Ở Nơi Biển Cả

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

TỔ YẾN TRÊN VÁCH ĐÁ LÀM NHỚ CHUYỆN THÙ OÁN CŨ

CHIM SÂM CẦM ĐEO VÒNG ĐẾN KHÁC MÙA TRÚ ĐÔNG

TỪ LỜI THÚ TỘI ĐẾN CUỘC GẶP LẠI ĐỀU LẠ LÙNG.

Anh Thành đợi con thuyền đang từ từ trôi nhẹ cặp vào một hốc đá ít lởm chởm, tay đặt lên vách đá, hỏi anh Cao:

–Chỗ này phải không?

–Đúng. Mình neo thuyền, cậu quăng lọng dây vào chỗ mỏm đá kia để trèo lên. Cẩn thận một chút.

Con Tườu Ngộ chẳng đợi sợi dây neo vào đá, đã nhảy tót lên những hòn đá lô nhô chìa ra. Anh Cao co người, đu mình lên con đường hẻm giữa hai bờ vách núi đá gồ ghề. Con Tườu Ngộ vẫn nhẹ nhàng nhảy bên anh. Vách núi sừng sững cao, nhưng những kẽ nứt cũng lởm chởm mở ra trước mắt hai người. Không quay lại phía sau, anh Cao vừa leo vừa giới thiệu:

–Kể cũng lạ! Dân đi tìm yến sào mà chưa đánh giá hết giá trị khu vực này. Hôm trước, mình nhắc mấy ông phụ trách đảo chú ý tận dụng nguồn lợi yến trên đảo này, các bố chỉ tặc lưỡi bỏ qua.

–Có lẽ đảo này heo hút, thuyền bè ít cập bến chăng?

–Ồ, cũng có lý. Nhưng đất lành chim đậu. Xưa, chỉ có mỗi món dưa đỏ An Tiêm mà hòn đảo hoang trở nên sầm uất, nữa là cái thứ cao cấp yến sào, còn quý gấp mấy lần cái anh dưa hấu!

Hai người đã leo đến lưng chừng vách núi. Anh Thành nhìn xuống chỗ con thuyền đang neo ở dưới, thấy chờn chợn. Nước ở dưới vực đá xanh đến kỳ lạ. Những mỏm đá nổi lên mặt nước chỗ cao chỗ thấp như những cột chỏng nhọn.

Những tổ chim yến đã mỗi lúc một nhiều. Anh Thành phải quát con Tườu Ngộ, không cho nó phá phách những chiếc tổ yến xinh xắn và đàn yến con đang nhao nhác gọi mẹ. Những con chim yến mẹ bay tung, giận dữ kêu ầm ĩ khi thấy những con người bỗng nhiên đến quấy rầy chúng.

Những tổ yến xinh xinh, tròn xoay trôn ốc hay hình bán nguyệt có vành cong lên tựa như những cái nôi, với những lớp sợi xơ óng ả nhằng nhịt chồng chất lên. Trong những hốc đá sâu, những tổ yến màu xám, màu vàng ẩn mình khéo léo. Ở vài mỏm đá nhô lên phía mặt trời, lại bày ra những cái tổ yến chằng chịt sợi trắng trong. Lác đác có những chiếc tổ điểm sợi xơ sắc đỏ.

Anh Cao chọn lấy cái tổ màu đỏ, bóc cho vào túi vải đeo bên hông. Anh nhắc anh Thành:

–Bóc ít huyết yến này thôi. Bây giờ đã là vụ thu hoạch thứ hai, nên huyết yến hiếm hơn vụ mùa xuân. Trong thiên nhiên kể cũng lạ, chỉ riêng cái loài chim yến này làm tổ bằng nước dãi. Nước dãi lẫn máu trộn thành huyết yến, lại trở thành thứ ăn bổ. Không biết từ thời nào, người ta đã gọi là yến tiệc. Yến ghép với tiệc, đủ biết cái món nước dãi này thật cực kỳ!

Anh Thành cười:

–Ông này đâm thực dụng, đi nghiên cứu về thuốc mà nhìn toàn lợi ích về chén!

Anh Cao ngó lại phía sau anh Thành:

–Mình biết là cái món dãi chim này công dụng lắm chứ! Cho vào túi vải, sắc uống, làm thuốc bồi dưỡng, làm “tiêu” đi cái gầy yếu, ho hen, thậm chí cả bệnh lao. Nhưng cụ Lãn Ông trước khi cho con bệnh uống thuốc, chẳng khuyên cứ chén nhiều chất bổ, ắt bệnh tự lui là gì!

Miệng nói, tay anh Cao lại bóc thêm một cái tổ yến mới. Cái tổ yến như một mớ sợi dệt rối. Anh Cao lấy một cái bàn chải lông, khéo léo chải những hạt bụi, hạt cát bám trên những sợi xơ yến, rồi hà hơi nắn tổ lại thành một vành khăn xinh xinh như một chiếc bánh dày. Anh Thành đăm chiêu:

–Vách đá này là một trong những vùng lắm tổ yến. Bây giờ chỉ mới là vụ hai, chứ vụ thứ nhất vào mùa xuân chắc là phong phú lắm. Mình nghe ở thị trường thế giới mỗi ký yến giá bằng một lạng vàng…

