Sử Thi Ấn Độ Ramayana

Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3. Hai Lời Hứa Sống Lại

❊ ❊ ❊

Trong cuộc đời bận rộn của mình, Đaxaratha có lẽ chưa bao giờ tự ngắm mình trong gương. Chắc là Người chưa có dịp nào nhìn mình thật kỹ, thật lâu trong gương, hoặc đi vào một cuộc suy nghiệm về mình theo bất cứ kiểu nào. Một hôm, bỗng nhiên Người chú ý thấy những sợi tóc trắng trên đầu và những nét nhăn dưới mắt – chú ý thấy đôi bàn tay hơi run, và đôi chân hơi mệt khi tham gia vào một cuộc chơi và thấy rõ tuổi già đã đến. Điều đó rõ ràng là không thể coi thường. Nhà thơ gốc Vanmiki có ghi lại rằng Đaxaratha đã sáu vạn tuổi. Theo cách hiểu của chúng ta ngày nay, chúng ta không thể nào chấp nhận một hình ảnh như vậy, nhưng chúng ta có thể cho là sáu mươi, bảy mươi hoặc tám mươi, muốn gì thì muốn, tuổi già đã rõ.

Những lúc một mình trong phòng, Đaxaratha tự nhủ mình: “Ai cũng phải biết lúc nào là lúc phải nghỉ, mà không ngồi đợi cái chết hay đợi tuổi già. Trong khi các giác quan của ta hãy còn nguyên vẹn, ta nên rút lui và tìm nơi yên nghỉ. Thật chẳng hay ho gì cứ tiếp tục lặp lại mãi những thứ việc đã làm đi làm lại hàng chục nghìn năm như đối với ta ngày nay. Ta làm việc như thế đã đủ rồi, đủ rồi. Giờ đã đến lúc ta phải đặt công việc qua một bên và rút về phía sau để theo dõi”.

Nhà vua đã đi tới một quyết định dứt khoát. Người gọi viên thị vệ đến và cho đi mời cận thần Xumantra ngay lập tức: “Hãy cho đi báo với tất cả mọi người từ các đình thần, các tướng sĩ, các đạo sĩ, các hiền nhân và tất cả vua chúa các nước lân bang, đến những bà con thân thuộc, hãy tụ tập đông đủ ở sân chầu. Bảo họ đến càng đông càng tốt”.

Trong khi viên cận thần chờ đợi, nhà vua còn dặn thêm: “Trong số bà con thân thuộc, không cần báo cho Axoaxethi” (đó là phụ thân của Kicai-i, hoàng hậu thứ ba của nhà vua. Baratha, con của bà đã đến đó sống với ông ngoại ít lâu) “Cũng không cần phải làm phiền Janaka. Mithila xa xôi quá, chắc Người cũng khó lòng về kịp”.

“Tâu hoàng thượng, thế còn ai phải thôi nữa không ạ? ”.

“Không, người muốn mời bao nhiêu thì cứ mời, nhớ báo cho tất cả nhân dân đều đến”. Thông điệp của vua được gửi đi về khắp các nẻo, sân chầu đầy ắp. Hoàng đế Đaxaratha bước lên các bậc, đi đến chỗ ngồi và sau những thủ tục thông thường, ra hiệu cho mọi người ngồi vào chỗ, rồi nói:

“Ta giữ trọng trách làm vua của nước này đã khá lâu. Giờ đây ta cảm thấy gánh nặng nhất thiết phải được đặt lên những cặp vai trẻ hơn. Về phần các người, các người nghĩ thế nào về điều đó? Dưới bóng ô trắng của vương quyền, mọi việc trông bề ngoài như chẳng có gì thay đổi – nhưng hiện nay con người ở dưới bóng đó đã tàn héo đi rồi. Ta đã sống và đã làm việc khá lâu. Nếu ta nghĩ rằng ta cứ tiếp tục làm việc như thế mãi mãi, thì sẽ trở nên quá keo kiệt. Một ngày kia, ta sẽ nhận ra rằng chữ ký của ta trên các sắc chỉ trở nên mù mờ, khó nhậnTayta sẽ run mà ta không biết? Đã đến lúc ta nên ngồi lại phía sau và nghỉ ngơi – và nhìn thấy trước bước đi tới của lũ cháu. Nếu các người chấp nhận, ta xin trao đất nước này lại cho Rama. Chàng sẽ là người kế tục của ta, là hiện thân của sự hoàn thiện, toàn mỹ. Chàng là một con người tuyệt vời, chàng sẽ là một ông vua tuyệt vời. Chàng có lòng thương người, biết trọng công lý, lại dũng cảm và không hề phân biệt giữa người nọ người kia – già hay trẻ, ông hoàng hay người nông dân, chàng đều coi trọng như nhau. Còn nói về tinh thần dũng cảm, về giá trị con người và về tất cả các đức tính thì không ai bằng chàng được. Chàng sẽ là người bảo vệ, che chở tốt nhất cho các người, trước bất cứ một sức mạnh chống đối nào, dù đó là con người, là một siêu nhân, hay một bậc siêu phàm. Vũ khí thần của chàng, được sư phụ Vavimitra truyền lại cho, chưa hề biết thất bại bao giờ… Ta hy vọng rằng ta sẽ được các người ủng hộ trong việc làm lễ tấn phong ngay bây giờ đây cho chàng làm hoàng đế Kôxala”.

Một tiếng reo mừng vang lên trong đám đông. Đợi đến khi tiếng reo lặng đi, Đaxaratha hỏi: “Ta chú ý thấy các người đã chào đón người kế tục của ta rất là nồng nhiệt. Phải chăng đó là vì các người đã phải âm thầm chịu đựng ta trong những năm vừa qua mà không có lý do nào cả mặc dầu ta vẫn nghĩ rằng ta đã hiến trọn cuộc đời mình cho hạnh phúc của dân ta? ”.

Một người đứng lên, giải thích: “Tâu Hoàng thượng, xin Người đừng hiểu nhầm chúng con. Đó là vì tấm lòng chúng con yêu quý Rama nó làm chúng con sung sướng đến như vậy. Từ lâu, chúng con đã chờ đợi phút giây này. Được nhìn chàng trên lưng con voi của nhà vua đi qua đường phố kinh đô, trên mình đầy gấm vóc trang hoàng là hình ảnh của tương lai mà chúng con, cả già lẫn trẻ rất yêu quý, vì chúng con dã lạc trong vẻ đẹp của chính con người chàng Rama. Chính những hình ảnh báo trước đó đã khiến chúng con cùng nhau đồng tình chào đón lời đề nghị của Người chứ không phải vì chúng con không muốn Người tiếp tục trị vì nữa”.

Đaxaratha liền phán: “Ta rất đồng tình với các người. Đó chính là vì ta muốn được biết chắc chắn rằng các người hoàn toàn tán thưởng ý ta muốn tôn Rama lên làm vua của các người mà không chút nào ngờ vực. Ta muốn rằng ngày mai khi saoPushyamọc xen với Mặt trăng và vào giờ lành Rama sẽ làm lễ đăng quang”.

Rồi nhà vua truyền cho viên đại thần và tu sĩ: “Hãy chuẩn bị cho tất cả các thứ, đến từng chi tiết nhỏ đều phải sẵn sàng để ngày mai làm lễ đăng quang. Phòng đăng quang có đủ tất cả mọi thứ cần thiết để trang hoàng. Đường xá phải được quét dọn sạch sẽ và cũng phải được trang hoàng. Hãy để cho dân được vui chơi, lễ lạc tha hồ, không được hạn chế chút nào. Làm sao cho ở mọi góc phố ở kinh đô luôn luôn có sẵn những thứ cần thiết để phục vụ cho buổi lễ”.

Người cho đòi Rama đến. Người đứng trên hành lang chờ chàng đến, và nồng nhiệt tiếp chàng, kéo chàng đến bên cạnh và bảo: “Ngày mai, con sẽ được phong làm người kế tục của ta. Ta cần được nghỉ ngơi”.

Rama thoải mái tự nhiên nhận lời. Đaxaratha lại nói tiếp: “Con đã biết tất cả rồi, nhưng ta vẫn cảm thấy có trách nhiệm phải nói đôi lời. Trong tất cả mọi trường hợp, con phải cố giữ cho được một chính sách tuyệt đối công bằng. Tự hạ mình và ăn nói nhẹ nhàng – thực ra thì không có một giới hạn nào cho những đức tính đó cả. Và trong con tim của một ông vua, không thể nào có chỗ cho những thứ tính tham lam, dâm loạn, giận dữ hay thấp hèn”. Người nói thêm ít câu nữa rồi kết thúc buổi họp mặt. Khi Rama trở về cung, kể lại câu chuyện vừa qua cho Xita nghe, thì cận thần Xumantra lại một lần nữa đến gõ cửa:

“Phụ vương người lại cho đòi! ”.

“Lại đòi sao? Ta vừa ở đó về đây mà! ”.

“Hoàng thượng biết rồi, nhưng muốn gặp lại thái tử”.

