Sách rừng xanh

Lượt đọc: 122 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
“Cọp! Cọp!”

❊ ❊ ❊

Việc săn bắn thế nào, hỡi thợ săn quả cảm?

Thưa anh, canh gác đêm dài và lạnh lẽo.

Còn con mồi anh đi săn tìm đâu rồi?

Thưa anh, nó vẫn đang gặm cỏ trong rừng sâu.

Sức mạnh từng tạo nên lòng kiêu hãnh của anh đâu rồi?

Thưa anh, nó đang cạn dần từ sườn và hông tôi.

Sự vội vã anh từng lướt đi đâu rồi?

Thưa anh, tôi đang về hang — để chết.

Giờ chúng ta phải quay lại câu chuyện đầu tiên. Khi Mowgli rời hang sói sau trận chiến với Bầy tại Đá Hội Đồng, cậu đi xuống những vùng đất cày cấy nơi dân làng sinh sống, nhưng cậu không dừng lại ở đó vì nó quá gần khu rừng, và cậu biết mình đã tạo ra ít nhất một kẻ thù nguy hiểm tại buổi Hội Đồng. Vậy nên cậu vội vã đi tiếp, men theo con đường gồ ghề chạy dọc thung lũng, rồi cứ thế bước đi với nhịp chạy đều đặn trong gần hai mươi dặm, cho đến khi tới một vùng đất cậu chưa từng biết. Thung lũng mở ra một bình nguyên rộng lớn lấm tấm đá tảng và bị chia cắt bởi những khe rãnh. Ở một đầu là một ngôi làng nhỏ, còn đầu kia khu rừng rậm vươn tới tận bãi chăn thả, rồi dừng lại ở đó như thể bị cắt đứt bởi một lưỡi cuốc. Khắp bình nguyên, gia súc và trâu đang gặm cỏ, và khi những cậu bé chăn gia súc nhìn thấy Mowgli, chúng hét lên rồi bỏ chạy, và những con chó hoang lông vàng lởn vởn quanh mọi ngôi làng Ấn Độ sủa vang. Mowgli vẫn bước tiếp, vì cậu đang thấy đói, và khi đến cổng làng, cậu thấy bụi gai lớn vốn được kéo lên trước cổng vào lúc hoàng hôn, nay đã bị đẩy sang một bên.

“Hừ!” Cậu thốt lên, vì đã gặp không biết bao nhiêu chướng ngại như vậy trong những đêm đi lang thang tìm thức ăn. “Vậy ra con người ở đây cũng sợ Giống Loài Trong Rừng.” Cậu ngồi xuống bên cổng, và khi một người đàn ông bước ra, cậu đứng dậy, mở miệng và chỉ vào trong để ra hiệu rằng mình muốn ăn. Người đàn ông nhìn chằm chằm, rồi chạy ngược lên con phố độc đạo của ngôi làng, miệng kêu gọi vị giáo sĩ – một người đàn ông to béo mặc đồ trắng, với dấu ấn đỏ và vàng trên trán. Vị giáo sĩ đi tới cổng, cùng với ông ta là ít nhất một trăm người, họ đứng nhìn, bàn tán, hét lên và chỉ trỏ vào Mowgli.

“Chúng chẳng có chút lễ phép nào, lũ Giống Người này,” Mowgli tự nhủ. “Chỉ có lũ khỉ xám mới cư xử như vậy.” Thế là cậu hất mái tóc dài ra sau và cau mày với đám đông.

“Có gì mà phải sợ chứ?” Vị giáo sĩ nói. “Nhìn những vết sẹo trên tay và chân nó kìa. Đó là vết sói cắn. Nó chỉ là một đứa trẻ người sói bỏ chạy khỏi rừng thôi.”

Tất nhiên, khi chơi đùa cùng nhau, lũ sói con thường cắn Mowgli mạnh hơn chúng định, và có những vết sẹo trắng khắp tay chân cậu. Nhưng cậu sẽ là người cuối cùng trên đời gọi đó là vết cắn, vì cậu biết thế nào mới thực sự là cắn.

“Arre! Arre!” hai hoặc ba người phụ nữ cùng nói. “Tội nghiệp đứa trẻ, bị sói cắn! Nó là một cậu bé khôi ngô. Đôi mắt nó như lửa đỏ vậy. Thề có danh dự, Messua, thằng bé này trông chẳng khác mấy đứa con của bà bị con cọp bắt đi.”

“Để tôi xem nào,” một phụ nữ đeo những chiếc vòng đồng nặng trĩu trên cổ tay và cổ chân nói, bà nheo mắt nhìn Mowgli dưới lòng bàn tay. “Quả thực không sai. Nó gầy hơn, nhưng trông hệt như đứa con của tôi.”

Vị giáo sĩ là một người khôn ngoan, ông biết Messua là vợ của người dân làng giàu có nhất vùng. Vì vậy, ông ngước nhìn bầu trời một lát rồi trịnh trọng nói: “Điều gì rừng đã lấy đi, rừng đã trả lại. Hãy đưa đứa trẻ về nhà mình đi, chị em của ta, và đừng quên tôn vinh vị giáo sĩ có cái nhìn thấu suốt vào cuộc đời của con người.”

“Thề có vị Bò Thần đã mua ta,” Mowgli tự nhủ, “chuyện này còn ồn ào hơn cả bị cả Bầy nhìn ngó! Thôi được, nếu ta là người, thì ta phải trở thành người vậy.”

Đám đông dạt ra khi người phụ nữ ra hiệu cho Mowgli vào túp lều của mình, nơi có một chiếc giường sơn mài đỏ, một cái rương đựng ngũ cốc bằng đất nung lớn với những hoa văn nổi kỳ lạ, nửa tá nồi đồng, một bức tượng thần Hindu đặt trong hốc nhỏ, và trên tường là một chiếc gương soi thực sự, loại người ta vẫn bán ở các phiên chợ quê.

Bà đưa cho cậu uống một bát sữa lớn và cho ăn chút bánh mì, rồi bà đặt tay lên đầu cậu và nhìn vào mắt cậu; vì bà nghĩ rằng biết đâu cậu chính là đứa con trai của bà đã trở về từ khu rừng nơi con cọp bắt mất. Thế là bà nói, “Nathoo, hỡi Nathoo!” Mowgli không biểu lộ là mình biết cái tên đó. “Con không nhớ ngày mẹ cho con đôi giày mới sao?” Bà chạm vào chân cậu, nó cứng gần như sừng. “Không,” bà nói buồn bã, “đôi chân này chưa từng mang giày, nhưng con rất giống Nathoo của mẹ, và con sẽ là con của mẹ.”

