Phục Vụ Nhân Dân

Lượt đọc: 15 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 01

❊ ❊ ❊

Nhiều sự thật của cuộc sống cần phải được thể hiện bằng cách thức của tiểu thuyết.

Vậy thì hãy dùng cách của tiểu thuyết mà thể hiện vậy. Bởi lẽ một vài sự thật của cuộc sống, chỉ thông qua cây cầu hư cấu mới có thể chạm đến cảnh giới của sự chân thật.

Đã xảy ra một chuyện, là chuyện trong tiểu thuyết, cũng là chuyện trong đời sống. Hay nói cách khác, đời sống đã tái diễn một tình tiết trong cuốn tiểu thuyết "Phục vụ nhân dân" kia.

Khi Ngô Đại Vượng, tiểu đội trưởng công vụ chuyên phụ trách nấu nướng cho gia đình Sư trưởng, xách một giỏ rau xanh đứng ở cửa bếp nhà Sư trưởng, chuyện đó đã ầm ĩ một trận, bùng nổ tựa như bom hydro nổ tung ngay trước mắt anh. Tấm biển gỗ vốn được đặt trên bàn ăn, bên trên in năm chữ lớn màu đỏ "Phục vụ nhân dân", lại một lần nữa xuất hiện trên bệ bếp ốp gạch men trong nhà. Bên trái dòng chữ là một ngôi sao năm cánh đang tỏa sáng; bên phải là một khẩu súng dài đeo bình nước; phía dưới là một hàng bông lúa trĩu hạt. Ngô Đại Vượng là tấm gương học tập, là điển hình chính trị của cả sư đoàn, đối với ý nghĩa sâu sắc của tấm biển này, anh có cách hiểu vô cùng đặc biệt. Anh biết, ngôi sao năm cánh tượng trưng cho cách mạng. Bình nước và súng dài thể hiện cho chiến đấu và lịch sử; là một chặng đường cách mạng dài đằng đẵng và gian khổ. Còn bông lúa lại mang ý nghĩa của sự bội thu và tương lai tươi đẹp, ý nghĩa của những năm tháng rực rỡ sau khi thực hiện chủ nghĩa cộng sản.

Có một ngày, không biết Sư trưởng mang từ đâu về tấm biển gỗ được quét sơn trắng, in chữ đỏ, hai bên và phía dưới dòng chữ còn in lồng màu đỏ vàng hình ngôi sao, súng dài, bình nước và bông lúa, đặt lên bàn ăn. Sư trưởng nghiêm nghị nhìn chằm chằm vào Ngô Đại Vượng, tiểu đội trưởng công vụ kiêm anh nuôi đang bưng cơm canh đặt lên bàn, rồi hỏi: "Biết ý nghĩa trên tấm biển này là gì không?". Ngô Đại Vượng tập trung nhìn một lúc, tỉ mỉ suy ngẫm rồi giải đáp, Sư trưởng từ từ mỉm cười, nét mặt giãn ra tươi tắn, nói: "Không tệ, người của tiểu đội công vụ, anh nuôi nhà Sư trưởng tôi cũng có giác ngộ cao hơn họ đấy."

Ngô Đại Vượng không biết "họ" mà Sư trưởng nói là những ai, tuân theo nguyên tắc quân sự "không nên nói thì không nói, không nên làm thì không làm", anh lại xuống bếp nấu canh cho Sư trưởng và phu nhân. Từ đó, tấm biển gỗ in dòng chữ "Phục vụ nhân dân" liền ở lại vĩnh viễn trên bàn ăn nhà Sư trưởng, cùng với lọ giấm, lọ ớt, lọ dầu mè, trở thành một thành viên vĩ đại và quang vinh nhất trong gia tộc bàn ăn đó.

