• TỪ CON THẰN LẰN BAY ĐẾN NHÀNH DƯƠNG XỈ HÓA THẠCH TRÊN ĐẢO NGƯ ÔNG
• TƯỞU NGỘ ƠI, CÓ NGỜ ĐÂU LẠI LÀ LÚC VĨNH BIỆT
• ĐI BẮT GÀ CHIM MÀ LẠI BỊ BẦY Ó BIỂN ĐUỔI SUÝT CHẾT.
Chuyến đi biển ấy, có ngờ đâu là chuyến đi cuối cùng của Hạnh với con Tưởu Ngộ.
Buổi trưa, anh Banh qua khu nhà ban chỉ huy tìm Hạnh không thấy. Anh lại đảo đi. Từ trong lùm cây mù u, Hạnh gọi váng lên:
- Em ở đây cơ mà!
Anh Banh chạy huỳnh huỵch trên cát. Anh sà xuống ngồi cạnh:
- Nhớ nhà sao mà ngồi thừ ở đây?
Hạnh cười:
- Gió biển mát quá! Em và con Tưởu Ngộ chỉ muốn ngủ.
Anh Banh kéo Hạnh đứng lên:
- Ngủ làm quái gì. Đi với tớ sang đảo Ngư Ông kiếm củi. Mê lắm!
- Đảo Ngư Ông gần hay xa hở anh?
- Ô hay, chú mày chưa biết hả? Đảo trường Trân chưa giới thiệu, vậy thì càng phải đi. Không xa đâu. Chỉ độ nửa giờ.
- Cho cả con Tưởu Ngộ đi, anh nhé?
Anh Banh gật đầu:
- Cũng được!
Giá Hạnh đừng cho nó đi! Giá con Tưởu Ngộ bây giờ đang mải đi chơi chỗ khác. Giá… Nhưng muộn rồi. Hạnh đã ôm con Tưởu Ngộ theo anh Banh xuống con thuyền gỗ. Anh Banh ném hai con dao cùng một mớ dây chão lùng nhùng vào lòng thuyền, ngồi ở mũi, khỏa mạnh hai tay chèo. Vừa chèo thuyền, anh vừa kể:
- Nghe nói, ngày trước đảo Ngư Ông là một phần của Tây Song. Sau bao nhiêu năm tháng, nó bị cắt rời ra và trôi giạt sang phía đông của Tây Song. Rồi chú mày sẽ nhìn tận mắt hòn đảo. Nó không rộng lắm đâu, nhưng lại lắm cây cối. Bơi thuyền đến gần, trông hòn đảo lù lù giống một ông già ngồi câu cá, cho nên người ta đặt tên là Ngư Ông. Bọn anh lên đó kiếm củi về cho nhà bếp, vì Tây Song hiếm gỗ lắm.
- Em nghe nói ở biển có những hòn đảo rất lạ. Cứ mấy tháng nổi lên, rồi mấy tháng khác lại tụt xuống mất tích dưới mực nước biển, chẳng ai dám sống ở đó.
- Chắc là đảo san hô. Hồi nhỏ, anh nghe chuyện kỳ lạ hơn nhiều. Chẳng hiểu thật hay bịa. Có một hòn đảo cư dân đông đúc, nhà cửa mọc lên san sát. Bỗng có một ngày, hòn đảo cựa quậy. Ai cũng tưởng động đất. Rồi hòn đảo «đi» trên biển. Đi một đoạn, nó tụt xuống nước. Bao nhiêu nhà cửa, vườn tược bị nhận chìm tuốt. Chỉ còn ít trai tráng bơi giỏi, kịp nhảy lên thuyền sống sót. Hóa ra cả hòn đảo là lưng một con cá voi khổng lồ đã sống mấy chục năm tuổi. Lão cá voi ngủ một giấc dài, khi tỉnh dậy, nó lặng xuống biển…
Hạnh cười thích thú:
- Chắc là chuyện tưởng tượng…
- Ờ, có lẽ như vậy. Còn đảo Ngư Ông lại là có thật. Chú mày coi, ngay sau lưng đó.
Hạnh quay lại. Một quả núi sừng sững trước mặt. Quả núi khom khom. Đúng là ai khéo đặt tên Ngư Ông cho nó. Đình núi nhô ra một cái mỏm như đang chăm chăm nhìn xuống biển. Trên quả núi, cây xanh mọc um tùm. Cây ở đây nhiều hơn hẳn ở Tây Song. Anh Banh hướng con thuyền vào một hẻm nước, rồi neo thuyền vào một gốc cây sát mép nước và nhảy thoắt lên bờ:
- Đưa cho anh dao và cuộn thừng. Tốt rồi! Em lên đi.