Mowgli cảm thấy không thoải mái, vì cậu chưa bao giờ ở dưới một mái nhà trước đây. Nhưng khi nhìn lên mái tranh, cậu thấy mình có thể xé nó ra bất cứ lúc nào nếu muốn bỏ đi, và cửa sổ thì chẳng có chốt khóa. “Làm người thì có ích gì,” cuối cùng cậu tự nhủ, “nếu không hiểu tiếng người? Giờ ta cũng khờ khạo và câm lặng như một con người rơi vào bầy đàn trong rừng vậy. Ta phải học tiếng của họ.”

Không phải vì vui đùa mà khi còn ở với bầy sói, cậu đã học cách bắt chước tiếng thách thức của lũ hươu đực trong rừng và tiếng ụt ịt của lũ lợn rừng nhỏ. Vậy nên, ngay khi Messua phát âm một từ, Mowgli sẽ bắt chước gần như hoàn hảo, và trước khi trời tối, cậu đã học được tên của nhiều thứ trong túp lều.

Đến giờ đi ngủ lại có chút khó khăn, vì Mowgli không chịu ngủ dưới bất cứ thứ gì trông giống cái bẫy báo như túp lều kia, và khi họ đóng cửa lại, cậu liền trèo ra ngoài bằng cửa sổ. “Hãy để nó tự nhiên đi,” chồng của Messua nói. “Nhớ rằng cho đến nay, có lẽ nó chưa bao giờ ngủ trên giường. Nếu nó thực sự là người được gửi đến thay thế con trai chúng ta, nó sẽ không bỏ chạy đâu.”

Thế là Mowgli duỗi người trên đám cỏ dài, sạch sẽ ở rìa cánh đồng, nhưng trước khi cậu kịp nhắm mắt, một cái mũi xám mềm mại đã chọc vào cằm cậu.

“Phew!” Gray Brother (anh cả trong đàn sói của Sói Mẹ) nói. “Đây là phần thưởng tồi tệ cho việc đi theo em suốt hai mươi dặm. Em đã sặc mùi khói củi và gia súc — trông y hệt như một con người rồi. Dậy đi, Em Trai; anh mang tin tức đến đây.”

“Dậy đi, Em Trai; anh mang tin tức đến đây.”

“Trong rừng mọi người có khỏe không?” Mowgli hỏi, ôm chầm lấy anh.

“Mọi người đều ổn, ngoại trừ những con sói bị thiêu cháy bởi Bông Hoa Đỏ. Giờ thì nghe đây. Shere Khan đã bỏ đi săn ở nơi xa cho đến khi bộ lông mọc lại, vì nó bị bỏng nặng lắm. Khi quay lại, nó thề sẽ đặt xương của em trên sông Waingunga.”

“Nói thì dễ hơn làm. Em cũng có một lời hứa nhỏ. Nhưng tin tức lúc nào cũng tốt. Tối nay em mệt lắm — quá mệt với những điều mới lạ, Gray Brother — nhưng hãy luôn mang tin tức đến cho em.”

“Em sẽ không quên rằng mình là một con sói chứ? Con người sẽ không làm em quên chứ?” Gray Brother lo lắng hỏi.

“Không bao giờ. Em sẽ luôn nhớ rằng mình yêu anh và tất cả mọi người trong hang của chúng ta. Nhưng em cũng sẽ luôn nhớ rằng mình đã bị trục xuất khỏi Bầy.”

“Và rằng em có thể bị trục xuất khỏi một bầy khác. Con người chỉ là con người thôi, Em Trai à, và tiếng nói của họ cũng giống tiếng ếch kêu dưới ao. Khi anh quay lại đây, anh sẽ đợi em trong bụi tre ở rìa bãi chăn thả.”

Trong suốt ba tháng sau đêm đó, Mowgli hầu như không rời khỏi cổng làng, cậu bận rộn học tập các nếp sống và phong tục của con người. Đầu tiên, cậu phải quấn một mảnh vải quanh người, điều đó làm cậu khó chịu kinh khủng; rồi cậu phải học về tiền bạc, thứ mà cậu chẳng hiểu chút nào, và về việc cày cấy, việc mà cậu chẳng thấy có ích gì cả. Rồi lũ trẻ trong làng làm cậu rất tức giận. May mắn thay, Luật Rừng đã dạy cậu phải giữ bình tĩnh, vì trong rừng, mạng sống và thức ăn phụ thuộc vào việc giữ được cái đầu lạnh; nhưng khi chúng chế giễu vì cậu không chơi trò chơi hay thả diều, hoặc vì cậu phát âm sai từ nào đó, chỉ có sự hiểu biết rằng việc giết những đứa trẻ không mặc áo là phi thể thao mới giữ cho cậu không xách chúng lên rồi bẻ làm đôi.

Cậu hoàn toàn không biết sức mạnh của chính mình. Trong rừng, cậu biết mình yếu ớt so với lũ thú dữ, nhưng ở trong làng, người ta lại nói cậu khỏe như một con bò đực.

