêu mến mà.” Cô ấy im lặng một lúc, rồi nói tiếp, “Tớ biết mình không nên nói như vậy trong Toàn Thư Đủ Thứ. Tớ chỉ nghĩ sau này có ai đọc được thì vui phải biết. Tớ nghĩ có thể cảnh sát sẽ lần theo manh mối đó, nhưng không được sớm sủa cho lắm. Có hàng tỉ trang trong Toàn Thư Đủ Thứ cơ mà. Tớ chưa bao giờ nghĩ...”

“Gì cơ?”

“Tớ đã nghĩ nhiều đến cậu, trả lời cho câu hỏi của cậu đây. Và nghĩ đến Ruthie. Và bố mẹ tớ. Tất nhiên, nhỉ? Có lẽ tớ là đứa độc tôn trầm trọng nhất trong lịch sử nhân loại. Nhưng Chúa ơi, cậu có nghĩ tớ sẽ làm thế nếu tớ không cần làm thế không?” Margo lắc đầu. Giờ, cuối cùng, cô ấy quay hẳn về phía tôi, khuỷu tay chống trên đầu gối, và chúng tôi nói chuyện. Còn cách xa, nhưng vẫn là đang nói chuyện với nhau. “Tớ không tìm được cách nào khác để ra đi mà không bị lôi trở lại.”

“Tớ mừng vì cậu không chết,” tôi nói với Margo.

“Ừ, tớ cũng vậy,” cô ấy đáp, khẽ nhếch mép. Đó là lần đầu tiên tôi thấy nét cười mà tôi đã mất quá nhiều thời gian nhung nhớ. “Đó là lí do tại sao tớ phải đi. Cuộc đời thê thảm đến đâu thì vẫn luôn có lựa chọn khác mà.” Điện thoại của tôi đổ chuông. Là Ben. Tôi nhấc máy.

“Lacey muốn nói chuyện với Margo,” Ben nói với tôi.

Tôi đi tới bên Margo, đưa cô ấy cái điện thoại, và còn nấn ná đứng cạnh trong khi cô ấy ngồi nhô vai về phía trước, tôi lắng nghe. Tôi nghe thấy những tiếng động vọng từ điện thoại ra, rồi tôi nghe thấy Margo cắt lời và nói, “Nghe này, tớ thực sự xin lỗi. Tớ sợ quá đấy thôi.” Và rồi im lặng. Cuối cùng Lacey nói trở lại, và Margo cười thành tiếng, nói gì đó đáp lại. Nghĩ là cả hai cần chút gì đó riêng tư, tôi bắt đầu loanh quanh khám phá. Dựa vào cùng bức tường như góc làm việc, nhưng ở góc đối diện của nhà kho, Margo đã sắp đặt cái có thể gọi là giường ngủ–bốn tấm giát dưới một đệm không khí màu da cam. Chồng quần áo nhỏ, gấp gọn gàng của Margo ở cạnh giường, cũng trên một tấm giát. Có bàn chải và thuốc đánh răng, với một cái cốc nhựa to từ cửa hàng Subway. Những đồ dùng đó ở trên hai cuốn sách: Lọ Chuông của Sylvia Plath và Lò sát sinh số năm của Kurt Vonnegut. Tôi không thể tin được rằng Margo đã sống như thế này, sự pha trộn không thể dung hòa được này giữa nét ngoại ô ngăn nắp đáng mến và vẻ suy tàn tiều tụy rờn rợn. Nhưng rồi một lần nữa, tôi không thể tin được rằng mình đã mất bao nhiêu thời gian nghĩ cô ấy đang sống rất khác.

“Mấy cậu ấy đang ở một nhà nghỉ trong khu công viên. Lace bảo tớ nói với cậu rằng các cậu ấy sẽ đi trong ngày hôm nay, bất kể cậu có đi cùng hay không,” Margo lên tiếng sau lưng tôi. Chính khi cô ấy nói cậu mà không phải chúng ta, đó là lần đầu tiên tôi nghĩ đến những gì xảy ra tiếp sau đây.

“Tớ gần như tự cung tự cấp,” Margo nói, giờ đang đứng cạnh tôi. “Có một nhà vệ sinh ở ngoài kia, nhưng không được khang trang lắm, nên tớ thường đến nhà vệ sinh ở trạm dừng xe tải phía bắc Roscoe. Ở đó cũng có phòng tắm, và phòng tắm nữ rất sạch vì không có nhiều nữ tài xế xe tải. Mới cả ở đó có Internet. Kiểu như nơi này là nhà tớ, còn trạm dừng xe tải là khu an dưỡng bên bờ biển.” Tôi bật cười.

Margo đi ngang qua tôi và quì xuống, nhìn vào trong những tấm giát kê thành giường. Cô ấy lôi ra cái đèn pin và vật gì hình vuông bằng nhựa. “Trừ xăng và thức ăn, cả tháng tớ chỉ mua có hai thứ này. Tớ mới tiêu khoảng ba trăm đô-la.” Tôi đón vật hình vuông từ tay cô ấy, rút cục nhận ra đó là một máy nghe nhạc chạy pin. “Tớ mang mấy album nhạc theo,” Margo nói. “Nhưng vào thành phố tớ sẽ kiếm thêm.”

“Thành phố ư?”

“Ừ. Hôm nay tớ sẽ đến thành phố New York. Thế nên mới có dòng bình luận trên Toàn Thư Đủ Thứ. Tớ sẽ thực sự bắt đầu hành trình. Ban đầu, hôm nay là ngày tớ dự kiến rời Orlando–tớ sẽ đến lễ tốt nghiệp, sẽ làm đủ trò trêu chọc đã lên kế hoạch bài bản trong đêm tốt nghiệp với cậu, rồi tớ sẽ ra đi vào sáng hôm sau. Nhưng tớ không thể chịu lâu hơn được nữa. Tớ thực sự không thể chịu thêm một giờ đồng hồ nào nữa. Và khi biết chuyện về Jase–tớ đã nghĩ, ‘mình có kế hoạch hết rồi; chỉ cần thay đổi ngày tháng thôi.’ Nhưng xin lỗi vì tớ đã làm cậu sợ. Tớ đã cố gắng không làm cậu hoảng sợ, nhưng phần cuối cùng hơi bị vội. Không phải tác phẩm đẹp nhất của tớ.”