–Cái đó cầm chắc rồi. Dân ở đảo này có kể lại câu chuyện, nghe cứ như cổ tích. Một bận, có một cán bộ cách mạng từ đất liền bị địch mang ra biển hành hình rồi ném xuống biển. Anh trôi giạt ra đảo, đói, khát và kiệt sức. Bọn chúa đảo không biết việc bà con giấu giếm người cán bộ cách mạng. Một bận, có một thanh niên trong đêm dám leo lên vách đá lấy tổ yến về cho người cán bộ ăn lấy sức. Việc làm ấy nguy hiểm khỏi phải nói. Nguy hiểm vì trong đêm trèo lên vách đá bên bờ vực. Nguy hiểm hơn nữa, là bọn chúa đảo nếu biết, có thể giết chết anh thanh niên. Yến đối với bọn chúa đảo là vàng. Yến đi Chợ Lớn, sang Hồng Công, để vàng chảy trở về túi chúa đảo. Khi anh cán bộ hồi sức, bà con lại đóng bè cho anh về đất liền. Anh cán bộ đi biển được hai ngày thì tên chúa đảo biết chuyện. Anh thanh niên liều lĩnh đi lấy tổ yến bị chúa đảo giam cầm trong hầm đá đến nửa năm. Tên chúa đảo chết, anh mới được thả ra. Đứa con chúa đảo lên cầm quyền thay bố nó, muốn tỏ ra mình “hiền lành” hơn, đã thả anh. Nhưng trước khi tha tội chết cho người thanh niên, nó sai tên tay chân tin cẩn chặt một ngón tay anh để nhắc nhở lần sau anh không được tự động trèo lên vách đá tổ yến của nó.

–Bây giờ, anh thanh niên ấy đâu?

Anh Cao cười:

–Bác Lồng Cẩm đó chứ ai!

–Còn tên chúa đảo?

–Chạy theo Mỹ rồi. Chỉ còn tên tay chân tin cẩn của nó ở lại đảo. Cái thằng đã chặt ngón tay của bác Lồng Cẩm đó. Thằng cha Lỳ Kheo…

–Chà chà, thảo nào mình thấy cậu bé Lồng Chéo có vẻ căm ghét lão Lỳ Kheo đến thế. Còn người cán bộ được Lồng Cẩm cứu thoát có lần nào về thăm đảo không?

–Mỗi năm ông ấy về hai ba lần. Nghe bác Lồng Cẩm nói ông ta là chủ tịch huyện trong đất liền. Lần nào ra đảo, đồng chí chủ tịch huyện cũng được bác Lồng Cẩm thết bữa thịt chim quý do con chim mồi diều hâu săn được. Ông chủ tịch mấy lần mời bố con bác Lồng Cẩm vào chơi đất liền để trả ơn chuyện cũ, nhưng bác Lồng Cẩm đều chối. Bác Lồng Cẩm khí khái lắm. Đúng là người vùng biển, sẵn sàng xả thân cho người khác nhưng không hề nghĩ đến ơn huệ gì hết. Chỉ có một lần, dịp mùa xuân vừa rồi, ông chủ tịch huyện năn nỉ bác Lồng Cẩm chở cho ít giống cây thuốc trên đảo và vào đất liền giúp cho huyện ông xây dựng vườn thuốc nam chữa bệnh, bác Lồng Cẩm mới mang con đi theo. Buồn cười là chuyến đi đó, bố con bác Lồng Cẩm mang cả con chim mồi đi theo. Các tay săn chim trong huyện đất liền thấy chim mồi, cứ sán lấy bác Lồng Cẩm. Hóa ra chuyến đi của bố con bác thợ săn lại được hai việc: xây dựng được vườn dược liệu quý và tổ chức lại được hội săn chim cho huyện. Bác Lồng Cẩm lại được bầu là chủ tịch danh dự hội săn chim của huyện nữa. Các cha thợ săn cứ là lác cả mắt! Bò lê suốt ngày trong các cánh đồng cỏ lác, cỏ năn, da thịt bị cào xước tước máu, mà chỉ kiếm tòn ten một dây chim có vài con vịt trời hoặc đôi ba con le, con sếu, trong khi đó cho chim diều hâu mồi của bác Lồng Cẩm thoắt một cái, thoáng một chập, đã tha về hàng đống chim. Có tay thợ săn gạ bác Lồng Cẩm hàng chục ngàn để lại con chim mồi hoặc đổi cả cái xe máy thật luých. Bác Lồng Cẩm cười với đồng chí chủ tịch: “Tôi ở đảo, chả lẽ cưỡi xe máy đi trên núi?” Ngày bác Lồng Cẩm ra đảo, bố con bác được hàng trăm người đi tiễn, có lẽ còn đông hơn cả khách nước ngoài đến thăm huyện.

Anh Cao nhìn đồng hồ đeo tay, rồi huýt gọi một tiếng. Chú Tườu Ngộ từ đằng sau hốc đá quăng mình qua mấy cành cây mọc cheo leo bên vách đá, nhảy lóc tóc đến gần. Anh Cao tung cho nó một quả trứng chim luộc, vỏ trắng bong:

–Phần cho chú mày. Chuẩn bị xuống núi chứ!

Ngoài biển, trên mặt nước xanh rờn, vẫn vọng lên những tiếng chim bay lượn. Anh Thành bám lấy một mỏm đá, vừa leo xuống vừa hỏi:

–Ông chủ tịch huyện được bác Lồng Cẩm cứu hồi trước tên là gì nhỉ?

–Mình chưa gặp lần nào. Nghe bố con bác Lồng Cẩm có nhắc đến một lần. Cái tên cũng hiền lành thôi. Mây! Chủ tịch huyện Quách Tiến Mây.

Suốt trên con đường từ vách chim yến trở về, anh Thành cố chọn lọc trong số những người anh đã gặp, nhưng vẫn không nhớ ra ai có tên là Mây. Cái tên này, phải chăng ở đâu đó, đã có ai nhắc đến. Nhưng những câu chuyện tiếp sau đó quá dồn dập, khiến anh Thành không thể nghĩ mãi đến đồng chí chủ tịch huyện.

