Sự Ngây Thơ Của Cha Brown

Lượt đọc: 128 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
The Sign Of The Broken Sword

❊ ❊ ❊

Nghìn nhánh cây của khu rừng mang một sắc xám, và hàng triệu ngón tay của chúng bạc trắng. Trên vòm trời màu xanh lục đậm tựa đá phiến, các vì sao lạnh lẽo và rực rỡ như những mảnh băng vỡ vụn. Toàn bộ vùng quê rậm rạp cây cối và thưa thớt người ở ấy đang cứng đờ vì một đợt sương giá cay nghiệt và buốt giá. Những khoảng hõm đen thẳm giữa các thân cây trông giống như những hang động đen ngòe, không đáy của địa ngục Scandinavia — một địa ngục với cái lạnh khôn lường. Ngay cả ngọn tháp đá vuông vức của nhà thờ cũng mang nét phương Bắc đến mức ngoại giáo, tựa như một đài phòng thủ man rợ giữa những mỏm đá ven biển Iceland. Thật là một đêm kỳ quặc để bất kỳ ai khám phá nghĩa địa nhà thờ. Nhưng mặt khác, có lẽ nó cũng đáng để khám phá.

Nó nhô lên đột ngột từ chốn hoang vu xám xịt của rừng già như một khối gồ hoặc bờ cỏ xanh trông ngả xám dưới ánh sao. Phần lớn các ngôi mộ đều nằm nghiêng ngả, và lối mòn dẫn lên nhà thờ dốc đứng như một cầu bậc thang. Trên đỉnh đồi, tại vị trí bằng phẳng và nổi bật duy nhất, là đài tưởng niệm làm nên tên tuổi của chốn này. Nó tương phản kỳ lạ với những ngôi mộ vô danh xung quanh, bởi đó là tác phẩm của một trong những nhà điêu khắc vĩ đại nhất châu Âu hiện đại; thế nhưng danh tiếng của người nghệ sĩ ấy lại lu mờ ngay lập tức trước danh tiếng của nhân vật mà ông tạc tượng. Dưới những nét chấm phá bằng ngòi bút bạc nhỏ bé của ánh sao, bức tượng hiện lên là hình một người lính bằng kim loại khối lớn đang nằm ngả, đôi bàn tay mạnh mẽ khép lại trong sự tôn kính vĩnh cửu, chiếc đầu vĩ đại gối lên một khẩu súng. Khuôn mặt đáng kính có để râu quai nón, hay đúng hơn là ria mép theo phong cách Đại tá Newcome nặng nề và cổ điển. Bộ quân phục, dẫu chỉ được phác họa qua vài nét đơn giản, lại mang kiểu cách của chiến tranh hiện đại. Bên sườn phải của ông đặt một thanh gươm đã bị gãy mũi; bên sườn trái đặt một cuốn Kinh Thánh. Vào những buổi chiều hè rực rỡ, những chiếc xe ngựa chở đầy người Mỹ và dân ngoại ô sành điệu thường kéo đến để chiêm ngưỡng ngôi mộ; thế nhưng ngay cả khi ấy, họ vẫn cảm thấy vùng rừng rậm bao la với mái vòm cụt ngủn của nhà thờ và nghĩa địa là một nơi chốn đượm vẻ câm lặng và bị lãng quên một cách kỳ lạ. Trong bóng tối giá lạnh giữa mùa đông này, tưởng chừng như ông có thể được để yên một mình cùng các vì sao. Thế mà, giữa sự tĩnh mịch của những tán rừng cứng đờ ấy, một cánh cổng gỗ đã cất tiếng cót két, và hai bóng người mờ ảo mặc đồ đen đang leo lên lối mòn nhỏ để tiến đến ngôi mộ.

Ánh sao băng giá ấy mờ nhạt đến mức chẳng thể nhận diện được điều gì về họ, ngoại trừ việc cả hai đều mặc đồ đen, một người thì cao lớn bất thường, và người kia (có lẽ do sự tương phản) lại nhỏ thó đến giật mình. Họ tiến đến ngôi mộ chạm trổ uy nghi của vị tướng lịch sử, và đứng lặng mất vài phút để chăm chú nhìn vào đó. Trong một phạm vi rộng lớn, không có bóng người, và có lẽ chẳng có sinh vật sống nào; và một trí tưởng tượng bệnh hoạn hoàn toàn có thể tự hỏi liệu bản thân họ có phải là con người hay không. Dù sao đi nữa, khúc dạo đầu cho cuộc trò chuyện của họ có vẻ thật kỳ lạ. Sau khoảng lặng đầu tiên, người nhỏ con cất tiếng hỏi người kia:

— Nơi nào là nơi khôn ngoan nhất để giấu một viên sỏi?

Và người cao lớn đáp bằng một giọng trầm:

— Trên bãi biển.

Người nhỏ con gật đầu, và sau một thoáng im lặng lại nói:

— Nơi nào là nơi khôn ngoan nhất để giấu một chiếc lá?

Và người kia đáp:

— Trong rừng.

Lại một sự tĩnh mịch nữa trùm lên, rồi người cao lớn tiếp lời:

— Ý anh là khi một người khôn ngoan phải giấu một viên kim cương thật, người ta từng thấy hắn giấu nó lẫn lộn giữa những viên giả ư?

— Không, không, — người nhỏ con bật cười đáp, — chuyện cũ ta hãy cho qua đi.

Anh ta dậm dậm đôi chân đang lạnh cóng trong chốc lát, rồi nói:

— Tôi hoàn toàn không nghĩ đến chuyện đó, mà là một việc khác; một việc có phần kỳ lạ. Anh bật một que diêm xem nào?

Người vạm vỡ lục lọi trong túi áo, và chẳng mấy chốc, một tiếng quẹt cùng ngọn lửa bùng lên đã nhuộm một lớp vàng óng toàn bộ phần mặt phẳng của đài tưởng niệm. Trên đó khắc những dòng chữ đen quen thuộc mà biết bao du khách Mỹ đã từng đọc qua với lòng thành kính: “Cung kính tưởng nhớ Đại tướng Sir Arthur St. Clare, Anh hùng và Tử đạo, Đấng luôn chiến thắng kẻ thù và luôn tha thứ cho chúng, để rồi cuối cùng lại bị chúng sát hại một cách bội bạc. Xin Thiên Chúa — Đấng mà Người hằng phó thác — vừa ban thưởng vừa báo thù cho Người.”

Ngọn diêm cháy bén vào ngón tay người đàn ông cao lớn, ngả đen rồi rơi xuống. Anh ta định quẹt một que khác, nhưng người đồng hành nhỏ con đã ngăn lại:

— Thôi được rồi, Flambeau anh bạn già; tôi đã thấy điều mình cần thấy. Hay nói đúng hơn, tôi đã không thấy điều mình không muốn thấy. Và giờ chúng ta phải đi bộ một dặm rưỡi dọc theo con đường cái để đến quán trọ tiếp theo, tôi sẽ cố kể cho anh nghe toàn bộ sự việc. Vì ơn trên chứng giám, một con người rất cần một ngọn lửa ấm và vại bia khi dám kể một câu chuyện như thế.

Họ bước xuống con đường dốc đứng, cài lại chiếc cổng rỉ sét, rồi rảo bước rầm rập, nện giày vang dội dọc theo con đường rừng băng giá. Họ đã đi được trọn một phần tư dặm trước khi người nhỏ con cất lời lần nữa. Anh ta nói:

— Phải; người khôn ngoan giấu viên sỏi trên bãi biển. Nhưng anh ta sẽ làm thế nào nếu chẳng có bãi biển nào cả? Anh có biết gì về vụ rắc rối lớn của St. Clare đó không?