Những ngày tháng cứ thế trôi qua, thời gian như dòng sông chảy qua doanh trại, không ngừng nghỉ, cứ lặng lẽ, bình yên mà chảy mãi về phía trước. Sư trưởng luôn thức dậy trước cả tiếng kèn báo thức mỗi sáng, ăn mặc chỉnh tề từ tầng hai xuống, ra sân tập lớn kiểm tra các sĩ quan cấp dưới và binh lính đang luyện tập hằng ngày. Mãi đến tận khuya, sau khi tiếng kèn tắt đèn vang lên hồi lâu, ông mới trở về nhà trong trạng thái hơi mệt mỏi, cởi quân phục, rửa mặt dưới nhà rồi mới lên lầu nghỉ ngơi. Cách mạng và công việc chính là linh hồn và sự sống của Sư trưởng, là toàn bộ cốt lõi và nội hàm trong cuộc đời ông. Chiến tranh chống Nhật, Cách mạng ruộng đất, Chiến tranh giải phóng, những lịch sử vĩ đại này, từ thuở ấu thơ của ông, tựa như một thước dây da mềm lịch sử, đo lường ý nghĩa mỗi ngày trong cuộc đời ông, cho đến khi ông đã năm mươi tuổi, ngày qua chính ngọ, tuổi già xế bóng đang chờ đợi trước mắt, ông vẫn hằng ngày dùng thước dây mềm đó đo lường ý nghĩa cuộc sống của mình. Còn phu nhân của ông, người phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp, kém Sư trưởng mười bảy, mười tám tuổi, người mà Sư trưởng vẫn luôn gọi là Tiểu Lưu, vốn là y tá bệnh viện sư đoàn, từ khi trở thành vợ Sư trưởng liền không còn đến bệnh viện làm công việc y tế nữa. Không biết là Sư trưởng không cho bà đi làm hay chính bà không muốn đi làm nữa, cứ thế suốt năm năm ròng, ở lì trong tòa nhà của Sư trưởng, bầu bạn với tòa nhà, bầu bạn với sự uy nghiêm của Sư trưởng, làm chủ nhân của tòa nhà dành cho cán bộ cao cấp.

Về Lưu Liên, Ngô Đại Vượng biết rất ít, trước khi đến nhà Sư trưởng có thể nói là hoàn toàn không biết gì. Không biết nhà mẹ đẻ bà ở đâu, không biết bà tham gia quân đội, trở thành y tá vào năm nào, không biết năm năm bà không đi làm, ngoài việc đến giờ ăn thì từ trên lầu xuống, thời gian còn lại bà ở trên lầu làm những gì. Ngoài ra, Ngô Đại Vượng còn không biết bà không đi làm thì quân đội có phát lương cho bà không; không biết bà vốn là quân nhân, năm năm không mặc quân phục, có quên mất quy tắc và chức trách của người quân nhân hay không. Lịch sử của bà đối với anh là một khoảng trắng bị sương mù che phủ, tựa như một dãy núi bị sương mù bốn mùa bao bọc, anh không biết trên núi đó là trọc lốc, hay là xanh tươi rậm rạp, đầy rẫy khe sâu thung lũng, chim hót hoa thơm, suối chảy róc rách.

Vì không biết nên cũng không còn quan tâm; vì không muốn quan tâm nên Sư trưởng cũng rất hài lòng với công việc của anh. Mặc dù là một người lính cũ đã có vài năm quân ngũ, mặc dù vinh dự trong hồ sơ chất đống như hàng hóa trong kho, nào là khen ngợi, lập công, trao thưởng, làm điển hình, làm gương mẫu, đến giữa năm hay cuối năm, chủ nhiệm khoa quản lý sư đoàn đều sẽ đúng hẹn như phát gối ngủ mà gửi đến cho anh, nhưng anh vẫn cảm thấy còn xa mới đủ. Suy cho cùng, anh là một người tham lam vinh dự, là một người lính ưu tú khao khát tiến bộ. Nhớ lại thì, anh được chọn vào nhà Sư trưởng làm tiểu đội trưởng công vụ chuyên trách kiêm anh nuôi chuyên trách là vì trong một hoạt động thi đua nghiệp vụ và học tập của hậu cần sư đoàn, anh không những có thể đọc thuộc lòng không sai một chữ 286 câu trích dẫn của Chủ tịch Mao và ba bài viết kinh điển là "Phục vụ nhân dân", "Kỷ niệm Bạch Cầu Ân", "Ngu Công dời núi", mà còn có thể trong vòng ba mươi phút, hoàn thành nhiệm vụ cấp bách là bốn món xào và một món canh, cả màu sắc, hương vị đều xuất sắc, vì thế mà lọt vào mắt xanh của Sư trưởng.

Chủ nhiệm khoa quản lý hỏi: "Đến làm việc tại nhà thủ trưởng, nguyên tắc quan trọng nhất là gì?".