Khi những kế hoạch chạy trốn được phác vội với nhiều đầu mối ám chỉ sự ra đi, tôi đã nghĩ thế là rất ấn tượng. Nhưng tôi gần như ngạc nhiên rằng trong bản kế hoạch gốc cô ấy cũng muốn tôi tham gia vào. “Có lẽ cậu sẽ kể cho tớ biết chứ,” tôi nói, cố mỉm cười. “Cậu biết đấy, tớ đã thắc mắc nhiều. Điều gì có trong kế hoạch và điều gì không? Cái gì mang ý nghĩa gì? Tại sao các manh mối lại hướng vào tớ, tại sao cậu ra đi, đại khái thế.”

“Ừ, được. Được rồi. Với câu chuyện đó, chúng ta phải bắt đầu bằng một câu chuyện khác.” Margo đứng dậy, tôi theo sau trong khi Margo bước đi uyển chuyển, tránh những mảng sàn ọp ẹp. Quay trở lại góc làm việc, cô ấy tìm trong ba-lô và lấy ra cuốn sổ bìa da đen. Margo ngồi xuống sàn, bắt chéo chân và vỗ xuống sàn gỗ ngay cạnh cô ấy. Tôi ngồi xuống. Margo mở cuốn sổ ra. “Chuyện này,” cô ấy nói, “vậy là chuyện này bắt đầu từ lâu rồi. Hồi ấy khoảng lớp bốn, tớ bắt đầu viết vào đây. Một kiểu truyện trinh thám.”

Tôi nghĩ nếu bây giờ giật lấy cuốn sổ từ Margo, tôi có thể dùng nó để đặt điều kiện. Tôi có thể lợi dụng nó để khiến cô ấy phải về Orlando, và Margo sẽ đi làm thêm vào mùa hè, ở trong một căn hộ cho đến khi năm học ở trường đại học bắt đầu, và ít nhất hai đứa sẽ có một mùa hè. Nhưng tôi chỉ lắng nghe.

“Tớ không muốn huênh hoang tự mãn đâu, nhưng đây thực sự là một tác phẩm hay hiếm có đấy. Được rồi, đùa thôi mà. Chỉ là đứa-tớ-mười-tuổi viết ra một mớ những loằng ngoằng lan man đầy phép thuật và ước ao hão huyền rất trẻ con thôi. Bắt đầu từ cô bé này, tên là Margo Spiegelman, giống tớ hồi tớ mười tuổi ở mọi điểm, trừ chuyện bố mẹ con bé tốt bụng, giàu sụ và mua cho nó đủ thứ nó thích. Margo thích cậu bé tên là Quentin, giống cậu ở mọi điểm, trừ bản lĩnh anh hùng không biết run sợ, nguyện hi sinh để bảo vệ tớ và những thứ khác. Còn có nhân vật Myrna Mountweazel, giống con Myrna Mountweazel ở mọi điểm, trừ năng lực pháp thuật siêu phàm. Ví dụ, trong truyện, bất cứ ai khi nựng Myrna Mountweazel cũng không thể nói dối được trong vòng mười phút. Mới cả, nó biết nói. Tất nhiên là nó biết nói rồi. Liệu có đứa mười tuổi nào viết truyện về chó mà con chó ấy lại không biết nói không?”

Tôi cười thành tiếng, vẫn còn mải nghĩ đến Margo-mười-tuổi thích đứa-tôi-mười-tuổi.

“Thế là trong câu chuyện,” Margo kể tiếp, “Quentin, Margo và con Myrna Mountweazel cùng điều tra cái chết của Robert Joyner, nhân vật đã chết gần giống như Robert Joyner chết ngoài đời thực, trừ chi tiết ai đó đã bắn thẳng vào mặt bác ấy chứ không phải tự bác ấy rõ ràng đã bắn vào mặt mình. Và cốt truyện xoay quanh quá trình điều tra tên tội phạm.”

“Vậy ai đã bắn?”

Margo cười thành tiếng. “Cậu muốn tớ kể trước toàn bộ tình tiết sao?”

“Thôi,” tôi đáp, “tớ muốn tự đọc hơn.” Margo mở sách ra và chỉ cho tôi một trang. Chữ viết rất khó đọc, không phải vì Margo viết xấu, mà vì ở trên những dòng ngang, chữ cũng chạy thẳng xuống cuối trang. “Tớ viết đan vào nhau thế đấy,” Margo giải thích. “Những độc giả phiMargo khó mà giải mã được. Được tồi, tớ sẽ bật mí tình tiết cho cậu, nhưng cậu phải hứa không cáu điên lên đã.”

“Hứa,” tôi đáp.

“Hóa ra kẻ thủ ác là anh trai của người chị của bà vợ cũ bị nghiện rượu của Robert Joyner. Thủ phạm bị điên vì hắn ta bị ám bởi linh hồn độc ác của một con mèo nhà Ai Cập cổ đại. Tớ đã bảo rồi đấy, chuyện này vào loại thượng đẳng mà. Nhưng dù sao, cậu, tớ và con Myrna Mountweazel đã lên đường và đối mặt với thủ phạm. Hắn ta tìm cách bắn tớ, nhưng cậu đã nhảy lên hứng đạn, rồi cậu hi sinh đầy bi tráng trong vòng tay tớ.”

Tôi cười rũ. “Tuyệt. Thoạt đầu nghe đầy hứa hẹn với cô bé xinh đẹp xiêu lòng thích tớ, đủ thứ bí ẩn mưu toan, rồi tớ chết hự là hết chuyện.”

“Ừ, thế đấy.” Margo cười. “Nhưng tớ phải để cậu bị chết, vì kết thúc khả dĩ duy nhất khác là chúng ta làm chuyện đó, mà tớ chưa đủ sẵn sàng về tình cảm để viết như vậy khi mười tuổi.”

“Được rồi, cũng hợp lí,” tôi nói. “Nhưng khi nào viết lại, tớ muốn có thêm chút hành động.”

“Sau khi cậu bị nhân vật phản diện bắn hạ, có lẽ thế. Một nụ hôn trước phút tắt thở.”

“Cậu tử tế quá đấy.” Tôi có thể đứng dậy, đến sát bên và hôn cô ấy. Tôi có thể. Nhưng vẫn còn quá nhiều điều sẽ bị phá hỏng.