Lâu mới có dịp trở lại với rừng, con Tưởu Ngộ khoái chí kêu lên một tràng dài «héc héc… héc». Anh Banh lần theo bậc đá đi trước. Đảo trầm mặc trong hoang vắng. Ánh nắng soi qua những kẽ lá, như rắc hoa vàng trên những nệm cỏ dày ít người bước tới. Từ trong rừng cây, tiếng chim cồng cộc gọi nhau vọng vào vách đá, phát lên những tiếng khô khốc. Những thân cây thẳng tắp, lá che rợp từng khoảnh đất. Ngay trước mặt Hạnh, một cây cổ thụ đứng sừng sững trên một tảng đá lớn. Nó sống được trên nền đá cứng đó là nhờ một bộ rễ cây khổng lồ, tỏa ra chằng chịt đan quanh phiến đá. Nhiều nhánh rễ to bằng cả cây cột, trườn tít ra xa đến năm sáu mét và luồn lách vào ngách các khe đá. Một đàn bướm trắng từ ngách đá bỗng ồ ạt bay ra. Đàn bướm quạt cánh phấp phới, sà xuống thấp rồi vổng lên cao, thấp thoáng sau bụi cây hoa dẻ, rồi ráo rào bay hút vào một ngách hẻm khác.
Anh Banh đứng ngẩn ra một thoáng ngắm đàn bướm lượn lờ cho đến khi chúng khuất hẳn, mới đi tiếp. Vừa đi, anh vừa kể:
- Em tớ là thằng Bông ở quê, thư nào cũng nhắc kiếm cho ít bướm ép khô gửi về. Tập sưu tầm của nó có đến mấy trăm con bướm sống ở đảo, trên rừng. Có con to như cánh quạt, màu sắc rất lạ. Phòng giáo dục huyện có lần xuống mượn tập sưu tầm để trưng bày. Các bố quản lý thế nào, bị mất trộm đến chục con bướm đẹp nhất. Bông khóc cả buổi. Cô giáo viết thư cho mình, bảo động viên cu Bông sau khi học xong nên vào ngành sinh vật, nghiên cứu côn trùng. Suỵt, đứng lại, Hạnh có nhìn thấy con gì ở trên cành cây kia không?
Hạnh ngạc nhiên:
- Con thằn lằn.
- Ờ, thằn lằn. Nhưng để ý nhé. Nó sắp làm xiếc đấy!
Hạnh nép bên vai anh Banh, chăm chú nhìn. Con thằn lằn bò từ từ trên một cành cây cụt. Phải tinh mắt lắm mới phân biệt nổi nó. Lưng con thằn lằn hung hung nửa xam xám, lẫn vào màu vỏ cây khô. Nó bò dần ra đầu cụt của cành cây, rồi rướn mình nhào ra khoảng trống. Ô! Thằn lằn bay.
Đúng là con thằn lằn bay. Cánh nó là một màng da nối dọc hai bên cơ thể với chi trước. Con thằn lằn bay một đoạn đến ba mét, nhào vào một cành cây khác. Vừa chạm cây, nó đã bò tuốt lên cao, lẩn vào đám lá rậm rạp. Anh Banh lại bước đi, giọng sung sướng:
- Này, cả đơn vị chỉ có mình tớ là phát hiện ra cái chuyện lạ ấy thôi nhé. Năm ngoái một lần, cũng trên đảo này tớ đã nhìn thấy thằn lằn bay. Lần này, chú mày vớ bở. Chẳng ai ở đơn vị tớ tin đâu. Cha Hươn bảo tớ nói khoác. Tiếc rằng cao quá không thể bắt được con thằn lằn có cánh này, chứ tóm được cu cậu, tớ đóng hộp gửi về cu Bông, chắc cả huyện phục lác mắt!
- Anh Thành em bảo ở rừng quốc gia Cúc Phương cũng có thằn lằn bay. Người ta còn ướp khô, trưng bày cho khách tham quan. Nó là giống bò sát cổ còn sót lại, rất hiềm. Hóa ra ở đây cũng có.
Anh Banh phấn chấn:
- Thật hả! Thích nhỉ! Vậy mà tớ không biết. Tớ cứ đoán ào đi là con thằn lằn, hóa ra đúng tủ cu cậu! Cha Hươn còn khích tớ: « Ông Banh quáng mắt, thấy con chim, con sóc chuyền cành, lại tưởng ra thằn lằn bay! Cứ làm như quả bóng của ông lúc nào cũng bay vù vù! » Nghe cha Hươn nói tức anh ách như bò đá!
Hạnh cũng bật cười. Mỗi một ngày ở đảo Song Tây, Hạnh đã thân thiết với anh Banh, anh Hươn và cả tiểu đội chiến sĩ hải quân. Mỗi lần sinh hoạt, hai anh Banh và Hươn hay « kê » nhau « lệch tủ đứng » - theo cách gọi đùa của các chiến sĩ trên đảo. Nói vậy, chứ cả hai gắn bó với nhau như anh em. Một anh mê đá bóng, một anh mê vẽ. Ở va li « gia tài chiến sĩ » của anh Hươn, phải có đến hàng trăm bức tranh. Anh Banh càng sôi nổi bao nhiêu, anh Hươn càng hiền bấy nhiêu. Hiền đến lạ! Cười, chỉ tủm tỉm. Một cái răng cửa khểnh, nom ngồ ngộ. Đôi bạn thân nhau đến chẳng mấy khi rời nhau. Bữa trước, anh Hươn bảo:
- Bao giờ cu Hạnh rời đảo, anh sẽ tặng cho một bức tranh vẽ phong cảnh đảo Song Tây làm kỷ niệm.