Và Mowgli không hề có chút khái niệm nào về sự phân biệt đẳng cấp giữa người với người. Khi con lừa của người thợ gốm bị trượt chân trong hố đất sét, Mowgli đã lôi nó lên bằng đuôi, và giúp chất những chiếc chậu lên xe cho chuyến đi đến chợ Khanhiwara. Điều đó thật quá gây sốc, vì người thợ gốm là người thuộc đẳng cấp thấp, và con lừa của ông ta còn thấp kém hơn. Khi vị giáo sĩ mắng cậu, Mowgli dọa sẽ đặt cả ông ta lên lưng con lừa, thế là vị giáo sĩ bảo chồng của Messua rằng tốt nhất nên cho Mowgli đi làm việc càng sớm càng tốt; và trưởng làng bảo Mowgli rằng ngày mai cậu sẽ phải đi cùng đàn trâu và chăn giữ chúng trong lúc chúng gặm cỏ. Không ai vui mừng hơn Mowgli; và đêm đó, vì đã được bổ nhiệm làm người chăn gia súc cho ngôi làng, cậu đi tới một vòng tròn tụ họp mỗi tối trên một nền gạch dưới gốc cây đa lớn. Đó là câu lạc bộ của ngôi làng, nơi trưởng làng, người gác đêm, thợ cạo (người biết mọi chuyện thị phi trong làng), và lão Buldeo, tay thợ săn của làng với cây súng hỏa mai Tower, thường gặp gỡ và hút thuốc. Lũ khỉ ngồi bàn tán trên các cành cao, và có một cái hang dưới nền gạch nơi một con rắn hổ mang sinh sống, nó được nhận đĩa sữa nhỏ mỗi đêm vì nó là vật linh thiêng; và các bậc cao niên ngồi quanh gốc cây, vừa trò chuyện vừa rít những chiếc huqa (điếu cày) cho đến tận khuya. Họ kể những câu chuyện tuyệt vời về thần linh, con người và ma quỷ; còn Buldeo kể những câu chuyện còn kỳ lạ hơn về thói quen của các loài thú trong rừng, khiến lũ trẻ ngồi ngoài vòng tròn phải trợn tròn mắt. Phần lớn các câu chuyện đều về động vật, bởi khu rừng luôn cận kề ngay ngưỡng cửa. Hươu và lợn rừng thường đào bới mùa màng, và thỉnh thoảng cọp lại bắt đi một người vào lúc hoàng hôn, ngay trong tầm mắt của cổng làng.

Câu lạc bộ của làng

Mowgli, vốn biết đôi chút về những gì họ đang nói, phải che mặt để không lộ ra vẻ đang cười, trong khi Buldeo, với cây súng hỏa mai Tower vắt ngang đầu gối, cứ kể hết câu chuyện kỳ lạ này đến câu chuyện khác, khiến vai Mowgli rung lên.

Buldeo đang giải thích rằng con cọp bắt đi con trai của Messua là một con cọp ma, và thân xác nó bị nhập bởi hồn ma của một gã cho vay nặng lãi độc ác đã chết vài năm trước. “Và tôi biết điều này là thật,” lão nói, “vì Purun Dass luôn đi khập khiễng do cú đánh nhận được trong một vụ bạo loạn khi sổ sách của hắn bị đốt, và con cọp tôi nói tới cũng đi khập khiễng, vì dấu chân của nó không đều nhau.”

“Đúng, đúng, chắc chắn phải là sự thật,” những ông lão gật gù phụ họa.

“Tất cả những chuyện này có phải chỉ là những sợi tơ nhện và chuyện hoang đường không?” Mowgli nói.

“Tất cả những chuyện này có phải chỉ là những sợi tơ nhện và chuyện hoang đường không?” Mowgli nói. “Con cọp đó đi khập khiễng vì nó sinh ra đã què, ai mà chẳng biết. Nói về linh hồn của một gã cho vay nặng lãi trong thân xác một con thú vốn không có lấy lòng can đảm của một con chó rừng thì đúng là chuyện con nít.”

Buldeo lặng người đi vì ngạc nhiên trong chốc lát, còn trưởng làng thì nhìn trân trân.

“Oho! Là thằng nhóc rừng rú phải không?” Buldeo nói. “Nếu mày khôn ngoan thế, tốt hơn là hãy mang tấm da của nó đến Khanhiwara đi, vì Chính phủ đã treo thưởng một trăm rupee cho cái đầu của nó. Tốt hơn nữa là, đừng có lên tiếng khi người lớn đang nói chuyện.”

Mowgli đứng dậy ra về. “Suốt cả buổi tối tôi đã ngồi đây lắng nghe,” cậu gọi vọng lại qua vai, “và ngoại trừ một hai lần, Buldeo chưa nói lấy một lời thật nào về khu rừng ngay ngưỡng cửa nhà lão. Vậy thì, làm sao tôi có thể tin những câu chuyện về ma quỷ, thần linh và yêu tinh mà lão nói đã nhìn thấy chứ?”

“Đã đến lúc thằng bé đó phải đi chăn gia súc rồi,” trưởng làng nói, trong khi Buldeo hằm hằm và khịt mũi vì sự xấc xược của Mowgli.

Tục lệ ở hầu hết các ngôi làng Ấn Độ là để vài cậu bé dẫn trâu bò ra bãi cỏ vào sáng sớm, và lùa chúng về vào buổi tối. Đàn gia súc vốn có thể dẫm chết một người da trắng lại để cho những đứa trẻ thấp chưa tới mũi chúng đánh đập, bắt nạt và quát tháo. Chừng nào lũ trẻ còn ở cùng đàn gia súc, chúng sẽ được an toàn, vì ngay cả cọp cũng không dám tấn công một đàn gia súc đông đúc. Nhưng nếu chúng lang thang đi hái hoa hoặc săn thằn lằn, đôi khi chúng sẽ bị bắt đi. Mowgli đi qua con phố làng vào lúc rạng đông, ngồi trên lưng Rama, con bò đực chúa. Đàn trâu màu xanh xám, với đôi sừng cong ngược về phía sau và đôi mắt dữ tợn, đứng dậy từ chuồng, từng con một, và đi theo cậu, còn Mowgli thì ra sức khẳng định với những đứa trẻ đi cùng rằng cậu là chủ. Cậu quất đàn trâu bằng một cây tre dài được mài nhẵn, và bảo Kamya, một trong những cậu bé, hãy tự chăn đàn bò, còn cậu sẽ đi tiếp cùng đàn trâu, và dặn nó phải cẩn thận đừng để đàn bò đi lạc.

Một bãi chăn thả ở Ấn Độ toàn đá, bụi rậm, những bụi cỏ và khe rãnh nhỏ, nơi đàn gia súc phân tán và biến mất. Đàn trâu thường quanh quẩn ở những vũng nước và chỗ bùn lầy, nơi chúng nằm đầm mình hoặc phơi mình trong lớp bùn ấm áp hàng giờ liền. Mowgli lùa chúng đến rìa bình nguyên nơi dòng Waingunga chảy ra từ khu rừng; rồi cậu nhảy từ cổ Rama xuống, chạy đến một bụi tre và thấy Gray Brother. “À,” Gray Brother nói, “anh đã đợi ở đây rất nhiều ngày. Việc chăn gia súc này có ý nghĩa gì đây?”