“Dù sao, năm lớp năm tớ đã hoàn thành câu chuyện. Vài năm sau, tớ quyết định sẽ bỏ đi Mississippi. Tớ đã viết tất cả các kế hoạch cho chuyến đi động trời ấy vào cuốn sổ này, phía trên câu chuyện cũ, rồi cuối cùng tớ thực hiện kế hoạch–lấy xe của mẹ, đi cả ngàn dặm và để lại manh mối trong súp. Tớ thậm chí còn không thích hành trình bám đường bộ, thực sự–cô đơn kinh khủng–nhưng tớ thích hoàn thành việc đó, phải không? Thế là tớ viết thêm nhiều kế hoạch chen vào đây–những trò trêu chọc, ghép bạn nữ này với bạn nam kia, chiến dịnh phủ giấy vệ sinh rất hoành tráng, thêm nhiều hành trình bám đường bí mật, và bất cứ điều gì khác nữa. Đến đầu năm lớp mười, cuốn sổ đã kín phân nửa, đó là khi tớ quyết định sẽ làm thêm một vụ, một vụ chấn động, rồi ra đi.”

Margo chuẩn bị nói tiếp, nhưng tôi phải ngăn cô ấy. “Tớ đang nghĩ đó là tại không gian hay tại con người? Nếu những người xung quanh cậu là những người khác thì chuyện sẽ ra sao?”

“Sao cậu có thể phân tách hai mặt đó được chứ? Người là đất và đất là người. Dù sao, tớ không nghĩ thể đánh bạn với ai khác. Tớ nghĩ mọi người hoặc là sợ sệt như cậu, hoặc là vô tâm như Lacey. Và–”

“Tớ không sợ sệt như cậu nghĩ đâu,” tôi nói. Đúng như vậy. Tôi chỉ nhận ra điều đó đúng sau khi đã tuyên bố. Nhưng vẫn đúng như vậy.

“Tớ chán hết,” Margo nói, giọng gần như rít lên. “Rồi hồi tớ học lớp mười, Gus đã đưa tớ đến Osprey–” tôi nghiêng đầu không hiểu. “Khu mua sắm mini ấy. Rồi tớ bắt đầu tự đến đó một mình, chỉ chơi vớ vẩn và viết các kế hoạch. Đến cuối năm ngoái, mọi kế hoạch đều nhắm đến lần chạy trốn cuối cùng này. Không biết có phải tại tớ vừa viết vừa đọc lại truyện ngày xưa không, nhưng tớ đã sớm đưa cậu vào kế hoạch mới này. Ý tưởng chủ đạo là chúng ta sẽ làm tất cả những việc này cùng nhau–như lẻn vào SeaWorld, điều đó ở trong kế hoạch gốc–tớ sẽ đẩy cậu đến chỗ trở thành một gã cứng rắn có máu mặt. Đêm cuối sẽ, chà, giải phóng cậu. Rồi tớ biến mất, và cậu sẽ luôn nhớ đến tớ vì điều đó.

“Cuối cùng kế hoạch này dài bảy chục trang lận, chuẩn bị xảy ra, các bước rất trơn tru. Nhưng rồi tớ biết chuyện Jase, và tớ quyết định đi luôn. Ngay lập tức. Tớ không cần tốt nghiệp. Tốt nghiệp để làm gì? Nhưng tớ phải thắt nốt những chỗ còn lỏng đã. Thế là cả ngày hôm đấy ở trường tớ đã lấy sổ ra, cố xoay xở như điên để kế hoạch ráp vào với Becca, Jase và Lacey, và bất cứ ai không phải là bạn với tớ như tớ đã coi họ là bạn. Tớ tìm thêm những ý tưởng để mọi người biết rằng tớ ngấy thế nào trước khi giũ họ đi mãi mãi.

“Nhưng tớ muốn cùng thực hiện với cậu; tớ vẫn giữ ý tưởng có thể tạo dựng trong cậu ít nhất là hình bóng người anh hùng đầy bản lĩnh trong câu chuyện trẻ con của tớ.

“Và rồi cậu làm tớ ngạc nhiên”, Margo vẫn nói. “Suốt những năm đó đối với tớ cậu là một anh chàng giấy–hai chiều như một nhân vật trên mặt giấy, và hai chiều, nhưng vẫn phẳng, như một con người. Nhưng đêm đó cậu trở nên rất thật. Và chuyện kết thúc là lạ, vui vui, ảo ảo đến mức sáng hôm ấy tớ về phòng và chỉ thấy nhớ cậu. Tớ muốn chạy sang, chơi và nói chuyện linh tinh, nhưng tớ đã quyết định ra đi, nên tớ phải ra đi. Giây cuối cùng, tớ nảy ra ý tưởng chỉ cho cậu đường đến Osprey. Để lại nó cho cậu để cậu càng tiến bộ trong lĩnh vực không-sắm-vai-con-mèo-nhát.

“Ừ, thế đấy. Tớ xoay xở thật nhanh. Dán áp phích Woody lên mặt sau rèm cửa, khoanh tên bài hát trên đĩa nhạc, đánh dấu hai câu trong bài “Tự khúc” bằng màu khác so với màu tớ đã đánh dấu trước đó, khi tớ thực sự tự đọc. Rồi sau khi cậu đến trường, tớ trèo qua cửa sổ phòng cậu, nhét mẩu giấy lên chỗ cửa ra vào. Sáng hôm ấy tớ đã đến Osprey, phần vì tớ chưa thấy sẵn sàng, phần vì tớ muốn dọn dẹp nơi đó cho cậu. Thật lòng tớ không muốn cậu lo lắng. Thế nên tớ đã sơn phủ lên chữ graffiti, tớ không biết cậu lại đọc được. Tớ xé những tờ lịch bàn tớ đã dùng đi, và gỡ bản đồ xuống. Tớ đã treo nó lên kể từ lúc phát hiện ra có Agloe ở đó. Rồi vì tớ mệt và chẳng có nơi nào để đi, tớ đã ngủ ở đó. Tớ ở lại khoảng hai đêm, thực ra cũng muốn xốc lại tinh thần và lấy can đảm cho bản thân, chắc thế. Tớ cũng nghĩ, không biết nữa, có thể cậu sẽ rất nhanh tìm ra nơi này. Thế là tớ đi. Mất hai ngày để đến đây. Từ đó tớ ở đây thôi.”

Hình như Margo đã kể hết, nhưng tôi còn một câu hỏi nữa. “Tại sao lại là nơi này?”