Khi Rama đến trình diện, thì Đaxaratha bảo chàng ngồi rồi nói: “Có lẽ con ngạc nhiên sao ta lại gọi con lần nữa. Bỗng nhiên ta cảm thấy băn khoăn cần phải làm lễ đăng quang cho con ngay bây giờ, không lần lữa. Ta linh cảm có một điều gì như một nỗi sợ hãi; ta mơ thấy sao chổi, và nghe vang lên không biết từ đâu những tiếng kêu hãi hùng, xé ruột; ta nghe nói ngôi sao chiếu mệnh của ta hiện nay không được tốt lành cho lắm. Ta nằm mơ thấy nó bị vỡ tan và bị ném vào lửa. Qua sự sinh thành của mình, ai cũng mắc phải món nợ về sự phù trợ của các vị hiền nhân bất tử, với chính tổ tiên mình và với các vị thần, cả ba món nợ đều cần phải được trút sạch trong khoảng thời gian họ sống. Ta không chút nghi ngờ gì nữa rằng cho đến nay ta đã giả xong các món nợ ấy rồi. Ta đã sống trọn vẹn cuộc đời ta. Ta đã trị vì như một ông vua với những quyền uy không đòi hỏi và đã được thần dân mến thương, tin cậy. Giờ ta không còn gì phải làm nữa. Ta đã già, và cơ thể ta đã sẵn sàng để tan rã…”

Nhà vua đã nói những điều này rồi và giờ đây lại tự mình nhắc lại một lần nữa. Rama hiểu rằng nhà vua đang bị lay động sâu sắc. Nhưng vì lòng tôn kính và vì lịch sự, nên chàng vẫn lắng nghe một lần nữa, như thể đó mới là lần đầu tiên. “Những ngôi sao của ta, sao Hỏa và sao Kim đều chiếu vào một ngôi nhà, các nhà chiêm tinh của ta bảo như vậy, thế tức là chết, hoặc gần như chết, hoặc một tai họa nào tương tự. Do vậy ta muốn nhấn mạnh cho con thấy rõ tính chất cấp bách của sự việc. Ngôi sao của ngày mai sẽ làPushya, và lễ đăng quang phải xong, không nghi ngờ, không lần lữa gì nữa. Đừng có bao giờ, dù chỉ trong chốc lát, nghĩ rằng sự việc có thể hoãn lại một lúc khác. Không có gì có thể gọi là cố định cả, vì không ai biết được trong đầu óc con người có sự thay đổi gì và xáo trộn ra làm sao trong đó… Và do đó cho nên vấn đề chính là chúng ta phải tiến hành buổi lễ ngay, không một phút do dự. Ta muốn rằng con phải hết sức thận trọng, giữ gìn đêm nay, cho đến khi buổi lễ đã hoàn tất. Không nên đi ra ngoài mà không có người hộ vệ và phải giữ thật đúng tất cả các lời nguyện, lời thề cho đến tiếng cuối cùng, hết sức khắt khe. Xita và con cần phải tắm nước Thánh và tránh chung giường với nhau, ngủ thật sẽ thức trên đệm cỏĐharba… Lễ sẽtiến hành ngay vào lúc bình minh. Con hãy sẵn sàng, xem thử áo của con đã sẵn chưa. Đêm nay con phải thật chay tịnh. Và Xita cũng phải thận trọng không được chậm trễ. Trong buổi lễ sự có mặt của người vợ và tham dự đúng lúc là vô cùng quan trọng”.

Rama lắng nghe và hứa sẽ làm đúng theo từng lời dặn dò của phụ vương. Cuối cùng Đaxaratha giải thích: “Tốt nhất là nên làm tất cả việc này trong khi Baratha còn ở nơi xa, chỗ ông ngoại. Nó ở xa, càng hay. Ta biết nó rất quý trọng con, nhưng đầu óc con người, ai mà biết được, bất thường lắm… Nó có thể hỏi tại sao không phải là nó làm vua… chẳng hạn. Nhưng khi nó được biết đó là một việc đã rồi, ta tin chắc rằng nó sẽ vô cùng sung sướng”.

Những ý nghĩ lệch lạc của cha làm cho Rama có phần kinh ngạc, nhưng nếu Người không nhận thấy, thì chàng cũng không để lộ.

Nỗi lo lắng ẩn trong tâm trí nhà vua đối với Baratha đã trở thành chuyện thật. Mặc dầu Baratha ở xa, nhưng tham vọng và đòi hỏi của chàng đều đã có mẹ chàng là Kicai-i lo thay một cách quả quyết đến nỗi nó đã mang tai họa đến, và làm đảo lộn tất cả mọi sự kiện trong cuộc đời Rama. Việc đã xảy ra như thế này: Kooni, một nữ tì gù và dị dạng (có biệt danh là “gù” vì cái dị dạng đó) rất được Kicai-i, vợ yêu của nhà vua, đặc biệt ưa thích. Vào cái ngày đặc biệt này, cô ta trèo lên sân thượng ngôi nhà của Kicai-i để nhìn ta thành phố, và để ý thấy cờ hoa rực rỡ, đèn đuốc sáng ngời và tự hỏi: “Hôm nay họ làm lễ gì đây? ”.

Khi cô ta xuống dưới, tìm hiểu và biết được nguyên do của buổi lễ, cô ta rất bực bội, mím chặt môi lại và lẩm bẩm: “Ta phải chặn nó lại”. Rồi cô ta vội vội vàng vàng chạy thẳng đến phòng hoàng hậu Kicai-i, lúc bấy giờ đang nghỉ, và gọi to lên: “Lúc này là lúc ngủ sao? Bà phải dậy ngay, sắp sụp đổ đến nơi rồi”. Kicai-i mở mắt ra, gào to: “Ngươi đấy à? Ngươi ở đâu đấy? Có việc gì thế hả? ”.

Kicai-i tò mò muốn biết việc gì, nhưng vẫn nằm nguyên trên giường, bà nói: “Hình như sức khỏe của ngươi có làm sao đó phải không? Có cần phải mời lương y đến chạy chữa cho ngươi không? ”. Bà cười to và bảo: “Nào, hãy bình tĩnh lại đi, đến ngồi gần ta và hát ta nghe một bài đi! ”.

Kooni nói, giọng đanh lại: “Bà có biết rằng sắc đẹp và tuổi trẻ là nguồn sức mạnh duy nhất của bà không? Và bà chiếm được địa vị là hoàng hậu của một kẻ chiến thắng toàn thế giới là nhờ ở sắc đẹp của bà không? ”.

“Ta ư? ” Kicai-i hỏi, vẫn còn có vẻ đùa nghịch.

“Nhưng sắc đẹp và tuổi trẻ cũng giống như một dòng suối hoang dại, khi ào ạt chảy xuống sườn núi, đè bẹp cả hoa và lá và tạo cho bà một thanh thế. Nhưng thử hỏi nó được bao lâu? Nó qua đi rất nhanh, và bà chỉ còn lại cái lòng cát mà thôi… Đó chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Khi bà đã có tuổi, khi má đã hóp, bà sẽ không là ai cả và sẽ bị mu bàn tay của chính người yêu bà đẩy sang một bên. Bà sẽ hoàn toàn bị lệ thuộc vào người khác”.

“Đem cái gương lại đây cho ta, để ta xem thử tại sao ngươi lại ăn nói như thế. Hôm nay ta đã già rồi chăng? ”. Rồi bà lại cười.

“Không phải già, mà tự mãn, và đang gặp phải nguy cơ. Số phận hẩm hiu đang chờ đợi bà đó”.

Đến lúc đó thì Kicai-i đã thấy khó chịu lắm rồi. “Này, nếu mi không thể ăn nói tử tế hơn nữa, thì hãy đi đi, rồi sau hãy trở lại. Hôm nay mi đang chọc tức ta đấy!”.

“Xin bà đừng có phí hoài sắc đẹp và tuổi trẻ của bà, là những thứ đang làm cho hoàngthượng phải chịu lệ thuộc. Trước khi chúng bị tàn phai, bà hãy xin chồng bà giúp đỡ và cứu lấy bà. Bà hãy đứng lên và hành động ngay đi, nếu không e sẽ muộn mất”. Kicai-i, lúc này ngồi dậy, lo lắng. Thấy những lời nói của mình đã có hiệu lực, Kooni vui vẻ thông báo: “Nhà vua không yêu bà nữa. Ngày mai đây Người phong Rama làm vua ở Ayođhya, còn Người thì sẽ rút lui”.

Kicai-I, ngồi dậy, kêu to: “Tuyệt diệu! Tuyệt diệu! Đây là phần thưởng về cái tin lành mà ngươi đưa lại”. Bà tháo chiếc vòng và ném lên trên đùi Kooni. Kooni nhận lấy và đặt sang một bên. Giờ đây, Kicai-i nói: “Với cái tin tốt lành đó, ngươi còn đáng được thưởng nhiều hơn nữa. Hãy nói ta biết ngươi muốn gì, và ngươi sẽ có được cái đó ngay! ”. Những lời đó làm cho Kooni phải kêu lên: “Tôi nói Rama sẽ làm vua ở Ayođhya, mà bà làm như tôi nói về hoàng tử Baratha không bằng…”

“Ta chẳng hề có sự phân biệt gì đối với mấy đứa con cả. Tất cả đối với ta chẳng có gì khác nhau cả. Rama là một đứa con sinh ra để làm vua, và với tư cách là người mẹ, ta rất sung sướng và tự hào…”

“Bà mà là mẹ của Rama ư? ”.