Anh nói: "Không nên hỏi thì không hỏi, không nên làm thì không làm, không nên nói thì không nói".

Chủ nhiệm khoa quản lý nói: "Còn gì nữa?".

Anh nói: "Phải khắc ghi tôn chỉ phục vụ gia đình thủ trưởng chính là phục vụ nhân dân".

Chủ nhiệm khoa quản lý nói: "Quan trọng là phải nói được làm được, đưa lời nói vào hành động, đưa khẩu hiệu vào thực tiễn".

Anh nói: "Xin thủ trưởng yên tâm, tôi nhất định sẽ nói đi đôi với làm, trước sau như một, làm một người vừa hồng vừa chuyên".

Chủ nhiệm khoa quản lý nói: "Vậy tốt, cậu đi đi, chúng tôi chờ cậu mang tin vui từ nhà Sư trưởng về liên đội, về quê hương cậu".

Thế là Ngô Đại Vượng được điều từ đại đội cảnh vệ đến nhà Sư trưởng.

Sự bắt đầu của câu chuyện, Ngô Đại Vượng hoàn toàn không hay biết. Anh không biết rằng nửa năm qua, khi anh ăn cơm trên bàn, phu nhân Sư trưởng đã vô số lần nhìn kỹ anh, không biết rằng khi anh cuốc rau sau nhà, bà từng bao lần nhìn đăm đắm qua cửa sổ, không biết rằng khi anh dựng giàn cho cây nho ở sân trước, vì giàn nho dày đặc cũng giống như công tác tư tưởng kín kẽ không lọt gió, đã che khuất tâm hồn và tầm nhìn của bà, khiến bà phải lấy ống nhòm tầm xa của Sư trưởng ra, kéo gần và phóng đại anh từ kẽ lá nho. Năm tháng dài đằng đẵng nhìn những giọt mồ hôi trên trán anh, giống như chủ cửa hàng trang sức nhìn một viên kim cương hay mã não dưới kính lúp, nhìn những đường gân xanh trên cổ anh và làn da đen trần trụi trên vai, như ngắm một mảnh ngọc quý tím xanh thượng hạng. Mà anh thì chưa từng nhận ra, không hề hay biết chút nào, như một cây hòe bên vệ đường, không ngửi thấy mùi hương của đóa mẫu đơn bị giam trong vườn. Cứ như thế, vào một buổi hoàng hôn ba ngày trước, vào ngày nắng tàn thứ hai kể từ khi Sư trưởng đến Bắc Kinh tham dự hội nghị quan trọng về việc quân đội cần tiếp tục tinh binh giản chính tại một địa điểm bí ẩn, sau khi Ngô Đại Vượng cùng vợ Sư trưởng ăn cơm tối xong, anh đang thu dọn bát đũa, bà liếc anh một cái với vẻ ngoài lạnh lùng nhưng nội tâm nóng bỏng, tiện tay lấy tấm biển gỗ viết chữ "Phục vụ nhân dân" từ mép tường, đặt lên đầu bàn ăn bằng gỗ hồng sắc này, giống như bảo anh lấy giúp bà món đồ gì đó ở ngoài sân vậy, cứ thế một cách tùy tiện, cố ý hay vô tình đặt tấm biển lên góc bàn này, nhẹ nhàng nói: "Tiểu Ngô, sau này chỉ cần thấy tấm biển này không còn ở chỗ cũ nữa, nghĩa là tôi có việc tìm cậu, cậu có thể lên lầu một chuyến".

Anh không biết, ngòi nổ của tình yêu, trong sự hỗn độn của anh đã bị bà lặng lẽ châm ngòi. Lần đầu tiên nhìn thấy tấm biển "Phục vụ nhân dân" không còn nằm ở vị trí cũ trên bàn ăn là ba ngày trước, nó xuất hiện đầy nổi bật và trần trụi trên cột gỗ vuông ở góc dưới cầu thang giữa phòng khách. Nhìn thấy tấm biển "Phục vụ nhân dân" đã bị di chuyển, Ngô Đại Vượng không hề sững sờ, anh biết di chuyển chính là mệnh lệnh, biết lúc này bà gọi anh là có một việc anh bắt buộc phải làm đang chờ đợi anh một cách không sai chạy chút nào, vì thế liền vội vã bước lên vài bậc thang, mới nhớ tới ngày đầu tiên đến nhà Sư trưởng báo cáo nửa năm trước, Sư trưởng đã nói với anh bằng giọng ôn hòa, lạnh lùng nhất rằng: "Trên lầu không cần cậu phải lo lắng gì cả, nếu không có lời của dì Lưu, cậu đừng bước lên lầu nửa bước". Lời của Sư trưởng vang lên bên tai anh như những câu trích dẫn của Chủ tịch Mao, đến khúc ngoặt cầu thang, anh chậm bước chân lại, nhấc lên đặt xuống nhẹ nhàng, như thể đang dẫm lên lớp kính dễ vỡ.