“Một thành phố giấy cho một cô gái giấy,” Margo đáp. “Tớ đã đọc về Agloe trong cuốn sách ‘những sự thật đáng ngạc nhiên’ hồi tớ mười, mười một tuổi gì đó. Tớ cứ nghĩ mãi về nó. Sự thật là bất cứ lúc nào đứng từ trên cao tòa nhà SunTrust–tính cả lần cuối cùng với cậu–tớ không thực sự nhìn xuống và nghĩ mọi thứ đều được làm bằng giấy như thế nào. Tớ nhìn xuống và nghĩ tớ được làm bằng giấy như thế nào. Tớ là cái con người mỏng manh dễ gấp dễ vo lại ấy, không gì khác. Và vấn đề là ở đây. Mọi người đều thích ý niệm về một cô gái giấy. Họ luôn như vậy. Và điều tệ nhất là tớ cũng thích như vậy. Tớ đã nuôi ý niệm ấy, cậu biết chứ?

“Vì cũng vui. Là một ý niệm mà ai cũng thích. Nhưng tớ không thể nào là một ý niệm với chính mình, không thể cả đời là một ý niệm được. Agloe là nơi một sản phẩm trên giấy đã trở thành có thật. Một chấm trên bản đồ trở thành một nơi có thật, thật hơn cả những người đã tạo ra cái chấm đó có thể tưởng tượng được. Tớ đã nghĩ có lẽ miếng cắt giấy hình cô gái có thể bắt đầu trở thành có thật từ nơi này. Và có lẽ đó là cách để nói với cô gái giấy luôn muốn được mến mộ, luôn quan tâm đến áo quần và đủ thứ khác ấy: ‘Sẽ đến những thành phố giấy. Và sẽ không bao giờ trở lại.’”

“Dòng graffiti đó,” tôi nói. “Trời ơi, Margo, tớ đã đến rất nhiều tiểu khu bị bỏ hoang như vậy để tìm xác cậu. Tớ thực sự đã nghĩ–tớ thực sự tưởng cậu đã chết rồi.”

Margo đứng dậy, tìm trong ba-lô một lát rồi với ra lấy cuốn Lọ chuông, và đọc to cho tôi nghe. “‘Nhưng đến giờ phút quyết định ấy, da trên cổ tay tôi sao mà trắng và không chút kháng cự đến thế, tôi chẳng thể nào làm được nữa. Hình như những gì tôi muốn giết chết không phải trong làn da ấy, hay mạch máu xanh mảnh đập dưới ngón tay tôi, mà ở đâu đó khác, sâu hơn, bí mật hơn, và vô cùng khó chạm đến hơn.’” Margo ngồi lại xuống bên tôi, gần, quay mặt nhìn tôi, vải quần jeans của chúng tôi chạm nhau nhưng hai đầu gối không hề chạm. Margo nói, “Tớ hiểu bà ấy muốn nói gì. Cái đâu đó khác sâu hơn và bí mật hơn ấy. Nó giống như những vết nứt bên trong cậu. Giống như có những đường bị lỗi nơi mọi thứ không khớp vào nhau được.”

“Tớ thấy hay đấy,” tôi nói. “Hoặc như những vết nứt trên vỏ tàu.”

“Phải, phải.”

“Kiểu gì cũng sẽ kéo cậu chìm xuống.”

“Chính xác,” Margo thốt lên. Chúng tôi nói qua nói lại khá nhanh.

“Không thể tin được là cậu không muốn tớ đi tìm cậu.”

“Xin lỗi mà. Nếu nói ra mà có chút tác dụng thì tớ hơi bị ấn tượng đấy. Mà có cậu ở đây vui thật. Cậu là một bạn đồng hành tuyệt vời.”

“Đó là một lời mời phải không?” tôi hỏi.

“Chắc thế.” Cô ấy cười.

Con tim tôi nhảy nhót liên hồi trong lồng ngực vì trạng thái say này như cứ kéo dài mãi–nhưng chỉ gần như thôi. “Margo ơi, nếu mùa hè này cậu đến nhà tớ ở–bố mẹ tớ đã nói rằng cậu có thể ở với cả nhà tớ, hoặc cậu có thể kiếm việc làm và thuê một căn hộ trong mùa hè, rồi học kì đại học sẽ bắt đầu, và cậu sẽ không bao giờ phải sống với bố mẹ cậu nữa.”

“Không phải chỉ họ. Tớ thấy oải từ bên trong,” Margo đáp, “và tớ chưa bao giờ thoát ra. Không phải chỉ là những chuyện tầm phào, tiệc tùng và tất cả những thứ nhạt nhẽo nhảm nhí khác, mà là toàn bộ ánh hào quang của một cuộc đời được sống đúng–đại học, việc làm, chồng, con, và tất cả các thể loại hão huyền ấy.”

Vấn đề là tôi tin vào đại học, việc làm, và có thể một ngày nào đó là con cái. Tôi tin ở tương lai. Có lẽ đó là một khiếm khuyết trong tính cách, nhưng với tôi điều đó là bẩm sinh. “Nhưng đi học đại học cậu sẽ có nhiều cơ hội hơn,” cuối cùng tôi nói, “Đại học không làm giảm các khả năng đâu.”

Margo cười nửa miệng. “Cảm ơn Chuyên Gia Tư Vấn Đại Học Jacobsen,” cô ấy nói, rồi thay đổi chủ đề. “Tớ thường nghĩ đến cậu khi ở trong Osprey. Dù cậu có quen với nó hay không chăng nữa. Đừng lo lắng về bọn chuột.”

“Tớ quen đấy,” tôi đáp. “Tớ bắt đầu thích chỗ đấy. Thực ra cả đêm dạ tiệc tốt nghiệp tớ đã ở đó.”

Cô ấy cười. “Tuyệt. Tớ từng hình dung rồi cậu sẽ thích chỗ đó cho coi. Chưa bao giờ thấy chán khi ở Osprey, nhưng đó là do sớm muộn gì tớ cũng phải về nhà. Khi ở đây, tớ cũng chán lắm. Chẳng có gì để làm, tớ đã đọc rất nhiều từ khi đến đây. Càng ở tớ cũng càng thấy căng thẳng, chẳng quen biết ai cả. Tớ cứ cố chờ cho sự cô đơn và căng thẳng đó đưa tớ về nhà. Nhưng điều đó không xảy ra. Có một điều tớ không thể làm được, Q ạ.”