“Đúng, ngươi không hiểu rằng một trong tư thế của Rama là dựa trên năm người mẹ: một bà đã sinh ra chàng, một bà mẹ kế, một bà cô (chị của bố), một bà chị dâu, và phu nhân của sư phụ - tất cả đều xếp là mẹ như nhau. Ngươi có hiểu vì sao ta sung sướng vì Rama không? Ta quý nó lắm. Ta cũng là mẹ nó như chị Kausalya vậy. Thế đấy, ngươi đừng tưởng nhầm ta là một con điên và chẳng hiểu gì cả! ”. Nghe những lời này, Kooni lấy tay đập lên trán mạnh đến nỗi Kicai-i phải nói: “Mày tự gây ra thương tích đấy, sưng lên một cục bằng ngón tay cái của ta kìa! ”.

“Thà là tôi tự sát đi có lẽ sướng hơn, hoặc là đừng sinh tôi ra nữa còn hơn là sống mà nhìn sự lừa bịp, cứ diễn ra trên cõi đời này” - Kooni gào lên như vậy - “Nỗi đau buồn của tôi bây giờ là đau buồn cho bà, vì số phận khắt khe đang treo lơ lửng trên đầu bà. Lòng tôi thắt lại khi nhìn thấy tấm lòng trong trắng hồn nhiên của bà – nó làm tôi nhớ tới con chim câu bé bỏng đang bay lượn trước mõm con mèo rừng”.

Tất cả câu chuyện trên đây đủ để chuẩn bị cho đầu óc Kicai-i tiếp nhận những điều Kooni sắp nói: “Chồng bà là một người rất thủ đoạn, đủ sức làm những chuyện lừa đảo ghê gớm mà bà không sao có thể ngờ được, những mưu mô tất nhiên là rất thâm hiểm, bà không thể biết được, thâm hiểm đến mức ngay cả trong giấc mơ hoang dại nhất bà cũng không thể tìm thấy. Bà với ông ta rất chênh lệch nhau. Ông ấy đủ già để có thể làm ông thân sinh ra bà được, vậy mà lại đi xin cưới bà làm vợ. Và tất nhiên là phụ vương của bà đã từ chối. Nhưng chàng rể già vì quá say mê sắc đẹp và tuổi trẻ của bà, nên sẵn sàng chịu hứa làm bất cứ một điều gì. Ông ta đã thề với phụ vương bà rằng ông sẽ để cho đứa con bà đẻ ra được giữ ngôi vua. Chỉ có một người được nghe lời nói đó. Ngoài ra không có ai biết cả. Giờ đây, thời hạn đã đến, ông già ấy mới ngọt ngào khuyên Baratha: “Sao con không về ở với ông ngoại ít ngày. Đã lâu rồi người rất mong con và nhắc đến con luôn”. Thế là chàng và người anh em thiết cốt với chàng, Xatruna, cùng nhau lên đường. Đáng lẽ ông ta cũng đưa bà đi luôn – nhưng gay go là ông ta không thể sống một ngày mà không có sự âu yếm của bà ! Nhan sắc của bà hãy còn sức hấp dẫn. Bà phải nhờ nó giúp bà tự cứu nhanh lên, đừng để chậm… Phải làm cho Rama ngày mai không thể lên ngôi được”.

“Sao lại không? Hoàng thượng có lý của Người chứ, còn ta thì ta thấy chẳng có gì khác nhau giữa Rama và Baratha cả”.

“Bà không biết rằng chỉ một đêm thôi, con người ta có thể thay đổi như thế nào chăng? Ngày mai, vào giờ này, chàng là một Rama khác. Chàng sẽ chỉ nhằm một mục đích là làm sao có thể ngồi lâu và vững vàng trong chiếc ngai của mình và muốn được thế, cần phải nhổ đi những vật chướng ngại. Vật chướng ngại chính là Baratha, người có thể bất cứ lúc nào đòi khiếu nại và sẽ được dư luận chung ủng hộ. Rama có thể trục xuất Baratha, có thể dìm chàng xuống hoặc có thể hạ sát chàng nữa. Bà cũng sẽ không còn là hoàng hậu nữa mà chỉ là một cựu hoàng hậu của một ông vua đã về vườn, và chắc chắn địa vị của bà lúc đó sẽ rút lại là một cung nữ của bà hoàng thái hậu Kauxalya”.

“Không bao giờ! Bà ấy sẽ không bao giờ dám làm thế! ” Kicai-i đột ngột gào lên “Cứ thử xem nào! ”.

“Vào giờ này ngày mai sự việc sẽ xảy đến, sớm hoặc muộn thôi”. Thế là Kooni đưa Kicai-i vào tình trạng hoảng hốt, rồi mới bày cho cách chữa chạy: “Bà có nhớ rằng có một lúc nào đó bà đã cứu hoàng đế Đaxaratha không, và Người đã có đưa ra hai lời hứa cũ, hẹn rồi sẽ thực hiện? Giờ hẳn để riêng ra lời hứa đối với phụ vương bà; nó chẳng có liên quan gì với bà. Nhưng hãy đòi hai lời hứa với bà. Thứ nhất, hãy đòi trục xuất Rama vào ở trong rừng mười bốn năm, và thứ hai là phong Baratha làm vua ngay lập tức, thay cho Rama! ”.

“Những điều kiện không thể chấp nhận được, có lẽ ngươi say rồi chăng! ”

“Không, hoàn toàn thiết thực và tỉnh táo, có điều là nhìn việc đó theo cách này…”

Việc này xảy đến khi Đaxaratha, theo thói quen, đi tìm trò chuyện với Kicai-i, nhưng không tìm thấy bà trong phòng riêng, cũng không thấy ngoài vườn. Một cung nữ báo rằng: “Hoàng hậu đang ở trong cấm cung”.

“Sao, sao lại ở đó? ”. Nhà vua mệt nhọc suốt ngày. Người phải bao nhiêu lần gặp gỡ, tiếp xúc, từ vị cố vấn tối cao Vaxixta, rồi đến cận thần Xumantra, đi vào đến tận những chi tiết về việc xếp đặt cho buổi lễ ngày mai. “Ta muốn ngày mai ta sẽ là khách của toàn bộ kinh thành”, nhà vua nói, “và đừng để ai cảm thấy thiếu thốn một thứ gì cả”. Và Người cứ dặn đi dặn lại rằng mỗi nhà, mỗi đường phố phải được trang hoàng, soi sáng như thế nào, các nhạc sĩ, các vũ nữ, các diễn viên đến mua vui sẽ phải sẵn sàng ở sân chầu ra làm sao từ trước lúc bình minh và những đoàn voi, ngựa và xe của triều đình sẽ di chuyển theo trong đoàn của ông vua mới như thế nào, phải đặt tên những con đường đoàn sẽ đi qua. “Dân chúng rất thích được nhìn thấy Rama trên chiếc ngai vàng, và mong được theo dõi chàng ở trong đoàn. Tất cả mọi người, đàn ông, đàn bà, trẻ con đều sẽ có được cái diễm phúc nhìn thấy chàng. Phải nhắc những người đưa đoàn đi chầm chậm nhưng đừng quá chậm làm Rama mệt...”. Người tính đến những chi tiết của buổi lễ. Đầu óc căng thẳng, nên chiều đến, Người đi tìm Kicai-i để trò chuyện cho tâm hồn được thư thái.

Nhà vua chẳng hứng thú gì khi nghĩ đến chuyện gặp Kicai-i ở trong cấm cung (là một phòng, một gian trong cung nơi người ta rát về để xua tan một cơn giận, hay một nỗi bực bội); và khi Người đặt chân vào thì thấy hoàng hậu đang nằm sóng sượt trên sàn, tóc xổ tung, hoa bà vẫn đeo rách nát cả, đồ châu báu ném bừa bãi khắp nơi, áo quần lôi thôi, lếch thếch và không biết có Người đến nữa. Nhà vua cúi xuống hỏi khẽ: “Nàng không được khỏe ư? ”. Bà không trả lời câu hỏi của Người, cho đến khi nhà vua hỏi lại một lần nữa, mới yếu ớt trả lời: “Ôi, không làm sao cả, rất khỏe. Loại bệnh của thần không phải là bệnh về thể chất”.

“Thật đáng buồn! Ta đến hơi chậm. Ta đợi vì ta muốn tự ta đưa tin đến cho nàng. Ta biết nó tất nhiên sẽ làm cho nàng sung sướng, và ta muốn dược chính mình chứng kiến niềm vui của nàng”.

Kicai-i cúi xuống thầm thì: “Vâng, thần biết rồi, thần không ngu xuẩn, hay điếc hay mù đến nỗi không biết rằng việc gì đang xảy ra”.

Trong bóng tối thế này và trong cái cách bà cúi mặt xuống, nhà vua không sao có thể đoán được bà nói trong một tâm trạng như thế nào. Vì khó mà cúi xuống thấp đến thế, nên Người yêu cầu: “Sao nàng không đứng lên và ngồi trên giường này, như thế ta sẽ có thể đường hoàng ngồi bên nàng, và nghe nàng nói? ”.

“Người có thể tìm tất cả những tiện nghi mà Người thích. Còn thần, thần chả cần gì hết. Số phận của thần từ nay về sau chỉ là bụi, rác mà thôi”.

