Sử Thi Ấn Độ Ramayana

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2. Hôn Lễ

❊ ❊ ❊

Sau tất cả những rừng rú, núi đồi, và thung lũng, sau những vùng hoang vu, vắng lặng mà chúng tôi đã đi qua và đã bỏ lại khá xa ở phía sau lưng, đô thành Mithila bày ra trước mắt một cảnh thay đổi rất lý thú của một đô thị nhiều màu sắc, vui tươi, với nhân dân vui vẻ trong công việc làm ăn bận rộn. Vừa đặt bước chân nhỏ nhắn vào trong đô thị Rama đã chú ý đến những cái vòm, cái tháp, cái gác chuông bằng vàng, và những lá cờ phấp phới bay trong gió như để đón mừng chú rể mới của nhà vua. Những đồ trang sức người ta ném ra từng mảnh, từng mảnh sáng long lanh trên đường phố (một chiếc vòng người ta bẻ làm đôi trong một buổi khiêu vũ hay trong một trò chơi; hoặc bị vứt đi khi người ta cảm thấy vướng víu lúc ôm nhau), mà không ai muốn nhặt lên trong một xã hội sung túc nhường kia. Ở đất Kôxala không còn có lòng từ thiện khi không còn người nhận nữa. Những bó hoa tơi tả nằm chồng chất trên lề đường với những đàn ong mật bu quanh. Mồ hôi từ trên trán những con voi núi chảy xuống sông thành một dòng nước đen chạy dọc theo con đường chính, trộn lẫn với bọt trắng xóa trào ra từ miệng những con ngựa đang phi, và những chiếc bánh xe quay tít không ngừng tung bụi và bùn đất lên mù mịt.

Trên những sân thượng cao, những người phụ nữ vừa hát vừa múa theo nhịp đànveenavà nhịp trống. Từng đôi, từng đôi trên những chiếc võng mắc ở hai đầu những cây cau to, đang sung sướng theo nhịp võng đu đưa, những vòng cổ, những tràng hoa tung bay theo gió. Rama và Lasơmana lại tiếp tục đi qua những gian hàng bày ra đủ các thứ ngọc, vàng, ngà voi, lông chim trĩ, chuỗi hạt và tóc giả làm bằng lông những con nai hiếm có trên núi Hy Mã Lạp Sơn, họ xem những trận đấu voi lạ lùng diễn ra trên đấu trường, được lớp quần chúng trẻ hoan hô nhiệt liệt; những toán phụ nữ hát những ca khúc và những bản tình ca dưới những mái lều dựng bên đường; những con ngựa do những người đàn ông hoặc đàn bà rất sang trọng điều khiển đang phóng liên hồi, dây cương không một lúc nào chùn; những hồ bơi có cá đủ màu náo động lên vì những nhà thể thao đang hoạt động dưới nước.

Họ băng qua chiếc hào bọc quanh điện Janaka với những vòng tròn trôn ốc màu vàng uốn lượn bên trên những dinh thự khác của đô thành. Lúc này Rama bắt đầu chú ý đến công chúa Xita đang đứng chơi trên chỗ hành lang với cô bạn tùy tùng. Chàng kinh ngạc đến sửng sốt trước vẻ đẹp của nàng, và cũng cùng lúc đó nàng chú ý đến chàng. Mắt của họ đã gặp nhau. Trước đây chưa phải là lâu lắm, họ đã từng sống với nhau ở Vaicunta trong ngôi nhà chính trên thiên đàng, như hai vợ chồng, Vixnu và Lasơmi, nhưng giờ đây trong lốt người trần tục, phải chịu tất cả mọi điều hạn chế của nhân gian, họ nhìn nhau như những người xa lạ. Xita, lộng lẫy trong bao nhiêu châu báu và hoa, giữa đám người hầu hạ xung quanh, đã chói lên trong mắt chàng như một tia chớp sáng. Nàng ngồi nhìn theo Rama đang chầm chậm khuất dần, bên cạnh người thầy và người em thông thái. Khi chàng khuất hẳn, tâm tư nàng bỗng nhiên xao xuyến lạ lùng. Mắt nàng bị mũi tên của tình yêu xuyên thủng, mũi tên đó về sau lại tỏa ra và lan rộng khắp người nàng. Nàng cảm thấy đau.

Nhận thấy sự thay đổi đột ngột ở nàng và người nàng bỗng nhiên sút hẳn đến nỗi những chiếc vòng ở cổ tay đều tụt xuống, những cô thị nữ vội đưa nàng đi nơi khác và sửa soạn một chiếc giường êm cho nàng nằm nghỉ.