Tôi gật đầu. Tôi hiểu điều đó. Tôi tưởng tượng được khó có thể quay trở lại một khi đã cảm thấy những lục địa trong lòng bàn tay. Nhưng tôi vẫn cố thêm chút nữa. “Thế qua mùa hè thì sao? Còn trường đại học? Còn phần còn lại của cuộc đời cậu nữa?”

Margo nhún vai. “Những điều đó thì sao?”

“Cậu không lo lắng về, gì nhỉ, mãi mãi sao?”

“Mãi mãi là hợp âm của những hiện tại,” Margo đáp. Tôi không biết nói gì, chỉ cố gắng nuốt trôi khi Margo nói, “Emily Dickinson đấy. Tớ bảo rồi mà, tớ đã đọc rất nhiều.”

Tôi nghĩ tương lai xứng đáng có được niềm tin của chúng ta. Nhưng khó có thể tranh luận được với Emily Dickinson. Margo đứng dậy, khoác ba-lô lên vai và chìa tay xuống cho tôi. “Mình đi dạo đi.” Ra đến bên ngoài, Margo hỏi mượn điện thoại của tôi. Cô ấy bấm số, tôi chực đi để cô ấy nói chuyện cho tự nhiên, nhưng Margo đã kéo tay giữ tôi lại. Thế nên tôi đi bộ cùng Margo ra cánh đồng trong khi cô ấy nói chuyện với bố mẹ.

“Dạ, con Margo đây ạ... Con đang ở Agloe, New York, với Quentin... Ơ... dạ, không mẹ ạ, con muốn trả lời mẹ thật thành thực... Mẹ, thôi mà... Con không biết mẹ ạ... Con quyết định chuyển đến một chỗ không có thật. Chuyện diễn ra như vậy... Vâng, à, nhưng dù sao con không nghĩ con lại bị coi là đứa như vậy... Con nói chuyện với Ruthie được không ạ?... À, cưng đấy à... Ừ, ừ, chị thương cưng nhất... Ừ, chị xin lỗi mà. Thế là lỗi rồi mà. Chị cứ tưởng– chị không biết mình đã tưởng gì nữa, Ruthie ạ, nhưng chị biết đó là lỗi của chị rồi, từ giờ chị sẽ gọi điện. Chắc chị không gọi cho mẹ đâu, nhưng nhất định sẽ gọi cho cưng... Các ngày thứ Tư nhé?... Cưng bận thứ Tư rồi à? Ừm, được rồi. Thế ngày nào thì được?... Thứ Ba là... ừ... vậy thứ Ba hàng tuần nhé... Ừ, tính cả thứ Ba tuần này luôn.” Margo nhắm chặt mắt, răng hơi nghiến lại. “Được rồi, Ruthie ngoan, bây giờ đưa điện thoại lại cho mẹ nhé?... Con yêu mẹ ạ. Con sẽ ổn cả, con thề ạ... Vâng, được rồi mẹ cũng thế ạ. Con chào mẹ.”

Margo dừng lại, ngắt cuộc gọi nhưng vẫn giữ điện thoại trong tay khoảng một phút. Tôi thấy mấy đầu ngón tay cô ấy hồng lên vì nắm chặt, rồi cô ấy đánh rơi điện thoại xuống đất. Tiếng thét của Margo ngắn nhưng chói tai, sau đó lần đầu tiên tôi nhận ra sự tĩnh lặng biền biệt của Agloe. “Mẹ nghĩ việc của tớ là phải làm hài lòng mẹ thì phải, và đó phải là nguyện vọng lớn nhất của tớ, và khi không làm mẹ hài lòng nữa thì tớ bị tống đi. Mẹ đã thay hết khóa rồi. Đó là điều đầu tiên mẹ nói với tớ. Lạy Chúa.”

“Tớ rất tiếc,” tôi nói, vén thứ cỏ nửa vàng nửa xanh cao đến đầu gối ra để nhặt điện thoại lên. “Nhưng nói chuyện với Ruthie thì vui chứ?”

“Ừ, con bé ngoan và đáng yêu lắm. Tớ thấy mình rất tệ vì–cậu biết đấy–đã không nói gì với nó.”

“Được rồi mà,” tôi nói. Margo đánh đùa tôi.

“Lẽ ra cậu phải làm tớ thấy vui hơn chứ không phải tệ đi!” Margo nói. “Đó là tất cả biệt tài của cậu cơ mà!”

“Tôi không biết hóa ra việc của tôi là phải làm hài lòng cô đấy, thưa cô Spiegelman.”

Margo cười thành tiếng. “Ôôi, so sánh với các bà mẹ. Vinh dự toát cả mồ hôi. Nhưng cũng có phần đúng đấy. Thế cậu dạo này thế nào? Nếu Ben đang dập dìu với Lacey, chắc chắn cậu cũng trải qua hàng đêm nóng bỏng với cả chục cô nàng trong đội cổ vũ rồi.”

Chúng tôi từ từ đi trên mặt đất mấp mô của cánh đồng này. Thoạt nhìn cánh đồng không lớn, nhưng có đi tôi mới nhận ra chẳng có vẻ gì như chúng tôi đang lại gần hàng cây ở phía xa cả. Tôi kể cho Margo nghe về màn đánh tháo khỏi lễ tốt nghiệp, những vòng xoay ngoạn mục của Con Quay. Tôi kể với cô ấy về dạ tiệc, Lacey đã chiến đấu với Becca, và đêm tôi ở Osprey. “Đó là đêm tớ thực sự biết rằng chắc chắn cậu đã ở đó,” tôi nói với Margo. “Tấm chăn vẫn còn mùi giống cậu.”

Khi tôi nói đến đấy, bàn tay Margo khẽ chạm vào tôi, và tôi nắm ngay lấy bàn tay ấy, vì có cảm giác như lúc này còn ít điều dễ bị phá hỏng hơn. Margo nhìn tôi. “Tớ đã phải ra đi. Tớ không cần phải làm cậu sợ và như thế ngốc thật. Lẽ ra tớ phải ra đi gọn ghẽ hơn, nhưng đúng là tớ phải ra đi. Cậu hiểu chứ?”

“Ừ,” tôi đáp, “nhưng tớ nghĩ bây giờ cậu cũng có thể trở về. Đúng là tớ nghĩ như vậy.”