“Cái gì đã khiến cho nàng ăn nói như vậy? Hãy đứng lên và hãy chia sẻ hạnh phúc với toàn đất nước. Nào, chúng ta hãy bước lên xe và hãy nhìn cho thấy niềm vui đang trùm lên khắp nhân dân”.

“Tôi muốn chết. Chỉ có thế thôi. Nếu bây giờ hoàng thượng có thể gửi đến cho tôi một chén thuốc độc, tôi sẽ chào đón nó tốt hơn”. Thật là quá bất tiện cho nhà vua khi phải cúi sát hoặc ngồi xuống sàn để trấn tĩnh hoàng hậu. Các khớp chân đau nhức và kêu lên răng rắc. Nhưng bà nhất định không nhúc nhích chút nào. Lúc này cũng không tiện gọi một thị vệ và Người đã đẩy một chiếc ghế đẩu đến bên bà rồi ngồi xuống đó. Sau rất nhiều âu yếm, dỗ dành, bà mới chịu tuyên bố: “Xin hoàng thượng hãy thề, với tất cả những gì là linh thiêng nhất, rằng sẽ thỏa mãn tất cả những điều gì thần sẽ xin, bằng không thì hãy để cho thần được chết yên ổn? ”.

“Chua bao giờ ta nói không với nàng. Nàng sẽ có tất cả thứ gì nàng muốn”.

“Người có thể viện Rama ra mà thề không? ”.

Nhà vua cảm thấy bối rối khi phải viện đến tên Rama nên tránh không trả lời trực tiếp. Người nói rõ ràng: “Nàng hãy nói ta nghe nàng muốn gì”.

“Đã lâu lắm rồi, Người có hứa và ban cho thiếp hai ân huệ. Có thể Người đã quên rồi, nhưng thiếp thì không. Bây giờ thiếp có thể nhắc lại được không? ”. Lúc này, nàng mới ngồi lên và gần gũi với nàng đã dễ dàng hơn. Nhà vua cố nhích lại gần và chạm vào người nàng, nhưng nàng đẩy tay ra và nói: “Khi trên bãi chiến trường, Người đến tìm cứu thần Indra và đã bị hôn mê, Người có nhớ ai đã cứu Người sống lại không? ”.

“Có chứ! ”, nhà vua nói, “Làm sao ta có thể quên được? Ta còn được sống nhìn thấy ngày này là vì ta được sống lại, nếu không thì buổi chiều hôm đó bất cứ bánh xe nào cũng có thể lăn qua mình ta”.

“Trí nhớ của Người thật là tuyệt diệu. Thiếp rất mừng rằng Người hãy còn nhớ lâu đến thế. Và Người còn nhớ ai suýt nữa hiến cả cuộc đời của mình để chăm lo cho Người sống lại chăng? ”.

“Có chứ! ”.

“Và Người đã hứa gì lại với nàng? ”.

Nhà vua im lặng hồi lâu, rồi nói: “Ta vẫn không quên”.

“Xin hãy để cho thiếp nhắc lại một vài chi tiết nhỏ mà có thể Người không còn nhớ nữa. Xin hãy để cho thiếp được giúp Người. Người có nói: “Nàng hãy đưa ra hai đặc ân mà nàng muốn chọn, và rồi nàng sẽ có ngay”. Và thế rồi nàng đã nói gì? ”. Khi nhà vua sắp sửa trả lời thì nàng tiếp: “Thiếp đã nói thiếp muốn đợi sau này sẽ nhận luôn, và Người đã hẹn: “Bất cứ lúc nào nàng muốn – dù là hàng trăm năm nữa cũng vậy – nàng sẽ có bất cứ điều gì nàng yêu cầu”.

Nhà vua đã cảm thấy càng thêm khó chịu, và chỉ nói giản đơn: “Ta nghĩ đã tới lúc nàng đưa ra yêu cầu rồi”. Giọng Người nói chẳng có gì là tha thiết lắm. Người dự cảm có điều gì không hay.

“Thiếp có nên nói hay không? ”.

“Nàng hãy đứng dậy mặc quần áo ngày lễ và đeo đồ nữ trang vào, như thế nàng sẽ chói ngời như ngôi sao rạng rỡ mà chính nàng là hiện thân. Nào, chúng ta đi thôi”.

“Vâng, nhưng phải đúng lúc, sau khi Người đã thực hiện lời hứa với thiếp”. Nhà vua hoàn toàn thất đảm khi nghe nàng nhắc đến những chuyện đó. Những tiếng như “lời hứa”, “lời thề”, “thực hiện”, “đặc ân” vv… đã lay động mạnh toàn bộ hệ thống thần kinh của Người. Nàng ngước nhìn lên nhà vua, nước mắt lưng tròng. Người không dám nhìn nàng; Người biết rằng Người sẽ bị sắc đẹp của nàng nhận xuống, và khi nàng nói: “Thôi, bây giờ xin để mặc tôi. Xin ngài hãy trở về với nàng Kausalya của ngài và vui chơi, lễ lạc. Còn xin để mặc tôi với tôi”. Nàng không cần phải nói đến “chén thuốc độc” nữa. Người biết nàng muốn nói gì, và cái viễn cảnh đó làm cho Người thêm bực tức; Người nói giọng say sưa: “Nàng biết ta yêu nàng như thế nào rồi. Thôi hãy ra khỏi cái phòng này, và ra khỏi cái tâm trạng này đi”.

“Hoàng thượng đã hứa sẽ ban cho thiếp hai đặc ân và hoàng thượng đã viện Rama ra mà thề với thiếp, đã viện đến Rama yêu quý của Người. Và giờ đây thiếp xin tâu rõ ý nghĩ của thiếp. Nếu hoàng thượng bác bỏ lời yêu cầu của thiếp, thì Người là kẻ đầu tiên trong dòng họ Ikshvahu, những con cháu kiêu căng của chính thần Mặt trời, đã từ bỏ một lời hứa để tìm kiếm sự tiện lợi, yên ổn! ”. Rồi nàng lấy hơi nói: “Xin hãy đuổi Rama vào trong rừng ở mười bốn năm, và hãy làm lễ đăng quang cho Baratha với tất cả những nghi thức mà Người đã xếp đặt sẵn rồi”.

Nhà vua choáng váng, chưa hiểu ngay tất cả ý nghĩa và tầm quan trọng của điều đó. Người đứng lên hỏi: “Nàng điên à? Hay nàng định trêu chọc ta hoặc đùa ta chăng? ”. Người bước ra ngoài đi tìm chỗ nằm. Người cảm thấy như sắp ngã xuống, mù mịt và đòi đưa đến một chỗ nghỉ. Người trăn trở trên giường và nhắm nghiền mắt lại. Những Kicai-i vẫn tiếp tục: “Hoàng thượng hãy cho người mang lệnh đến đòi Baratha về ngay. Nó ở khá xa đấy. Phải cho nó có đủ thì giờ trở về. Và ra lệnh cho Rama sửa soạn đi xa”.

Nhà vua mắt vẫn nhắm, thều thào: “Ngươi là một con quỷ”.

“Thôi, xin hoàng thượng đừng quở tôi. Tôi cũng không lạ gì khi biết ngài thích Kauxalya hơn tôi. Xin ngài cứ tiếp tục đi, hãy quay lại với bà ta và hưởng thụ hạnh phúc vớinhau. Tôi không bao giờ yêu cầu ngài đến đây để chửi rủa tôi. Tôi rút lui vào tận chỗ này chính là vì để tránh không phải gặp hoàng thượng đấy”.

Cả đêm cứ tiếp tục theo kiểu như vậy. Đaxaratha đã đi tới một cố gắng cuối cùng: “Thôi được, Baratha sẽ làm vua, như nàng muốn. Những hãy để Rama ở lại đây. Nàng biết nó rồi, nó không bao giờ làm hại ai cả. Bằng mọi cách, Baratha sẽ làm vua – nó là một người tốt. Nhưng, ta chạm chân nàng – ta không nghĩ đến chuyện phải quỳ xuống trước mặt nàng – xin nàng hãy để cho Rama ở lại đây, trong ngôi nhà riêng của nó, và không đi đâu xa. Làm sao nó có thể đi được trên những con đường rừng gai góc và tiếp tục sống giữa trời, không cửa không nhà…? ”.

“Được chứ, hắn không phải là đứa con cưng theo kiểu Người muốn tạo nên. Mười bốn năm ở trong rừng, mặc vỏ cây, ăn rễ, ăn lá…”.

“A, ngươi muốn giết nó hay sao? ” Nhà vua quát lên.

Kicai-i bình tĩnh nói: “Đừng có gây chuyện lôi thôi. Ngài có giữ lời hứa hay không? Chỉ có thế thôi”.

Cả đêm dài trôi qua, lặng im như chết. Kicai-i vẫn nằm nguyên chỗ cũ trên sàn, nhà vua vẫn trên giường như cũ. Không có ai xen vào chỗ họ cả. Đã thành một cái lệ, không ai đến quấy rầy khi nhà vua đến với một trong các hoàng hậu. Ngay đến bọn thị nữ cũng phải ra ngoài. Tất nhiên, rồi sớm muộn nhà vua cũng sẽ đi tìm họ. Có nhiều việc cần phải hỏi đến họ. Viên cận thần hoảng hốt: “Hoàng thượng đâu rồi? Hoàng thượng đâu rồi? ” là câu ông ta hỏi luôn mồm.