“Đó là mệnh lệnh,” Mowgli nói. “Em làm người chăn gia súc cho làng một thời gian. Có tin gì về Shere Khan không?”

“Nó đã quay lại vùng này, và đã đợi em ở đây rất lâu rồi. Giờ nó lại bỏ đi vì con mồi khan hiếm. Nhưng nó định giết em đấy.”

“Rất tốt,” Mowgli nói. “Chừng nào nó còn đi vắng, thì anh hoặc một trong bốn người anh em hãy ngồi trên tảng đá đó, để em có thể nhìn thấy khi ra khỏi làng. Khi nó quay lại, hãy đợi em ở khe rãnh cạnh cây dhâk giữa bình nguyên. Chúng ta không cần phải tự bước vào miệng Shere Khan.”

Sau đó Mowgli chọn một chỗ râm mát, nằm xuống ngủ trong khi đàn trâu gặm cỏ xung quanh. Chăn gia súc ở Ấn Độ là một trong những công việc nhàn hạ nhất thế giới. Đàn gia súc di chuyển, nhai cỏ, nằm xuống rồi lại tiếp tục di chuyển, và chúng thậm chí còn không kêu lên. Chúng chỉ ụt ịt, và lũ trâu rất hiếm khi kêu gì, chỉ xuống các vũng bùn từng con một, rồi cố rúc mình vào bùn đến khi chỉ còn cái mũi và đôi mắt xanh lơ như sứ lộ ra trên bề mặt, rồi chúng nằm bất động như những khúc gỗ. Ánh mặt trời làm cho những tảng đá như nhảy múa trong không khí nóng bức, và lũ trẻ chăn gia súc nghe thấy tiếng một con diều hâu (không bao giờ thấy con thứ hai) rít lên gần như khuất tầm mắt trên cao, và chúng biết rằng nếu chúng chết, hoặc một con bò chết, con diều hâu đó sẽ sà xuống, rồi con diều hâu khác cách đó hàng dặm sẽ thấy nó sà xuống và bay theo, rồi con tiếp theo, con tiếp theo nữa, và gần như trước khi chúng kịp chết, sẽ có hàng chục con diều hâu đói khát từ đâu xuất hiện. Sau đó chúng ngủ, thức rồi lại ngủ, đan những chiếc giỏ nhỏ bằng cỏ khô rồi bỏ châu chấu vào trong; hoặc bắt hai con bọ ngựa rồi cho chúng đấu với nhau; hoặc xâu một chiếc vòng cổ bằng hạt rừng đỏ đen; hoặc ngắm nhìn một con thằn lằn phơi mình trên đá, hay một con rắn đang săn ếch gần các vũng bùn. Sau đó chúng hát những bài hát rất dài, rất dài với những âm điệu bản địa kỳ lạ ở cuối câu, và ngày dường như kéo dài hơn cả cuộc đời của hầu hết mọi người, và có lẽ chúng xây một lâu đài bùn với những hình người, ngựa và trâu bằng bùn, rồi đặt những cọng lau vào tay những hình người, và giả vờ rằng chúng là những vị vua còn những hình nộm kia là quân đội của chúng, hoặc chúng là những vị thần đáng được thờ phụng. Rồi buổi chiều buông xuống, lũ trẻ gọi nhau, và đàn trâu nặng nề bước lên khỏi lớp bùn dính dớp với những tiếng động như tiếng súng nổ liên tiếp, và tất cả nối đuôi nhau băng qua bình nguyên xám xịt trở về ánh đèn le lói của ngôi làng.

Ngày này qua ngày khác, Mowgli dẫn đàn trâu ra các vũng bùn, và ngày này qua ngày khác cậu vẫn thấy bóng dáng của Gray Brother cách đó một dặm rưỡi bên kia bình nguyên (nên cậu biết Shere Khan chưa quay lại), và ngày này qua ngày khác cậu nằm trên cỏ lắng nghe những âm thanh xung quanh, và mơ về những ngày xưa trong rừng. Nếu Shere Khan có bước sai một bước bằng cái chân què của nó trong khu rừng bên Waingunga, Mowgli hẳn đã nghe thấy nó trong những buổi sáng dài, tĩnh lặng ấy.

Cuối cùng, đến một ngày cậu không thấy Gray Brother ở vị trí báo hiệu, cậu cười và dẫn đàn trâu hướng về phía khe rãnh bên cây dhâk, nơi phủ đầy những bông hoa đỏ vàng rực rỡ. Ở đó, Gray Brother đang ngồi, từng sợi lông trên lưng nó dựng đứng cả lên.

“Nó đã nấp suốt một tháng để khiến em mất cảnh giác. Nó đã băng qua các dãy núi đêm qua cùng với Tabaqui, bám sát dấu chân em,” con sói hổn hển nói.

Mowgli cau mày. “Em không sợ Shere Khan, nhưng Tabaqui rất xảo quyệt.”

“Đừng sợ,” Gray Brother vừa liếm mép vừa nói. “Anh đã gặp Tabaqui lúc rạng đông. Giờ nó đang kể hết sự khôn ngoan của nó cho lũ diều hâu nghe, nhưng nó đã khai ra tất cả với anh trước khi anh bẻ gãy lưng nó. Kế hoạch của Shere Khan là đợi em ở cổng làng tối nay — chỉ đợi em thôi. Giờ nó đang nằm phục trong khe rãnh lớn khô cạn của sông Waingunga.”

“Hôm nay nó đã ăn chưa, hay nó săn khi bụng đói?” Mowgli hỏi, vì câu trả lời đồng nghĩa với sống chết đối với cậu.

“Nó đã giết một con lợn lúc rạng đông, và nó cũng đã uống nước rồi. Nhớ rằng, Shere Khan không bao giờ có thể nhịn ăn, ngay cả vì mục đích trả thù.”

“Ồ! Đồ ngốc, đồ ngốc! Đúng là một con sói con! Đã ăn no uống đủ mà nó lại nghĩ rằng ta sẽ chờ cho đến khi nó ngủ say! Giờ thì nó nằm ở đâu? Nếu có mười đứa chúng ta, chúng ta có thể hạ nó khi nó đang nằm đó. Đám trâu này sẽ không lao vào tấn công trừ khi chúng đánh hơi được nó, và em không thể nói ngôn ngữ của chúng. Chúng ta có thể vòng ra sau dấu vết của nó để chúng ngửi thấy không?”