Anh Banh hỏi:
- Thế tranh có vẽ cả cu Hạnh chớ?
- Dĩ nhiên!
- Vậy tôi có một lời khuyên cu Hạnh: nhận tranh mang về, đừng khoe ai nhé.
Anh Hươn ngạc nhiên:
- Ý cậu nói gì?
Anh Banh phá lên cười:
- Vì rằng, nếu vẽ cu Hạnh, các bạn nó tưởng là con Tưởu Ngộ mất. Tớ biết thừa « tài ba » của ông vẽ sĩ Hươn rồi!
Anh Hươn chẳng tự ái, chỉ thủng thẳng:
- Được rồi, cu Hạnh sẽ xem tranh. Cu Hạnh xinh trai thế kia, vẽ không khó như cậu. Chớ vẽ cậu, thì tớ có tô điểm hết cả hộp màu cũng chịu. Đen đen này, nâu nâu này, cái trán lại dô như đầu đảo Ngư Ông, có họa vẽ bằng than nếp mới thể hiện nổi!
Bây giờ nghe kể chuyện « vẽ sĩ » Hươn, Hạnh cũng phải bật cười, nói bằng cái giọng của anh Banh:
- Vậy anh Hươn « sút thủng lưới » anh có nhiều không?
Anh Banh cười xòa:
- Tính tớ tuếch toác, nên cha Hươn hay vớ được chỗ yếu của tớ. Thôi, lần sau rút kinh nghiệm, tớ phải suy ngẫm để sút cho hắn một quả chéo góc tung lưới cho khoái! Đùa đấy thôi, bọn tớ chẳng bao giờ giận nhau. Bây giờ, anh em mình vào trong núi kiếm gỗ. Tớ chặt, cậu phạt cành nhỏ, xếp lại nhé!
Hai anh em luồn qua một trảng cỏ hẹp, đi sâu vào một cánh rừng thưa thớt. Ở đây, cảnh tượng càng tịch mịch. Rừng sạch và đẹp như tranh. Thảm cỏ mượt mà lên xanh tốt sau mùa xuân. Lá khô năm ngoái phủ những gốc cây cao, giẫm lên êm như đi trên một chiếc nệm. Đây đó nổi lên những bụi cây dại, lấp ló những bông hoa cánh mỏng manh một màu tím ngắt. Hạnh vừa đi vừa ngó nghiêng khu rừng lạ. Tiếng khướu hót xa xa đầu rừng. Con đa đa nghe tiếng bước chân người, kêu thoảng thốt ở đâu đây phá tan bầu không khí vắng lặng. Anh Banh dừng chân ở một khoảnh rừng có nhiều cây cổ thụ xòa sát mặt cỏ, ước chừng những cành cây có thể kiếm được:
- Chỗ này « xuya » rồi! Toàn gỗ hoàng đàn. Lẽ ra loại gỗ này ở xuôi đóng giường đóng tủ, nhưng ở đây nhiều quá. Chẳng ai đến đẵn, cây hoàng đàn mọc vô tổ chức, cho nên anh em ta phải « phạt » bớt nó!
Anh nhằm một cành hoàng đàn gãy bò toài trên cỏ, chặt một nhát mạnh. Tiếng dao dội lên trong khu rừng vắng. Từ chót vót trên lùm lá cao, bầy chim táo tác bay vụt lên không trung. Con đa đa thôi kêu những tiếng khắc khoải. Cả cánh rừng vang đều đều tiếng chặt gỗ. Hạnh kéo những cành cây đứt rời, tỉa những cành nhỏ. Phập! Phập! Phập! Hai anh em, mải mê đẵn củi. Bóng nắng chênh chếch dần về tây, soi thấp thoáng trên vai, trên lưng, làm nóng ran cả người… Chặt một hồi, anh Banh ngừng tay:
- Khát cháy cả cổ. Ta tìm coi con suối nào kiếm bụm nước đã. Đi thôi, Hạnh!
Hạnh kêu lên:
- Sao anh lại trèo lên cao?
- Ngốc ạ. Trên kia có suối nước ngọt. Xuống thấp, chú mày định giải khát bằng nước biển ư?
Hết một khe đá, hai anh em rẽ ngoặt vào một ngách nhỏ. Anh Banh chỉ một dòng nước nhỏ chảy tí tách bên một tảng đá:
- Ngư Ông tặng anh em mình đó. Hạnh cứ việc uống thỏa thích.