Suốt buổi sáng, trong lúc anh Thành, anh Cao đi lấy tổ chim yến, thì ở đảo nhao nhác lên về chuyện lão Lỳ Kheo bị thương trong chiếc tàu đắm hồi đêm .

Mấy anh dân quân khênh được lão về nhà thì lão đã bất tỉnh nhân sự. Không ai hiểu nguyên nhân cái tiếng nổ giữa đêm khuya trên biển và tai nạn lão Lỳ Kheo do đâu mà xảy ra. Có người đoán lão mang thuốc nổ đi đánh cá đêm mà bị nạn. Nhưng thuốc nổ ở đâu mà có? Vả lại, ở đảo thiếu gì cách đánh cá mà phải dùng thuốc nổ. Lại có người nói Lỳ Kheo ra biển liên hệ với biệt kích, chuyển đạn vào đảo nên bị sát thương. Chuyện cứ như vậy làm xôn xao hết nhà này đến nhà khác.

Sáng hôm nay, những mảnh gỗ, những đồ đạc từ ngoài biển sau vụ nổ trôi giạt vào bờ càng làm câu chuyện trở nên lạ lùng .

Chỉ có Giang Khầu là mong manh biết được câu chuyện về tai biến của lão Lỳ Kheo. Từ sáng sớm Giang Khầu đã chạy bổ đến nhà lão, nhón chân nhòm qua cửa sổ. Mấy anh dân quân bỏ đi rồi, chỉ còn lão Lỳ Kheo nằm trên chiếc phản trong bóng mờ mờ tối của căn buồng kín như bưng. Giang Khầu khe khẽ gọi:

–Ông Lỳ Kheo! Ông Lỳ Kheo!

Không có tiếng trả lời. Gọi đến lần thứ ba, đôi mắt nhắm nghiền của lão mới động đậy. Ồ, lão già còn sống đây mà. Lão Lỳ Kheo nheo nheo con mắt, mở ti hí nhìn ra phía cửa sổ. Lão lắng nghe, miệng phều phào:

–Ai gọi tao đó?

–Tôi đây mà, Giang Khầu đây mà!

–A... con cá mập ăn nửa thân mày, Giang Khầu à!

Giang Khầu đỏ mặt. Cái lão già sắp chết đến nơi mà còn độc mồm độc miệng. Nhưng nhìn cái thân hình tả tơi của lão, Giang Khầu đâm thương hại, lại gọi:

–Ông Lỳ Kheo! Để tôi đi gọi anh Cao đến bốc thuốc cho ông nhở!

Lão Lỳ Kheo lại hé mắt. Lão chơm chớp hàng mi, lắc nhẹ cái đầu. Bàn tay lão giơ lên, vuốt mạnh ngực, hơi thở cứ khò khè, tấm tức trong cổ họng. Bàn tay lão vuốt đến lần thứ ba thì lão lại ngất đi...

Đêm hôm trước, khi bơi được đến gần con tàu, chân tay lão Lỳ Kheo bỗng trở nên luýnh quýnh như không tuân theo lão nữa. Chiếc mặt nạ đi biển văng đâu mất. Nước biển ộc vào mũi, vào mắt làm mắt lão cay sè như có ai vứt cả bát ớt khô vào mặt. Lão Lỳ Kheo cố nhịn thở, tụt vào một khoang tàu tối om om. Tay lão quờ quạng trong làn nước đen kịt. Chân lão bước hụt, đè lên những vật gì lủng củng trong góc khoang. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu lão già. Kho vàng đây rồi chăng? Lão khom người, cố vươn cánh tay xuống nắn nắn những thỏi kim loại nặng trình trịch phía dưới chân. Tối quá! Tối mù mù. Không khí đã cạn trong lồng ngực lão. Lão phải cố nhịn, cố dè xẻn mọi hoạt động để giữ sức. Bàn tay lão chợt quờ phải một chiếc hòm gỗ, làm thành hòm bung ra trôi vào sóng ngầm. Lại có những vật gì lủng củng trong hòm.

Nhưng lão Lỳ Kheo đã kiệt sức lắm rồi, lão chỉ kịp nắm theo một thỏi kim loại rồi ngoi lên, cố tìm cái ô khoang để vọt ra. Đầu lão đụng phải thành khoang. Đâu cũng chỉ là cái trần gỗ chắc kín bưng. Lão Lý Kheo bỗng đâm hoảng. Cái lỗ cửa khoang đâu rồi? Chân lão quẫy mạnh. Những đám dây rợ từ đâu bỗng quấn chằng lấy lão. Những chiếc dây nhẽo nhợt như những cánh vòi bạch tuộc. Lão Lỳ Kheo muốn kêu lên mà không kêu nổi. Lão quẫy càng mạnh, đám dây càng như thắt chặt hơn. Lão thả cái vật nằng nặng khỏi tay, cuống quít gỡ đám dây quanh mình, một tay lần lần tìm trên nóc trần gỗ cái lỗ hổng lúc trước chui xuống. Lão mệt lắm rồi. Ngực lão ngột ngạt như có hòn đá đè lên. Cho đến lúc một bàn tay lão tụt hẫng vào cái lỗ cửa khoang, thì lão co người, vọt lên như một con cá kiếm lao đi. Một vài sợi dây vẫn chằng ngang bụng lão. Lão Lỳ Kheo không kịp gỡ dây, mà dùng cả cái sức lực còn lại của thân mình, đu người lên phía trên mặt nước.