— Tôi chẳng biết gì về các vị tướng Anh cả, Cha Brown, — người vạm vỡ vừa cười vừa đáp, — dù tôi cũng biết chút ít về cảnh sát Anh. Tôi chỉ biết rằng anh đã lôi tôi đi một vòng mệt nghỉ qua tất cả các đền thờ của gã nhân vật này, bất kể hắn là ai. Người ta dễ tưởng rằng hắn được chôn cất ở tận sáu nơi khác nhau. Tôi từng thấy đài tưởng niệm Đại tướng St. Clare ở Tu viện Westminster. Tôi từng thấy bức tượng cưỡi ngựa tung vó của Đại tướng St. Clare ở bờ kè sông Thames. Tôi từng thấy phù điêu của St. Clare ở con phố nơi hắn sinh ra, và một cái khác ở con phố nơi hắn từng sống; và giờ thì anh lại lôi tôi đi giữa trời tối mò để đến cái quan tài của hắn trong nghĩa địa làng. Tôi bắt đầu thấy hơi mệt mỏi với nhân vật lẫy lừng này rồi đấy, nhất là khi tôi hoàn toàn chẳng biết hắn là ai. Anh đang săn tìm cái gì trong tất cả các hầm mộ và tượng đài ấy thế?

— Tôi chỉ đang tìm một từ duy nhất, — Cha Brown đáp. — Một từ không hề có ở đó.

— Nào, — Flambeau gặng hỏi; — anh có định kể cho tôi nghe chút gì về nó không?

— Tôi phải chia nó thành hai phần, — vị linh mục nhận xét. — Đầu tiên là những gì ai cũng biết; và tiếp theo là những gì tôi biết. Giờ thì, điều mà ai cũng biết thì ngắn gọn và rõ ràng lắm. Chỉ có điều là nó hoàn toàn sai bét.

— Anh nói chuẩn đấy, — người vạm vỡ tên là Flambeau vui vẻ đáp. — Hãy bắt đầu từ cái đầu sai trái đi. Hãy bắt đầu với những gì ai cũng biết, nhưng lại chẳng phải sự thật.

— Nếu không hoàn toàn sai sự thật, thì ít ra nó cũng rất thiếu sót, — Brown nói tiếp; — bởi trên thực tế, tất cả những gì công chúng biết quy lại chính xác là thế này: Công chúng biết rằng Arthur St. Clare là một vị tướng Anh vĩ đại và bách chiến bách thắng. Họ biết rằng sau những chiến dịch lừng lẫy nhưng thận trọng ở cả Ấn Độ lẫn châu Phi, ông được giao chỉ huy chiến dịch chống lại Brazil khi nhà ái quốc lớn người Brazil là Olivier ban hành tối hậu thư. Họ biết rằng trong dịp đó, St. Clare với một lực lượng rất nhỏ đã tấn công Olivier với một lực lượng vô cùng lớn, và bị bắt làm tù binh sau một cuộc kháng cự anh dũng. Và họ biết rằng sau khi bị bắt, trước sự phẫn nộ của thế giới văn minh, St. Clare đã bị treo cổ trên cái cây gần nhất. Người ta tìm thấy thi thể ông lúc lỉu ở đó sau khi quân Brazil rút lui, với thanh gươm gãy đeo trên cổ.

— Và câu chuyện phổ biến đó là không có thật ư? — Flambeau gợi ý.

— Không, — người bạn của anh ta điềm tĩnh đáp, — câu chuyện đó hoàn toàn đúng, xét theo những gì nó thể hiện.

— Chà, tôi nghĩ chừng đó là quá đủ rồi chứ! — Flambeau nói; — nhưng nếu câu chuyện phổ biến ấy là thật, thì điều bí ẩn nằm ở đâu?

Họ đã đi qua hàng trăm thân cây xám xịt và ma quái trước khi vị linh mục nhỏ con lên tiếng trả lời. Đoạn, ông cắn ngón tay vẻ trầm ngâm và nói:

— Chà, điều bí ẩn ở đây chính là một bí ẩn về tâm lý học. Hay đúng hơn, đó là bí ẩn của hai tâm lý học. Trong sự kiện Brazil đó, hai trong số những nhân vật nổi tiếng nhất lịch sử hiện đại đã hành động hoàn toàn trái ngược với tính cách của họ. Xin nhắc để anh nhớ, Olivier và St. Clare đều là những anh hùng — đích thực là những anh hùng chứ không lẫn đi đâu được; nó tựa như cuộc giao tranh giữa Hector và Achilles. Nào, anh sẽ nói sao về một vụ việc mà trong đó Achilles thì nhút nhát còn Hector lại bội bạc?

— Nói tiếp đi, — người vạm vỡ số ruột giục khi vị linh mục lại cắn ngón tay.

— Ngài Arthur St. Clare là một người lính theo lề lối tôn giáo cổ điển — tuýp người từng cứu chúng ta trong Cuộc nổi dậy Ấn Độ, — Brown nói tiếp. — Ông luôn đặt bổn phận lên trên sự xông pha táo bạo; và dù sở hữu lòng dũng cảm cá nhân, ông tỏ ra là một chỉ huy hết sức thận trọng, đặc biệt phẫn nộ trước bất kỳ sự hy sinh vô ích nào của binh lính. Thế mà trong trận chiến cuối cùng này, ông lại mạo muội thực hiện một việc mà một đứa trẻ cũng thấy là ngớ ngẩn. Chẳng cần phải là một nhà chiến lược mới nhận ra nó điên rồ như gió bão; cũng giống như chẳng cần làm chiến lược gia mới biết tránh đường cho một chiếc xe buýt vậy. Và kìa, đó là điều bí ẩn thứ nhất; chuyện gì đã xảy ra với bộ óc của vị tướng Anh? Câu đố thứ hai là, chuyện gì đã xảy ra với trái tim của vị tướng Brazil? Tổng thống Olivier có thể bị gọi là kẻ mộng mơ hay kẻ phiền phức; nhưng ngay cả kẻ thù của ông cũng thừa nhận rằng ông rộng lượng đến mức hiệp sĩ giang hồ. Hầu như mọi tù binh khác từng bị ông bắt giữ đều được phóng thích hoặc thậm chí ban cho bổng lộc. Những kẻ từng thực sự gây tổn hại cho ông khi ra về vẫn bị cảm hóa bởi sự mộc mạc và đôn hậu của ông. Tại sao quái quỷ nào ông lại phải tàn nhẫn trả thù độc nhất một lần trong đời; và lại là vì cú đánh cụ thể chẳng thể nào tổn hại đến mình? Chà, anh có tất cả những điều đó ở đấy. Một trong những người khôn ngoan nhất thế giới lại hành xử như một kẻ ngốc mà chẳng vì lý do gì. Một trong những người tốt nhất thế giới lại hành xử như một tên ác quỷ mà chẳng vì lý do gì. Đầu đuôi câu chuyện là thế; và tôi xin nhường lại cho anh đấy, anh bạn trẻ.

— Không, anh chẳng nhường gì sất, — người kia vừa khịt mũi vừa nói. — Tôi nhường lại cho anh đấy; và anh hãy ngoan ngoãn kể hết cho tôi nghe đi.

— Chà, — Cha Brown nói tiếp, — sẽ là không công bằng nếu nói rằng ấn tượng của công chúng chỉ đúng như những gì tôi vừa kể, mà không bổ sung rằng có hai sự việc đã xảy ra sau đó. Tôi không thể nói chúng mang lại một ánh sáng mới; bởi chẳng ai có thể hiểu nổi chúng. Nhưng chúng mang theo một loại bóng tối mới; chúng đẩy màn đêm về những hướng mới. Sự việc thứ nhất thế này. Bác sĩ gia đình của dòng họ St. Clare đã cãi vã với gia tộc đó, và bắt đầu cho đăng tải một loạt bài báo đầy cay độc, trong đó ông ta nói rằng vị cố tướng là một kẻ cuồng tín tôn giáo; nhưng qua những gì câu chuyện hé lộ, điều này dường như chẳng có nghĩa lý gì hơn ngoài việc ông là một người sùng đạo.