Anh không biết cái cầu thang đó làm bằng gỗ gì, chỗ thường đặt chân có những vết chân màu trắng xám, vân gỗ nhỏ mịn như vân da người, dẫm lên vừa mềm vừa chắc. Trên lầu có một mùi hương mục rữa nhàn nhạt, Ngô Đại Vượng ngửi thấy mùi đó, như ngửi thấy một mùi hương phụ nữ hiếm thấy thấm vào tận tâm can. Anh biết, đi gặp vợ Sư trưởng - Lưu Liên, không nên như lần đầu tiên mình về nhà xem mắt, tim đập thình thịch không thể ngăn lại được. Nhịp tim này đi ngược lại với giác ngộ và lập trường của một người lính cách mạng, đi ngược lại với tư tưởng và nội tâm cầu tiến của anh, vì thế, anh dừng bước, dùng nắm đấm đấm vào ngực mình một cái, tự cảnh cáo mình lần nữa, rằng lên lầu là vì có một công việc bắt buộc anh phải làm, giống như trên sợi dây chuyền cách mạng, có một mắt xích nằm ở trên lầu, anh không thể không lên lầu. Thế là anh gắng gượng điều chỉnh nhịp tim chậm lại, như thể ngăn chặn dòng nước đục phản cách mạng, lúc này mới nhẹ chân chậm bước lên lầu, phát hiện cấu trúc tầng hai y hệt tầng một, phía đông là hai phòng ngủ, phía nam là nhà vệ sinh, phía tây là một căn phòng trống.

Dưới căn phòng trống là bếp và phòng ăn, còn ở tầng hai này, nó có dáng vẻ của một phòng họp, một vòng bày ghế sofa khung gỗ và bàn trà, trên tường treo đủ các loại bản đồ hành chính địa phương và bản đồ bố trí quân sự.

Không cần nói cũng biết, đây là phòng làm việc của Sư trưởng, giống như thư phòng của văn nhân, nhìn thấy vô số mũi tên đỏ tươi và những đường kẻ đỏ, xanh lá, xanh dương, vàng đan xen, còn có các loại hình tròn, tam giác và hình vuông trên bản đồ, Ngô Đại Vượng theo bản năng thu ánh mắt từ cửa phòng đó lại, dường như lập tức hiểu ra lý do mấu chốt của việc Sư trưởng nói không có việc gì thì đừng lên lầu nửa bước. Bí mật chính là một cánh cửa, để cánh cửa phơi bày trước mặt người khác cũng đồng nghĩa với làm lộ cơ mật quân sự. Một người lính, phải lấy việc bảo vệ cơ mật quân sự làm sứ mệnh, cái gì không nên xem tuyệt đối không xem, cái gì không nên nói tuyệt đối không nói. Ngô Đại Vượng sở dĩ giành được sự tin tưởng của Sư trưởng, vợ Sư trưởng cũng như của cách mạng và chính trị, chính là vì anh đã làm được điểm này.

Nhịp tim dịu lại, một sự trang nghiêm từ từ bao trùm lấy toàn thân anh. Rời ánh mắt khỏi bản đồ, anh nhìn chằm chằm vào cánh cửa phòng có chạm khắc kiểu cũ ở phía đông, anh tiến lên vài bước, ngẩng đầu ưỡn ngực, đối diện phía trước, mắt không nhìn ngang, thốt ra hai chữ ngắn gọn, mạnh mẽ: "Báo cáo".

Đáp lại anh là sự tĩnh lặng.

Anh lại nâng cao giọng hô lên hai chữ "Báo cáo". Sự tĩnh lặng vẫn bao trùm lấy tòa nhà này như màn đêm hoàng hôn.