Nàng nằm lăn trên giường, rên rỉ: “Các em đã quên, không biết làm giường cho êm. Các em, tất cả như muốn làm phiền tôi”. Các thị nữ chưa bao giờ thấy nàng trong tình trạng như thế, nên ban đầu họ thấy hay hay và hơi phân vân một chút, nhưng đến khi họ để ý đến những giọt nước mắt đang lăn trên má nàng, thì họ xúc động đến chân thành. Thỉnh thoảng, họ nghe nàng vô tình bập bẹ như một đứa trẻ: “Ôi, hỡi đôi vai bằng ngọc bích, hỡi đôi mắt như những cánh hoa sen, chàng là ai? Chàng đã chiếm lĩnh trái tim tôi và làm cho tôi không còn biết thẹn thùng gì nữa? Như một tên kẻ cắp đã lừa lấy mất trái tim tôi, lấy mất sự yên ổn trong tâm trí tôi. Hỡi chàng có đôi vai rộng, sao mà chàng đi nhanh đến thế. Sao chàng không chịu dừng lại thêm đôi bước để tôi còn có thể nhìn thêm một chút nữa và có thể nén được trái tim hỗn loạn của tôi đây. Chàng đang ở đây này, nhưng chỉ một giây sau chàng đã ở đằng kia và sẽ đi mãi mãi. Chàng phải đâu là một vị thần – đôi mi mắt chàng nhấp nháy kia mà… Hay chàng là một tay phù thủy đi bỏ bùa cho thiên hạ? ”.

Mặt trời lặn phía bên kia biển, nhà thơ nói như vậy và khi một nhà thơ đã nhắc đến biển, thì chúng ta chỉ còn biết chấp nhận mà thôi. Không có gì phải hối tiếc khi để cho một nhà thơ mô tả theo trí tưởng tượng của mình, cũng không cần phải hỏi đi hỏi lại phần địa lý của người nữa – Tiếng chim kêu báo trước rồi đêm sẽ xuống, tiếng sóng trên bờ biển càng rõ hơn khi chiều đã muộn, và lấn dần đến hoàng hôn, rồi đêm tối. Một ngọn gió mát nhẹ từ biển thổi vào, nhưng tất cả, chẳng có gì làm cho Xita cảm thấy dễ chịu. Giờ này chỉ làm cho nỗi đắng cay, ray rứt vì tình yêu càng thêm gay gắt, và càng lay động trái tim thất vọng trong mong chờ. Một con chim hiếm hoi, thường được gọi là chim “An rin” đâu đó đang gọi tìm con trống. Thông thường, vào giờ này, Xita thích lắng nghe giọng hót du dương của nó, nhưng hôm nay, tiếng chim đã trở nên thô kệch, khó nghe. Xita van chim thôi đừng gọi nữa: “Ôi chim ơi, người đang ở đâu, xin hãy im đi. Người đang cúi mình trên một nỗi đau buồn và nhận chìm ta trong những tiếng kêu và lời than thở của người. Những tội lỗi ta đã mắc phải kiếp trước, nay nhập vào trong hình vóc của người và đến dày vò ta đó”. Mặt trăng tròn đầy từ dưới biển nhô lên, làm mặt đất bị lụt trong một vùng sáng dịu dàng. Nhìn thấy ánh trăng, nàng vội lấy hai bàn tay che mắt lại. Nàng cảm thấy như tất cả mọi yếu tố trên đời đều khác xa với lối sống của nàng và đều cùng nhau làm cho nỗi đau khổ của nàng càng thêm trầm trọng. Đám thị tỳ nhận thấy rõ cơn sầu não của nàng và lo rằng có một nỗi khổ đau nào nguồn gốc sâu xa hơn đã ập đến nàng đột ngột. Họ thắp những ngọn đèn mờ nhạt bấc tẩm trong mỡ nhẹ, nhưng rồi nhận thấy ánh sáng như thế đối với nàng vẫn còn quá mạnh, họ tắt đèn đi, và thay vào đó họ đặt những viên ngọc quý tự nó tỏa ra ánh sáng nhẹ nhàng. Họ sửa soạn cho nàng một chiếc giường thật êm đặt trên một phiến thiên thạch, có đệm làm bằng cánh hoa êm, nhưng hoa đã héo tàn, và Xita quằn quại kêu la, rên rỉ, dường như tất cả, - cả đêm tối, trăng, sao, và hoa nữa, - dường như cả vũ trụ đối với nàng đều là những thứ không sao chịu nổi. Câu hỏi cứ liên tiếp đến gõ vào đầu như đánh trống: “Chàng là ai? Chàng đi đâu? Chỉ thoáng hiện ra như một tia chớp rồi lại đi mất. Hay là tôi đang bị chìm trong ảo ảnh? Không, không thể như thế được – một chút ảo ảnh không thể làm cho con người yếu đến như thế này được! ”.