Dù sao đi nữa, câu chuyện đó cũng chìm xuồng. Đương nhiên là ai cũng biết St. Clare có một số điểm kỳ quặc của tín đồ Thanh giáo sùng đạo. Biến cố thứ hai lại lôi cuốn hơn nhiều. Trong trung đoàn bất hạnh và đơn độc từng thực hiện cuộc mưu sự liều lĩnh tại Sông Đen ấy, có một viên Đại úy Keith nọ, người lúc bấy giờ đang đính hôn với con gái của St. Clare, và sau đó đã kết hôn với cô. Ông ta là một trong số những người bị Olivier bắt giữ, và giống như tất cả những người khác ngoại trừ vị tướng, có vẻ như ông ta đã được đối xử hậu hĩnh và được phóng thích ngay lập tức. Khoảng hai mươi năm sau, người đàn ông này, khi ấy mang hàm Trung tá Keith, đã xuất bản một dạng tự truyện mang tên ‘Một sĩ quan Anh ở Miến Điện và Brazil’. Tại đoạn mà người đọc háo hức tìm kiếm chút thông tin về điều bí ẩn trong thảm họa của St. Clare, người ta có thể tìm thấy những dòng sau: ‘Trong tất cả các phần khác của cuốn sách này, tôi đã thuật lại mọi việc chính xác như những gì chúng đã xảy ra, bởi tôi vẫn giữ quan điểm cổ hủ rằng vinh quang nước Anh đủ lâu đời để tự lo liệu lấy. Ngoại lệ duy nhất mà tôi thực hiện chính là trong vấn đề thất trận tại Sông Đen này; và những lý do của tôi, dẫu mang tính cá nhân, nhưng đều cao thượng và vô cùng thôi thúc. Tuy nhiên, tôi xin bổ sung điều này để bày tỏ sự công bằng với ký ức của hai nhân vật lỗi lạc. Đại tướng St. Clare từng bị buộc tội bất tài trong dịp này; ít nhất tôi có thể làm chứng rằng hành động này, nếu được hiểu đúng đắn, là một trong những hành động rực rỡ và khôn ngoan nhất trong cuộc đời ông. Theo những lời đồn đại tương tự, Tổng thống Olivier bị cáo buộc là bất công tàn nhẫn. Tôi nghĩ rằng để tỏ lòng tôn trọng kẻ thù, tôi phải nói rằng trong dịp này ông ấy đã hành động với tinh thần thiện chí còn vượt trội hơn cả bản tính vốn có của mình. Nói theo cách bình dân, tôi có thể đoan quyết với đồng bào của mình rằng St. Clare tuyệt đối không phải là một kẻ ngốc, và Olivier cũng không phải là một tên đồ tể hung ác như vẻ bề ngoài của họ. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói; và không một thế lực trần thế nào có thể xúi giục tôi viết thêm dù chỉ một chữ.’

Một vầng trăng lớn giá lạnh trông như một quả bóng tuyết sáng lấp lánh bắt đầu ló dạng qua đám cành chằng chịt phía trước mặt họ, và nhờ ánh trang ấy, người kể chuyện đã có thể làm mới lại trí nhớ của mình về đoạn trích của Đại úy Keith từ một mẩu giấy in. Khi ông gấp nó lại và đút vào túi, Flambeau liền vung tay lên theo một cử chỉ đậm chất Pháp.

— Khoan đã, khoan đã, — anh ta hào hứng kêu lên. — Tôi tin là mình có thể đoán ra ngay từ lần thử đầu tiên.

Anh ta sải bước tiến lên, thở hổn hển, cái đầu đen và cái cổ trâu rướn về phía trước, tựa như một vận động viên đang giành chiến thắng trong cuộc đua đi bộ. Vị linh mục nhỏ con, vừa buồn cười vừa hứng thú, phải rất chật vật mới troòng bước theo kịp anh ta. Ngay trước mặt họ, những hàng cây thưa dần sang hai bên trái phải, và con đường uốn lượn đổ xuống một thung lũng quang đãng ngập ánh trăng, cho đến khi nó lại đâm bổ vào bức tường của một khu rừng khác như một con thỏ chui vào hang. Lối vào khu rừng phía trước trông nhỏ và tròn, giống như cái lỗ đen của một đường xe lửa xa xôi. Nhưng nó chỉ cách đó chừng một trăm thước, và há hốc như một cái hang trước khi Flambeau cất lời lần nữa.

— Tôi hiểu rồi, — cuối cùng anh ta kêu lên, vỗ đét vào đùi bằng bàn tay to lớn. — Chỉ bốn phút suy nghĩ, tôi có thể tự mình kể lại toàn bộ câu chuyện của anh.

— Được thôi, — người bạn đồng hành đồng thuận. — Anh cứ kể đi.

Flambeau ngẩng cao đầu nhưng hạ thấp giọng.

— Đại tướng Sir Arthur St. Clare, — anh ta nói, — xuất thân từ một dòng họ có di truyền bệnh tâm thần; và toàn bộ mục đích của ông là che giấu điều này khỏi con gái mình, và thậm chí nếu có thể, cả người con rể tương lai. Dù đúng hay sai, ông cho rằng cơn sụp đổ cuối cùng đã cận kề, và quyết định tự vẫn. Thế nhưng một vụ tự sát thông thường sẽ làm bại lộ chính cái ý tưởng mà ông hằng khiếp sợ. Khi chiến dịch đến gần, những đám mây mù càng vây kín bộ óc ông; và cuối cùng trong một phút điên rồ, ông đã hy sinh bổn phận công dân vì lợi ích cá nhân. Ông lao đầu vào trận chiến một cách liều lĩnh, hy vọng sẽ gục ngã dưới loạt đạn đầu tiên. Khi nhận ra mình chỉ rước lấy sự bắt giữ và điều nhục nhã, quả bom bị phong kín trong đại não ông đã phát nổ, và ông tự bẻ gãy gươm rồi treo cổ tự vẫn.

Anh ta trừng trừng nhìn vào mặt tiền xám xịt của khu rừng phía trước, với khoảng trống đen ngòm duy nhất tựa như cái miệng của nấm mồ mà con đường của họ đang lao vào. Có lẽ chút gì đó đe dọa trên con đường bất chợt nuốt chửng họ ấy đã củng cố thêm tầm nhìn sống động của anh ta về thảm kịch, khiến anh rùng mình.

— Thật là một câu chuyện kinh hoàng, — anh ta nói.

— Một câu chuyện kinh hoàng, — vị linh mục lặp lại với cái đầu cúi thấp. — Nhưng không phải là câu chuyện có thật.

Đoạn, ông ngẩng phắt đầu lên với một vẻ tuyệt vọng thảng thốt và kêu lên:

— Ồ, tôi ước gì nó đúng là như thế.

Flambeau cao lớn quay phắt lại và nhìn chằm chằm vào ông.

— Câu chuyện của anh thật trong sạch làm sao, — Cha Brown kêu lên, lòng đầy xúc động. — Một câu chuyện ngọt ngào, thuần khiết, lương thiện, cởi mở và trắng trong như vầng trăng kia. Sự điên rồ và nỗi tuyệt vọng vốn dĩ đã đủ vô tội rồi. Còn có những thứ tồi tệ hơn thế nhiều, Flambeau ạ.

Flambeau ngước nhìn lên vầng trăng vừa được triệu hồi với vẻ hoang dại; và từ nơi anh đứng, một cành cây đen nhánh uốn cong vắt ngang qua vầng trăng ấy trông y hệt như chiếc sừng của quỷ dữ.