Anh biết bà đang ở trong phòng ngủ đó. Phòng ngủ này chính là cốt lõi và nội dung toàn bộ cuộc sống của bà. Tòa nhà kiểu Liên Xô này gần như là khu vực và phạm vi được trải thảm cho toàn bộ quỹ đạo cuộc đời bà. Anh muốn mở cổ họng hô "báo cáo" lần nữa, nhưng thân bất do kỷ lại đưa tay gõ cửa.

Bà đáp lại, nói: "Vào đi".

Anh đẩy cửa bước vào.

Lúc này mới thấy trong phòng không bật đèn, một mảng mờ ảo vàng vọt. Giường, bàn, ghế đều hòa tan vào trong sự mờ ảo nửa đặc nửa dính, như tan vào trong một vũng bùn. Bà ngồi trên mép giường, tay cầm một cuốn sách, là "Tuyển tập ***" tập một, không đọc, chỉ cứ cầm như thế trên tay.

Anh nói: "Dì ơi, có chuyện gì ạ?".

Bà nói: "Dây kéo công tắc điện treo tít lên trên rồi, cậu giúp tôi lấy xuống".

Theo ánh mắt của bà, anh quả nhiên nhìn thấy dây công tắc bên bàn đầu giường cuộn tròn trên hộp công tắc màu nâu, nếu không đứng lên bàn thì đừng hòng kéo được sợi dây đó xuống. Anh liền đến bên cạnh bà, kéo chiếc ghế trước bàn lại, lấy tấm đệm mây trên mặt ghế ra, cởi giày, vỗ vỗ lòng bàn chân không bẩn, lại tìm một tờ báo cũ trải lên mặt ghế, lúc này mới leo lên lấy sợi dây treo trên hộp công tắc xuống, đồng thời tiện tay kéo dây công tắc một cái, đèn điện liền sáng lên.

Trong phòng sáng bừng.

Vì ánh sáng này, anh nhìn thấy ngoài cửa sổ có một mảng đen tối. Vì bóng tối ngoài cửa sổ, anh phát hiện trong ánh sáng này, ngay cả những vết nứt như sợi tóc trên tường quét vôi trắng cũng trở nên rõ ràng. Trong phòng không có gì kỳ lạ, giống như trong kho vũ khí của doanh trại không có vũ khí mới, trên tường dán ảnh Chủ tịch Mao, treo tranh khung kính trích dẫn của Chủ tịch Mao, trên bàn viết bày tượng thạch cao Chủ tịch Mao, bên cạnh giá chậu rửa mặt ở góc tường có một chiếc gương lớn, phía trên gương in chỉ thị tối cao của Chủ tịch Mao, hai bên gương một bên treo ống nhòm tầm xa của Sư trưởng, một bên treo khẩu súng lục kiểu 54 Sư trưởng không thường đeo. Bao súng bằng da bò, phát ra ánh sáng đỏ sẫm. Còn phía dưới cùng của chiếc gương bày một chiếc bàn trang điểm, trên mặt bàn trang điểm trải một lớp kính xanh, trên kính bày mấy lọ kem bôi mặt, hộp phấn và các loại vật dụng hàng ngày như kéo, lược mà phụ nữ thời đó dùng. Tất cả những điều này đều không nằm ngoài phạm vi tư tưởng của Ngô Đại Vượng. Mặc dù anh chưa từng lên tầng hai của tòa nhà số 1 này, nhưng anh đã cùng nhân viên công vụ của tòa nhà số 2 đến nhà Sư chính ủy, cũng là kiểu nhà kiểu Liên Xô giống hệt như thế này, biết rằng căn phòng của Sư chính ủy và người nhà vốn là kế toán ở hợp tác xã dịch vụ sư đoàn ở cũng giống như thế này, giản dị, đơn giản, đâu đâu cũng toát lên sự vinh quang và vinh dự truyền thống.

Sự giản dị ẩn giấu bên trong tầng hai nhà Sư trưởng đã chinh phục trái tim Ngô Đại Vượng. Anh nhảy xuống từ chiếc ghế đó, khi muốn tìm một câu để bày tỏ sự kính trọng chân thành của mình với Lưu Liên, anh từ từ xỏ giày vào, đứng thẳng lưng, cuối cùng cũng nặn ra được một câu: "Dì Lưu ơi, không còn chuyện gì nữa chứ? Không có việc gì thì con xuống lầu đây".