Dòng nước trong veo rơi từ mỏm đá này xuống mỏm khác. Những cây dương xỉ lòe xòe lúc ẩn lúc hiện sau những hòn đá đầy rêu. Vừa định củi xuống hứng tia nước từ một phiến đá vọt ra, Hạnh bỗng ngừng lại, kêu lên:
- Anh Banh này, hòn đá cổ!
- Sao Hạnh biết?
- Anh xem, đây có lẽ là một nửa hòn đá bị vỡ. Trên mặt vỡ của nó, còn in vết lá cây dương xỉ đấy. Đủ cả cành, cả lá nguyên vẹn, Phiến đá này có lẽ sống hàng mấy trăm triệu năm trước rồi hóa thạch nằm trong đá kết thành. Anh em mình mang về đảo Tây Song, rồi gửi cho bên khảo cổ nhé!
Anh Banh gật gù:
- Vậy là hòn đảo anh em mình đang đứng, có vẻ đã vài trăm triệu tuổi rồi. Ngư Ông già quá nhỉ?
Hạnh miết tay lên mặt đá còn in hằn hình nhành dương xỉ, phân vân:
- Em cũng không biết nữa. Nhưng mà chắc chắn hòn đá này đã sống rất lâu. Một trăm triệu năm, hay nghìn triệu năm, các anh khảo cổ mới tính được.
Rồi Hạnh hứng lên:
- Em với anh trèo vào sâu nữa đi. Khéo lại vớ được một mảnh thiên thạch nào đó cũng nên!
Anh Banh cười:
- Chú mày bốc! Hòn đảo so với biển, nhỏ li ti như hạt vừng trên chiếc bánh đa. Thiên Thạch nào rơi cũng nhảy òm xuống biển chớ đâu mà nhè đầu Ngư Ông mà nện được. Chà, cái trí tưởng tượng của chú mày cũng khơ khớ đấy. Dưng, sao chú không nghĩ là có người hành tinh khác nhảy dù xuống đây cho anh em ta… yết kiến?
Hạnh cũng cười. Anh Banh cúi xuống nhấc viên đá cổ có hình lá cây lên vai:
- Muộn rồi. Ta về thôi…
Anh chưa nói hết câu thì từ phía mỏm núi, chỗ hình cái đầu Ngư Ông nhô ra bển, vọng lại những tiếng rít gió khủng khiếp, Hạnh nhìn lên bỗng kêu thét một tiếng. Anh Banh vội vã đặt hòn đá xuống, vớ lấy con dao đẵn củi, chạy xô ra sườn núi, ngó lên. Anh bỗng rùng mình, hai chân đứng như mọc rễ.
Trên mỏm núi đá, cách chỗ hai anh em đến hơn ba chục mét, phía dưới là một vực sâu trũng xuống đầy cây cối rậm rịt không thể trèo qua, một con trăn gió đang cuồn cuộn khoanh thân lại. Giữa cái khoanh ghê gớm đó, nhô ra nửa thân mình của con Tưởu Ngộ. Tiếng kêu thảm thiết như xé lòng Hạnh. Anh Banh bám chặt lấy thân một cây hoàng đàn non, nhìn con trăn đang thít dần cái thân con khỉ của Hạnh. Tay anh nắm chặt con dao cũng rung lên bần bật. Không có cách nào vượt nổi đoạn vực hiểm trở đầy cây cối rậm rạp để đến cứu con Tưởu Ngộ tội nghiệp.
Bên tai anh, tiếng Hạnh rên rỉ:
- Làm thế nào bây giờ, anh Banh ơi! Con Tưởu Ngộ của em chết mất!
Hạnh dụi mắt, hai tay ôm chầm lấy cánh tay anh Banh, hốt hoảng nhìn về phía con trăn. Thân con quái vật mới ghê làm sao, toàn một màu mốc thếch như rêu đá, oằn lên oằn xuống và cứ khoanh dần lại.
Hạnh kêu to, lạc cả tiếng:
- Nhảy ra, Tưởu Ngộ ơi!
Nghe tiếng Hạnh, con Tưởu Ngộ cố quay đầu lại. Đôi mắt khiếp sợ của nó trố ra trên bộ mặt nhăn nhúm một cách đau đớn. Tưởu Ngộ kêu lên cầu cứu « Héc… hẹc… hẹc »
Tiếng kêu gấp gáp và tuyệt vọng hướng về phía Hạnh. Nó quằn quại, cố ngắc ngư cái đầu và nửa thân trên còn hở ra ngoài, đôi tay nó run bần bật cào cào trên lưng con trăn đang lượn vòng và thu hẹp lại. Con Tưởu Ngộ ngoái nhìn lần nữa về phía Hạnh. Anh Banh phải giữ chặt lấy lưng Hạnh, giọng tự dưng nhỏ hẳn đi:
- Cẩn thận, chú em. Chú em. Chú rơi xuống vực bây giờ!