— Cha — thưa cha, — Flambeau kêu lên bằng cử chỉ đậm chất Pháp và bước những bước còn dồn dập hơn nữa, — ý cha là nó còn tồi tệ hơn thế nữa sao?

— Tồi tệ hơn thế, — Paul đáp lại như một tiếng vọng trầm buồn. Và họ lao vào tu viện đen tối của chốn rừng rùm, nơi lướt qua bên cạnh họ như một tấm thảm thêu mờ ảo gồm những thân cây, tựa như một trong những hành lang tối tăm trong giấc chiêm bao.

Họ nhanh chóng đặt chân vào tận chốn thâm nghiêm bí mật nhất của khu rừng, cảm nhận những tán lá dày đặc bao quanh mà họ chẳng thể nhìn thấy, khi vị linh mục lại cất tiếng:

— Nơi nào là nơi khôn ngoan nhất để giấu một chiếc lá? Trong rừng. Nhưng anh ta sẽ làm thế nào nếu chẳng có khu rừng nào cả?

— Chà, chà, — Flambeau cáu kỉnh kêu lên, — anh ta sẽ làm gì nào?

— Anh ta trồng một khu rừng để giấu nó vào đó, — vị linh mục đáp với giọng đầy u uất. — Một tội ác khủng khiếp.

— Này nhé, — người bạn nóng nảy kêu lên, bởi khu rừng tăm tối và câu nói thâm thúy ấy bắt đầu làm căng thẳng thần kinh của anh; — anh có định kể cho tôi câu chuyện này hay không? Còn có bằng chứng nào khác để dựa vào nữa nào?

— Vẫn còn ba mảnh bằng chứng nữa, — người kia đáp, — mà tôi đã bới móc được từ các xó xỉnh; và tôi sẽ đưa ra chúng theo trình tự logic hơn là trình tự thời gian. Trước hết, dĩ nhiên là thẩm quyền của chúng ta về kết quả và diễn biến của trận chiến nằm trong chính các bản tấu chương của Olivier, vốn dĩ đã vô cùng minh bạch. Ông đã cho đắp lũy cố thủ cùng hai hoặc ba trung đoàn trên các cao điểm thoai thoải đổ xuống Sông Đen, bên kia sông là vùng đất thấp và lầy lội hơn. Xa hơn nữa lại là vùng đất thoai thoải dâng cao, nơi đặt tiền đồn đầu tiên của Anh, được yểm trợ bởi những tiền đồn khác nằm cách khá xa về phía sau. Nhìn chung, lực lượng Anh có ưu thế vượt trội về quân số; nhưng trung đoàn cụ thể này lại ở quá xa căn cứ của mình đến mức khiến Olivier cân nhắc kế hoạch vượt sông để cắt đứt đường lui của họ. Tuy nhiên, đến chập tối, ông đã quyết định giữ nguyên vị trí của mình, vốn là một vị trí vô cùng kiên cố. Vào lúc rạng sáng hôm sau, ông vô cùng kinh ngạc khi thấy nhúm lính Anh lạc lõng này, hoàn toàn không được yểm trợ từ phía sau, đã lao mình vượt sông — một nửa qua chiếc cầu bên phải, và nửa còn lại qua một khúc cạn ở phía trên — và tập trung thành khối trên bờ sầy lầy bên dưới ông.

Việc họ dám mưu toan một cuộc tấn công với chừng ấy quân số chống lại một vị trí như thế đã đủ là điều khó tin; nhưng Olivier còn nhận thấy một điều kỳ lạ hơn thế nữa. Bởi thay vì cố gắng chiếm lấy vùng đất vững chắc hơn, trung đoàn điên rồ này, sau khi đưa con sông ra phía sau bằng một cuộc xung phong cuồng dã, lại chẳng làm gì thêm mà cứ dính chặt vào vũng lầy như ruồi đậu chè đặc. Khỏi phải nói, quân Brazil đã thổi bay những khoảng lớn trong hàng ngũ họ bằng pháo binh, thứ mà họ chỉ có thể đáp trả bằng những loạt đạn súng trường đầy gan dạ nhưng ngày một thưa dần. Thế nhưng họ không hề nao núng; và bản tường thuật ngắn gọn của Olivier khép lại với một sự thán phục mạnh mẽ dành cho lòng dũng cảm huyền bí của đám người đần độn này. Olivier viết: ‘Đội hình của chúng tôi sau đó tiến lên lần cuối cùng, và đẩy họ xuống sông; chúng tôi bắt sống chính Đại tướng St. Clare cùng vài sĩ quan khác. Cả đại tá lẫn thiếu tá đều đã ngã xuống trong trận chiến. Tôi không sao kìm được ý nghĩ rằng hiếm có cảnh tượng nào trong lịch sử sánh được với trận chiến đấu cuối cùng của trung đoàn phi thường này; những sĩ quan bị thương nhặt nhúng khẩu súng của những binh sĩ đã tử trận, và chính vị tướng đứng trước chúng tôi trên lưng ngựa với đầu trần và thanh gươm gãy.’ Về những gì xảy ra với vị tướng sau đó, Olivier hoàn toàn im lặng như Đại úy Keith.

— Chà, — Flambeau càu nhàu, — chuyển sang mảnh bằng chứng tiếp theo đi.

— Bằng chứng tiếp theo, — Cha Brown nói, — mất một chút thời gian mới tìm ra, nhưng sẽ không mất nhiều thời gian để kể lại. Cuối cùng tôi đã tìm thấy trong một nhà tế thế dưới vùng đất ngập nước Lincolnshire Fens một cựu chiến binh không chỉ từng bị thương tại Sông Đen, mà thực chất đã quỳ gối ngay bên cạnh vị đại tá của trung đoàn khi ông ấy hy sinh. Người sau chính là Đại tá Clancy nọ, một gã người Ireland vạm vỡ hung hăng; và có vẻ như ông ta chết vì cơn thịnh nộ nhiều hơn là vì đạn pháo. Ít ra thì ông ta cũng không phải là người chịu trách nhiệm cho cuộc hành quân nực cười đó; nó hẳn đã bị áp đặt lên ông bởi vị tướng. Theo lời người cung cấp thông tin cho tôi, những lời trăn trối đầy tính giáo huấn của ông ta là thế này: ‘Kìa cái lão lừa khốn khiếp với cái mũi kiếm bị đánh gãy. Ước gì đó là cái đầu của hắn.’ Anh sẽ nhận xét rằng hình như ai cũng để ý đến chi tiết về lưỡi gươm gãy này, dù đa phần mọi người nhìn nhận nó với sự tôn kính nhiều hơn là cố Đại tá Clancy. Và giờ là mảnh thứ ba.

Con đường của họ qua khu rừng bắt đầu dốc ngược lên, và người nói ngưng lại một lát lấy hơi trước khi tiếp tục. Đoạn, ông tiếp tục với chất giọng công sự quen thuộc:

— Chỉ một hoặc hai tháng trước, một quan chức người Brazil nọ đã qua đời ở Anh, sau khi cãi vã với Olivier và rời khỏi đất nước mình. Ông ta là một nhân vật nổi tiếng cả ở đây lẫn lục địa, một người Tây Ban Nha tên là Espado; chính tôi từng quen biết ông ta, một gã công tử bột già nua da ngăm vàng với chiếc mũi khoằm. Vì nhiều lý do cá nhân khác nhau, tôi được phép xem các tài liệu mà ông ta để lại; đương nhiên ông ta là một tín đồ Công giáo, và tôi đã ở bên cạnh ông ta vào những phút cuối đời. Chẳng có tài liệu nào của ông ta soi sáng được bất kỳ góc khuất nào trong vụ án St. Clare đen tối ấy, ngoại trừ năm hoặc sáu cuốn vở học sinh bình thường chứa đầy nhật ký của một người lính Anh nào đó. Tôi chỉ có thể phỏng đoán rằng nó đã được quân Brazil tìm thấy trên thi thể của một trong những người ngã xuống. Dù sao đi nữa, nó đã dừng lại đột ngột vào đêm trước trận chiến.