Bà lại hơi không vui nói: "Đừng gọi tôi là dì, cứ như tôi già lắm vậy".

Anh cười ngây ngô, muốn ngẩng đầu nhìn bà nhưng lại buột miệng nói: "Gọi là dì nghe thân mật ạ".

Bà không cười, vẻ mặt nghiêm túc, vừa dịu dàng vừa căng thẳng, nói với anh một câu đầy ẩn ý. Bà nói: "Tiểu Ngô, sau này trước mặt thủ trưởng và người khác, cậu có thể gọi tôi là dì, khi không có ai thì cậu có thể gọi tôi là chị".

Giọng bà dịu dàng, thân mật, như một người chị thực sự đang quan tâm và phê bình khi em trai làm sai chuyện. Ngô Đại Vượng có chút cảm động bất ngờ, cực kỳ muốn ngay lúc này gọi bà một tiếng "chị Lưu Liên", để với sự thông minh đúng lúc, xác lập mối quan hệ chị em này. Nhưng suy cho cùng, Lưu Liên là vợ Sư trưởng, còn bản thân mình chỉ là anh nuôi kiêm nhân viên công vụ, nhân viên công vụ kiêm anh nuôi, giai cấp nằm ngang giữa họ như Vạn Lý Trường Thành, khiến cho dù anh có tài năng lớn đến đâu, có thể đọc thuộc làu làu sách của Chủ tịch Mao, trong một phút nấu được mười món canh màu sắc hương vị đều xuất sắc, thì anh vẫn không thể thốt ra mấy chữ "chị Lưu Liên" đó. Anh không có lá gan và dũng khí để gọi ra. Anh chỉ có thể tự ôm lòng thù hận và căm ghét sâu sắc đối với sự nhát gan và yếu đuối của chính mình, lại mang tâm trạng biết ơn, ngẩng đầu nhìn vợ Sư trưởng, "chị Lưu Liên" của anh, mong từ trong ánh mắt mình truyền đạt được lòng biết ơn và kính yêu của mình đối với bà.

Anh liền từ từ ngẩng đầu lên.

Trước mắt anh như có một dải cầu vồng lướt qua, khiến anh nhất thời không dám tin dải cầu vồng mà mình nhìn thấy chính là vợ Sư trưởng, chị Lưu Liên của anh.

Anh nhìn thấy Lưu Liên đặt cuốn sách đó lên đầu giường, hóa ra trên người bà chỉ mặc độc một chiếc váy ngủ lụa màu đỏ xanh hoa văn. Vì là váy ngủ nên rộng thùng thình, lỏng lẻo, như thể bất cứ lúc nào cũng có thể tuột khỏi người bà. Không cần nói, chỉ riêng việc Lưu Liên mặc váy ngủ, bà cũng sẽ không xuất hiện trước mặt anh như một dải cầu vồng. Dù sao, anh cũng là tiểu đội trưởng đã kết hôn, là người hiếm hoi trong đại đội cảnh vệ thực sự từng nhìn thấy phụ nữ. Quan trọng hơn, vì thời tiết nóng nực, không biết từ lúc nào Lưu Liên đã bật chiếc quạt điện để bàn ở đầu giường, chiếc quạt lắc đầu đung đưa, mỗi lần gió thổi tới đều hất tà váy của Lưu Liên lên, thổi gió từ dưới thân bà vào, rồi lại thổi ra từ cổ áo dưới cổ bà.

Đường xẻ của tà váy ít nhất cũng dài một thước năm tấc, mỗi lần gió hất tà váy lên, đôi chân của bà liền trần trụi lộ ra hết thảy, vừa trắng nõn, vừa thon dài, lại còn trần như nhộng, để lộ rất nhiều thịt trên đùi đang cử động nhấp nhô.