Tiếng nổ từ đáy con tàu đắm đẩy tung Lỳ Kheo khỏi mặt nước, rồi lại kéo lão xuống đáy sâu. Cái khoảnh khắc vọt lên trên mặt nước đã kịp cho lồng ngực lão tràn ùa làn gió biển mát rượi, nhưng lão đã ngất đi. Từng quầng sáng như ánh lửa chao đảo trong đầu lão. Sóng biển đêm quăng quật lão, xô đẩy cái thân mình đẫy mập của lão trồi lên chìm xuống. Từ đáy biển, vọng lại tiếng nổ ùng ục, ùng ục như nước biển đang sôi lên...

–Cứu tôi với! Cứu tôi với!

… Lão Lỳ Kheo quằn quại, rướn người lên. Mồ hôi đầm trên ngực, trên cổ lão. Đôi mắt lão lại hé mở. Căn buồng tối om om. Lão ngỡ ngàng mở to đôi mắt. Có phải lão vẫn quay lộn trong khoang con tàu đắm không nhỉ? Một bàn tay âm ấm đặt trên trán lão, rồi một giọng phụ nữ bên tai lão:

–Bác Lỳ Kheo tỉnh rồi!

Lão Lỳ Kheo đưa mắt về phía có tiếng người nói, lão mệt nhọc hỏi:

–Ai thế?

–Em đây mà, Tiểu Xuân đây mà!

Tiểu Xuân nào nhỉ? A, cô em họ của lão làm y tá trên đảo mà lão đã đuổi đi ngày nào vào cái năm xa xưa đó.

Lão Lỳ Kheo phều phào:

–Mở cánh cửa sổ ra! Tao sắp chết chìm rồi. Mở ra... Cơn mê sảng lại ập đến. Cả người lão Lỳ Kheo nóng giần giật. Lão như ngợp trong cảnh tượng lúc ở đáy nước một lần nữa...

Giang Khầu từ nhà lão Lỳ Kheo vội vã chạy đi tìm Lồng Chéo và Hạnh. Đến nhà Lồng Chéo, chẳng gặp một ai, Giang Khầu chạy ra phía bờ biển.

Gió thổi ầm ầm trên đảo. Hiếm có một ngày gió thổi dữ dội đến thế. Những đụn cát bay mù mịt, cuộn như lốc, cuốn tít lên cao và tan tác xuống mái nhà, lùm cây, rải trên các con đường vào các ngõ ngách. Hàng thùy dương rào rào trong gió. Bầu trời vẫn xanh mượt mà, nhưng mặt đất lại ầm ầm trong cơn gió. Gió rít trên mái nhà, trong các vườn cây, bốc hàng đợt cát thả xuống biển.

Giang Khầu chạy trong cơn gió mù mịt. Qua vườn thanh hao, nó gặp anh Cao và anh Thành. Mừng quá, Giang Khầu nói không ra hơi:

–Các anh ơi! Lão Lỳ Kheo sắp chết rồi!

Anh Cao ngạc nhiên:

–Làm sao lão chết? –Lão lặn xuống chỗ tàu đắm, vướng phải mìn nổ, được chở về nhà rồi. Anh Cao kéo anh Thành:

–Ta đến xem lão Lỳ Kheo ra sao. Lão lặn xuống chỗ tàu đắm làm gì nhỉ?

Giang Khầu bỗng đỏ mặt:

–Lão Lỳ Kheo đi tìm vàng ở con tàu đấy.

Anh Cao cười to:

–Vậy à? Thế ra cái máu tham hại lão rồi. Con tàu chở thuốc cho bộ đội mình ở miền nam, chớ đâu phải tàu của bọn cướp biển mà có vàng. Nhưng thôi, chú Giang Khầu dẫn hai anh đến xem lão ra sao.

Giang Khầu tuy trong bụng ghét cay ghét đắng lão Lỳ Kheo, nhưng trước cái tai nạn của lão ta, Giang Khầu bỗng thấy thương xót. Chẳng gì, chính Giang Khầu đã kể cho lão Lỳ Kheo về cái tàu đắm, khiến tính tham lam của lão nổi lên mà lão đâm liều lĩnh.

Ở nhà Lỳ Kheo ra, Giang Khầu định đi tìm Lồng Chéo kể hết với nó, để nhờ nó xin anh Cao đến chữa cho Lỳ Kheo. May quá, Giang Khầu gặp ngay anh Cao.

Ba anh em đến nhà Lỳ Kheo thì đã thấy người ta bu đen bu đỏ quanh nhà lão.

Bác Lồng Cẩm vừa về sau một buổi đi săn cùng con chim mồi quý của mình. Nhìn thấy Lồng Chéo đang sôi nổi trò chuyện với Giang Khầu và Hạnh, bác tươi cười:

–Bữa nay bắt được con chim lạ quá, Lồng Chéo à…

Bác Lồng Cẩm đưa con chim săn được cho con trai, thì bà y tá từ ngoài cửa bỗng xộc vào:

–Bác Lồng Cẩm ơi, bác Lỳ Kheo nguy ngập lắm rồi!

Bác Lồng Cẩm quay lại nhìn bà y tá, nheo nheo một bên mắt như lúc ngắm bắn chim:

–Làm sao lão chết được?

–Bác chưa biết sao? Bác Lỳ Kheo đi kiếm vàng ở con tàu đắm, vướng mìn hay đạn gì đó nổ.

–À, lão vẫn còn cái máu tham... Bà nhắc làm tôi nhớ ra cái tính cũ của lão ta!