Sân chầu đã đông nghịt những khách quý và công chúng đến chật ních chờ xem lễ đăng quang. Rama chỉ mặc chiếc áo lụa bình thường sau khi đã tắm rửa nhiều lần theo thủ tục và nhận phép tẩy trần của vị đại đức hòa thượng, đang sẵn sàng chờ mặc áo lễ. Trước lúc bình minh một tý, ngọn lửa thiêng được đốt lên, và các phẩm vật đã được đặt vào đó để làm vui lòng các vị thần trên trời. Đoàn tu sĩ cũng sẵn sàng chờ đợi để đồng thanh hát lên bài thánh ca. Tiếng nhạc trỗi lên từ nhiều nơi, đầy ắp không gian. Tiếng ồn trong đám đông vẫn tiếp tục. Nhưng phía trong, vị cận thần và những kẻ trực tiếp thừa hành đang tụ họp, bàn bạc với nhau. “Bây giờ, đáng lẽ nhà vua phải đến. Người phải mở đầu buổi lễ, phải tiếp đón các vị quốc vương đang sắp đến…” Đại thần Xumantra không thể tìm ra lý do của sự chậm trễ này. Tất cả mọi việc đều đã được xếp đặt theo sát thời kế đến từng chi tiết cho thật phù hợp với bước đi thuận lợi của các vì sao. Và chỉ cần một điểm nào đó chệch ra ngoài là cả buổi lễ sẽ bị sụp đổ. Xumantra rời sân chầu đi tìm nhà vua. Ông hơi do dự một chút trước cấm cung, nhưng rồi ông vén màn, mở cửa, bước vào. Cảnh tượng trước mắt tất nhiên làm cho ông hoảng hốt và hỏi: “Thánh thượng đang ốm chăng? ”. “Ông hãy hỏi chính Người đây” Kicai-i trả lời.

“Và người nữa, người cũng ốm chăng? Ăn uống có gì làm cho các người khó chịu chăng? ” Vị đại thần lo lắng hỏi. Bà hoàng hậu không trả lời. Vị đại thần nhẹ nhàng tiến đến chỗ vua nằm và thầm thì: “Họ đang đợi thánh thượng đấy. Người đã sẵn sàng để đến đó chưa? ”. Nhà vua khẽ cựa mình, và nói: “Bảo họ về cả đi. Mọi việc thế đã xong. Ta đang bị quỷ ám đây”. Lúc này Kicai-i nói xen vào để giải thích: “Nhà vua đang mệt và trở nên khó hiểu. Ông hãy cho gọi Rama đến đây”.

Rama đến, tưởng rằng bà mẹ kế sẽ chúc mừng mình trước khi buổi lễ bắt đầu. Vùa mới thấy chàng, Đaxaratha kêu to lên “Rama” rồi lịm đi không nói được lời nào. Dáng mạo và cung cách của nhà vua làm cho Rama lo ngại: “Con có làm điều gì không vừa lòng phụ vương chăng? Con có điều gì thiếu sót chăng? ”.

Kicai-i nói: “Ta sẽ nói về cung cách của nhà vua; Người thấy khó nói. Hôm nay lễ đăng quang của cậu sẽ không tiến hành”. Rồi bà lý giải bằng những lời lẽ lúng túng, khó hiểu những điều bà nghĩ về chàng. Bà kể lại lời thề đầu tiên và những trường hợp dẫn tới đó. “Nhiệm vụ cảu cậu là phải giúp phụ vương cậu giữ trọn lời thề. Nếu không, Người sẽ phải tự kết án mình trong cõi đời này và trong nhiều cõi đời khác nữa. Là con của Người, cậu có bổn phận đối với Người”.

Rama nhận lấy chuyện bất ngờ, và giấu sự xúc động, chàng nói: “Con sẽ tuân theo ý muốn của Người, không cần phải hỏi lại. Xin mẫu hậu hãy tin rằng con không bao giờ tránh né đâu, con không ham gì cái ngôi vua, và cũng không bám chặt lấy những chức vị ấy đâu, mà cũng không chán ghét gì cuộc sống ở trong rừng”.

“Mười bốn năm”. Bà nhắc lại.

“Vâng, mười bốn năm. Con chỉ tiếc một điều là con không được nghe chính phụ vương nói với con điều đó. Con sẽ được vinh dự hơn nếu con được Người trực tiếp truyền lệnh cho con”.

“Không sao đâu, cậu vẫn có thể làm cho Người vui lòng vì hành động của cậu. Giờ cậu hãy đi ngay, rồi Người sẽ cảm thấy sung sướng, vì cậu đã hành động mà không làm cho Người phải bối rối chút nào”.

“Con nhờ mẫu hậu nói với Người rằng mệnh lệnh của Người không làm cho con đau đớn một chút nào cả. Lời của mẫu hậu con coi như lời của Người”. Chàng thấy rõ nỗi sầu muộn của cha chàng và xích lại gần Người.

Kicai-i nói: “Ta sẽ lo lắng cho Người. Cậu đừng có làm mất thì giờ. Phải đi ngay, không chậm trễ. Đó là ý của Người”.

“Vâng, vâng, con sẽ đi. Con sẽ cho người mang thông điệp đi gọi Baratha ngay lập tức”.

“Không, không”, Kicai-i nói, “Đừng quan tâm đến Baratha. Ta sẽ thu xếp mọi việc. Việc đầu tiên là cậu phải gấp rút đi ngay”. Mụ biết rõ Baratha rất yêu quý Rama và biết chắc Baratha sẽ phản ứng như thế nào, nên muốn Rama lên đường trước khi Baratha có thể trở về. “Con sẽ đến từ giã mẹ Kauxalya của con, và đi ngay lập tức”. Rama nói. Chàng đưa mắt nhìn người cha nín lặng rồi bước ra.

Khi Rama ra khỏi cung, cả đám đông đang đợi sẵn để theo chàng đến sân chầu. Nhìn lên mặt chàng,, họ thấy không có gì khác cả. Nhưng đáng lẽ bước lên chiếc xe đang đợi chàng, thì chàng lại đi bộ theo hướng về cung của mẹ chàng. Họ đi theo chàng.

Rama bước lên chỗ mẹ chàng, hoàng thái hậu Kauxalya. Bà đã yếu đi vì những ngày chay tịnh khắt khe nhân ngày hạnh phúc của con bà. Bà hy vọng chàng sẽ đến trong bộ lễ phục sang trọng, nhưng thấy chàng vẫn mặc bộ lụa bình thường, và hỏi: “Sao con không ăn mặc tử tế để dự lễ đăng quang? ”.

“Cha con đã quyết định nhường ngôi cho Baratha”. Rama trả lời đơn giản.

“Ồ không! Tại sao thế? ”.

Rama thưa: “Vì muốn điều tốt cho con, phụ vương đã có một cái lệnh khác, mục đích muốn cho con được sung sướng và tiến bộ về mặt tinh thần”.

“Lệnh gì? Đó là lệnh gì? ”.

“Người muốn rằng con đi vào sống trong rừng, chỉ trong mười bốn năm thôi, làm bạn với thánh thần và từ đó rút ra những điều lợi ích cho con”.

Kauxalya sụp xuống, nức nở và cảm thấy đến tận đáy lòng rằng mình đang sụp đổ; bà thở dài, định nói một điều gì nhưng lại nghẹn ngào, không nói được. Rồi bà nói, giọng chua cay: “Một người cha gửi đến cho con mình một mệnh lệnh lớn đến thế ư? ”. Và hỏi: “Bao giờ thì con phải đi? Con đã có điều gì xúc phạm? ”.

Rama đưa tay đỡ mẹ lên, và thưa: “Cha con vốn nổi tiếng về những lời nói cương nghị. Chẳng lẽ mẹ muốn Người nói sai sao?... Con ba lần có diễm phúc, là em con được làm vua, được tuân theo lệnh của phụ vương và được sống trong rừng. Xin mẹ chớ có đau buồn”.

“Mẹ không thể bảo con “Đừng vâng lời của bố”, nhưng hãy cho mẹ đi với con. Mẹ không thể sống mà không có con”.

“Chỗ của mẹ là ở bên cạnh chồng. Mẹ có nhiệm vụ chăm lo và săn sóc Người. Mẹ phải trông nom cho Người khỏi phải chìm trong sầu muộn vì con phải lưu vong. Hiện nay mẹ chưa thể rời cha được đâu. Và sau này, cũng vậy, cha con có thể sẽ tiến hành những nghi thức về tôn giáo để tìm sự yên tĩnh cho Người, mẹ cũng vẫn cần ở bên cạnh Người. Sau khi sống trong rừng rồi, con sẽ trở về - nói cho cùng thì mười bốn năm rồi sẽ qua nhanh như dăm bảy ngày thôi. Nếu mẹ còn nhớ, thì thời gian ở rừng trước kia của con cùng sư phụ Vivamitra đã đem lại cho con không biết bao nhiêu là lợi ích; giờ lại cũng có thể là một dịp tương tự như thế. Xin mẹ chớ có buồn phiền”.