Đây là lần đầu tiên trong đời anh nhìn thấy phụ nữ mặc váy ngủ, quả nhiên có một mùi hương phụ nữ quyến rũ như hoa quế trắng, từ dưới chiếc váy từ từ bay ra, chậm rãi lan tỏa, chất đống trong căn phòng, ép cho cổ anh thắt lại, khó thở. Ép cho đôi tay anh thừa thãi, thừa thãi đến mức không có chỗ để, chỉ có thể buông thõng bên hai chân. Vì thừa thãi nên tay có chút run, mồ hôi trong lòng bàn tay không kiềm chế được mà chảy ra. Anh chỉ liếc nhìn bà một cái, con ngươi liền như bốc cháy, bị thiêu đốt đến đau nhói. Nhưng khi anh muốn mau chóng dời tầm mắt đi, lại nhìn thấy vì gió muốn thoát ra từ ngực bà, nên không thể không làm căng phồng phần ngực chiếc váy ngủ, tại nơi bầu ngực căng phồng đó, ánh mắt anh trong lúc mất cảnh giác đã vô tình nhìn thấy bầu ngực của bà, vừa trắng vừa lớn, tròn như compa vẽ, đầy đặn căng tròn, giống như chiếc bánh bao trắng mềm xốp, thơm ngon nhất mà Sư trưởng thích ăn nhất khi anh hấp bánh bao đạt chuẩn, lửa tốt nhất. Sư trưởng là người miền Nam, Lưu Liên cũng là người miền Nam, họ đều gọi bánh bao là "man thầu". Ngô Đại Vượng nhìn thấy bầu ngực lộ ra hơn phân nửa của Lưu Liên, anh liền nghĩ đến chiếc bánh bao to và mềm xốp mình hấp, tay liền có chút thôi thúc muốn đưa tay ra nắm lấy. Nhưng mà, dù sao anh cũng là người từng được giáo dục trung học ở nhà, trong quân đội lại trở thành người có lý tưởng, người phấn đấu vì sự cao cả, người được Sư trưởng và tổ chức trọng dụng tin tưởng, người thề dốc trọn đời cho chủ nghĩa cộng sản; dù sao thì cũng giống như nhớ mình họ tên là gì, Ngô Đại Vượng ghi nhớ mình chỉ là một nhân viên công vụ kiêm anh nuôi nhà Sư trưởng, chứ không phải con trai hay cháu trai của Sư trưởng, không phải em trai hay em họ của Lưu Liên. Anh biết mình nên làm việc gì, nên nói lời gì, không nên làm việc gì hoặc không nên nói lời gì. Lý trí như mưa đá đập vào đầu anh, rơi vào lòng anh. Đây là phòng ngủ tầng hai nhà Sư trưởng, vợ ông trong phòng ngủ mặc quần áo gì, lộ chỗ nào không lộ chỗ nào đều là chuyện đương nhiên, vợ mình lúc mới cưới tháng đó, chẳng phải cũng chỉ mặc mỗi chiếc quần lót, lộ hai bầu vú đi qua đi lại trong phòng tân hôn sao? Phụ nữ trước mặt đàn ông, không có linh hồn nào là không cao cả; đàn ông trước mặt phụ nữ, chỉ có tư tưởng không lành mạnh. Ngô Đại Vượng trong chớp mắt, bằng lý trí ưu tú và quang vinh của người cách mạng, đã chế ngự được ý nghĩ hoang đường phi lý trí của giai cấp tư sản, cứu vãn linh hồn suýt chút nữa đã bước xuống vực thẳm của mình. Anh bình tĩnh lướt ánh mắt qua người Lưu Liên, giống như ánh mắt lướt qua mặt nước chẳng có gì mới lạ, đặt ánh mắt lên cuốn "Tuyển tập ***" mà bà đã lật qua, nói: "Dì ơi, không còn chuyện gì nữa chứ?".

Trên mặt Lưu Liên lại một lần nữa lộ vẻ không vui, sau khi bà cầm cuốn "Tuyển tập ***" mà anh đang nhìn chằm chằm lên đặt sang một bên, lạnh lùng hỏi: "Tiểu Ngô, cậu làm việc ở nhà thủ trưởng, điều quan trọng nhất cần ghi nhớ là gì?".

Anh nói: "Không nên nói thì không nói, không nên làm thì không làm".

Bà hỏi: "Tôn chỉ là gì?".

Anh nói: "Phục vụ thủ trưởng và người nhà thủ trưởng, chính là phục vụ nhân dân".

"Khá thông minh đấy". Bà thả lỏng những cơ mặt vốn căng lên vì không vui, kéo chiếc váy ngủ bị gió thổi lên che lại đùi, giống như một người chị cả thực sự nói với anh: "Cậu biết tôi hơn cậu mấy tuổi không?".

Anh nói: "Không biết".