Nhưng bản tường thuật về ngày cuối cùng trong cuộc đời anh lính tội nghiệp ấy quả thực rất đáng đọc. Tôi đang mang nó theo người; nhưng trời quá tối để đọc nó ở đây, và tôi sẽ tóm tắt lại cho anh. Phần đầu của trang nhật ký đó tràn ngập những câu trò đùa, hiển truyền là được tung hứng giữa các binh sĩ, về một kẻ nào có biệt danh là Kền Kền. Có vẻ như nhân vật này, bất kể là ai, không phải là người trong số họ, thậm chí chẳng phải người Anh; anh ta cũng không hoàn toàn được nhắc đến như một kẻ thù. Nghe có vẻ như anh ta là một kẻ môi giới địa phương kiêm người không tham gia chiến đấu hướng nào; có lẽ là một hướng dẫn viên hoặc một nhà báo. Anh ta từng hội kiến kín với cố Đại tá Clancy; nhưng thường xuyên được nhìn thấy đang trò chuyện với viên thiếu tá. Thật vậy, viên thiếu tá tỏ ra khá nổi bật trong câu chuyện kể của người lính này — có vẻ như là một người đàn ông gầy gò, tóc đen, tên là Murray — một người ở miền Bắc Ireland và là một tín đồ Thanh giáo. Có những câu trò đùa liên tục về sự tương phản giữa tính khắc khổ của người Ulster này và sự vui vẻ của Đại tá Clancy. Cũng có vài câu chuyện cười về việc gã Kền Kền mặc những bộ quần áo sặc sỡ.

Nhưng tất cả những sự cợt nhả ấy đều bị quét sạch bởi thứ có thể được gọi là tiếng kèn lệnh. Phía sau trại quân Anh và gần như song song với con sông chạy qua một trong số ít những con đường lớn của vùng đó. Về phía tây, con đường uốn lượn hướng về phía con sông, nơi nó bắc qua cây cầu đã nhắc đến ở trên. Về phía đông, con đường rẽ ngược vào chốn hoang dã, và cách đó chừng hai dặm là tiền đồn tiếp theo của Anh. Từ hướng đó, dọc theo con đường vào buổi tối hôm đó là tiếng kèn khua lách cách và ánh chớp lóa của một đội kỵ binh nhẹ, trong đó ngay cả người viết nhật ký giản dị cũng có thể nhận ra với vẻ kinh ngạc chính là vị tướng cùng bộ tham quan của mình. Ông cưỡi con ngựa bạch lớn mà anh đã thấy rất nhiều lần trên các tờ báo minh họa và tranh của Viện Hàn lâm; và anh có thể chắc chắn rằng kiểu chào mà họ dành cho ông không đơn thuần chỉ là nghi thức. Ít nhất thì ông cũng chẳng lãng phí thời gian vào nghi lễ, mà ngay lập tức nhảy xuống khỏi yên ngựa, hòa mình vào nhóm sĩ quan, và rơi vào một cuộc trò chuyện đầy quả quyết nhưng mang tính bảo mật. Điều gây ấn tượng mạnh nhất với người bạn viết nhật ký của chúng ta chính là khuynh hướng đặc biệt của ông trong việc bàn thảo các vấn đề với Thiếu tá Murray; nhưng thực ra, một sự lựa chọn như thế, miễn là không bị phô bày, thì hoàn toàn không có gì là không tự nhiên. Hai người đàn ông sinh ra là để đồng cảm; họ là những người ‘đọc Kinh Thánh của mình’; cả hai đều là tuýp sĩ quan Tin Lành cũ. Dù thế nào đi nữa, chắc chắn rằng khi vị tướng leo lên ngựa trở lại, ông vẫn đang say sưa trò chuyện với Murray; và khi ông dắt ngựa đi chầm chậm dọc theo con đường hướng về phía con sông, viên thiếu tá cao lớn người Ulster vẫn sóng bước bên dây cương của ông trong một cuộc tranh luận nghiêm túc. Các binh sĩ dõi theo hai người cho đến khi họ khuất sau một lùm cây nơi con đường rẽ về phía con sông. Vị đại tá đã quay về lều của mình, còn binh lính thì về các trạm gác; người viết nhật ký chần chừ thêm bốn phút nữa, và đã chứng kiến một cảnh tượng kỳ diệu.

Con ngựa bạch vĩ đại từng tiến bước chậm rãi dọc theo con đường, giống như nó từng diễu hành trong bao nhiêu đám rước, bỗng phi nước đại ngược trở lại con đường về phía họ như thể phát điên lên để giành chiến thắng trong một cuộc đua. Ban đầu họ tưởng nó đã lồng lên mang theo người trên lưng; nhưng họ sớm nhận ra rằng chính vị tướng, một tay nài ngựa cừ khôi, đang thúc giục nó đạt tốc độ tối đa. Ngựa và người lao vùn vụt tới họ như một cơn lốc; rồi, kìm cương con chiến mã đang lảo đảo, vị tướng quay lại với họ một khuôn mặt hừng hực như lửa, và cất tiếng gọi viên đại tá vang dội như tiếng kèn thức tỉnh người chết.

Tôi hình dung rằng tất cả các sự kiện chấn động của thảm họa đó đã chồng chất lên nhau tựa như đống đồ đạc lộn xộn trong tâm trí những người như anh bạn viết nhật ký của chúng ta. Trong nỗi phấn khích ngỡ ngàng của một giấc mơ, họ thấy mình đang tụt xuống — thực sự là tụt xuống — vào hàng ngũ, và biết được rằng một cuộc tấn công sẽ được dẫn dắt ngay lập tức vượt qua con sông. Người ta bảo rằng vị tướng và viên thiếu tá đã phát hiện ra điều gì đó ở cây cầu, và chỉ còn đúng một thời gian ngắn ngủi để lao vào cuộc chiến sinh tử. Viên thiếu tá đã quay về ngay lập tức để triệu tập lực lượng dự bị dọc theo con đường phía sau; người ta hoài nghi liệu ngay cả với lời hiệu triệu khẩn trương đó, sự viện trợ có thể đến kịp lúc với họ hay không. Nhưng họ phải vượt qua dòng suối đêm hôm ấy, và chiếm lấy các cao điểm trước khi trời sáng. Chính cái nhịp đập và sự thôi thúc của cuộc hành quân ban đêm lãng mạn đó đã đặt dấu chấm hết đột ngột cho cuốn nhật ký.

Cha Brown đã leo lên phía trước; bởi lối mòn trong rừng ngày càng nhỏ, dốc đứng và ngoằn ngoèo hơn, cho đến khi họ có cảm giác như đang leo lên một chiếc cầu thang xoắn ốc. Giọng của vị linh mục vang lên từ phía trên trong bóng tối.

— Vẫn còn một điều nhỏ bé và to lớn khác. Khi vị tướng thúc giục họ tiến vào cuộc xung phong mang tinh thần hiệp sĩ ấy, ông đã rút một nửa thanh gươm ra khỏi vỏ; rồi, như thể cảm thấy xấu hổ vì một màn kịch tính hóa quá đà như vậy, ông lại đẩy nó trở lại. Lại là thanh gươm, anh thấy đấy.