Rama lui về nghỉ đêm trong nhà khách. Trong phòngngủ vắng vẻ chàng bắt đầu nghĩ tới người con gái chàng đã nhìn thấy chỗ hành lang hoàng cung. Mặt trăng, đối với chàng cũng vậy, cũng chỉ càng làm tăng thêm ý nghĩa cô đơn. Mặc dầu bên ngoài không để lộ ra một dấu hiệu nào cả, tận trong sâu thẳm của tâm hồn chàng thấy như bị đảo lộn. Tinh thần kỷ luật và ý thức tự chủ đã giúp chàng giữ kín được tình cảm của chàng trước mặt mọi người. Nhưng giờ đây chàng đang tưởng nhớ đến người con gái trên hành lang và mong muốn được gặp lại nàng. Nàng có thể là ai nhỉ? Không có gì chứng tỏ rằng nàng là một công nương cả - giữa đám hàng trăm con gái trong cung, nàng có thể là ai? Nàng chắc chắn là chưa có chồng, Rama nhận ra rằng nếu như nàng đã có chồng, thì – cái này hoàn toàn là do bản năng thôi – tự nhiên chàng sẽ không nghĩ đến nàng nhiều như thế. Giờ đây, chàng bắt gặp chính mình đang ngắm nàng tỉ mỉ trong mọi chi tiết. Chàng tưởng tượng nàng đang đứng trước mặt chàng và khắc khoải mong chờ phút giây được ôm chặt khung ngực kia trong vòng tay của mình. Chàng tự nhủ mình: “Cho dù tôi không được ôm nàng trong đôi cánh tay tôi, thì có bao giờ tôi được một lần nữa nhìn lại, dù chỉ thoáng qua thôi, cái khuôn mặt và đôi làn môi rực rỡ, chói chang kia chăng? Mắt, môi, và những lọn tóc uốn cong bay lả tả trên vầng trán – mỗi một chi tiết, mỗi một nét trên khuôn mặt nàng dường như đều có sức tấn công và quật ngã tôi – tôi, kẻ mà cây cung đã từng định đoạt số phận của bầy ma quỷ, giờ đây phải chịu lệ thuộc vào một kẻ chỉ cần bật chiếc cung bằng mía và dùng những mũi tên bằng hoa…” Chàng mỉm cười, tự chế giễu mình.

Đêm trôi qua, chàng ngủ được rất ít. Trăng đã lặn và bình minh đã đến. Rama nhận thấy đã đến lúc phải dậy và chuẩn bị đưa vị tôn sư đến cung Janaka dự lễ.

Trong phòng họp, vua Janaka chú ý đến Rama và Lasơmana, và hỏi Vivamitra: “Hai chàng trai trẻ tướng mạo khôi ngô kia là ai vậy, thầy? ”. Vivamitra giải đáp. Khi nghe đến dòng dõi và những thử thách của Rama, nhà vua thở dài và nói: “Ôi, sao tôi muốn được gả con gái cho chàng quá! ”. Vivamitra hiểu rõ nguyên nhân nỗi thất vọng của Người. Trong bất cứ câu chuyện nào có dính đến chuyện cưới xin nàng Xita đều vấp phải một điều kiện gần như không thể nào vượt nổi.

Vua Janaka có một cây cung vĩ đại, trước kia có lúc đã là của thần Xiva; thần đã bỏ cây cung lại và giao cho một ông tổ của dòng dõi Janaka gìn giữ, và đã trở thành môt món gia tài. Xita, bấy giờ là một em bé gái, là một món quà của mẹ Đất gửi cho Vua Janaka và được nhặt trong một luống cày khi cánh đồng đang được cày lên. Vua Janaka nhận đứa bé, chăm sóc nó, và cô ta cứ thế lớn lên, đẹp đẽ vô cùng, đến nỗi rất nhiều vị hoàng tử đến chật ních cả cung điện Janaka với hy vọng sẽ là ý trung nhân của nàng. Vì lúng túng không thể thiên vị với riêng ai, và cũng để giữ gìn chung cho họ, vua Janaka đặt điều kiện rằng ai có thể nhấc cây cung của thần Xiva lên, giương cung và bắn được, thì người đó sẽ là chồng của Xita. Khi những anh chàng kia nhìn thấy chiếc cung thì họ hiểu ngay rằng đây là một điều kiện không có hy vọng gì chấp nhận nổi. Họ ra đi lòng đầy căm giận, và sau này trở lại có những đạo quân đi theo, với ý định chiếm Xita bằng vũ lực. Nhưng vua cha đã chống trả lại những cuộc tấn công đó, và cuối cùng những anh chàng kia phải chịu rút lui. Thời gian cứ thế trôi qua, và Vua Janaka đâm ra lo lắng không biết con gái mình rồi đây có thể có chồng được chăng – một khi điều kiện đã đặt ra rồi thì không thể nào rút lại được. Không có ai trên mặt đất này xem ra có đủ sức lại gần cây cung của thần Xiva, Janaka thở dài: “Ta run sợ khi ta nghĩ đến tương lai của Xita, và tự hỏi mình sao đem gắn số phận của nàng vào cái món gia tài thiêng liêng và hùng mạnh này của nhà ta”.