Kauxalya biết không thể ngăn Rama được. Bà nghĩ: “Ít ra ta cũng phải xin nhà vua giúp ta làm cho nó thay đổi ý kiến…”. Mặc dầu vậy, khi đến phòng nhà vua và nhìn thấy tình trạng của Người, bà biết ngay không có chút hy vọng nào. Thấy nhà vua đang nằm lặng im, bất tỉnh, bà hiểu ngay Người chắc đang ở trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan rất đỗi gay go. Không thể nào chịu được cái cảnh chồng mình nằm bất động, hôn mê, bà kêu thét lên một tiếng. Tiếng thét của bà to đến nỗi tất cả quan khách trong sân chầu đều giật mình, và yêu cầu đạo sĩ Vaxixta đi ngay để tìm xem nguyên do là ở đâu. Không khí đang đầy đẫy tiếng các loại nhạc khí, tiếng hát, tiếng cầu kinh, tiếng cười và tiếng trò chuyện; nhưng tiếng kêu thét xé lòng đột ngột vang lên đã phá tan không khí vui vẻ. Vaxixta vội vã chạy đi. Đạo sĩ thấy nhà vua trong tình trạng gần như chết, Kicai-i ngồi xa ra một tý và bình thản nhìn khung cảnh, còn Kauxalya thì trong tình trạng hoàn toàn thất vọng, rã rời. Ông cố gắng nhanh chóng đánh giá tình thế. Có lẽ không nên hỏi Kauxalya. Ông quay lại phía Kicai-i, trông có vẻ bình tĩnh vững vàng hơn: “Thưa bà, có việc gì đã xảy đến vậy? ”.

“Không có việc gì phải quan tâm đến những chuyện lằng nhằng này”, Kicai-i nói, “Một tình hình như thế này, không ai được biết cả, nó hoàn toàn là chuyện riêng trong nhà. Ông đừng có tìm hiểu làm gì. Hãy quay về chỗ hội họp và bảo họ hãy bình tĩnh. Có một ít thay đổi trong việc sắp xếp, chỉ có thế thôi. Họ sẽ được thông báo sau”.

“Tôi muốn được biết tất cả”. Vaxixta nói, giọng kênh kiệu. Mụ ta vội vàng trả lời: “Tất nhiên, ông là người thầy tinh thần, là quân sư của chúng tôi, ông có quyền đòi phải trình bày”. Trong khi mụ nói, thì Vaxixta nhìn thấy Kauxalya đang đau đớn quằn quại, còn nhà vua thì vẫn ủ rũ. Đaxaratha chắc chắn là biết rõ hết mọi việc diễn ra trong phòng, mặc dầu không thể tham dự vào câu chuyện. Để cho trong đám người này không ai có thể nói được điều gì ngang trái đối với mình, Kicai-i nói: “Thưa ngài, trí tuệ của ngài đã nâng đỡ chúng tôi. Ngài sẽ nhận ra rằng không có điều gì xấu xa xảy ra đâu. Trước khi tôi nói hết, Rama đã hiểu và đã tán đồng. Chính những kẻ khác mới gây ra cái tình trạng điên đảo này. Rama đã nhường quyền thừa kế ngôi vua lại cho Baratha và sẽ đi vào sống trong rừng mười bốn năm. Đó là việc có liên quan trước tiên đến chàng, nhưng chàng đã chấp nhận rất vui vẻ, không một lời nói lại, còn những người này thì lại nghĩ…”. Rồi mụ đưa tay chỉ những người đối lập kia.

Vaxixta đã hiểu rõ, nhưng ông vẫn hỏi: “Thế thì nguyên nhân của sự thay đổi là gì? ”.

Kicai-i lúc này không còn giữ được thái độ mềm mỏng nữa, đã nói: “Nếu chồng tôi nói, thì người có thể, còn không thì xin ngài hãy đợi. Giờ hãy báo ngay cho mọi người biết là chương trình có thay đổi một chút”.

“Việc đó chúng tôi sẽ xét sau”, Vaxixta nói, “Trước tiên chúng tôi phải cứu cho nhà vua sống lại đã”. Rồi ông cúi xuống chỗ nhà vua đang nằm, nhẹ nhàng đỡ đầu Người lên và giúp Người ngồi dậy. “Ôi, Thánh thượng, chúng tôi cần đến Người. Người là chúa, là thuyền trưởng của chúng tôi. Nếu Người cứ sụp xuống như thế này, thì chúng tôi sẽ biết sống như thế nào? ”.

Nhà vua vẫn lúng búng: “Kicai-i, Kicai-i…”

Vaxixta nói: “Hoàng hậu Kicai-i là người rất biết điều. Hoàng hậu sẽ không làm điều gì trái ý Người đâu. Thần tin chắc rằng hoàng hậu sẽ rất sẵn sàng giúp đỡ, tận tình. Đây không phải là lúc bàn bạc về những điều này với hoàng thượng, việc cấp bách hiện nay là sức khỏe của Người”. Kicai-i bình thản lắng nghe những lời nói đầy hy vọng của Vaxixta.

Nhà vua như bắt được một tia hy vọng, hỏi lại: “Nàng đã bình tĩnh lại chưa. Nếu được thế, thì Rama sẽ làm vua; còn về lời hứa của ta, nàng có thể yêu cầu bất cứ một điều gì khác mà nàng muốn…”.

Thấy nhà vua đã đỡ hơn, Vaxixta rất mừng, quay lại phía Kicai-i và kêu gọi với giọng hết sức nhún nhường mà ông ta có thể có được: “Tất cả mọi việc đều trong tay hoàng hậu… Xin bà hãy tự coi mình là người làm ơn cho cả nhân loại. Cả cõi trần này sẽ đội ơn bà về sự giúp đỡ đó. Xin bà hãy suy nghĩ lại”.

Kicai-i trở nên kích động và nói, giọng the thé: “Nếu người ta không thể trông cậy vào lời hứa của một vị minh quân, thì cuộc đời thật không còn đáng sống nữa. Thực ra thì tôi cũng chẳng có làm điều gì khác hơn là yêu cầu Người giữ trọn lời hứa mà Người đã tự ý đưa ra, thế mà ông lại ăn nói như là tôi đã phạm một tội ác vậy”.

Vaxixta đáp lại: “Bà không hình dung được hậu quả tai hại của hành động của bà, và không chịu lắng nghe và tìm hiểu những lờ trình bày của chúng tôi. Sự quyết đoán của bà là vô nhân đạo”. Khi mụ tỏ ra không nao núng, Vaxixta liền nói thêm: “Chính mồm hoàng thượng không bao giờ nói đến chữ lưu vong; bà đã đưa việc đó ra như là chính mệnh lệnh của nhà vua, vì bà biết Rama không bao giờ chất vấn về sự thật của nó. Bà đã lạm dụng cương vị của bà, một hoàng hậu được nhà vua yêu chuộng”.

Mặc dầu đạo sĩ đưa ra nhiều lập luận để thuyết phục, Kicai-i vẫn không hề lay chuyển, và trắng trợn: “Ồ, quân sư mà cũng ăn nói như đám người dốt nát, ích kỷ này, cứ gán tội cho tôi mà không hiểu gì hết”.

Cuối cùng, nhà vua quát lên: “A, cái đồ quỷ dữ, ngươi đã ra lệnh cho nó phải lưu vong. Nó đã đi chưa? Tưởng rằng đi tìm một người bạn, hóa ra ta đi tìm cái chết cho ta. Những chiếc môi đỏ như dâu này, ta tưởng rằng chúng sẽ nâng đỡ ta, nhưng chúng chỉ là một nguồn thuốc độc giết người để giờ đây nó kết liễu cuộc đời ta. Có đạo sĩ đây làm chứng cho ta. Ngươi không còn là vợ ta nữa, và con trai ngươi sẽ không được phép hỏa táng ta khi ta chết”.

Kauxalya là người xúc động nhiều nhất khi nhìn thấy tình trạng khốn khổ của chồng và cố gắng an ủi Người theo cách của mình. Giấu kín nỗi đau khổ về việc Rama phải sống lưu vong, bà nói rõ ràng với chồng: “Nếu hoàng thượng không giữ nguyên vẹn và giá trị thực của những lời người đã nói, và giờ đây gọi Rama trở lại, thì dân chúng sẽ không ai chấp nhận đâu. Xin hoàng thượng hãy bình tĩnh, và hãy bớt đi lòng trìu mến đối với Rama”.

Những lời khuyên này không làm cho nhà vua yên lòng: “Dòng nước thiêng liêng của sông Hằng đã rửa tội cho ta suốt cả thời kỳ chấp chính giờ sẽ dùng làm thứ nước cuối cùng của ta; ngọn lửa thiêng liêng bùng lên sẽ dùng để soi vào trụ tang của ta. Rama ơi, Rama, con đừng đi. Cha sẽ rút lại lời cha đã nói với Kicai-i… Nhìn thấy con đi, cha làm sao mà chịu nổi. Cha sẽ không sống nổi khi con đã ra đi. Nếu sau khi con đi mà cha vẫn sống, thì cha có khác gì cái con quỷ dữ Kicai-i này, đội lốt vợ ta? ”. Đaxaratha cứ thở than, rên rỉ mãi như vậy, và nhiều cách khác nữa.