Bà y tá thoáng đỏ mặt. Bà biết rõ cái chuyện bác Lồng Cẩm bị lão Lỳ Kheo năm xưa chặt một ngón tay. Chính cái đêm khủng khiếp đó, bà đã dìu Lồng Cẩm trở về nhà, mặc cho Lỳ Kheo về sau biết chuyện đã đuổi bà khỏi cửa. Bác Lồng Cẩm nhìn bà y tá đang ngượng nghịu, giọng bác dịu lại :

–Thế bà cần gì đến tôi?

–Anh Cao bảo hỏi bác còn ít mật gấu nào, để chữa cho bác Lỳ Kheo mà...

Bác Lồng Cẩm lặng lẽ vào trong buồng. Bà y tá mừng lắm. Bà biết rõ ở trên đảo, bác Lồng Cẩm không chỉ nổi tiếng là người săn chim cừ khôi, mà còn có món mật gấu chữa bệnh gia truyền rất giỏi. Bác Lồng Cẩm trong buồng đi ra, chụp cái mũ rộng vành lên đầu:

–Đi thôi!

Bà y tá bước theo bác Lồng Cẩm bụng mừng hết chỗ nói. Đã bao nhiêu năm rồi, từ cái vụ lên vách chim yến lấy tổ về cho anh cán bộ bị lạc ra đảo, tới bây giờ Lồng Cẩm mới chịu đến nhà Lỳ Kheo.

Trận gió trên đảo từ sáng nay vẫn chưa ngớt. Gió thổi ù ù qua những rặng thùy dương, qua những mảnh vườn, đem theo bụi cát trắng xóa. Cơn gió khô khan, mù mịt tiếp tục tràn qua đảo. Bà y tá rảo bước đi lên ngang bác Lồng Cẩm. Bà nhìn nhanh sang bác thợ săn, đâm hoảng. Mặt bác Lồng Cẩm đăm chiêu và lạnh lẽo đến sợ. Bà y tá đi chậm lại. Tiếng anh Cao làm bà bớt lo:

–Thầy thuốc nam đến rồi kìa!

Bác Lồng Cẩm ngó qua cái thân hình đã tái ngắt và những mảng thâm tím trên người lão Lỳ Kheo, rồi ra nhà ngoài, rút chai rượu trắng ra, đổ vào bát. Anh Thành đón túi mật gấu khô từ tay bác Lồng Cẩm, đổ ra một ít bột đen nhánh có lẫn những hạt sắc vàng óng ánh như hổ phách, hòa vào bát rượu.

Anh Thành đưa cho bà y tá bát rượu mật gấu:

–Cái món mật gấu này không những có tác dụng thanh nhiệt, trị kinh giản, làm thuốc giảm đau, mà còn nhiều thứ công dụng hơn cả mấy thứ thuốc của bà đó. Ông Lỳ Kheo bị mấy chỗ tụ huyết do ngã và chấn thương đau nhức, lại bị bất tỉnh nhiều lần, chỉ có cái anh chàng thuốc gia truyền này mới trị nổi!

Bác Lồng Cẩm gói một ít bột mật gấu nữa, đưa cho bà y tá:

–Đêm nay, cho Lỳ Kheo dùng nốt chỗ này.

–Bác Lồng Cẩm tốt quá!

Bác Lồng Cẩm đứng lên, bước ra cửa.

Ra đến cửa, bác dừng lại định nói gì nhưng lại thôi và bỏ đi thẳng.

Con chim bác Lồng Cẩm săn được nom đẹp lạ.

Con cốc của Hạnh còn thua nó về bộ lông. Bộ cánh óng lên, biếc xanh và tỏa ngời trên một màu đen nhánh khắp thân. Lồng Chéo vuốt vuốt trên cánh chim:

–Con sâm cầm di cư đây mà. Các cậu có thấy cái vòng đeo ở chân nó đẹp không?

Hạnh đẩy chú Tườu Ngộ cứ sản đến bên con sâm cầm ra:

–Để mình xem nào. Số 23049. Mát - xcơ - va. Ôi, nó được thả từ Mát - xcơ - va tháng 7 năm kia. Hai năm rồi! Nó đi đâu nhỉ?

Lồng Chéo cười:

–Năm nào ở đảo, mình cũng thấy từng đàn bay về trú đông, mùa xuân lại bay ngược lên phía bắc. Có lẽ con sâm cầm này về đây hai năm rồi chứ sao!

Giang Khầu sờ sờ cái vòng ánh lên màu vàng:

–Thế bọn mình lại phải thả nó trở lại quê nó hả?

–Ờ, có lẽ phải thả nó ra thôi, để nó trở về nơi người ta đưa nó đi...

Hạnh thầm thì nói với Lồng Chéo:

–Con chim đẹp quá! Thả nó về với bầu trời bao la kia, kể ra cũng tiếc thật.

Lồng Chéo phân vân:

–Chúng mình đợi bố tớ và các anh Thành, anh Cao về, hỏi xem đã. Năm nay, con chim sâm cầm này có lẽ về đây sớm hơn là điều lạ. Mọi năm, phải đến tháng mười, đàn chim di cư mới bay đến đảo mình cơ. Đằng ấy chưa được xem những ngày chim di cư về nhỉ? Cứ là hàng nghìn, hàng vạn con, chúng bay rợp cả trời. Mòng két, vịt trời, ngỗng trời, dẽ giun, choắt, sếu, sâm cầm... kể ra chẳng hết. Ở bãi chim hôm trước đằng ấy đến, cứ như ngày hội.