Một chút ánh sáng mờ đục xuyên qua mạng lưới cành cây phía trên họ, hắt cái bóng của một tấm lưới lên đôi chân họ; bởi họ đang leo trở lại vùng ánh sáng mờ ảo của bầu trời đêm quang đãng. Flambeau cảm nhận được chân lý bao trùm khắp nơi xung quanh mình như một bầu không khí, chứ không phải một ý niệm. Anh đáp lại với một bộ óc hoang mang:

— Nào, có vấn đề gì với thanh gươm cơ chứ? Các sĩ quan thường mang theo gươm, chẳng phải thế sao?

— Chúng hiếm khi được nhắc đến trong chiến tranh hiện đại, — người kia bình thản đáp; — nhưng trong vụ việc này, người ta vấp phải thanh gươm chết tiệt đó ở mọi nơi.

— Chà, có gì trong đó cơ chứ? — Flambeau gầm gừ; — đó là một loại sự cố rẻ tiền màu mè; lưỡi gươm của lão già bị gãy trong trận chiến cuối cùng. Bất kỳ ai cũng có thể cá cược rằng báo chí sẽ tóm lấy nó, và họ đã làm thế. Trên tất cả các ngôi mộ và mọi thứ, nó đều được khắc họa là bị gãy ở đầu mũi. Tôi hy vọng anh không lôi tôi qua cái chuyến thám hiểm Vực Bắc này chỉ vì hai gã có con mắt thẩm mỹ đã nhìn thấy thanh gươm gãy của St. Clare chứ?

— Không, — Cha Brown cất giọng sắc lẹm như tiếng súng nổ; — nhưng ai đã nhìn thấy thanh gươm lành lặn của ông ấy?

— Ý anh là gì? — người kia kêu lên và khựng lại dưới bầu trời đầy sao. Họ vừa đột ngột bước ra khỏi những cánh cổng xám xịt của khu rừng.

— Tôi nói là, ai đã nhìn thấy thanh gươm lành lặn của ông ấy? — Cha Brown ngoan cố lặp lại. — Dù sao đi nữa thì không phải là người viết nhật ký; vị tướng đã kịp đút nó vào vỏ rồi.

Flambeau đảo mắt nhìn quanh dưới ánh trăng, giống như một kẻ bị đánh mù lòa đứng dưới ánh nắng mặt trời; và người bạn của anh tiếp tục, lần đầu tiên với một vẻ hăng hái:

— Flambeau, — ông kêu lên, — tôi không thể chứng minh được nó, ngay cả sau khi lục lọi khắp các ngôi mộ. Nhưng tôi chắc chắn về điều đó. Cho phép tôi bổ sung thêm một chi tiết nhỏ nhặt lật nhào toàn bộ sự việc này. Theo một sự tình cờ kỳ lạ, viên đại tá là một trong những người đầu tiên trúng đạn. Ông ấy trúng đạn từ rất lâu trước khi quân đội tiến đến giáp lá cà. Nhưng ông ấy đã thấy thanh gươm của St. Clare bị gãy. Tại sao nó lại gãy? Nó bị gãy bằng cách nào? Bạn tôi ơi, nó đã bị gãy trước trận chiến.

— Ồ! — người bạn của anh ta thốt lên với một vẻ đùa cợt thảm hại; — và xin làm ơn cho biết mảnh kia đang ở đâu?

— Tôi có thể nói cho anh biết, — vị linh mục đáp ngay lập tức. — Ở góc đông bắc của nghĩa địa Nhà thờ Tin Lành tại Belfast.

— Thật thế chứ? — người kia gặng hỏi. — Anh đã tìm nó chưa?

— Tôi không thể, — Brown đáp với một sự tiếc nuối chân thành. — Có một đài tưởng niệm bằng đá cẩm thạch lớn nằm đè lên trên nó; một đài tưởng niệm vị Thiếu tá Murray anh hùng, người đã ngã xuống khi chiến đấu oanh liệt trong Trận chiến Sông Đen lừng lẫy.

Flambeau bỗng chốc như bị dòng điện kích thích mà sực tỉnh. — Ý anh là, — anh khàn giọng kêu lên, — Đại tướng St. Clare căm ghét Murray, và đã sát hại ông ấy trên chiến trường vì...

— Anh vẫn đầy ắp những suy nghĩ tốt đẹp và trong sáng, — người kia nói. — Nó còn tồi tệ hơn thế nhiều.

— Chà, — người vạm vỡ nói, — kho chứa trí tưởng tượng bệnh hoạn của tôi đã cạn kiệt rồi.

Vị linh mục dường như thực sự do dự không biết nên bắt đầu từ đâu, và cuối cùng ông lại cất lời:

— Nơi nào một kẻ khôn ngoan sẽ giấu một chiếc lá? Trong rừng.

Người kia không đáp.

— Nếu không có rừng, hắn sẽ tạo ra một khu rừng. Và nếu hắn muốn giấu một chiếc lá khô, hắn sẽ tạo ra một khu rừng chết.

Vẫn chẳng có hồi đáp nào, và vị linh mục càng điềm đạm và nhỏ nhẹ bổ sung:

— Và nếu một kẻ phải giấu một xác chết, hắn sẽ tạo ra một bãi chiến trường xác chết để giấu nó vào đó.

Flambeau bắt đầu sải bước dậm dịch với sự bất dung nạp đối với thời gian hay không gian; nhưng Cha Brown vẫn tiếp tục như thể ông đang nối tiếp câu nói vừa rồi:

— Sir Arthur St. Clare, như tôi đã nói từ trước, là một người hay đọc Kinh Thánh. Đó chính là vấn đề của ông ta. Khi nào thì con người ta mới hiểu rằng việc một kẻ đọc Kinh Thánh sẽ trở nên vô dụng trừ khi hắn cũng đọc Kinh Thánh của tất cả những người khác? Một thợ in đọc Kinh Thánh để tìm lỗi in ấn. Một tín đồ phái Mormon đọc Kinh Thánh và tìm thấy chế độ đa thê; một tín đồ Khoa học Cơ đốc đọc Kinh Thánh của họ và nhận ra chúng ta không có tay chân. St. Clare là một người lính Tin Lành gốc Anglo-India cổ. Nào, hãy thử nghĩ xem điều đó có thể mang ý nghĩa gì; và vì ơn trên, đừng có ra vẻ đạo đức giả về nó. Nó có thể có nghĩa là một gã to con vạm vỡ sống dưới ánh mặt trời nhiệt đới trong một xã hội phương Đông, và đắm mình một cách vô ý thức hoặc thiếu định hướng vào một Cuốn Sách Phương Đông. Dĩ nhiên là ông ta đọc Cựu Ước nhiều hơn Tân Ước. Dĩ nhiên là ông ta tìm thấy trong Cựu Ước bất cứ thứ gì ông ta muốn — sự dâm dục, bạo tàn, phản bội. Ồ, tôi dám cá là ông ta thành thật, theo cách gọi của anh. Nhưng việc một kẻ thành thật trong sự tôn sùng sự bất lương thì có ích lợi gì chứ?

Trong mỗi vùng đất nóng bỏng và bí mật mà gã đàn ông đó đặt chân đến, hắn đều nuôi một hậu cung, hắn tra tấn các nhân chứng, hắn tích lũy những khối vàng nhơ nhuớp; nhưng chắc chắn hắn sẽ khẳng định với một ánh mắt kiên định rằng hắn làm điều đó vì vinh quang của Chúa. Thần học của chính tôi được thể hiện đầy đủ bằng câu hỏi: Chúa nào? Dù sao đi nữa, có một điều về cái ác kiểu này, là nó mở hết cánh cửa này đến cánh cửa khác trong địa ngục, và luôn dẫn đến những căn phòng ngày càng nhỏ hẹp hơn. Đó mới là bản án thực sự chống lại tội ác, rằng con người ta không trở nên cuồng loạn hơn, mà chỉ ngày càng đê tiện hơn. St. Clare chẳng mấy chốc đã bị bóp nghẹt bởi những rắc rối về hối lộ và tống tiền; và cần ngày càng nhiều tiền mặt hơn. Và đến thời điểm diễn ra Trận chiến Sông Đen, ông ta đã rơi từ tầng thế giới này xuống thế giới khác, chạm đến nơi mà Dante gọi là tầng sâu nhất của vũ trụ.