“Nó đã bơi một quãng dài xuống dòng Waingunga để xóa dấu vết,” Gray Brother nói.

“Tabaqui bảo nó làm thế, em biết mà. Một mình nó sẽ không bao giờ nghĩ ra được.” Mowgli đứng đó, ngón tay cho vào miệng suy nghĩ. “Khe rãnh lớn của sông Waingunga. Nó mở ra bình nguyên cách đây không đầy nửa dặm. Em có thể dẫn đàn trâu vòng qua rừng để đến phía trên khe rãnh rồi quét xuống — nhưng nó sẽ lẻn ra ở phía dưới. Chúng ta phải chặn đầu đó. Gray Brother, anh có thể chia đàn trâu làm đôi giúp em được không?”

“Có lẽ anh không làm được — nhưng anh đã mang đến một người giúp đỡ thông thái.” Gray Brother chạy vụt đi rồi tụt xuống một cái hố. Sau đó, một cái đầu xám khổng lồ mà Mowgli biết rõ đã nhô lên, và không khí nóng bức tràn ngập tiếng kêu thê lương nhất trong toàn bộ khu rừng — tiếng hú săn mồi của một con sói vào giữa trưa.

“Akela! Akela!” Mowgli nói, vỗ tay. “Lẽ ra em phải biết anh sẽ không quên em. Chúng ta có một việc lớn phải làm. Chia đàn trâu làm đôi đi, Akela. Giữ đàn bò cái và bò con lại với nhau, còn đám bò đực và trâu cày thì tách riêng ra.”

Hai con sói chạy, đan chéo nhau như những mắt xích, luồn lách trong đàn trâu khiến chúng khịt mũi, ngẩng đầu lên rồi tách ra thành hai nhóm. Một nhóm, đàn trâu cái đứng với lũ con ở giữa, chúng trợn mắt và cào đất, sẵn sàng lao xuống dẫm nát kẻ thù nếu có con sói nào dám đứng yên. Nhóm kia, những con đực và những con đực trẻ khịt mũi và dậm chân, nhưng dù trông có vẻ bệ vệ hơn, chúng lại ít nguy hiểm hơn nhiều vì chẳng có con non nào để bảo vệ. Không sáu người đàn ông nào có thể chia đàn gia súc gọn gàng như vậy.

“Ra lệnh gì đây!” Akela hổn hển. “Chúng đang cố nhập lại với nhau.”

Mowgli nhảy lên lưng Rama. “Lùa đàn bò đực sang bên trái đi, Akela. Gray Brother, khi chúng ta đi rồi, hãy giữ đàn bò cái lại, và lùa chúng xuống phía dưới khe rãnh.”

“Đến đâu?” Gray Brother vừa thở hổn hển vừa táp.

“Cho đến khi vách đá cao hơn mức Shere Khan có thể nhảy lên được,” Mowgli hét lớn. “Giữ chúng ở đó cho đến khi chúng ta xuống tới.” Đám bò đực bị lùa đi khi Akela hú vang, còn Gray Brother chặn phía trước đàn bò cái. Chúng lao về phía nó, và nó chạy ngay trước mặt chúng đến tận dưới khe rãnh, trong khi Akela lùa đám bò đực sang phía xa bên trái.

“Làm tốt lắm! Thêm một cú lao nữa là chúng bắt đầu tăng tốc rồi. Cẩn thận nào — cẩn thận, Akela. Chỉ cần một cú táp quá đà là lũ bò đực sẽ lao vào đấy. Hujah! Việc này còn hoang dã hơn cả săn linh dương đen. Anh có nghĩ những sinh vật này có thể di chuyển nhanh đến vậy không?” Mowgli gọi.

“Ta... ta cũng từng săn chúng vào thời của ta,” Akela thở dốc trong đám bụi. “Ta có nên lùa chúng vào rừng không?”

“Phải! Lùa đi. Lùa chúng thật nhanh! Rama đang điên cuồng vì giận dữ. Ồ, giá mà mình có thể nói cho nó biết mình cần gì ở nó hôm nay.”

Đàn bò đực bị chuyển hướng, lần này sang bên phải, và đâm sầm vào bụi rậm. Những đứa trẻ chăn gia súc khác, đang quan sát cùng đàn bò cách đó nửa dặm, vội vã chạy về làng nhanh nhất có thể, kêu lên rằng đàn trâu đã phát điên và bỏ chạy mất rồi.

Nhưng kế hoạch của Mowgli khá đơn giản. Tất cả những gì cậu muốn làm là tạo một vòng tròn lớn lên dốc rồi tiến đến phía đầu khe rãnh, sau đó lùa lũ bò đực xuống đó và kẹp Shere Khan giữa đàn bò đực và đàn bò cái; vì cậu biết sau khi ăn no và uống đẫy, Shere Khan sẽ chẳng còn hơi sức đâu mà chiến đấu hay leo lên các vách khe rãnh. Giờ cậu đang dùng giọng nói để trấn an đàn trâu, còn Akela đã tụt lại xa phía sau, chỉ rên ư ử một hai lần để hối thúc nhóm đi cuối. Đó là một vòng tròn rất dài, vì chúng không muốn đến quá gần khe rãnh mà đánh động Shere Khan. Cuối cùng, Mowgli tập hợp đàn gia súc đang ngơ ngác tại đầu khe rãnh trên một bãi cỏ dốc đứng xuống chính khe rãnh đó. Từ độ cao đó, bạn có thể nhìn qua những tán cây xuống bình nguyên bên dưới; nhưng điều Mowgli chú tâm đến là các vách khe rãnh, và cậu hài lòng thấy rằng chúng chạy gần như thẳng đứng lên xuống, trong khi những dây leo và cây ký sinh rủ xuống ở đó sẽ không cho con cọp nào muốn thoát ra một chỗ bám chân.

“Để chúng thở đi, Akela,” cậu nói, giơ tay lên. “Chúng vẫn chưa đánh hơi thấy nó đâu. Để chúng thở. Mình phải cho Shere Khan biết ai đang tới. Chúng ta đã tóm được nó trong bẫy rồi.”

Cậu chụm tay vào miệng và hét xuống khe rãnh — nghe gần như hét vào một đường hầm — và tiếng vang vọng nhảy từ đá này sang đá khác.