Vivamitra nhẹ nhàng tâu lại: “Xin nhà vua đừng thất vọng. Sao ngài biết rằng không phải một nguồn cảm hứng thiêng liêng đã gợi ra cho ngài ý nghĩ đó? ”.

“Trong tất cả các cõi đời, đã có ai có thể giương nổi cây cung này đâu; chỉ nhìn thấy nó trong tay thần Xiva, các vị thần cũng đã run sợ, hoảng hồn, cho đến khi thần Xiva dẹp nó qua một bên và thôi không dùng tới nó nữa”.

“Xin nhà vua cho phép chúng tôi nhìn nó một chút”.

Janaka nói: “Vâng, tôi sẽ bảo mang nó lại đây. Nó nằm trong kho quá dài. Ai biết được, mang nó ra có thể làm thay đổi số phận của chúng ta”. Rồi nhà vua ra lệnh cho các thuộc hạ đem cung lại… Các thuộc hạ hơi do dự, nhưng nhà vua truyền lệnh: “Nếu cần, có thể điều cả một đạo quân dến làm việc này. Muốn gì thì muốn, địa điểm này đã trở thành thiêng liêng sau những nghi lễ vừa mới tiến hành ở đây… Và đáng được đưa cây cung lại chỗ này”.

Cây cung được đặt trên một chiếc xe mười sáu bánh và do một số rất đông người kéo tới. Suốt trên đường đi từ nhà kho ra tới đường cái, quần chúng bu vào xem rất đông. Cung to đến nỗi mới nhìn, không ai có thể hiểu được nó là cái gì. Thiên hạ trầm trồ: “Đó là cây cung hay là ngọn núi Mêru đã từng làm cho Biển Sữa trong thời cổ phải sủi bọt lên? ”. Một số người kinh ngạc thốt lên: “Giá mà có người nâng được cây cung lên và bắn đi, thì không biết mũi tên sẽ cắm vào đâu cho vừa”. Hoặc: “Nếu quả nhà vua thực sự muốn tìm rể, thì ngài phải rút điều kiện đó đi. Thật là chẳng khôn ngoan chút nào cả! ”.

Rama nhìn sư phụ. Vivamitra gật đầu, ý muốn nói: “Cứ thử xem”. Khi Rama chậm rãi và đường hoàng tiến đến gần cây cung, những người đứng xem đều nín thở và khắc khoải đợi chờ. Đôi người lặng lẽ cầu Trời hộ cho chàng. Mấy người khác bình luận: “Sao mà ác thế! Thế là các bậc tiền nhân không ngại ngùng, xấu hổ gì khi đưa tuổi trẻ xinh tươi, đẹp đẽ vào cuộc thử thách gay go này! ” ; “Nhà vua thật độc ác và suy đồi khi đưa một chàng trai đẹp như thần này vào trong tình trạng gay go đến thế… Nếu là một người đứng đắn, thì ngài cứ gả công chúa Xita cho chàng còn hơn là đòi hỏi cái trò xiếc này…” ; “Mục đích của nhà vua là giữ công chúa Xita mãi mãi với Người, đó là cách để suốt đời không phải chia tay! ”. Có mấy cô gái say mê vẻ đẹp của Rama, bình luận thêm: “Nếu con người này mà thất bại, thì có lẽ chúng tôi sẽ nhảy vào lửa tất” ; “Nếu chàng thất bại thì Xita chắc chắn sẽ tự hủy và chúng tôi cũng sẽ noi theo gương của người”.