Trong bụng Hạnh như có ngọn lửa ai đốt lên nóng rừng rực. Tai Hạnh ù hẳn đi, không nghe thấy gì hết, không biết gì hết. Và sao Hạnh cũng chẳng còn nhìn thấy gì cả. Nước mắt Hạnh nhòa ra. Tiếng con Tưởu Ngộ lại vọng đến, yếu ớt và rời rạc. Hạnh lau vội nước mắt. Con Tưởu Ngộ vẫn nhìn hắn trừng trừng. Đôi mắt của nó… đôi mắt quen thuộc… Hạnh bủn rủn đầu gối như sắp quỵ xuống. Bỗng nhiên, con Tưởu Ngộ cựa mình, đưa mình ra khỏi cái khoanh tròn của con trăn gió. Nó nhảy một cái, loạng choạng lao về phía mặt đá trống trải còn lại. Con trăn gió quăng mình, quật theo bóng con khỉ. Cả thân hình đồ sộ của nó giáng mạnh xuống mỏm đá và theo đà quăng, lao xuống mỏm vực. Cái đuôi dài ngoằng như cây gỗ của nó đập mạnh vào lưng con Tưởu Ngộ, cuốn cả chú khỉ rơi hút theo. Hạnh lại thét lên một tiếng, ngồi phịch xuống mặt đất. Anh Banh nhoài người ngó theo hai con vật đang rơi từ trên đầu Ngư Ông xuống. Xác con trăn va mạnh vào vách đá, lăn đi một vòng và chìm nghỉm trong sóng biển. Sau đó, con Tưởu Ngộ cũng lộn đi một vòng, đầu đập vào tảng đá chồi về phía trước, trước khi bắn vọt ra ngoài thành một vòng cung, rồi cũng mất tăm vào dòng nước.
Anh Banh lặng lẽ nhìn xuống chỗ hai con vật vừa rới xuống. Sóng biển vẫn oàm oạp vỗ. Một khoảng nước bắt đầu nhuộm đỏ rồi loang dẫn ra. Những đợt sóng triều vỗ mạnh vào thành vách đá một cách dữ dội. Từ trên cao, dáng Ngư Ông vẫn trầm mặc ngó xuống đáy nước. Giò bắt đầu thổi, truốt qua lá cây trên đỉnh núi, tiếng gió vi vút manh nỗi buồn biết thuở nào nguôi…
Con Tưởu Ngộ tinh nghịch và thông minh không còn có mặt trên chặng đường đi tiếp của anh Thành, của Hạnh nữa. Cái chợ miền núi năm trước, những ngày lang thang, vượt qua những chóp núi Trường Sơn, niềm vui nhộn trong ngôi nhà phố nhỏ, bao đêm ngày lênh đênh sóng nước và nhảy nhót trên đảo xa. Ký ức về những chuyện buồn vui trong những ngày qua, về con Tưởu Ngộ, không nguôi trong lòng Hạnh.
Bây giờ, xác của Tưởu Ngộ trôi dạt nơi nào? Không còn một vết tích, không còn dáng hình của con vật quen thuộc nữa rồi. Tưởu Ngộ ơi!
Tin con Tưởu Ngộ bị nạn đến với anh Thành làm anh buồn trĩu trong lòng. Tuy ít có dịp cho Tưởu Ngộ đi theo trong những ngày qua, nhưng anh cũng mến chú khỉ nhỏ lanh lẹ và nghịch ngợm. Anh hiểu sự đau xót của đứa em trai vì không tìm được xác Tưởu Ngộ ở chân núi Ngư Ông. Đảo trưởng Trân an ủi Hạnh:
- Em đi theo anh Thành thăm trạm nghiên cứu rắn biển làm thuốc ở trên đảo của các anh cho khuây khỏa.
Hạnh buồn bã từ chối gợi ý của anh Trân. Bây giờ, cứ hình dung đến những con rắn khoanh tròn, Hạnh lại nhớ đến hình ảnh con Tưởu Ngộ lúc sắp bị con trăn gió cuốn chết. Tội nghiệp cho con khỉ đã theo Hạnh biết bao ngày hè trong chuyến đi vất vả này. Hạnh thờ thẫn một mình bước về phía bờ biển. Anh Banh nhìn theo cái dáng đi vật vờ của chú bé, vội vã chạy theo. Anh không biết nói câu gì để chú bé vơi đi niềm thương tiếc con Tưởu Ngộ. Anh Banh cứ thong thả bước cạnh Hạnh, làn gió biển thổi xòa mái tóc hung hung. Tít trên trời cao, mây trời bồng bềnh, lúc quần tụ từng đám. Lúc tản ra trôi giạt về phương bắc. Một ngày đẹp trời. Nắng trải vàng vời vợi, trong nắng thoang thoảng làn gió mặn mà của biển khơi. Có đến một hồi lâu, anh mới nhẹ nhàng rủ Hạnh:
- Thôi, Hạnh ra bãi san hô bắt gà ghim đi. Đêm qua mưa, thể nào cũng với được vài chú dưới biển lò dò bò lên đảo.
Hạnh nghi ngờ:
- Làm sao gà lại từ biển bò lên bò được. Anh trêu em đấy à?