Sau một hồi lâu, đáp lại là tiếng gầm gừ ngái ngủ, kéo dài của một con cọp no nê vừa mới bị đánh thức.

“Ai gọi đó?” Shere Khan nói, và một con công rực rỡ bay vút lên khỏi khe rãnh kêu lên chói tai.

“Ta, Mowgli đây. Đồ trộm gia súc, đã đến lúc phải đến Đá Hội Đồng rồi! Xuống đi — lùa chúng xuống mau, Akela! Xuống đi, Rama, xuống đi!”

Đàn trâu khựng lại một lát ở mép dốc, nhưng Akela cất tiếng hú săn mồi đầy uy lực, và chúng lao xuống hết con này đến con khác, y như tàu hơi nước lao qua thác ghềnh, cát và đá bắn tung tóe xung quanh. Một khi đã bắt đầu, không có cách nào dừng lại, và trước khi chúng thực sự tràn xuống lòng khe rãnh, Rama đã đánh hơi thấy Shere Khan và rống lên.

Shere Khan trong rừng

“Ha! Ha!” Mowgli trên lưng nó nói. “Giờ thì ngươi biết rồi đấy!” và dòng thác gồm những cặp sừng đen, những cái mõm sùi bọt mép và những đôi mắt trợn trừng cuốn phăng xuống khe rãnh y như những tảng đá trôi xuống vào mùa lũ; những con trâu yếu hơn bị húc văng sang hai bên khe rãnh nơi chúng xé toạc những dây leo. Chúng biết rõ việc gì đang chờ đợi phía trước — cú lao kinh hoàng của đàn trâu mà không con cọp nào có thể trụ vững. Shere Khan nghe thấy tiếng sấm rền của vó trâu, nó đứng dậy và lù đù bước dọc khe rãnh, nhìn từ bên này sang bên kia tìm đường thoát, nhưng các vách khe rãnh thẳng đứng và nó phải bám trụ, cơ thể nặng nề vì bữa ăn và nước uống, sẵn sàng làm bất cứ điều gì còn hơn là chiến đấu. Đàn trâu lao qua vũng nước nó vừa bỏ lại, rống lên khiến khe núi hẹp vang dội. Mowgli nghe thấy một tiếng rống đáp lại từ cuối khe rãnh, thấy Shere Khan quay đầu (con cọp biết nếu tình thế tệ nhất xảy ra thì thà đối đầu với đám bò đực còn hơn là lũ bò cái đang bảo vệ con non), và rồi Rama vấp ngã, loạng choạng và lại lao tiếp lên một thứ gì đó mềm mềm, và với đàn bò đực theo sát gót, nó đâm sầm vào đàn còn lại, trong khi những con trâu yếu hơn bị nhấc bổng khỏi mặt đất bởi cú va chạm. Cú lao đó cuốn cả hai đàn ra ngoài bình nguyên, húc, dậm và khịt mũi. Mowgli canh đúng thời điểm, nhảy khỏi cổ Rama, quất gậy tứ tung sang phải trái.

“Nhanh lên, Akela! Phá chúng ra. Phân tán chúng đi, không thì chúng sẽ tự đánh nhau đấy. Lùa chúng đi, Akela. Hai, Rama! Hai, hai, hai! những đứa con của ta. Nhẹ nhàng thôi nào, nhẹ nhàng! Xong hết rồi.”

Akela và Gray Brother chạy qua chạy lại táp vào chân lũ trâu, và mặc dù đàn trâu quay lại một lần định lao ngược lên khe rãnh, Mowgli đã xoay xở xoay đầu Rama, và những con khác theo nó trở về vũng bùn.

Shere Khan không cần bị dẫm thêm nữa. Nó đã chết, và lũ diều hâu đã bắt đầu tìm đến nó rồi.

“Các anh em, đó là cái chết của một con chó,” Mowgli nói, sờ tay vào con dao luôn đeo trong bao quanh cổ kể từ khi cậu sống với con người. “Nhưng nó sẽ không bao giờ chịu chiến đấu đâu. Bộ da của nó sẽ trông rất đẹp trên Đá Hội Đồng. Chúng ta phải làm việc nhanh lên.”

Một cậu bé lớn lên giữa con người sẽ chẳng bao giờ mơ đến việc tự mình lột da một con cọp dài mười foot, nhưng Mowgli biết rõ hơn ai hết cách bộ da của một con vật được bao bọc như thế nào, và làm sao để lột nó ra. Nhưng đây là công việc nặng nhọc, Mowgli cắt, xé và càu nhàu suốt một giờ đồng hồ, trong khi lũ sói lè lưỡi ra hoặc tiến lại gần kéo giúp khi cậu ra lệnh. Bỗng một bàn tay đặt lên vai cậu, và khi ngước lên, cậu thấy Buldeo với cây súng hỏa mai Tower. Lũ trẻ đã kể cho dân làng về vụ đàn trâu giẫm đạp, và Buldeo giận dữ đi ra, chỉ quá nóng lòng muốn trừng phạt Mowgli vì đã không trông coi đàn gia súc cho tốt. Lũ sói biến mất khỏi tầm mắt ngay khi thấy người đàn ông tới.

“Cái trò điên rồ gì thế này?” Buldeo giận dữ nói. “Nghĩ rằng mày có thể lột da cọp sao! Đàn trâu đã giết nó ở đâu? Đúng là con Cọp Què rồi, và có phần thưởng một trăm rupee trên đầu nó đấy. Chà chà, được rồi, ta sẽ bỏ qua chuyện mày để đàn gia súc chạy loạn, và có lẽ ta sẽ cho mày một trong những đồng rupee tiền thưởng khi ta mang tấm da này đến Khanhiwara.” Lão lục trong thắt lưng lấy đá lửa và thép, rồi cúi xuống để đốt râu Shere Khan. Hầu hết các thợ săn bản địa luôn đốt râu cọp để ngăn hồn ma của nó ám họ.

“Hừ!” Mowgli nói, nửa như nói với chính mình khi lột ngược tấm da ở chân trước. “Vậy ra ông sẽ mang bộ da này đến Khanhiwara để lấy tiền thưởng, và có lẽ cho ta một đồng rupee? Giờ thì ta nghĩ rằng ta cần tấm da này cho mục đích riêng của mình. Hê! Lão già, tránh xa đống lửa đó ra!”