Trong khi mọi người đang suy nghĩ như vậy, thì Rama tiến đến gần cây cung. Trong số những người đứng xem có mấy người không chịu nổi phút chờ đợi đã nhắm mắt lại và cầu mong cho chàng được thành công; họ nói: “Nếu chàng thất bại không nhấc nổi hai đầu cung cùng một lúc, thì không biết việc gì sẽ xảy đến cho cô nương? ”. Điều họ không thể nhìn thấy, vì họ đã nhắm mắt, là Rama đã nâng cây cung, kéo dây và giương cung lên nhanh chóng, nhẹ nhàng như thế nào. Họ giật mình khi nghe cây cung vì không chịu nổi sức ép của bàn tay Rama, đã bật lên một tiếng vang trời.

Không khí bỗng nhẹ hẳn. Các vị thần tung hoa xuống chúc mừng, các đám mây bay đi và tung mưa xuống, các đại dương cũng tung lên tất cả những kho tàng quý giá lấy từ trong sâu thẳm lòng mình. Các bậc hiền nhân kêu to: “Những dằn vặt lo âu và thử thách của nhà vua đã chấm dứt rồi”. Không gian tràn đầy tiếng nhạc. Người ta tặng hoa, xức dầu thơm cho nhau, ôm hôn nhau và tung phấn thơm lên trời. Người ta mặc những bộ quần áo sang trọng nhất, tập hợp chỗ cổng điện hoặc chỗ công viên rồi hát, rồi múa rất thoải mái; tiếng kèn, tiếng sáo và tiếng trống tạo ra một thứ tiếng ồn át cả những tiếng hát, tiếng ca rất lớn thoát ra từ nhiều cổ họng. Các vị thần, cả nam và nữ, theo dõi những cảnh vui chơi, hạnh phúc ở dưới trần, đội lốt người, trà trộn trong đám đông và chia sẻ niềm vui với họ. “Không có được hàng nghìn con mắt nhìn và thưởng thức thì chẳng bao giờ vẻ đẹp hoàng vương của chàng rể chúng ta có thể được hiểu ra một cách đầy đủ như vậy”. Các bà cùng nhau bình luận: “Này hãy nhìn xem người em của chàng! Sao mà đẹp trai đến thế nhỉ! Hạnh phúc thay những bậc bố mẹ đã sinh được những người con như vậy”.

Xita rút lui vào trong nhà kín và hoàn toàn không biết gì đến những sự kiện mới nhất vừa xảy ra. Nàng di chuyển từ giường này qua giường khác để tìm một chỗ yên thân và nằm bên cạnh một giếng nước, trên một tảng thiên thạch – đó là chiếc giường êm nhất mà họ có thể tìm được cho nàng. Nhưng dù là ở đó, nàng cũng chẳng thấy yên lòng khi những đóa hoa sen trong đầm bên giếng đến quấy rầy tâm trí nàng và gợi nàng nhớ lại dáng hình đôi mắt và sắc mặt của chàng. Nàng than thở: “Không đâu có thể thấy được sự yên ổn cả… tâm hồn tôi như vắng lạnh hết. Những kỷ niệm cứ đến dày vò tôi. Nhưng kỷ niệm mà làm gì, khi chính tôi cũng không biết chàng ở đâu mà tìm nữa. Chàng là cái loại người gì mà lại gây cho ta tất cả mọi nỗi khổ đau, dằn vặt này và đã đi qua mà không hề có một cử chỉ nào để giảm nhẹ nó đi? Bề ngoài trông thật là tầm thường, nhưng giờ đây đã như có phù có phép vậy! ”.

Một cô thị nữ đến đã cắt đứt dòng nghĩ suy ray rứt đó. Đáng lẽ phải cúi chào công chúa, theo như thường lệ thì cô ta vừa lảo đảo vừa hát lên một bản tình ca. Xita đứng vụt dậy và quát: “Im đi! Có phải mày bị nhiễm độc rồi chăng? ”. Cô thị nữ trả lời: “Cả đất nước đang bị nhiễm độc. Cô nương ơi, cô làm sao có thể biết được khi cô cứ khóa mình một chỗ và rên rỉ, khóc than! ”. Rồi cô ta tiếp tục lý giải sự việc một cách lúng túng, khó hiểu: “Con vua xứ Ayođhya… lưng dài, vai rộng, một vị thánh dưới trần. Không ai kịp nhìn thấy việc đó xảy đến, chàng rất nhanh chóng, lẹ làng, nhưng chàng chặn một đầu, theo lời họ nói, dưới chân chàng, còn tay chàng thì cầm lấy đầu kia, rồikéo sợi dây, ôi, giời!...”