Vaxixta nói: “Xin hoàng thượng bớt âu sầu… Thần sẽ đến gặp hoàng tử xem chàng có quyết tâm ở lại không”. Đaxaratha đã trở nên yếu đuối đến nỗi Người bám chặt lấy chút hy vọng này khi thấy đạo sĩ ra đi. Kauxalya nói để khích lệ nhà vua: “Có thể gần như chắc chắn là Vaxixta sẽ trở về cùng với Rama”. Rồi bà nhẹ nhàng đỡ Người dậy vuốt ve và xoa lên đầu, lên vai Người. Nhà vua vẫn cứ nhắc đi nhắc lại: “Rama có đến không? Bao giờ đến? Ghê gớm thay cái mụ Kicai-i mà ta đã yêu nhiều đến thế; nó có thể âm mưu giết ta để tìm cách đặt Baratha lên ngôi Hoàng đế! ”. Im lặng một lúc, rồi tất cả những lời than thở, những nỗi hãi hùng lo sợ đó lại quay trở lại một lần nữa và tăng lên gấp bội.

“Hỡi Kauxalya, người vợ yêu quý nhất của ta, hãy lắng nghe đây. Rama sẽ không thay đổi mục tiêu của nó đâu, mà dứt khoát nó sẽ đi, và cuộc đời của ta thế là chấm dứt. Nàng có hiểu vì sao không? Đó là một câu chuyện cũ. Có một lần, khi đi săn trong rừng, ta nghe tiếng nước lọc ọc – tiếng một con voi đang uống nước. Ta bắn một mũi tên về hướng đó, và lập tức nghe có tiếng người kêu lên trong cơn hấp hối. Ta chạy đến ngay và nhận thấy rằng ta đã bắn trúng một cậu bé. Cậu ta đang lấy nước cho đầy bình, và nước chảy vào trong bình đã gây ra tiếng động ấy. Cậu bé sắp chết đến nơi đã nói với ta rằng bố mẹ cậu, cả hai đều mù, ở cách đó không xa. Cậu săn sóc bố mẹ, cõng bố mẹ trên lưng. Khi được biết tấm thảm kịch này, cả hai đều chết, sau khi đã nguyền rủa kẻ giết con họ phải chịu cùng một số phận như thế, và đó đã đúng là phận số của ta…”.

Khi được biết tin Rama phải lưu đày, những vị quốc vương và các quan khách tập hợp trong sân chầu đã lăn ra, khóc nức nở; các vị trưởng thủ các tôn giáo và các nhà khổ hạnh cũng vậy. Đàn ông, đàn bà khóc rất to, những con vẹt ở trong lồng, những con mèo trong nhà dân cũng khóc, rồi con trẻ trong nôi, rồi bò mẹ, bò con. Hoa vừa mới nở đã vội tàn ngay. Những con chim nước, những con voi, những người đánh xe – tất cả cũng đều lăn ra than khóc như chính Đaxaratha vậy, vì không chịu được nỗi đau thương đột ngột phải xa cách Rama. Chỉ một chốc trước đây thôi là buổi lễ vui của cả cõi trần này, giờ đãthành một ngày tang tóc. Đám đông tập hợp nơi này, nơi nọ, đứng thành từng nhóm ở các góc đường hoặc chực ở cổng cung theo dõi và bình luận: “Mụ Kicai-i, cái con đĩ môi son; ta không bao giờ ngờ rằng hoàng thượng lại có thể say mê đến lú lẫn như thế… Ta vẫn tưởng mụ đàn bà môi son kia là hoàng hậu của chúng ta, nhưng nó đã bày rõ chân tướng của nó ra rồi – dùng thịt của nó để cám dỗ một ông già, đưa ông ta đến chỗ suy sụp của bản thân, và từ đó đến chỗ suy sụp của cả đất nước. Hãy để cho mụ ta thử cai trị đất nước này, cùng với con trai của mụ - sẽ không có một ai để mà cai trị nữa, chúng ta hoặc sẽ tự sát cả hoặc sẽ cùng đi với Rama. Ôi, cái mảnh đất bất hạnh không được cái may mắn có Rama làm chúa tể của chúng ta! Còn Lasơmana, anh ta làm gì? Anh ta làm sao chịu được sự cách chia này? Bây giờ sẽ lý giải cái việc sai lời hứa với Rama như thế nào đây? Thật là một thứ công lý lạ lùng! Cả cõi trần này bỗng chốc trở nên điên loạn”.

Lasơmana, nghe những chuyện xảy ra như vậy, đứng vụt lên như một ngọn lửa sắp thiêu hủy cả trái đất trong ngày cuối cùng này. “Thức ăn dành cho sư tử thì đem dùng để nuôi chó hoang ngoài đường – cái mụ Kicai-i mắt mèo tính toán như vậy đó”. Chàng cầm cung và kiếm lên, mặc chiến bào, và gào lên vang dội trên đường, thề rằng: “Rama sẽ lên ngôi, và kẻ nào cản trở sẽ bị tiêu diệt. Hãy để cho cả cõi đời này đi tới. Ta sẽ tiêu diệt tất cả những kẻ nào chống lại và chồng xác chúng cao lên đến tận trời. Ta sẽ nắm lấy vương miện và sẽ không nghỉ ngơi cho tới khi nó được đặt lên đầu Rama. Việc đó ta sẽ làm xong ngay trong ngày hôm nay”. Nhìn thấy đôi mắt nảy lửa và nghe những lời thách thức dữ dội của chàng, mọi người đều tránh ra, không dám lại gần. “Nếu tất cả các vị thần trên trời, nếu tất cả bọn quỷ dữ, tất cả người tốt hoặc xấu trên mặt đất này, - nếu tất cả cõi trần này chống lại ta, ta sẽ không bao giờ chịu nhân nhượng hoặc chịu thua dục vọng của một mụ đàn bà vô nghĩa…”.

Những lời thách thức và tiếng khua vũ khí của chàng và tiếng dây cung nữa đã dội đến tai Rama, lúc bấy giờ đang trên đường đi cáo từ bà kế mẫu Xumitra, mẹ của Lasơmana, và ngay lúc chàng trở về thì gặp Lasơmana. “Sao em lại mặc chiến bào này, và em đang thách thức ai đó? Sao em có vẻ giận dữ và ghê gớm thế? ”.

Lasơmana nói: “Nếu đây không phải là lúc căm giận thì còn đợi lúc nào nữa? Sau khi đã hứa với anh cái chỗ đúng với anh – giờ lại chối đi! Em không thể tha thứ được chuyện đó, giấc mơ tội lỗi của mụ đàn bà tâm địa xấu xa nhất định không thể thực hiện được. Em không thể thản nhiên để cho chuyện bất công này xảy ra. Em sẽ chống lại cho đến chết mới thôi”.

“Sai là ở anh”, Rama nói, “Anh phải tự trách mình đã sẵn sàng nhận lời phụ vương cho nối ngôi mà không nghĩ gì đến hậu quả. Lời nói của em đã học được trong lời kinh Vêda, với tất cả chân lý trong đời sống của các thần thánh, em không được tự cho phép mình nói ra những lời vô trách nhiệm đến thế. Những lời giận dữ của em sẽ không chịu nổi sự phê phán của những tấm lòng trong sáng và công minh. Em không nên đưa ra những lời nhận xét chua cay như thế đối với những người thực ra không phải ai khác hơn là bố và mẹ em”. (Rama không hề phân biệt giữa mẹ đẻ và mẹ kế). Em hãy bình tĩnh lại. Đôi khi một con sông khô cạn đi, và như thế ta không thể đổ tội cho con sông – nó khô là vì trời nắng hạn. Và sự đổi thay ý kiến của phụ vương, hay vẻ khắc nghiệt của Kicai-i, vốn là người tốt, biết thương người, hay sự may mắn được nối ngôi của Baratha… tất cả, thực ra, đâu phải do chính ta làm, mà do những quyền lực nào cao hơn quyết định Mệnh số…”.

“Em sẽ là số phận để vượt lên trên cả quyền lực của số phận” – Lasơmana nói lại, giọng vẫn còn rất kiêu ngạo và hiếu chiến. Rama biện luận thêm với chàng nhiều hơn nữa. “Em sẽ thay đổi, nếu cần, thay đổi cả số mệnh nữa” Lasơmana nhắc lại và kết thúc câu nói bằng cái điệp khúc: “Kẻ nào dám cản trở mục tiêu của ta sẽ bị tiêu diệt”.

“Ngoài anh ra, em chẳng còn biết cha nào, mẹ nào cả”, Lasơmana nói, lòng vẫn chưa dịu lại, “Anh là tất cả của em. Cuộc sống của em, cũng như tay chân và giác quan lành mạnh của em sẽ không có ý nghĩa gì cả, nếu em chưa đặt được anh lên chiếc ngai vàng, theo đúng quyền lợi của anh, không cần phải tôn trọng những điều con rắn mái muốn làm. Máu em đang sôi lên sùng sục và sẽ không thể nguội được đâu – Ngay bây giờ đây, anh sẽ nhìn thấy cây cung của em làm được gì…”.