“Không đâu, cậu không nghĩ như vậy đâu,” Margo đáp, và cô ấy nói đúng. Cô ấy có thể thấy được điều đó trên mặt tôi–giờ tôi hiểu rằng mình không thể là cô ấy và cô ấy không thể là tôi. Có lẽ Whitman có một cái tài mà tôi không có. Đối với tôi: Tôi phải hỏi người mang vết thương xem anh ta bị đau ở đâu, vì tôi không thể trở thành người mang vết thương. Người mang vết thương duy nhất mà tôi có thể ở trong, chính là tôi.

Tôi dẫm rạp một trảng cỏ và ngồi xuống. Margo nằm xuống cạnh tôi, gối đầu lên ba-lô. Tôi cũng nằm xuống. Margo lấy mấy cuốn sách trong ba-lô ra, đưa cho tôi gối đầu. Tuyển tập thơ Emily DickinsonNhững cánh cỏ. “Tớ có hai cuốn,” Margo nói, mỉm cười.

“Một áng thơ tuyệt đẹp,” tôi nói với Margo. “Cậu không thể chọn chính xác hơn được.”

“Thực ra chỉ là quyết định bột phát sáng hôm ấy thôi. Tớ nhớ có câu về những cánh cửa và thấy rất hợp. Nhưng rồi khi đến đây tớ đã đọc lại. Tớ đã không đọc lại kể từ hồi học Quốc ngữ lớp mười. Ừ, tớ rất thích bài thơ ấy. Tớ cố đọc rất nhiều thơ. Tớ cố hiểu xem–ừ, đêm đó điều gì đã khiến tớ ngạc nhiên về cậu đến thế? Một thời gian dài tớ đã nghĩ có lẽ là khi cậu đọc T.S. Eliot.”

“Nhưng không phải,” tôi nói. “Cậu sửng sốt vì bắp tay con chuột và màn phi thân qua cửa sổ đầy quyến rũ của tớ chứ gì?”

Margo cười nhếch miệng. “Trật tự và để tớ khen cậu đây, đồ lắm chuyện. Không phải thơ hay cơ con chuột. Điều làm tớ ngạc nhiên là dù phải chịu căng thẳng và đủ thứ khác, cậu đã giống như Quentin trong câu chuyện của tớ. Tớ viết chen vào chỗ trống những trang sổ ấy hàng năm trời, mỗi lần viết tớ lại đọc lại câu chuyện, lần nào cũng phì cười, kiểu như–cậu đừng mếch lòng nhé–‘Trời, không tin nổi rằng mình từng nghĩ Quentin Jacobsen là người bảo vệ công lí siêu nóng bỏng, siêu tận tụy như vậy chứ.’ Nhưng rồi–cậu biết đấy–cậu cũng hơi hơi như vậy.”

Tôi có thể quay nghiêng, cô ấy cũng có thể quay nghiêng, và rồi chúng tôi có thể hôn nhau. Nhưng rút cục hôn cô ấy bây giờ để làm gì? Sẽ không đi đến đâu cả. Chúng tôi đều cùng nhìn lên bầu trời trong vắt. “Chẳng có gì xảy ra giống như ta tưởng tượng cả,” cô ấy nói.

Bầu trời lúc này như một tác phẩm hội họa đương đại đơn sắc, hút lấy tôi bằng ảo ảnh về chiều sâu của nó, kéo tôi lên mãi. “Ừ, đúng vậy,” tôi nói. Nhưng rồi nghĩ một giây, tôi thêm vào, “Nhưng nếu không tưởng tượng, chẳng điều gì có thể xảy ra cả.” Tưởng tượng không hoàn hảo. Ta không thể tưởng tượng được mọi mặt bên trong một người khác. Tôi chưa từng tưởng tượng được Margo lại có thể nổi giận như cô ấy vừa bộc lộ ra, cũng như câu chuyện cô ấy đã viết. Nhưng tưởng tượng mình là người khác, hoặc tưởng tượng thế giới này khác đi, là cách duy nhất để vào trong được. Đó là cỗ máy diệt được phát-xít.

Margo quay sang và gối đầu lên vai tôi, và chúng tôi nằm đó, như cách đây lâu lâu tôi từng tưởng tượng hai đứa tôi nằm trên thảm cỏ trong SeaWorld. Phải mất hàng ngàn dặm đường và nhiều ngày trời, nhưng giờ chúng tôi đang ở đây: mái đầu cô ấy gối lên vai tôi, hơi thở của cô ấy trên cổ tôi, cơn mệt mỏi giặm sâu trong lòng hai đứa. Chúng tôi bây giờ giống như khi ấy tôi đã từng ao ước.

Khi tôi tỉnh dậy, ánh ngày đang tắt dần khiến mọi thứ trông thật đặc biệt, từ bầu trời vàng óng tới những thân cỏ trên đầu tôi, dập dìu đung đưa như nữ hoàng sắc đẹp. Tôi nằm nghiêng, thấy Margo Roth Spiegelman đang quì trên đất cách tôi mấy mét, quần jeans bó lấy chân. Mất một lúc tôi mới nhận ra Margo đang đào. Tôi bò về phía đó và bắt đầu đào cạnh cô ấy, đất dưới lớp cỏ khô như bụi trong những ngón tay tôi. Margo nhìn tôi mỉm cười. Tim tôi đập loạn như vận tốc của âm thanh.

“Mình đang đào cái gì vậy?” tôi hỏi cô ấy.

“Đó không phải câu hỏi thích hợp,” Margo đáp. “Câu hỏi phải là, ta đang đào đất cho ai?”

“Ừ, được rồi, ta đang đào đất cho ai thế?”

“Ta đang đào mộ cho nhóc Margo, nhóc Quentin, cún Myrna Mountweazel và bác Robert Joyner tội nghiệp đã quá cố,” Margo đáp.

“Chắc tớ đuối với những đám tang này quá,” tôi nói. Đất lổn nhổn và khô, dọc ngang đường đi của côn trùng trong lòng đất, trông như một trang trại kiến bị bỏ hoang. Bọn tôi đào bằng tay trần vào đất, mỗi nắm đất đi kèm một đám mây bụi nho nhỏ. Hai đứa đào một cái hố sâu và rộng. Ngôi mộ này thích hợp phải biết. Chẳng mấy chốc tôi đào sâu đến khuỷu tay. Tay áo tôi lem bụi khi tôi quyệt mồ hôi trên má. Hai má cô ấy hồng lên. Tôi ngửi thấy mùi của Margo, cô ấy thơm giống như đêm hôm ấy, ngay trước khi chúng tôi nhảy xuống hào nước ở SeaWorld.