— Ý anh là gì? — người bạn của anh lại hỏi.

— Ý tôi là thế đấy, — vị giáo sĩ đáp trả, và đột ngột chỉ tay xuống một vũng nước đóng băng đang lấp lánh dưới ánh trăng. — Anh có nhớ Dante đã tống kẻ nào xuống vòng tròn băng giá cuối cùng không?

— Những kẻ phản bội, — Flambeau đáp và rùng mình. Khi nhìn quanh khung cảnh cây cối phi nhân tính, với những đường nét giễu cợt và gần như dung tục, anh gần như tưởng tượng mình là Dante, và vị linh mục với giọng nói rả rích như dòng suối nhỏ thực ra chính là một Virgil đang dẫn dắt anh đi qua một vùng đất của những tội lỗi vĩnh hằng.

Giọng nói lại cất lên: — Olivier, như anh biết đấy, là một kẻ thích làm hiệp sĩ phiêu lưu, và không cho phép sự tồn tại của tình báo và gián điệp. Tuy nhiên, sự việc đã được thực hiện, giống như bao điều khác, sau lưng ông ta. Nó được đạo diễn bởi người bạn cũ của tôi là Espado; ông ta chính là gã công tử bột mặc đồ sặc sỡ, kẻ có chiếc mũi khoằm khiến hắn bị gọi là Kền Kền. Đóng vai một dạng nhà từ thiện ở chiến tuyến, hắn thăm dò qua hàng ngũ quân đội Anh, và cuối cùng đã tóm được kẻ nhũng nhiễu duy nhất của nó — lạy Chúa! — và kẻ đó lại ở vị trí chóp bu. St. Clare đang kẹt tiền một cách tồi tệ, và cần những núi tiền. Vị bác sĩ gia đình thất sủng đang đe dọa tung ra những vụ phanh phui chấn động mà sau đó đã thực sự bắt đầu rồi lại bị dập tắt; những câu chuyện về những thứ quái dị và cổ xưa ở Park Lane; những việc làm của một nhà truyền giáo Tin Lành người Anh mang mùi vị của sự hiến tế con người và những bầy nô lệ. Tiền cũng được cần đến để làm của hồi môn cho con gái ông ta; vì đối với ông, danh tiếng của sự giàu có cũng ngọt ngào y như bản thân sự giàu có vậy. Ông ta đã bứt đứt sợi tơ cuối cùng, thì thầm từ khóa với Brazil, và sự giàu có tuôn chảy từ kẻ thù của nước Anh. Nhưng một kẻ khác cũng đã trò chuyện với Espado Kền Kền chẳng kém gì ông ta. Không hiểu bằng cách nào mà viên thiếu tá trẻ tuổi da ngăm, lầm lì đến từ Ulster đã đoán ra được sự thật kinh hoàng ấy; và khi họ chậm rãi bước đi cùng nhau dọc theo con đường hướng về phía cây cầu, Murray đang nói với vị tướng rằng ông ta phải từ chức ngay lập tức, nếu không sẽ bị đưa ra tòa án quân sự và xử bắn. Vị tướng câu giờ với ông cho đến khi họ đến rìa những tán cây nhiệt đới cạnh cây cầu; và ở đó bên dòng sông đang róc rách và những hàng cọ ngập tràn ánh nắng (vì tôi có thể hình dung ra bức họa đó), vị tướng đã rút thanh gươm bạt của mình ra và đâm phập nó xuyên qua thân thể của viên thiếu tá.

Con đường mùa đông uốn lượn qua một sườn đồi giữa cái lạnh cắt da cắt thịt, với những hình thù bụi rậm và lùm cây đen ngòm tàn nhẫn; nhưng Flambeau tưởng chừng anh nhìn thấy phía bên kia nó vương vớt mép của một vầng hào quang không phải ánh sao và ánh trăng, mà là một thứ lửa do con người tạo ra. Anh dõi theo nó khi câu chuyện dần đi đến hồi kết.

— St. Clare là một con chó săn địa ngục, nhưng là một con chó săn có dòng dõi. Tôi dám cá là chưa bao giờ, ông ta lại minh mẫn và mạnh mẽ như khi tội nghiệp Murray nằm thành một khối lạnh ngắt dưới chân ông. Chưa bao giờ trong tất cả các chiến thắng của mình, như Đại úy Keith đã nói hoàn toàn chính xác, vị đại nhân lại vĩ đại như trong thất bại bị thế giới khinh miệt lần này. Ông điềm tĩnh nhìn vào vũ khí của mình để lau vết máu; ông thấy phần mũi kiếm mà ông đã cắm ngập giữa đôi bả vai nạn nhân của mình đã bị gãy dính trong cơ thể. Ông nhìn thấy một cách hoàn toàn bình tĩnh, giống như nhìn qua ô cửa sổ câu lạc bộ, tất cả những gì bắt buộc phải xảy ra. Ông thấy rằng người ta sẽ tìm thấy cái xác không thể giải thích nổi; phải rút ra mũi kiếm không thể giải thích nổi; phải để ý đến thanh gươm gãy không thể giải thích nổi — hoặc sự vắng bóng của thanh gươm. Ông đã ra tay sát hại, nhưng không thể bịt miệng. Thế nhưng trí tuệ hách dịch của ông đã vươn lên chống lại nghịch cảnh; vẫn còn một lối thoát. Ông có thể khiến cái xác trở nên ít khó hiểu hơn. Ông có thể tạo ra một gò thây ma để che đẩng cái xác này. Chỉ trong vòng hai mươi phút, tám trăm binh sĩ Anh đã hành quân tiến bước đến cái chết của họ.

Hơi ấm rực rỡ phía sau khu rừng mùa đông đen kẽm ngày càng đậm đà và sáng rực hơn, và Flambeau sải bước để tiến đến đó. Cha Brown cũng tăng tốc độ bước đi; nhưng ông dường như chỉ hoàn toàn chìm đắm trong câu chuyện của mình.

— Sức chiến đấu của một nghìn quân Anh ấy, và thiên tài của người chỉ huy họ lớn đến mức, nếu họ ngay lập tức tấn công ngọn đồi, thì dẫu cho cuộc hành quân điên rồ ấy cũng có thể gặp chút may mắn nào đó. Nhưng tâm địa tàn ác đùa giỡn với họ như những con tốt thí lại có những mục đích và lý do khác. Họ phải ở lại trong các vũng lầy bên cây cầu ít nhất cho đến khi xác lính Anh trở thành một cảnh tượng quen thuộc ở đó. Rồi cho cảnh tượng hoành tráng cuối cùng; vị thánh nhân quân lính đầu bạc trắng sẽ trao nợ thanh gươm tan nát của mình để cứu vãn thêm những cuộc tàn sát. Ồ, nó đã được tổ chức vô cùng chu đáo đối với một vở kịch ứng tác. Nhưng tôi nghĩ (tôi không thể chứng minh), tôi nghĩ rằng chính trong lúc họ mắc kẹt ở đó trong vũng lầy đẫm máu ấy, đã có kẻ hoài nghi... và có kẻ đã đoán ra.

Ông im lặng một thoáng, rồi nói: — Có một tiếng nói từ hư vô mách bảo tôi rằng kẻ đã đoán ra chính là người tình... kẻ sắp kết hôn với đứa con gái của lão già.

— Thế còn Olivier và vụ treo cổ thì sao? — Flambeau hỏi.