“Ô, cái con bé bị nhiễm độc kia, mày nói cái gì thế hả? ”. Khi Xita hiểu ra được việc gì đã xảy đến, nàng đứng bật dậy, ngực thở hổn hển. Nàng đứng cứng đờ và nói: “Em có biết phải chăng chàng này cũng là chàng trai đã nhìn chị hôm trước khi chàng đang đi trên đường? Nếu là một chàng trai nào khác, có lẽ chị sẽ kết liễu đời chị mất thôi! ”.

Khi những cơn xao xuyến ban đầu đã lắng xuống, nhà vua đến hỏi ý kiến đạo sĩ Vivamitra: “Tôi sẽ phải làm gì tiếp theo đây? Tôi đang ở trong một tình trạng bất ngờ, hoàn toàn không tính trước; theo ý tôn sư, ta có nên mời các tu sĩ và các nhà chiêm tinh đến chọn một ngày sớm nhất để cử hành hôn lễ hoặc có nên gửi cho hoàng đế Đaxaratha một bức thông điệp và chờ đợi ý kiến của Người? ”.

Đạo sĩ trả lời: “Hoàng thượng nên gửi ngay một thông điệp cho hoàng đế Đaxaratha và mời người làm theo đúng thủ tục”. Vua Janaka lập tức lui về cung soạn lời mời gửi cho Đaxaratha với sự giúp sức của các nhà thơ và những người soạn sử, văn, thư từ của triều đình và gửi ngay đi.

Ngay lúc đó, các sứ giả của vua Janaka mang thông điệp đến dâng cho hoàng đế Đaxaratha. Hoàng đế ra lệnh cho các quan nhận thư và đọc to lên: là điệp báo với hoàng đế tất cả những sự kiện đã xảy đến từ khi Rama rời mảnh đất Ayođhya đến lúc bật dây cung của thần Xiva. Hoàng đế Đaxaratha gửi cho các sứ giả rất nhiều tặng vật, và lòng thoải mái, nhẹ nhàng. Người bình luận thêm: “Hãy về nói với những người ở Mithila rằng ở đây ta cũng có nghe tiếng dây cung…”. Rồi Người truyền lệnh: “Hãy cho loan báo rộng ra bằng thứ ngôn ngữ thích đáng rằng vua Janaka mời tất cả mọi người, đàn ông, đàn bà và trẻ con ở kinh đô chúng ta đến dự hôn lễ của Rama. Những ai có khả năng đi tới Mithila thì hãy sửa soạn lên đường ngay, trước chúng ta”. Những viên điệp sứ lên voi, có tiếng trống đi kèm, dem những lời tuyên cáo của nhà vua đến tận khắp các ngõ ngách của kinh đô.

Con đường dẫn tới Mithila đông đặc những người, nào đàn ông, đàn bà, nào trẻ con. Khi cái đám đông đồ sộ bắt đầu tập hợp lại và di chuyển xuống đường thì cả cõi trần gian này bỗng chốc như phình ra quá tầm cỡ. Những đàn voi đập đập những lá cờ đuôi nheo và cờ lớn, trán phủ vàng, những đàn ngựa vừa đi nước kiệu lại vừa nhảy nhót, và đủ thứ xe lớn, nhỏ có bò kéo đang chuyển động, thêm vào đó một số khá đông đi bộ nữa. Ánh mặt trời bị giữ lại và phản chiếu trong hàng nghìn chiếc ô bằng xa lanh trắng và trong những tấm huân chương sáng chói của các quân nhân. Các bà mệnh phụ ngực căng phồng, mặc những thứ dạ mịn màng như tơ ngồi trên lưng những con voi đen, những chiếc vòng trên cổ đung đưa theo nhịp chân voi đang bước, có những chiến sĩ lưng đeo kiếm và cung cưỡi ngựa đi kèm hai bên.