"Tôi chỉ lớn hơn cậu năm tuổi", bà nói: "Cậu nói xem cậu nên gọi tôi là chị hay gọi là dì?". Không đợi anh trả lời, bà lại tiện tay cầm chiếc khăn vuông ở đầu giường đưa cho anh, nói: "Lau mồ hôi đi, tôi không ăn thịt cậu được đâu, đã coi tôi là vợ của Sư trưởng các cậu thì cậu phải trả lời câu hỏi của tôi giống như trả lời câu hỏi của Sư trưởng vậy".

Anh liền dùng chiếc khăn bà đưa lau mồ hôi.

Bà nói: "Cậu kết hôn rồi?".

Anh nói: "Dạ".

Bà nói: "Năm nào?".

Anh nói: "Năm kia".

Bà nói: "Có con rồi?".

Anh nói: "Năm ngoái mới sinh. Ba tháng trước, khi con về nhà, chẳng phải dì đã mua quần áo nhỏ cho con nhà con sao, dì quên rồi ạ?".

Bà dừng lại một lúc, như cổ họng đột nhiên bị mắc nghẹn vật gì đó, một lát sau tiếp tục nói: "Bây giờ cậu đừng gọi tôi là dì. Tôi là chị của cậu. Là chị của cậu đang hỏi cậu đây này".

Anh lại ngẩng đầu nhìn bà.

Bà nói: "Lý tưởng lớn nhất của cậu là gì?".

Anh nói: "Thực hiện chủ nghĩa cộng sản, phấn đấu trọn đời cho sự nghiệp chủ nghĩa cộng sản".

Bà cười lạnh một tiếng, nụ cười đó như một viên than hồng được bọc một lớp băng mỏng. Sau đó, bà sa sầm mặt mũi lặp lại nhấn mạnh câu nói đó, nói: "Tôi là chị của cậu, cậu phải nói thật với tôi".

Anh nói: "Dạ".

Anh nói: "Được thăng chức. Đưa hộ khẩu của vợ, con lên thành phố theo quân".

Bà nói: "Có thích vợ cậu không?".

Anh nói: "Không nói được là thích hay không, đã kết hôn rồi, cô ấy là người của con, con phải lo nghĩ cho cô ấy cả đời".

Bà nói: "Thế vẫn là thích còn gì".

Cả hai đều im lặng, để sự im lặng phủ lên căn phòng như lều quân đội, phủ trên đầu họ. Chiếc quạt vẫn thổi vào phía Lưu Liên. Ngô Đại Vượng nóng đến mức mồ hôi như mưa đổ, không biết là vì thời tiết hay vì căng thẳng, anh cảm thấy mồ hôi chảy từ trên đầu vào mắt, vừa xót vừa rát, như nước muối chảy vào mắt vậy. Anh biết bà đang nhìn chằm chằm vào mặt anh không chớp mắt, còn anh chỉ dám nhìn chằm chằm vào tấm ga giường màu xanh nước biển và chiếc màn tuyn treo giữa không trung. Thời gian trôi qua chậm chạp như con bò già kéo chiếc xe hỏng, đến khi không thể chịu đựng thêm được nữa, anh mới thử nói: "Dì ơi, còn hỏi gì nữa không ạ?".

Bà lạnh lùng nhìn mặt anh, không hỏi nữa.

Anh nói: "Vậy con xuống lầu nhé?".

Bà nói: "Xuống đi".

Nhưng khi anh định quay người xuống lầu, vừa đến cửa phòng, bà lại gọi anh lại, hỏi một câu khó hiểu.

Bà nói: "Nói thật với tôi, mỗi ngày ngủ cậu có tắm rửa không?".

Anh quay đầu nhìn bà đầy khó hiểu, nói: "Có tắm ạ. Ở đại đội tân binh, chính trị viên của chúng con là người miền Nam, ai không tắm là ông ấy không cho lên giường ngủ".

Bà nói: "Là ngày nào cũng tắm?".

Anh nói: "Ngày nào cũng tắm ạ".

Bà nói: "Cậu đi đi. Nhớ rằng tấm biển phục vụ nhân dân kia không còn ở trên bàn ăn nữa, nghĩa là tôi gọi cậu lên tầng hai có việc đấy".

Anh liền từ tầng hai chạy trốn xuống tầng một. Việc đầu tiên làm khi xuống tầng một là chạy vào bếp vặn vòi nước, xối xả rửa khuôn mặt đầy mồ hôi.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.