Lồng Chéo chỉ lên bức tường có treo một con chim nhồi to như con đại bàng, đôi cánh đỏ lửa xòe rộng. Tuy là chim nhồi, nhưng cặp mắt nó mở trừng trừng như còn sống. Lồng Chéo khoe:

–Con hồng hạc kia cũng do bố tớ săn được trong đàn chim di cư đó. Bố tớ thấy con chim đẹp nên nhồi chơi, chỉ có đôi mắt là giả thôi. Bố tớ kể loài hồng hạc này có con nặng tới tới bảy, tám cân, cánh khỏe, bay rất xa, rất hiếm hoi ở vùng đảo nước mình. Có lẽ nó lạc đàn nên theo đàn khác bay về nước mình. Tiếc cái là đằng ấy không ở đến mùa chim về trú đông, cả đảo cứ nháo nhác suốt ngày đêm vì chim đến trú ngụ.

Con sâm cầm bỗng kêu lên một tiếng thật to. Cả ba đứa quay ngoắt lại. Chú Tườu Ngộ đang vít cánh nó xuống. Hạnh vội vã đẩy con khỉ ra xa, rồi quát:

–Đứng vào góc nhà!

Chú khỉ nhảy tót lên chiếc ghế đẩu, ngồi ngó nghiêng, hàm răng nhe ra như tức tối. Tườu Ngộ thấy Hạnh cứ vuốt mãi lưng con sâm cầm, nó giận dỗi tụt xuống ghế, lại sang chơi với con cốc.

Anh Thành, anh Cao và bố Lồng Chéo từ nhà lão Lỳ Kheo đã trở về. Bác Lồng Cẩm đang có gì bực bội trong lòng, nhưng nhìn thấy con sâm cầm, lại tươi tỉnh:

–Quên nói với các anh, con sâm cầm tôi săn được buổi sáng có cả cái vòng đẹp lắm!

Anh Thành ngạc nhiên:

–Chim di cư hả? Sao mùa này lại có chim di cư?

–Ông quen thủy thổ núi rừng rồi, nên quên hiện tượng chim di cư trên đảo đấy. – Anh Cao cười. – Con sâm cầm này chắc về trú rét mùa đông năm ngoái, nay muốn ở lại. Có một số con quen với thời tiết và hoàn cảnh sống, chúng muốn tự thuần hóa với khí hậu phương nam mà. Các cụ chẳng nói: “ Đất lành chim đậu”. Sống ở đảo này chắc thú vị, nên anh chàng sâm cầm mới lưu trú lại mà thôi.

Anh Thành ngắm nhìn chiếc vòng đeo chân con sâm cầm, rồi quay lại phía bác Lồng Cẩm:

–Để tôi gửi chiếc vòng đeo chân chim tới Viện khoa học Việt Nam cho họ báo tin về nơi thả chim. Đây là quy định quốc tế mà. Nơi thả chim, họ sẽ tính toán và nghiên cứu sự di chuyển của con cầm sâm này. Bác Lồng Cẩm có đồng ý không?

Bác Lồng Cẩm hỏi:

–Thế có cần cho họ biết bắt được chú sâm cầm ở đảo này không?

–Cần chứ. Rất cần. Tôi sẽ viết cả tên bác nữa.

Bác Lồng Cẩm tháo chiếc vòng chim ra, đưa cho anh Thành:

–Anh cứ gửi đi. Thích thật! Có lẽ con sâm cầm này bay đi hàng vạn cây số rồi.

Anh Cao quàng hai cánh tay rộng lên vai Lồng Chéo và Giang Khầu:

–Đúng là hàng vạn cây số đó. Vừa bay xa, lại cả bay cao qua những dãy núi trùng điệp nữa. Nhiều loài vịt trời di cư đã bay qua đỉnh Hi - ma - lay - a cao 8850mét một cách dũng cảm. Dũng cảm thật đó, các chú bé ạ! Này nhé, các nhà du lịch, với đủ mọi trang bị dã ngoại phức tạp, mà còn chật vật lắm mới lên được độ cao đó. Vì sao? Vì lên đến độ cao đó, không khí chỉ còn độ một phần ba là ô - xy cần cho sự thở. Điều bí mật là bằng cách nào cơ của cánh chim có thể giữ được khả năng làm việc trong một thời gian dài ở điều kiện thiếu ô - xy như vậy? Cái vòng chân chim này, cùng với các theo dõi tính toán khác, sẽ làm sáng tỏ các đường di cư của chim và sức chịu đựng của chúng.

Giang Khầu tròn xoe mắt. Nó kéo áo anh Cao:

–Thế khi chim di cư bay, có con nào bị chết không, anh Cao?

Anh Cao trầm ngâm:

–Không ít con thiệt mạng đâu. Qua biển cả, bị gió bão, mất hướng, hàng loạt con đã không bay được về nơi nắng ấm. Rồi còn vô vàn trở ngại dọc đường nữa. Luồng ánh sáng của các nhà cao tầng thu hút chim bay trong đêm, rồi các cột ăng - ten truyền hình, giàn ra - đa, đèn biển làm hàng loạt chim đâm sầm vào trong đêm. Ở sách người ta còn ghi lại: năm 1904, hàng triệu con sẻ đồng trên đường di cư đã gặp một cơn bão tuyết ở vùng Ai - ô - va. Đội ngũ đàn chim rối loạn, ướt đầm cánh và lạnh cóng. Chúng đâm vào các tòa nhà, dây điện và rơi xuống mặt tuyết giá lạnh. Xác của 75 vạn con chim xấu số rải khắp một vùng rộng tới ba cây số vuông...