Nhà thơ đặc biệt sung sướng và đi sâu vào các chi tiết khi người mô tả đến cung cách và những hoạt động của lớp trẻ trong đám đông đi dự lễ này. Có một chàng trai cưỡi ngựa chậm rãi theo sau một chiếc xe, mắt đăm đăm nhìn lên cửa sổ, nơi đó trước đây một tí có một khuôn mặt vừa mới xuất hiện, và chàng ước mong được nhìn lại khuôn mặt đó một lần nữa. Một chàng trai khác không sao rời mắt khỏi một cô gái chỉ che ngực sơ sài đang ngồi trên xe, anh chàng cố vượt lên phía trước và luôn luôn quay nhìn lại đằng sau, không chú ý xem có gì trước mặt mình và đã đụng phải số người đi sau đàn voi đang tiến bước. Khi có một cô gái vô ý tụt xuống khỏi lưng ngựa, một chàng trai khác đến đỡ nàng lên; nhưng đáng lẽ sau khi cứu xong thì phải đặt nàng trở lại trên lưng ngựa, chàng lại tiếp tục chuyến đi với cô gái trong cánh tay mình. Một chàng trai khác vừa đi vừa suy nghĩ, bâng khuâng liếc nhìn người yêu của mình. Có những cặp đang cãi nhau về một vài chi tiết trong việc xếp đặt chuyến đi, họ bước bên nhau mà không nói với nhau một câu nào, người đàn bà không thèm cài hoa trên tóc mà chỉ một nét cau mày trên khuôn mặt, nhưng vẫn đi gần bên nhau vừa đủ để không phải xa nhau ra. Một chàng tuy không có ai bảo, nhưng lòng vẫn xao xuyến vì bức thông điệp phát ra từ đôi mắt hùng biện của một cô nương, đã nói: “Cô không bảo ư? Nhưng chắc chắn khi qua sông, cô sẽ nhờ đến hai cánh tay vạm vỡ của tôi đưa cô đi, và tôi làm sao có thể biết được rồi cô sẽ có bảo tôi không? Tôi biết cô chỉ chê lời nói thôi, chứ không chê cánh tay tôi, vì rõ ràng là cô sẽ cần đến nó khi chúng ta đến bờ sông”.

Những con lạc đà chở những khối hàng to tướng đang đi mà cổ cháy khát cho đến khi chúng tìm được thứ lá chuamargona– và sau khi nhai xong, chúng lại vẫn khát, cũng như những người chỉ biết tìm rượu để giải khát, rồi lại càng khát hơn – từ đó chúng tránh tất cả những thứ lá xanh non. Những người dân vạm vỡ mang trên vai những tặng vật và những thứ cần thiết cho chuyến đi.

Những người Bramin khổ hạnh đi theo sau, đứng tách ra xa, sợ đi giữa đàn voi sẽ bị xô đẩy, cũng như sợ đi trong sân, nơi có nhiều phụ nữ, sẽ không tập trung được sự suy nghĩ vào bên trong. Một số người nhón lên đi rất nhẹ trên các đầu ngón chân, cố tránh không dẫm lên bất cứ một sinh vật nào trên mặt đất; một số khác đặt các ngón tay lên rốn, vùa để theo dõi kiểm tra hơi thở, vừa giữ cho các ngón tay không sờ vào các bộ phận phía dưới trong khi tư tưởng đang tập trung vào chuyện thánh thần.

Tiếng bánh xe lăn, tiếng trống, tiếng kèn và tiếng ồn ào nói chung làm cho không ai có thể nghe ai nói được gì cả. Sau một lúc, mọi người dân như đi trong câm lặng, chỉ ra dấu với nhau thôi, chân tung lên từng cuộn bụi mịt mù. Những con bò kéo những toa đầy hàng rất nặng, bị kích thích vì tiếng trống vang rền, bỗng nhiên nhảy ra khỏi ách chạy lung tung, nhập thêm vào trong đám đông lộn xộn, ném hàng hóa ra khắp nơi trên đường cái. Còn những con voi, mỗi khi nhìn thấy một bể nước hay một cái ao, thì tìm cách ngụp vào trong đó, cho nước lên đến vòi, và cứ thế ở mãi trong nước. Các nhạc sĩ trên mình ngựa, vừa chơi đàn lại vừa hát.

Đằng sau cả cái đạo quân này, là những cung nữ sủng ái của nhà vua từ trong các cung cấm ra, đi theo hoàng hậu Kicai-I đi trên võng, có một nghìn thị nữ ở chung quanh. Tiếp đến là hoàng hậu Xumitra, có hai nghìn thị nữ theo hầu. Sau đó là hoàng hậu Kausalya, mẹ của Rama, có các nhạc sĩ đi theo. Đức bà cũng có cả một đoàn những người lùn, người gù và đủ thứ quái gở khác nữa đi theo… Nhưng đoàn chính đi theo bà gồm sáu vạn người phụ nữ tài sắc tuyệt vời ngồi trên những chiếc xe đủ các kiểu. Trong một chiếc võng trắng có nạm ngọc, là đạo sĩ Vaxixta, cố vấn cao nhất của triều đình, đi theo, chung quanh có hai nghìn người Bramin và tu sĩ. Tiếp sau đó là Barata và Xatrana, hai người em trai của Rama. Còn hoàng đế Đaxaratha, sau khi đã làm xong nhiệm vụ hàng ngày, những nghi thức tôn giáo và đã dâng lễ vật cho những người Bramin, cũng bắt đầu rời khỏi cung điện vào giờ lành, được rất đông tu sĩ đưa đi, những người mang trong tay những chiếc lọ bằng vàng đựng nước thánh mà họ rải khắp trên đường đi trong khi rất nhiều phụ nữ tung lên những bài kinh cầu nguyện.