- Đâu có. Gà ghim thật mà. Bọn anh gọi… Thôi, để ra bãi, anh chỉ cho.
Hạnh đi theo anh Banh vòng qua bãi biển, ngược về phía bắc đảo. Buổi sáng, biển động. Tiếng sóng ầm ầm át cả tiếng nói của anh Banh:
- Cái giống gà ghim chỉ rời mặt nước lên cạn sau mỗi cơn mưa. Mà mưa ở trên đảo vùng này hiếm hoi lắm. Chiều qua, các cô gái khí tượng thủy văn đến báo tin cho bọn anh biết rằng đêm sẽ mưa.
Hạnh ngạc nhiên:
- Sao các chị thủy văn ra đảo chiều qua mà em không trông thấy?
Anh Banh võ vai Hạnh, cười hình hịch:
- Ấy là bọn anh gọi đùa đàn chim Hải âu thôi. Chim hải âu báo thời tiết rất chính xác nhá. Chiều qua, đàn hải âu chỉ bay quẩn quanh trên đảo, không dám bay xa. Sợ ướt cánh mà!
- Ở đảo lắm chuyện lạ, anh Banh nhỉ!
- Ối chà chà! Lại không nhiều chuyện lạ! Có khi lý thú như đi xem một trận bóng đá quốc tế ấy chứ! Ví như cái con gà ghim anh em mình sắp đến tóm gọn như thủ thành bắt bóng đây, mà không lạ hử? Nói riêng về trứng của nó, bé tẻo teo thôi, nhưng mỗi quả trứng xanh biếc đó cực bổ. Hôm có một ông lão đánh cá, râu phải dài tới rốn, gặp bão phải neo thuyền vào đảo, kể lại anh mới biết. Cái thời Trịnh Nguyễn phân tranh mà em học sử rồi đó, bọn chúa Nguyễn có lúc bị đánh đuổi lang bạt ra biển. Hồi đó, chúa Nguyễn có một đội quân binh làm nhiệm vụ kiểm tra, bảo vệ đảo và thu lượm các hải sản quý và vàng, bạc, ngà voi về cho chúa. Chúa Nguyễn thích một món đặc biệt: trứng gà ghim. Trứng gà ghim bổ mà! Vậy là cả đội bảo vệ đảo nháo nhác chạy như cờ lông công đi lùng. Ác cái là dịp đó trời cứ nắng như đổ lửa. Trứng vích, trứng đồi mồi, trứng rắn… thì vô khối, nhưng trứng gà ghim chẳng mò đâu ra. Lệnh chúa ban, không làm được, có mà a lê… hấp! Chém gáo dừa luôn! Trong đội binh, có cha mới mách mẹo để kiếm trứng gà ghim. Chú có biết mẹo gì không?
Hạnh lắc đầu. Anh Banh nhặt một mảnh đá dẹt, nghiêng mình, vung tay ném thia loa trên mặt sóng, rồi quay lại, kể tiếp:
- Cả đêm, đội binh phục ở bãi san hô, lấy nước biển làm mưa giả. Mưa ào ào trút xuống…
- Họ lấy đâu ra bơm nước như bây giờ mà phun mưa?
Anh Banh ngẩn người, rồi gãi tai:
- Tớ cũng cóc biết. Chỗ này tớ quên hỏi cụ già đánh cá. Nhỡ ra họ chế tạo ra mấy bơm thủ công thì sao. Cả đội có 18 chiếc thuyền tuần tiễu, không có cái gì bơm nước chữa cháy thì khi hỏa hoạn, bó tay à?
Hạnh cười khúc khích:
- Thôi được, anh kể tiếp đi. Nhưng cấm bịa!
Anh Banh phồng mồm, phì mạnh hơi, làm vẻ giận dỗi, lại cười xòa, nói một hồi:
- Gì có chuyện bịa. Chuyện khoa học – lịch sử - tiểu thuyết đấy chứ! Đến đâu rồi nhỉ? À, mưa. Đội binh bảo vệ làm mưa khéo đến nỗi cả một đàn gà ghim bị lừa tuốt. Sáng ra, chúng lổm ngổm bò lên bãi san hô đẻ cho lão chúa cả tá trứng. Đội binh bảo vệ đảo sướng quá, mang tiến chúa. Chúa chén thật đã. Sau món trứng, chúa vuốt râu khen: « Cha chả! Ta khoan khoái quá! Thế nhưng còn cái món thịt kê ghim đâu sao chưa dọn ra cho ta thưởng thức? »
Tay đội trưởng đội binh chỉ còn thiếu nước ngất thẳng cẳng. Tưởng là chúa chỉ đòi ăn trứng, chớ đâu lại muốn cả thịt gà ghim. Mà thịt gà ghim thì tay đội trưởng đã khao quân rồi. Tay đội trưởng cũng loại đối đáp giỏi. Sau khi bình tĩnh trở lại, hắn mới quỳ xuống:
- Thưa chúa công, đàn kê ghim sau khi đẻ trứng, chúng lại trở về biển hết rồi ạ.