“Mày đang ăn nói cái kiểu gì với tay thợ săn trưởng của làng thế hả? Vận may và sự ngu ngốc của lũ trâu đã giúp mày hạ được con thú này. Con cọp vừa ăn xong, nếu không nó đã đi xa hai mươi dặm rồi. Mày thậm chí còn không biết lột da nó cho ra hồn, thằng nhóc ăn mày nhỏ bé, và quả thực ta, Buldeo, lại bị cấm không được đốt râu nó sao. Mowgli, ta sẽ không cho mày dù chỉ một anna tiền thưởng đâu, mà chỉ có một trận đòn thật lớn thôi. Rời khỏi xác con thú ngay!”

“Thề có vị Bò Thần đã mua ta,” Mowgli, lúc này đang cố cắt phần vai, nói, “chẳng lẽ ta phải đứng lảm nhảm với một con khỉ già suốt cả buổi trưa sao? Đây, Akela, ông ta đang làm phiền ta.”

Buldeo, vẫn đang cúi người trên đầu Shere Khan, thấy mình đang nằm sải lai trên cỏ, với một con sói xám đứng sừng sững bên trên, trong khi Mowgli tiếp tục lột da như thể cậu đang ở một mình trên khắp Ấn Độ.

“Vâ-âng,” cậu nói, qua kẽ răng. “Ông hoàn toàn đúng, Buldeo. Ông sẽ không bao giờ cho ta một anna tiền thưởng nào đâu. Có một cuộc chiến cũ giữa con cọp què này và ta — một cuộc chiến rất lâu đời, và — ta đã thắng.”

Phải nói công bằng cho Buldeo, nếu lão trẻ hơn mười tuổi, lão đã đánh cược với Akela nếu gặp nó trong rừng, nhưng một con sói tuân lệnh đứa trẻ có mối thù riêng với những con cọp ăn thịt người không phải là loài vật tầm thường. Đó là ma thuật, là loại bùa phép tồi tệ nhất, Buldeo nghĩ vậy, và lão tự hỏi liệu lá bùa quanh cổ có bảo vệ được lão không. Lão nằm im thin thít, chờ đợi từng phút xem liệu Mowgli có biến thành cọp hay không.

Buldeo nằm im thin thít, chờ đợi từng phút xem liệu Mowgli có biến thành cọp hay không.

“Maharaj! Đại Vương,” cuối cùng lão thầm thì bằng giọng khàn đặc.

“Phải,” Mowgli nói mà không quay đầu lại, khẽ cười.

“Ta là một ông lão. Ta không biết ngươi chỉ là một thằng bé chăn gia súc. Ta có thể đứng dậy và đi được không, hay đầy tớ của ngươi sẽ xé xác ta ra?”

“Đi đi, và bình an theo ông. Chỉ là, lần sau đừng có xen vào cuộc đi săn của ta nữa. Thả ông ta ra, Akela.”

Buldeo khập khiễng chạy về làng nhanh nhất có thể, ngoái đầu nhìn lại phòng khi Mowgli biến thành thứ gì đó kinh khủng. Khi về đến làng, lão kể một câu chuyện về phép thuật, bùa chú và ma thuật khiến vị giáo sĩ trông rất nghiêm trọng.

Mowgli tiếp tục công việc của mình, nhưng đã gần hoàng hôn khi cậu và bầy sói mới tách được tấm da to lớn sặc sỡ ra khỏi thân xác.

Sự trở về của đàn trâu

“Giờ chúng ta phải giấu cái này đi và đưa đàn trâu về nhà thôi! Giúp em lùa chúng đi, Akela.”

Đàn gia súc tập hợp lại trong ánh hoàng hôn mờ ảo, và khi chúng đến gần làng, Mowgli nhìn thấy ánh đèn, và nghe thấy tiếng tù và, tiếng chuông trong đền thờ vang lên. Một nửa ngôi làng dường như đang đợi cậu bên cổng. “Đó là vì mình đã giết Shere Khan,” cậu tự nhủ. Nhưng một trận mưa đá bay vèo qua tai cậu, và dân làng hét lên: “Phù thủy! Đồ sói con! Quỷ rừng! Đi đi! Cút ngay nếu không giáo sĩ sẽ biến mày thành sói lần nữa. Bắn đi, Buldeo, bắn đi!”

Khẩu súng hỏa mai Tower cũ kỹ nổ vang một tiếng, và một con trâu con rống lên vì đau đớn.

“Lại ma thuật nữa!” dân làng hét lớn. “Nó có thể hóa giải đạn. Buldeo, đó là con trâu của ông đấy.”

“Chuyện gì thế này?” Mowgli ngơ ngác nói khi những hòn đá bay tới tấp hơn.

“Chúng chẳng khác gì Bầy đàn đâu, những người anh em này của em,” Akela nằm xuống một cách điềm tĩnh nói. “Trong đầu ta nghĩ rằng, nếu đạn dược có ý nghĩa gì, thì chúng sẽ trục xuất em đấy.”

“Sói! Đồ sói con! Cút đi!” vị giáo sĩ hét lên, vung một cành cây tulsi thiêng liêng.

“Lại nữa sao? Lần trước là vì ta là người. Lần này là vì ta là sói. Đi thôi, Akela.”

Một người phụ nữ — chính là Messua — chạy qua phía đàn gia súc và khóc: “Ôi, con trai của mẹ, con trai của mẹ! Họ nói con là phù thủy có thể biến thành thú dữ bất cứ lúc nào. Mẹ không tin, nhưng hãy đi đi kẻo họ giết con. Buldeo nói con là phù thủy, nhưng mẹ biết con đã trả thù cho cái chết của Nathoo.”

“Quay lại đây, Messua!” đám đông hét lên. “Quay lại đây, không chúng ta sẽ ném đá bà đấy.”

Mowgli cười một tiếng ngắn ngủi, khó nghe, vì một hòn đá đã trúng vào miệng cậu. “Chạy về đi, Messua. Đây là một trong những câu chuyện ngu ngốc họ kể dưới gốc cây lớn lúc hoàng hôn thôi. Ít nhất con cũng đã trả giá cho mạng sống của con trai bà rồi. Tạm biệt; và chạy nhanh lên, vì con sẽ lùa đàn gia súc vào nhanh hơn cả những viên gạch họ ném đấy. Con không phải phù thủy đâu, Messua. Tạm biệt!”