Khi nhà vua đã ra khỏi cung điện, thì rất nhiều người cầm quyền ở các nước láng giềng đã đợi sẵn để chào Người. Và khi xa giá đi qua, tiếng tù và, tiếng kèn, tiếng hoan hô, tiếng reo hò nổi lên vang dậy.

Sau khi đã đi được hơn mười dặm, nhà vua cùng tất cả các đoàn tùy tùng đã dừng lại cắm trại dưới bóng ngọn núi Saila. Sáng hôm sau cả đoàn nhổ trại, tiến đến khu rừng trúc, bên cạnh một con sông.

Bộ phận đi trước của đoàn tiền trạm, đã đến Mithila, được đón tiếp và đưa vào những ngôi nhà, những cung điện và những trại ở kinh đô. Các đoàn đi sau vừa mới tới nơi, cũng đã được đón tiếp. Đường dây liên tục vận động từ Ayođhya đến Mithila. Đoàn của hoàng đế Đaxaratha đến sau cùng. Khi các điệp sứ được giao trách nhiệm chờ xe của hoàng đế đã quay ngựa trở về báo cho biết. Người cùng với cả đoàn đang đi trên đường đi tới thì vua Janaka cùng với các vị cận thần, và các vệ binh vội đi ra phía trước để đón người. Hai ông vua gặp nhau, chào mừng nhau và trao đổi với nhau những nghi lễ thông thường, rồi vua Janaka mời hoàng đế Đaxaratha lên ngồi cùng xe với Người và tiến thẳng về kinh. Trong khi họ cùng nhau đi vào cửa thành thì Rama, có Lasơmana đi theo, đến gặp họ, chào và chúc mừng thân phụ mình. Hoàng đế Đaxaratha hết sức sung sướng tự hào khi nhìn thấy con trai mình, giờ đây, sao mà có vẻ cao lớn đến thế.

Đến đây Kamban bắt đầu mô tả cảnh bày biện chuẩn bị cho hôn lễ của Rama và Xita. Đây là một trong những chương hấp dẫn nhất của sử thi, những chi tiết về chỗ phòng cưới, về sự trần thiết, trang hoàng và các vị khách từ các nước khác đến, về hoa, về cảnh vui nhộn; niềm vui của tất thảy công dân và những người tham dự, các kế hoạch trong ngôi nhà cô dâu và trong ngôi nhà chàng rể, những sự chuẩn bị của chính bản thân cô dâu và chàng rể: nào quần áo, nào châu báu, ngọc ngà và phong cách của họ - tất cả đều được Kamban mô tả rất tỉ mỉ đến từng chi tiết một trong hàng chục nghìn câu thơ.

Được trúng vào ngôi sao chiếu mệnh rất tốt, hoàn toàn phù hợp với bản số tử vi của Rama và Xita, và trong buổi lễ do các vị cao tăng ở Ayođhya và Mithila chủ trì trong cung điện của vua Janaka, Rama và Xita thành vợ thành chồng.

Khi mô tả buổi gặp gỡ đầu tiên của vợ chồng vào lúc hôn lễ đã kết thúc, Kamban có nói: “Những kẻ trước đây chẳng bao lâu đã cùng ở với nhau, giờ lại cùng nhau đến mà chẳng cần có những lời lẽ gì theo nghi thức giữa họ với nhau nữa”.

Nhờ sự cố gắng của Janaka, ba người em của Rama cũng tìm được ba cô dâu, và đã cưới vợ cùng một lúc ở Mithila. Khi các hôn lễ đều đã xong, hoàng đế Đaxaratha quay về Ayođhya cùng mấy người con trai và vợ của họ. Vào ngày họ ra đi, đạo sĩ Vavimitra tâu với hoàng đế Đaxaratha: “Giờ, thần xin trả Rama và Lasơmana lại cho hoàng thượng. Sự nghiệp của họ thật là vô cùng tận, nhưng trước mắt hãy còn nhiều chuyện nữa. Họ là những người có trời giúp.”. Nói xong, Người từ giã họ và lập tức đi về phương Bắc, náu mình trong dãy Hy Mã Lạp Sơn, xa lánh tất cả mọi hoạt động, dùng những ngày còn lại cho việc nhập định tham thiền.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của R.k. Narayan

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.