Lão chúa nổi giận đùng đùng, lại đang ngà ngà say, lão đứng lên, chỉ tay ra bờ biển:
- Phải tát cạn cái « ao » này, tìm cho ta thịt kê ghim!
Nói xong, chúa xỉu ngay xuống ghế. Say quá mà! Tay đội trưởng đội binh hết hồn, phấp phỏng đợi giờ bị chém đầu. Nhưng lão chúa khi tỉnh dậy xuống thuyền đi tiếp ngay. Tay đội trưởng đội binh mới hoàn hồn, thề rằng chẳng bao giờ ăn cái món gà ghim chết giẫm nữa! Đấy, chuyện thật một trăm phần nghìn là như vậy.
Hạnh cù tay vào sườn anh Banh:
- Cứ như truyện Đinh Bộ Lĩnh thịt trâu rồi đút đuôi trâu xuống lỗ giả làm trâu chui xuống đất!
Nói xong, Hạnh cúi xuống nhặt một hòn đá nửa hồng nửa xanh biếc. Hòn đá đẹp quá. Mấy đường vân chạy ngoằng ngoèo trên mặt đá màu đỏ sậm. Anh Banh nhìn qua hòn đá trên tay Hạnh:
- Đá san hô đấy mà. Nhờ sự có mặt của trùng roi và tảo cộng sinh nên san hô thường có các màu rất lạ. Ở trên cạn, nhìn san hô không thú bằng mang kính lặn xuống đáy nước. Ôi chao! Cứ lóng lánh đủ mọi màu tụ hội lại, xanh xanh hồng hồng tím tím. Nó còn phát sáng rực rỡ trong những ngày nắng đẹp…
Hạnh giơ lên hòn đá màu:
- Ở nhiều nước, nghe nói ngưới ta nghiên cứu lấy ra từ một giống san hô một số chất để làm thuốc. Em không hiểu kỹ lắm. Chỉ nhớ một số chất gọi là prô - xia - glan - đin, quý lắm. Tùy theo liều lượng và nhóm hóa học mắc nối thêm vào, có thể dùng nó để chữa một số bệnh ở não, hệ thần kinh và nhiều chứng bệnh khác.
- Cái chất này giá trị nhỉ! Các ông khoa học ít chịu ra đảo. Các cha ấy mà đến đảo của bọn anh cứ là chở hàng tàu viễn dương cũng không hết san hô. Cái giống này nó phát triển nhanh đến khiếp!
Bên bờ biển, bỗng ầm ĩ tiếng chim. Hạnh giật mình quay sang. Ngay sát mép nước, gần chục con đại bàng đang tranh nhau một con cá trắng lốp. Ba bốn con vừa bay vừa đâm bổ xuống đánh nhau, phát ra những tiếng « oạc oạc oạc » vang động cả một góc đảo. Một con quặp chặt ở mỏ đuôi chú cá nặng đến vài cân. Con đại bàng biển trông dữ tợn làm sao! Từ cổ lan đến lưng, toàn một màu lông đen kịt, phía dưới cổ lại hoe hoe vàng. Cái mỏ khoằm khoằm của đại bàng cùng với một túm lông ở chóp đầu đỏ tía như lửa. Những vuốt sắc từ móng chân con đại bàng quặp chặt lấy hòn đá dưới chân một cách hung ác. Lại thêm hai con khác lao vào giành mồi. Con đại bàng đang giữ mồi bị những con khác mổ tới tấp lên đầu, lên lưng, cánh tả tới và đổ dụi lên phiến đá.
Anh Banh vừa cất tiếng: « Lũ ó biển này… » thì Hạnh đã vung tay ném mạnh hòn đá màu vào bầy đại bàng biển đang tranh nhau cá. Anh Banh hốt hoảng kéo giật tay Hạnh:
- Thôi chết! Chạy mau! Chạy…
Hạnh không kịp hỏi han, vội vã phóng chân theo anh Banh. Hai anh em phóng tuốt về phía rừng cây mù u. Đằng sau hai người, tiếng « oạc… oạc… oạc » nháo nhác hẳn lên. Hạnh vừa chạy vừa ngó lại. Bầy đai bàng đã bỏ con mồi, đập cánh bụi mù bay vọt lên. Chỉ kịp thoáng thấy những con đại bàng giận dữ, lông cổ xù ra, lao thẳng về phía hai anh em. Anh Banh hét to:
- Cố lên! Đến khu mù ù! Ôm lấy đầu! Bọn ó sẽ nhào xuống mổ đó!
Như cái máy, hai tay Hạnh vòng lên che đầu, đôi chân luýnh quýnh phóng về phía trước, sát bước anh Banh. Bầy đại bàng vẫn đuổi theo. Những đôi cánh khỏe mạnh của chúng đập vào không khí như bão nổi.