Câu chuyện của anh Cao làm cho cả ba chú bé đều xúc động. Lồng Chéo đã biết bao nhiêu lần theo bỏ đi săn chim hoặc một mình lang thang ở bãi chim, nhưng cái chuyện chim di cư, Lồng Chéo bây giờ mới biết. Lồng Chéo thấy bồi hồi trong lòng. Ôi, những con chim từ xứ sở xa xôi kia, từ những vùng giá lạnh băng tuyết kia, để đến được những bờ biển, những hòn đảo, và những đầm lầy ấm áp, chói lòa mặt trời phương nam này, cũng phải trải qua biết bao nỗi gian truân. Những chuyến bay dài với đôi cánh tung hoành trên trời xanh khoáng đạt nhưng biết bao nguy hiểm, biết bao thử tlıách.

Trong khi cả hai anh Cao và Thành cùng ba chú bé lúc này đều không để ý, thì bác Lồng Cẩm đã ôm nhẹ con sâm cầm đứng bên cửa sổ mở rộng. Đôi mắt người thợ săn ngước nhìn bầu trời đầy gió. Những đám cát như ai vốc tung lên cao, quay tròn, tỏa ra không gian. Đôi bàn tay bác Lồng Cẩm nâng con sâm cầm lên và xòe ra, đẩy nhẹ. Con sâm cầm vỗ cánh, bay vút vào bầu trời tự do.

Nghe tiếng chim vỗ cánh, mọi người quay vội ra phía cửa sổ, thì bắt gặp bác Lồng Cẩm cũng quay lại. Nụ cười trên gương mặt người thợ săn thật hiền, đang tỏa sáng...

Con sâm cầm được thả ra hôm trước, thì hôm sau tự dưng chú chim cốc cũng mất tích.

Hạnh tiếc ngân tiếc ngơ con chim quý. Con cốc ra đi một cách lặng lẽ. Nó trở về với trời xanh, hay tìm về bố con ông lão đánh cá? Hạnh phân vân không sao đoán nổi. Mặc dù cả Lồng Chéo và Giang Khầu đều hứa với Hạnh sẽ săn cho một con chim thật quý, thật đẹp ở bãi chim, nhưng Hạnh vẫn không nguôi nhớ con cốc.

Buổi sáng sau hôm con cốc bỏ đi, ngôi nhà anh Cao làm việc vắng vẻ hẳn. Anh Cao và anh Thành đã lên vùng vách yến từ sớm. Con Tườu Ngộ đang ngoài vườn cây. Hạnh đang ngồi giở mấy cuốn sách tìm thấy ở trong chiếc tàu đắm hôm trước, thì có tiếng gõ cửa.

Lão Lỳ Kheo đến.

Lão đúng là người vùng biển. Vừa hôm kia tưởng đã gần đất xa trời, được thuốc mật gấu của bác Lồng Cẩm chữa chạy, lão đã đi lại được. Lão Lỳ Kheo nheo nheo con mắt trái:

–Cậu bé ở nhà một mình thôi ư? Lồng Cẩm có sang đây không?

Hạnh mở rộng cửa:

–Ông Lỳ Kheo khỏi ốm rồi à? May quá!

–Cảm ơn cậu bé. Ta khỏi liền mà. Đang đi tìm Lồng Cẩm để cảm ơn cái bụng tốt của nó. Tiểu Xuân bảo ta, nó có cái thuốc mật gấu chữa cho ta, ta mới sống nổi...

Lão Lỳ Kheo bỗng ngừng nói. Lão kéo cái ghế, ngồi phịch xuống. Hạnh cười:

–Ông Lỳ Kheo, sao hôm trước ông nghĩ là con tàu đắm có vàng mà lặn xuống cho khổ?

Cái đầu ta mụ mẫm mà. Bây giờ ta sáng ra rồi. Ta chịu ơn Lồng Cẩm nhiều.

Lão Lỳ Kheo đi tìm Lồng Cẩm từ sáng sớm đến giờ chưa gặp. Trong bụng lão chỉ muốn khi gặp Lồng Cẩm, lão sẽ quỳ xuống mà tạ tội vì những câu chuyện xa xôi lắm rồi. Nhưng thôi, gặp cái cậu bé mới ra đảo này, lão cũng nói cho hả cái bụng. Tính lão Lỳ Kheo là thế. Nghĩ gì là làm ngay.

Những day dứt trong lòng lão Lỳ Kheo, Hạnh không thể nào biết được. Hạnh ngó lão, vừa ngạc nhiên vừa lạ lùng. Giọng lão cứ đều đều như kể với người ngang vai phải lứa với lão:

- Cậu bé ngoan ơi! Ta muốn tạ ơn cứu sống với Lồng Cẩm. Ta hối hận lắm. Tiều Xuân nói với ta rồi. Cái mật gấu Lồng Cẩm săn được đem chữa cho ta đó, bây giờ ta thì khỏi chết, còn Lồng Cẩm thì hồi trước bị thằng chúa đảo bắt ta phải chặt một ngón tay. Ta nghe thằng chúa đảo, ta nghe thằng chúa đảo...

Lão Lỳ Kheo nói được đến đấy thì gục đầu xuống bàn. Hạnh hoảng hốt, vội vã lay lay vai lão. Lão Lỳ Kheo lại ngửng lên, đôi mắt ti hí đẫm nước mắt.

Hạnh đứng lên mở bung đôi cánh cửa sổ:

- Thôi, ông Lỳ Kheo đợi bác Lồng Cẩm về mà nói.