— Olivier, một phần vì tinh thần hiệp sĩ, một phần vì sách lược, hiếm khi vướng víu với các tù binh trong các cuộc hành quân của mình, — người kể chuyện giải thích. — Hầu hết các trường hợp ông đều phóng thích tất cả mọi người. Trong trường hợp này ông cũng phóng thích tất cả mọi người.

— Tất cả mọi người ngoại trừ vị tướng, — người đàn ông cao lớn nói.

— Tất cả mọi người, — vị linh mục đáp.

Flambeau nhíu đôi mày đen lại. — Tôi vẫn chưa nắm bắt hết toàn bộ sự việc, — anh nói.

— Vẫn còn một bức tranh khác, Flambeau, — Brown nói bằng chất giọng trầm ngâm mang đậm tính huyền bí hơn. — Tôi không thể chứng minh được nó; nhưng tôi có thể làm nhiều hơn thế — tôi có thể nhìn thấy nó. Có một trại quân đang tan rã trên những ngọn đồi khô cằn, nắng cháy vào buổi sáng, và các đội hình quân phục Brazil tập trung thành những khối và cột để hành quân. Có chiếc áo sơ mi đỏ và bộ râu đen dài của Olivier đang bay phần phật khi ông đứng đó, chiếc mũ rộng vành cầm trên tay. Ông đang nói lời tạm biệt với kẻ thù lớn lao mà ông đang phóng thích — vị cựu chiến binh Anh tóc bạc phơ, chân chất, người đang cảm ơn ông nhân danh binh lính của mình. Tàn quân Anh đứng nghiêm trang phía sau; bên cạnh họ là các kho dự trữ và xe cộ chuẩn bị cho cuộc rút lui. Tiếng trống lăn dồn; quân Brazil đang chuyển động; lính Anh vẫn bất động như tượng đá. Cứ thế họ trụ lại cho đến khi tiếng vo ve và ánh chớp cuối cùng của kẻ thù phai mờ khỏi chân trời nhiệt đới. Rồi họ đồng loạt thay đổi tư thế cùng một lúc, giống như những thây chết sống lại; họ quay năm mươi khuôn mặt về phía vị tướng — những khuôn mặt không thể nào quên.

Flambeau giật mình nảy người. — À, — anh kêu lên, — ý anh không phải là...

— Phải, — Cha Brown nói bằng một giọng trầm đượm xúc cảm. — Chính bàn tay người Anh đã quàng chiếc thòng lọng vào cổ St. Clare; tôi tin rằng đó chính là bàn tay đã đeo chiếc nhẫn vào ngón tay con gái ông ta. Chính những bàn tay người Anh đã lôi cổ ông lên cái cây nhục nhã ấy; đôi bàn tay của những con người từng tôn sùng ông và đi theo ông đến tận vinh quang. Và chính những tâm hồn người Anh (xin Chúa tha thứ và dung thứ cho tất cả chúng ta!) đã trừng trừng nhìn ông lúc lỉu dưới ánh mặt trời ngoại quốc ấy trên giá treo cổ bằng cây cọ xanh ngắt, và trong lòng căm hận cầu nguyện rằng ông có thể rơi tỏm từ đó xuống địa ngục.

Khi cả hai vượt qua đỉnh dốc, ánh sáng đỏ rực mạnh mẽ từ một quán trọ Anh với tấm rèm cửa đỏ bỗng òa vỡ trước mắt họ. Nó nằm quay ngang bên đường, như thể đang lùi sang một bên trong sự rộng lượng của lòng hiếu khách. Ba cánh cửa rộng mở mời gọi; và ngay từ nơi họ đứng, họ đã có thể nghe thấy tiếng vo ve và tiếng cười đùa của con người đang hạnh phúc suốt đêm dài.

— Tôi không cần phải kể thêm cho anh nữa đâu, — Cha Brown nói. — Họ đã xét xử hắn nơi chốn hoang mạc và tiêu diệt hắn; rồi vì danh dự của nước Anh và của con gái hắn, họ đã tuyên thệ niêm phong vĩnh viễn câu chuyện về chiếc túi tiền của kẻ phản bội và lưỡi gươm của kẻ sát nhân. Có lẽ — xin Chúa phù hộ họ — họ đã cố gắng quên đi nó. Dù sao thì chúng ta cũng hãy cố gắng quên đi; quán trọ của chúng ta đây rồi.

— Hoàn toàn đồng ý với anh, — Flambeau nói, và vừa định sải bước bước vào quán rượu sáng sủa, ồn ào thì anh khựng lại lùi bước và suýt ngã nhào ra đường.

— Nhìn kìa, lạy Chúa quỷ! — anh kêu lên, và chĩa thẳng ngón tay cứng ngắc vào tấm biển gỗ hình vuông treo lơ lửng trên đường. Nó hiện lên l mờ hình thô phác của một chuôi kiếm và một lưỡi gươm bị ngắn lại, được khắc dòng chữ bằng kiểu chữ cổ giả mạo: “Biểu Tượng Thanh Gươm Gãy.”

— Anh không chuẩn bị trước tinh thần sao? — Cha Brown nhẹ nhàng hỏi. — Hắn chính là vị thần của xứ sở này; một nửa số quán trọ, công viên và đường phố đều được đặt tên theo hắn và câu chuyện của hắn.

— Tôi cứ tưởng chúng ta đã chấm dứt với gã phong hủi đó rồi chứ, — Flambeau kêu lên và nhổ nước bọt xuống đường.

— Anh sẽ chẳng bao giờ chấm dứt được với hắn ở nước Anh đâu, — vị linh mục cúi nhìn xuống và nói, — chừng nào đồng thau còn bền chắc và đá đài còn trường tồn. Những bức tượng cẩm thạch của hắn sẽ dựng xây tâm hồn của những thiếu niên tự hào, trong trắng trong hàng thế kỷ, ngôi mộ làng của hắn sẽ thơm ngát mùi trung thành tựa hoa huệ tây. Hàng triệu người chưa từng biết đến hắn sẽ yêu mến hắn như người cha — kẻ mà dăm ba người cuối cùng từng biết hắn lại đối xử tựa phân bón. Hắn sẽ trở thành một vị thánh; và sự thật sẽ chẳng bao giờ được kể về hắn, bởi cuối cùng tôi đã đưa ra quyết định. Có quá nhiều điều thiện và ác trong việc phá vỡ những bí mật, nên tôi đã đặt đạo đức của mình vào một bài kiểm tra. Tất cả những tờ báo này rồi sẽ lụi tàn; phong trào chống Brazil đã qua đi; Olivier đã được vinh danh khắp nơi. Nhưng tôi tự nhủ rằng nếu ở bất cứ đâu, bằng tên tuổi, bằng đồng hay cẩm thạch trường tồn như kim tự tháp, mà Đại tá Clancy, hay Đại quy Keith, hay Tổng thống Olivier, hay bất kỳ người vô tội nào bị đổ oan, thì tôi sẽ lên tiếng. Nếu chỉ đơn thuần là St. Clare bị ca ngợi oan uổng, tôi sẽ giữ im lặng. Và tôi sẽ làm thế.

Họ lao vào tửu quán rèm đỏ, nơi không chỉ ấm cúng mà thậm chí còn sang trọng ở bên trong. Trên một chiếc bàn đặt mô hình bằng bạc mô phỏng ngôi mộ của St. Clare, cái đầu bạc cúi gầm, thanh gươm bạc bị gãy. Trên các bức tường treo những bức ảnh màu chụp cảnh tượng tương tự, và hệ thống xe ngựa đưa khách du lịch đến tham quan nó. Họ ngồi xuống những chiếc ghế dài có đệm êm ái.

— Nào, trời lạnh đấy, — Cha Brown kêu lên; — chúng ta hãy gọi chút rượu vang hoặc bia thôi.

— Hoặc rượu mạnh, — Flambeau tiếp lời.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.