“Giờ thì, một lần nữa, Akela,” cậu hét lên. “Lùa đàn gia súc vào.”

Đàn trâu cũng rất muốn về làng. Chúng hầu như không cần tiếng hú của Akela, mà lao qua cổng như một cơn lốc, xua tan đám đông sang hai bên.

“Đếm đi!” Mowgli khinh bỉ hét lớn. “Có thể là ta đã đánh cắp một con đấy. Đếm đi, vì ta sẽ không chăn gia súc cho các người nữa đâu. Tạm biệt các người, những đứa con của loài người, và hãy cảm ơn Messua vì ta đã không dẫn bầy sói vào săn đuổi các người trên khắp đường phố đấy.”

Cậu quay gót và bước đi cùng con Sói Độc Hành, và khi nhìn lên những vì sao, cậu cảm thấy hạnh phúc. “Không còn ngủ trong bẫy cho ta nữa, Akela. Hãy lấy tấm da của Shere Khan rồi đi thôi. Không, chúng ta sẽ không làm hại ngôi làng đâu, vì Messua đã đối tốt với ta.”

Khi ánh trăng lên trên bình nguyên, dân làng kinh hoàng thấy Mowgli bước đi, với hai con sói theo sát gót

Khi ánh trăng lên trên bình nguyên, làm cho cảnh vật trông như được phủ một lớp sữa trắng, những dân làng kinh hoàng nhìn thấy Mowgli, với hai con sói theo sát gót và một bọc đồ trên đầu, bước đi với nhịp chân sói đều đặn ăn mòn những dặm đường dài như ngọn lửa. Sau đó họ lại đánh chuông đền và thổi tù và to hơn bao giờ hết. Và Messua khóc, còn Buldeo thêu dệt câu chuyện về cuộc phiêu lưu của lão trong rừng, cho đến khi kết thúc bằng cách nói rằng Akela đã đứng trên hai chân sau và nói chuyện như người.

Trăng vừa lặn khi Mowgli và hai con sói tới đồi Đá Hội Đồng, và chúng dừng lại ở hang của Sói Mẹ.

“Họ đã trục xuất con khỏi Bầy Người rồi, Mẹ ơi,” Mowgli hét lớn, “nhưng con mang theo bộ da của Shere Khan để giữ lời hứa của mình.”

Sói Mẹ bước ra khỏi hang với lũ sói con theo sau, và mắt bà rực sáng khi nhìn thấy tấm da.

“Mẹ đã nói với nó vào ngày đó, khi nó nhét đầu và vai vào cái hang này, săn lùng mạng sống của con, Hỡi Chú Ếch Nhỏ — mẹ đã nói với nó rằng kẻ săn mồi sẽ trở thành con mồi. Làm tốt lắm.”

“Em Trai, làm tốt lắm,” một giọng nói trầm thấp vang lên trong bụi rậm. “Chúng ta đã rất cô đơn trong rừng khi không có em,” và Bagheera chạy đến dưới chân trần của Mowgli. Chúng cùng nhau leo lên Đá Hội Đồng, và Mowgli trải tấm da ra trên phiến đá phẳng nơi Akela từng ngồi, rồi ghim nó xuống bằng bốn thanh tre nhỏ, và Akela nằm lên đó, rồi cất tiếng gọi cũ đến Hội Đồng, “Nhìn xem — hãy nhìn cho kỹ, hỡi lũ Sói,” chính xác như cách anh đã gọi khi Mowgli lần đầu tiên được đưa đến đó.

Chúng cùng nhau leo lên Đá Hội Đồng, và Mowgli trải tấm da ra trên phiến đá phẳng

Kể từ khi Akela bị phế truất, Bầy đàn đã không còn thủ lĩnh, đi săn và chiến đấu tùy theo ý thích. Nhưng chúng đã trả lời tiếng gọi theo thói quen; và vài con trong số chúng bị què vì những chiếc bẫy chúng rơi vào, một vài con khập khiễng vì vết thương do súng bắn, và một vài con ghẻ lở vì ăn thức ăn bẩn, và nhiều con đã mất tích. Nhưng chúng đã đến Đá Hội Đồng, tất cả những con còn lại, và nhìn thấy tấm da vằn của Shere Khan trên tảng đá, và những cái móng vuốt khổng lồ đung đưa ở cuối những bàn chân trống rỗng. Đó là lúc Mowgli sáng tác một bài hát tự nhiên tuôn trào trong cổ họng, và cậu hét lớn, nhảy lên nhảy xuống trên tấm da đang kêu lạo xạo, và dậm chân theo nhịp cho đến khi không còn hơi sức, trong khi Gray Brother và Akela hú vang giữa các khổ thơ.

“Nhìn cho kỹ, hỡi lũ Sói. Ta đã giữ lời hứa chưa?” Mowgli nói. Và lũ sói hú vang “Rồi,” và một con sói rách rưới hú lên:

“Hãy dẫn dắt chúng tôi một lần nữa, hỡi Akela. Hãy dẫn dắt chúng tôi một lần nữa, hỡi Cậu Bé Người, vì chúng tôi đã chán ngấy sự vô luật pháp này, và chúng tôi muốn trở thành Giống Loài Tự Do một lần nữa.”

“Không,” Bagheera kêu gừ gừ, “điều đó không thể được. Khi các ngươi ăn no, sự điên rồ có thể quay lại với các ngươi. Không phải ngẫu nhiên mà các ngươi được gọi là Giống Loài Tự Do. Các ngươi đã chiến đấu vì tự do, và nó là của các ngươi. Hãy tận hưởng nó đi, hỡi lũ Sói.”

“Bầy Người và Bầy Sói đã trục xuất con,” Mowgli nói. “Giờ con sẽ săn mồi một mình trong rừng.”

“Và chúng tôi sẽ săn mồi cùng em,” bốn con sói con nói.

Vậy là Mowgli bỏ đi và săn mồi cùng bốn con sói con trong rừng kể từ ngày đó. Nhưng cậu không phải lúc nào cũng đơn độc, bởi vì, nhiều năm sau đó, cậu đã trở thành một người đàn ông và lập gia đình.

Nhưng đó là câu chuyện dành cho người lớn.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Rudyard Kipling

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.