“Tớ chưa bao giờ thực sự nghĩ rằng bác ấy là một người có thật,” cô ấy nói.

Trong khi Margo nói, tôi tận dụng thời gian nghỉ một lát và ngồi bệt xuống. “Ai cơ, Robert Joyner à?”

Margo vẫn đào tiếp. “Ừ. Bác ấy như một điều gì đó xảy ra với tớ, cậu hiểu chứ? Nhưng trước khi bác ấy là nhân vật bé nhỏ này trong vở kịch của cuộc đời tớ, bác ấy đã là–cậu biết đấy, nhân vật chính trong vở kịch của cuộc đời bác ấy.”

Tôi cũng chưa từng nghĩ đến bác ấy như một con người. Một người cũng bày trò nghịch đất như tôi. Một người cũng biết yêu như tôi. Một người có những dây nối đã đứt hết, không cảm thấy gốc rễ nhánh cỏ của mình ăn vào lòng đất, một người đã bị nứt ra. Như tôi. “Ừ,” lúc sau tôi nói và quay lại đào tiếp. “Đối với tớ bác ấy luôn chỉ là một cái xác thôi.”

“Tớ ước sao tụi mình đã làm được chuyện gì đó ra hồn,” cô ấy bảo. “Tớ ước sao tụi mình đã tỏ ra được là tụi mình anh hùng cỡ nào.”

“Ừa,” tôi đáp lời. “Giá mà ta nói được với bác ấy rằng, dù chuyện gì có xảy ra thì đó cũng không nhất thiết phải là ngày tận thế.”

“Ừ, dù cuối cùng có cái gì đó đã giết được cậu.”

Tôi nhún vai. “Ừ, tớ biết. Tớ không nói rằng mọi thứ đều sống mãi được. Chỉ là, mọi thứ trừ thứ cuối cùng ra.” Tôi lại sục tay đào tiếp, đất ở đây đen hơn ở nhà nhiều. Tôi thêm một vốc đầy vào đống đất sau lưng, và ngồi xuống. Tôi cảm thấy như đang mon men gần một suy nghĩ, và tôi cố gắng đi vào sâu trong nó. Tôi chưa từng một mạch nói nhiều như thế này với Margo, xét trong mối quan hệ dài và được viết thành truyện giữa chúng tôi. Nhưng nó đây rồi, trò chơi cuối cùng của tôi dành cho cô ấy.

“Khi nghĩ đến việc bác ấy đã chết–phải nói thật là không nhiều–tớ luôn nghĩ kiểu như cậu đã nói, rằng các dây nối bên trong bác ta đã đứt hết cả rồi. Nhưng có cả ngàn cách để nhìn nhận: có thể là dây nối bị đứt, có thể là tàu chìm, hoặc có thể chúng ta là cỏ–bộ rễ của chúng ta đan cài vào nhau mật thiết đến mức miễn là người nào đó còn sống thì sẽ không có ai chết cả. Ý tớ là chúng ta không thiếu các ẩn dụ. Nhưng ta phải cẩn thận với những ẩn dụ mình chọn dùng, vì điều đó rất hệ trọng. Nếu chọn những sợi dây nối, cậu đang tưởng tượng ra một thế giới nơi cậu có thể bị đứt lìa không gì cứu vãn được. Nếu chọn cỏ, cậu đang muốn nói rằng tất cả chúng ta đều được gắn kết với nhau không hạn định, rằng ta có thể tận dụng bộ rễ ấy để không chỉ hiểu được người khác mà còn trở thành một người khác. Ẩn dụ mang nhiều tầng nghĩa hàm ngôn mà. Cậu hiểu ý tớ chứ?” Cô ấy gật đầu.

“Tớ thích những sợi dây nối. Tớ luôn thích. Vì đó là cách để cảm nhận. Nhưng những dây nối khiến nỗi đau có vẻ dễ dẫn đến cái chết hơn thực tế, tớ nghĩ vậy. Ta không mỏng manh dễ đứt như những sợi dây khiến ta tin như vậy. Và tớ cũng thích cỏ. Cỏ đưa tớ đến với cậu, giúp tớ hình dung ra cậu là một con người thật. Nhưng bọn mình không phải là những nhánh khác nhau trên cùng một cây. Tớ không thể là cậu. Cậu không thể là tớ. Ta có thể tưởng tượng rất đúng về người khác–nhưng không bao giờ tương đối hoàn hảo cả, cậu hiểu chứ?

“Có lẽ giống nhiều hơn với điều cậu từng nói, tất cả chúng ta đều bị nứt mở. Như thể ban đầu mỗi chúng ta đều là một vỏ tàu kín, nước không lọt vào được. Và những chuyện như vậy xảy ra–những người như vậy rời bỏ ta, hoặc không yêu ta, hoặc không hiểu ta, hoặc ta không hiểu họ, chúng ta mất mát, thất bại và làm đau lòng lẫn nhau. Rồi vỏ tàu bắt đầu nứt ra ở đâu đó. Và đấy, một khi vỏ đã nứt vỡ, thì kết cục là không thể tránh được. Một khi mưa bắt đầu rơi được vào Osprey, sẽ không bao giờ có sửa chữa tu bổ. Nhưng vẫn còn khoảng thời gian này ở giữa, khi những nứt rạn mới chỉ bắt đầu cho tới khi ta hoàn toàn tan rã. Và chỉ có trong thời gian này ta mới có thể nhìn được vào nhau, vì ta thấy được chính mình qua những nứt rạn của ta và nhìn người khác qua những nứt rạn của họ. Khi nào chúng ta đã nhìn thẳng được vào nhau, mặt đối mặt? Chỉ đến khi cậu nhìn vào qua những nứt rạn của tớ và tớ nhìn vào qua những nứt rạn của cậu. Còn trước đó, chúng ta chỉ thấy những ý niệm về nhau, giống như cậu nhìn qua ô cửa sổ nhưng không bao giờ thấy được bên trong. Nhưng một khi những vết nứt đã rạn mở, ánh sáng có thể lọt vào trong. Ánh sáng có thể hắt ra ngoài.”