Lão Lỳ Kheo ngửng lên, đôi mắt lờ đờ nhìn sang Hạnh. Giữa lúc Hạnh đang không biết làm gì với lão thì ở cửa sổ có tiếng huýt sáo, rồi cái đầu Giang Khầu ló ra :

- Hạnh ơi! Sang bên Lồng Chéo đi. Bố nó có khách đất liền ra đảo. Có cả anh Thành, anh Cao ở đó. Nhiều chuyện lạ lắm.

- Khách nào cơ?

- Ông chủ tịch huyện, người mà bố nó cứu sống trước kia mà.

- Ờ, đi !

Hạnh mừng rỡ thoát khỏi câu chuyện của lão Lỳ Kheo. Hạnh nhảy hai bước ra cửa, nhưng lại chạy vào, cho mấy quyển sách tìm thấy trong chiếc tàu đắm vào tủ, khoá lại. Mãi đến giờ Giang Khầu mới nhìn thấy lão Lỳ Kheo, cậu bé vội nép vào bên tường. Đợi Hạnh ra, Giang Khầu mới thì thầm:

- Lão Lỳ Kheo đến làm gì thế?

Hạnh chưa kịp trả lời thì đã nghe một giọng quen thuộc đằng sau:

- Anh Hạnh ! Anh Hạnh!

Hạnh quay ngoắt lại. Trời ơi, Cốc Ri ! Cô bé Cốc Ri và cả ông lão chủ thuyền đánh cá. Ông lão chủ thuyền cười vui vẻ:

- Ông cháu lão mang trả con chim cốc cho cậu đây. Gớm, lo quá! Tự dưng nó bay về, làm con bé Cốc Ri hết hồn. Tưởng điều gì xảy ra, nên nó bắt lão phải cho thuyền cặp đảo gấp.

Hạnh ôm lấy con chim cốc vào lòng, một tay dắt cô bé Cốc Ri:

- Anh Thành chắc cũng mừng lắm. Ông ơi, ông cùng Cốc Ri sang nhà bác Lồng Cẩm đi. Mọi người đang ở cả đấy.

Cốc Ri vẫn ngoe nguẫy hai đuôi sam tóc. Nó nắm chặt lấy tay Hạnh:

- Em tưỏng anh đi xa rồi cơ. Em cứ lo chẳng mang được con cốc cho anh.

Giang Khầu thấy Hạnh đang mừng vì gặp ông cháu lão đánh cá, vội chạy đi trước. Khi ông cháu Cốc Ri và Hạnh đến nhà bác Lồng Cẩm thì cả anh Thành, anh Cao, bác Lồng Cẩm và người khách cùng ra đón.

Ông cụ chủ thuyền đang líu ríu nhìn theo đứa cháu nói trò chuyện với Hạnh, khi ngửng lên, bỗng đứng sững lại. Ông phều phào về phía người khách đứng bên bác Lòng Cẩm :

- Chú đó hả? Có đúng chú không hả ?

Người khách của bác Lồng Cẩm - đồng chí chủ tịch huyện vừa ở đất liền ra - cũng quýnh lên, nhào ra ôm lấy ông lão đánh cá:

Trời ơi, em tìm bác biết bao ngày rồi!

Ông lão đánh cá ứa ra hai dòng nước mắt:

- Tôi tưởng chú bị nạn từ cái trận bão biển ấy. Chú Mẩy ơi !

Ông lần lần từ cánh tay đến lưng đồng chí chủ tịch huyện. Và giữa lúc bất ngờ nhất, ông lão òa lên khóc như trẻ thơ. Bác chủ tịch Mẩy miệng vẫn cười, nhưng mắt cũng đầm đìa nước mắt. Bác dụi đầu vào lồng ngực vạm vỡ của ông lão, giọng nức lên từng hồi:

- Bác ơi, anh ơi, bấy lâu nay bác đi đâu? Mặt biển thì rộng lớn, trời đất thì mênh mông quá ! Có ngờ đâu lại có buổi hôm nay, em lại gặp bác. Em quên sao được những ngày bác cưu mang, nuôi dạy xưa kia!

Nói đoạn, chủ tịch Mẩy gạt nước mắt, qua lại phía bác Lồng Cẩm và mọi người đang ngạc nhiên vì cuộc gặp bất ngờ:

- Chú Lồng Cẩm ơi, đây là anh nuôi của tôi mà nhiều lần tôi đã kể. Anh em tôi lưu lạc nhau đã rnấy chục năm...

Bác lại nức lên khóc.

Hạnh ôm chặt con cốc. Cái câu chuvện đêm trăng trên biển mà ông lão chủ thuyền kể vui trở lại trong trí nhớ của Hạnh. Anh Mẩy, con cốc, bức hoành phi và những ngày đói khổ, rồi đồng chí chủ tịch huyện bây giờ. . .

Mới có ít ngày ra biển, đã có biết bao chuyện lạ lùng, biết buồn vui. Ví như cuộc gặp lại của ông cháu cụ chủ thuyền với bác Mẩy, cũng có thể nào ngờ nổi.

“Biển cả thì rộng lớn. Trời đất thì mênh mông”. Bác chủ tịch huyện nói đúng thật. Nhưng dù biển trời bát ngát, những con người tốt bụng bao giờ chẳng xích lại gần nhau, và giữa biển trời bao la đó, còn biết bao nhiêu câu chuyện say mê khác mà Hạnh chưa biết hết.

Những ngày mùa hạ đang đến, biển thì trong xanh và mây trời thẳm biếc, tráng lệ biết bao nhiêu, đang kêu gọi Hạnh đi tiếp.

G XUÂN VINH TRẦN TRUYỀN —★— Ở NƠI BIỂN CẢ ebook©MotSAch —★— TVE-4U©nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản Kim Đồng
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Trần Truyền

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.