Trước mắt Hạnh là những lùm mù u xanh ngắt, đung đưa đung đưa. Hơi thở đã dồn lên gấp gáp trong ngực. Hạnh vẫn không dám rời đôi tay che lấy đầu. Đôi chân Hạnh đã mỏi dừ. Bầy đại bàng vẫn phóng tới. Con đại bàng to nhất vượt lên trên hai anh em, nó đảo cánh vòng lại và sà xuống. Hạnh kinh hãi nhìn con chim ác nhao về phía anh Banh và thoắt một cái, cả chiếc mỏ cứng giáng xuống đầu anh. Đôi cánh con đại bàng đập chùm lên nửa người anh lính thủy trẻ. Anh Banh nhịn đau, nhoài nghiêng mình. Hạnh vội vã nhảy sang trái, sang phải. Ba bốn con đại bàng khác cũng đang lượn lờ trên đầu. Mắt Hạnh một thoáng chợt tối đi, Hạnh đang đà chạy chỉ kịp ngã xoài về phía trước. Con đại bàng bổ truợt, kêu lên một tiếng, bay vọt lên cao, Hạnh bật dậy, kêu to:
- Chạy chữ chi, anh Banh. Chạy chữ chi…
Nhưng Hạnh cũng không kịp nói hết câu. Một con đại bàng khác từ phía sau sà xuống. Cả mảng vai Hạnh như có một đầu búa nện vào. Vái áo toạc ra đánh xoạt, Hạnh ngã sấp trên mặt cát. Anh Banh vừa ngó bầy đại bàng đang dai dẳng lượn trên đầu, vừa nhảy vội đến nâng Hạnh. Trước mặt hai anh em, một cặp đại bàng lại đang lấy đà, như hai mũi tên, từ một góc cao vun vút chủi xuống. Anh Banh đẩy mạnh Hạnh sang bên và cũng lăn mình một vòng. Hai con đại bàng nhào vút qua khoảng trống giữa hai người, chúc đầu rồi vọt lên.
Đoành! Đoành! Đoành!
Ba tiếng súng nổ, đạn chíu chíu trên đầu Hạnh.
Anh Banh đứng chồm dậy. Bầy đại bàng xao xác tản ra, bay lên cao. Hạnh vẫn nằm ngửa trên cát, vừa thở hổn hển vừa nhìn theo bầy đại bàng bay xa dần. Tiếng anh Hươn vang lên từ khu mù u:
- Mừng các chiến sĩ bại trận còn sống sót!
Anh Banh thở phào:
- May mà cậu đến kịp! Tưởng đến phải vào nằm trại quân y!
Anh Hươn xách súng đến ngồi cạnh Hạnh:
- Làm thế nào đến nông nỗi này hả chú bé? Chọc phải ổ ó biển phải không?
Anh Banh tập tễnh đến bên hai người:
- Tớ chưa kịp phổ biến kinh nghiệm, ông trẻ này đã choảng cho lũ ó biển một hòn đá. Tưởng là bị tranh mồi, lũ ó biển nổi khùng. Ồ, vai Hạnh toạc cả ra kìa!
Hạnh lần vai. Chỗ áo rách tướp, da vai xót như lửa. Mấy vuốt sắc của con đại bàng đã để lại trên vai Hạnh ba vệt cào tứa máu. Hạnh vừa nhăn nhó, vừa gượng cười:
- Thì trán anh cũng sưng vếu đó thôi!
Anh Banh phẩy tay:
- Cho qua! Vết thương xoàng thôi, tớ là lính thủy mà! Lát nữa kiếm ít lá bạch hoa xà rịt vào là khỏi ngay!
Anh lau máu, rồi day day chỗ trán tím bầm. Anh Hươn đứng dậy:
- Đến giờ rồi! Tớ phải đi trực chiến đây! Các cha rủ nhau đi đâu thế?
- Đi bắt gà ghim ở bãi san hô. Gà chưa tóm được lại bị lũ ó biển tiêu diệt, ớn quá! Sao, Hạnh còn cái hứng đi ra bãi san hô không?
Hạnh chồm dậy:
- Đi chứ!
- Thì đi. Chào « vẽ sĩ » Hươn nhé!
Anh Hươn vẫy tay theo hai người, giọng với theo:
- Giá bây giờ có bút, tớ sẽ vẽ cảnh hai anh em trên bãi biển. Trông oai quá! Chỉ phải cái tả tơi như…
Tiếng anh tản ra trong tiếng sóng ào ào của biển.
Bữa đó, bù vào việc bị đám đại bàng đuổi đánh, hai anh em đã tòm được ba con gà ghim béo nhẫy, mỗi con to bằng quả dừa già. Con gà ghim có bộ lông đen nhánh, tua tủa. Khi nhìn thấy chúng lò dò ở bãi san hô, Hạnh a lên một tiếng: gà ghim của anh Banh, hóa ra là những con nhím biển. Thứ « gà » lạ lùng, từ dưới nước chỉ sau cơn mưa mới lên cạn đẻ trứng.