Margo đặt những ngón tay lên môi, trông như đang tập trung, hoặc như đang giấu không cho tôi nhìn thấy môi cô ấy, hoặc như đang cảm nhận những từ ngữ mà cô ấy muốn nói. “Cậu thực sự là một cái gì đó,” cuối cùng Margo nói. Cô ấy chăm chú nhìn tôi, mắt tôi và mắt cô ấy và không gì giữa chúng. Tôi chẳng đạt được gì nếu hôn cô ấy. Nhưng tôi không còn đi tìm những điều để đạt được nữa. “Có việc này tớ cần phải làm,” tôi nói, cô ấy gật đầu rất khẽ, như thể đã biết, và tôi hôn cô ấy.

Chúng tôi rời nhau một lúc lâu rồi Margo mới nói, “Cậu có thể đến New York. Sẽ vui lắm. Giống như hôn nhau vậy.”

Và tôi nói, “Hôn thực sự là một cái gì đó.”

Và cô ấy nói, “Cậu đang từ chối.”

Tôi bảo, “Margo ơi, tớ có cả cuộc đời mình ở đây, tớ không phải cậu, và tớ–” Nhưng tôi không thể nói thêm gì vì Margo lại hôn tôi, và chính khoảnh khắc cô ấy đặt môi lên tôi, tôi đã biết mà không cần đặt câu hỏi nào, rằng chúng tôi rẽ những ngả khác nhau. Cô ấy đứng dậy đi về chỗ chúng tôi vừa nằm ngủ, lấy ba-lô. Margo lấy cuốn sổ bìa da màu đen, quay trở lại huyệt mộ, đặt cuốn sổ vào lòng đất.

“Tớ sẽ nhớ cậu,” Margo thì thầm. Tôi không biết cô ấy đang nói với tôi hay với cuốn sổ. Tôi cũng không biết mình nói với ai khi thốt lên, “Tớ cũng vậy.”

“Hãy bình an nhé, bác Robert Joyner,” tôi nói, thả một nắm đất lên cuốn sổ.

“Hãy bình an nhé, cậu Quentin Jacobsen ngây thơ và quả cảm,” Margo nói, thả nắm đất lúc nãy cô ấy đã đào lên.

Một nắm đầy nữa, tôi nói, “Hãy bình an nhé, cô Margo Roth Spiegelman người Orlando, không bao giờ biết chùn bước.”

Và một nắm nữa, Margo nói, “Hãy bình an nhé, siêu cún Myrna Mountweazel.” Chúng tôi gạt hết đất lên cuốn sổ, dận bằng mặt đất bị bới lên. Cỏ sẽ sớm mọc lại thôi. Với chúng tôi cỏ sẽ là làn tóc mộ chí buông không buồn cắt.

Chúng tôi nắm tay nhau lem đất đi về Hiệu Tạp Hóa Agloe. Tôi giúp Margo bê hành lí–một ôm quần áo, đồ vệ sinh cá nhân, và cái ghế văn phòng–ra xe của cô ấy. Sự quí giá của khoảnh khắc thường khiến người ta dễ nói với nhau, nhưng bây giờ chỉ khó mở lời hơn.

Chúng tôi đứng ngoài trời trong bãi đỗ xe của một nhà trọ một tầng, khi không thể tránh những lời tạm biệt được nữa. “Tớ sẽ mua điện thoại di động, và sẽ gọi cho cậu,” Margo nói. “Cả e-mail nữa. Và đăng những lời bình luận bí ẩn lên phần thảo luận bài viết về Những Thành Phố Giấy trong Toàn Thư Đủ Thứ.”

Tôi mỉm cười. “Tớ sẽ gửi e-mail cho cậu khi bọn tớ về đến nhà,” tôi nói, “và tớ sẽ đợi hồi âm đấy.”

“Tớ bảo đảm. Và tớ sẽ gặp lại cậu. Chúng ta chưa xong màn gặp gỡ nhau ở đây đâu.”

“Cuối mùa hè, có khi thế, tớ có thể gặp cậu ở đâu đó trước khi nhập học,” tôi nói.

“Ừ,” Margo đáp. “Ý kiến hay đấy.” Tôi cười và gật đầu. Cô ấy quay đi, tôi đang tự hỏi không biết Margo có thực sự nghĩ vậy không, thì thấy bờ vai cô ấy so lại. Margo đang khóc.

“Tớ sẽ gặp lại cậu. Trong khi đó tớ sẽ viết cho cậu,” tôi nói.

“Ừ, thế nhé,” cô ấy nói mà không quay lại, giọng trầm xuống. “Tớ cũng sẽ viết cho cậu.”

Chính nói ra những điều này đã giữ chúng tôi khỏi bị vỡ tan. Và có lẽ khi tưởng tượng ra những tương lai ấy, chúng tôi có thể khiến chúng thành sự thực. Cũng có thể là không. Nhưng trong cả hai trường hợp chúng tôi vẫn phải tưởng tượng ra chúng. Ánh sáng trào ra và tràn vào.

Tôi đứng ở bãi đỗ xe này, nhận ra rằng tôi chưa từng ở xa nhà đến thế, và đây là cô gái tôi đem lòng yêu và không thể đi theo được. Tôi hi vọng đây là chuyện vặt của người anh hùng, vì không đi theo cô ấy là điều khó khăn nhất tôi từng làm.

Tôi cứ nghĩ Margo sẽ vào trong xe, nhưng không, cuối cùng Margo quay lại, và tôi thấy đôi mắt cô ấy, ầng ậng long lanh. Khoảng cách thực tế giữa chúng tôi biến mất. Chúng tôi chơi những sợi dây đã đứt trên cung đàn của mình một lần nữa.

Tôi cảm thấy bàn tay Margo trên lưng mình. Trời đã đổ tối khi tôi hôn cô ấy, nhưng tôi mở mắt và Margo cũng vậy. Cô ấy ở đủ gần để tôi có thể thấy được cô ấy, vì giờ có một thứ ánh sáng vô hình từ bên trong, dù vào buổi tối trên bãi đỗ xe này ở ngoại ô Agloe. Nụ hôn dứt, chúng tôi áp trán lại và nhìn vào nhau. Đúng vậy, tôi có thể thấy được cô ấy gần như hoàn hảo trong bóng tối nứt rạn này.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của John Green

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.