Đến đây, Rama giữ tay chàng lại, và nói: “Anh tin chắc chắn rằng mẹ Kicai-i của chúng ta là người đáng được hưởng quyền thừa kế quốc gia này, bởi người đã cứu sống phụ vương và được phụ vương luôn ghi nhớ ơn này; đó là ưu thế của Baratha – người được Kicai-i chọn; và ưu thế của anh là được từ chối và được ghép cùng với những ẩn sĩ rất sáng suốt của rừng sâu. Em có muốn để cho cơn giận của em hoành hành cho đến khi em khuất phục được một người em thơ ngây không dính líu gì vào đó cả, một người mẹ đã nuôi dưỡng chúng ta, và một người cha vốn là một trong những ông vua vĩ đại nhất trên mặt đất này không? Chiến thắng đó có đáng phải trả bằng tất cả những thứ này không? Nỗi căm giận này, nó tìm tiêu diệt tất cả những mối quan hệ họ hàng bền vững, nó đáng được nuôi dưỡng không? Em phải tự kiềm chế mình và hãy lấy tay ra khỏi cây cung đi”.

Lasơmana dịu đi một ít, nói khẽ: “Tất cả sức mạnh của cánh tay này còn có giá trị gì? Là một gánh nặng, nếu nó không được dùng để tiêu diệt tội lỗi khi ta nhìn thấy nó, và cơn giận của ta, giờ cũng tỏ ra là phù phiếm”.

Rama cùng Lasơmana đến cáo biệt mẹ kế Xumitra. Cũng như những người khác, Xumitra cũng đau khổ vì chuyến đi của Rama và cố ngăn chàng lại. Một lần nữa, Rama không mệt mỏi bày tỏ quyết định của chàng ra đi và niềm vui được làm đúng theo lời dạy của cha. Trong khi họ đang trò chuyện với nhau, thì một nữ tỳ của Kicai-i đến, mang theo trên tay bộ áo quần bằng vỏ cây và nhắc Rama nhanh chóng thay quần áo, lên đường. Lasơmana cũng đòi một bộ khác cho mình, bỏ bộ quần áo đẹp đang mặc, thay bằng bộ quần áo thô. Giờ đây Rama ăn mặc như một thầy tu khổ hạnh hoặc như một tên tù và sẵn sàng ra đi. Nhìn thấy chàng ra đi, các bà khóc sướt mướt. Một lần cuối cùng, Rama tỏ ý muốn để Lasơmana lại đằng sau, nhưng Lasơmana cương quyết đi theo chàng. Thế rồi chàng đến phòng Xita, và thấy nàng đã sẵn sàng trong bộ áo quần bằng vỏ cây thô – quần áo đẹp và đồ nữ trang đều đã tháo ra và dẹp sang một bên, mặc dầu chỉ trước đây một tý thôi nàng đã trang điểm và ăn mặc đúng như một bà hoàng hậu. Rama, mặc dầu trong lòng rất cương quyết đối với bản thân mình, cũng cảm thấy xao xuyến khi nhìn thấy nàng thay đổi quá đột ngột. Chàng nói: “Phụ vương không bao giờ có ý muốn đưa nàng đi với ta. Đó không phải là lối sống của nàng. Ta chỉ đến để từ giã nàng, chứ không phải đem nàng cùng đi với ta…”.

“Như chàng thấy đó, thiếp ăn mặc sẵn sàng rồi…”.

“Nếu nàng thích bỏ quần áo sang trọng, vì ta không mặc như thế, thì tùy nàng, nhưng cũng không cần”.

“Thiếp cùng đi với chàng, chỗ của thiếp là ở bên cạnh chàng, bất cứ đó là nơi nào…”.

Rama nhận thấy vẻ cương quyết trong đôi mắt nàng và cố nài một lần cuối cùng: “Nàng có những bổn phận phải làm tròn ở đây, cha và mẹ đều ở đây. Rồi ta cũng sẽ trở lại với nàng”.

“Sau mười bốn năm! Thế thì cuộc sống của thiếp còn có ý nghĩa gì? Thiếp thà chết còn hơn. Nhưng có chàng, đối với thiếp chỉ là cái chết đang sống mà thôi. Thiếp chỉ sống thực sự khi sống với chàng; rừng sâu hay lâu đài cung điện với thiếp cũng như nhau cả”.

Khi nhận thấy không thể nào lay chuyển được ý định của nàng, Rama nói: “Nếu đó là nguyện vọng của nàng thì cũng đành phải vậy thôi. Cầu trời phù hộ cho nàng”.

Cả một đám rất đông tập hợp ở ngoài cung, khi Rama, Xita và Lasơmana bước ra trong bộ áo quần khắc khổ theo lệnh của Kicai-i. Nhiều người khóc khi nhìn thấy họ và chửi rủa không biết bao nhiêu lần. Khi đạo sĩ Vaxixta đến có vẻ vội vàng, gấp rút, thì mọi người bỗng im lặng. Cả đám đông đang phập phồng chờ đợi; một chút hy vọng dấy lên trong lòng họ, mong sao như có phép thần ở phút cuối cùng. Mọi việc sẽ thay đổi. Ngay từ lúc đầu, người ta thấy quân sư Vaxixta có vẻ mệt mỏi, thất vọng. Bước thẳng tới trước mặt Rama, ông nói: “Xin ngài đừng đi, hoàng thượng muốn ngài ở lại và trở về cung…”.

“Theo ý muốn của Người, tôi phải đi…”.

“Không phải ý của Người, Người không hề nói điều đó, đó là lệnh của bà kế mẫu. Bà ta đã…”.

Rama ngắt lời, không muốn ông ta tiếp tục bình luận về Kicai-i: “Xin lỗi quân sư. Tôi cũng có bổn phận phải tuân lệnh của bà, kể từ khi bà tiếp nhận quyền hạn đó của phụ vương tôi, và Người đã chuyển lời lại cho bà. Bây giờ làm sao có thể khác được? ”.

“Phụ vương ngài đang vô cùng đau khổ nếu ngài ra đi. Trong tình trạng hiện nay của Người, Người sẽ không sống nổi với cuộc chia tay này đâu…”.

Rama nói: “Thầy là bậc thầy của chúng tôi về tất cả mọi mặt. Xin thầy hãy khuyên giải cha tôi, giúp cho Người nhận thấy tính chất của tình thế bây giờ - và bổn phận của tôi, một đứa con, phải tuân lệnh của Người. Một lời đã nói ra như một mũi tên, nó đi thẳng ra phía trước. Người ta không thể gọi nó lại nửa đường…”. Rồi chàng cúi chào rất kính cẩn tỏ ý không còn gì để nói nữa. Vaxixta quay lưng, không nói một lời, rồi rút lui, không muốn để ai thấy mắt mình đang ngấn lệ.

Khi Rama bước đi, toàn bộ đám đông cũng bước theo, và khi chàng đứng lại, họ cũng đứng lại. Không ai nói một lời. Đám đông quá lớn, nên cảnh im lặng lại càng nặng nề, không chịu nổi. Nước mắt long lanh trong nhiều cặp mắt. Rama nói với mấy người đứng gần chàng nhất: “Giờ, tôi xin tạm biệt tất cả mọi người”, và đưa tay lên làm hiệu để chào. Họ chào lại, nhưng khi chàng đi, họ cũng đi, không để lộ một chút gì là sẽ ở lại cả. Họ vây quanh Rama, Xita và Lasơmana. Đám người đông đến ngạt thở. Sau khi di chuyển được một quãng họ phải tránh đường cho một chiếc xe đang đi tới. Đại thần Xumantra bước ra khỏi xe và nói: “Xin hãy vào trong xe. Xita Đêvi không thể đi bộ qua đám đông này đâu”.

Rama cười thầm: “Nàng đã quyết định cùng đi với tôi cho có bạn, và có thể đi bộ một quãng đường dài đấy”.

“Nhưng khi đã có sẵn xe, thì xin mời vào. Ít ra, các ngài cũng có thể để đám đông lại phía sau và đi tới được”.

Rama giúp Xita bước vào trong xe. Ngựa bắt đầu phì, nhưng không được xa lắm – bây giờ thì không có chủ định gì, vì đám đông làm cho xe thêm khó tiến tới, chỉ trừ khi đi với mức bình thường. Rama nói: “Thôi, cứ để chúng tôi đi chậm, không hề gì đâu”. Lasơmana thêm: “Ít ra thì bà mẹ kế của chúng tôi cũng xác nhận được ông đã đi nhanh đến đâu rồi”.

Họ đến bên bờ sông Xarayu và dựng lều nghỉ tại đêm ở đó. Những người dân đi theo họ cũng nằm la liệt trên cát, không hề nghĩ gì về những điều bất tiện cả. Đến quá nửa đêm, mệt nhọc vì chuyến đi, cả đám người đều đã ngủ say. Rama nói nhỏ với Xumantra: “Đây là lúc nên rút đi. Ông có thể trở về cung, và tâu với phụ vương rằng chúng tôi được bình yên”. Khi đám đông thức dậy, thì Rama, Xita và Lasơmana đã đi một quãng khá xa trên bờ sông, băng qua sông sang bờ bên kia. Xumantra nhìn theo Rama, rồi quay lại, theo gợi ý của Rama, đi về kinh đô theo một con đường khác, không đánh thức đám đông dậy.

Đaxaratha vẫn nằm im, bất động, đôi mắt nhắm nghiền chỉ trừ khi nghe có tiếng chân bên ngoài, lúc đó môi Người mấp máy trong những tiếng thều thào: “Rama có đến không? ”. Khi Vaxixta hoặc Kauxalya trả lời thật, thì Người lại lịm đi trong tình trạng hôn mê như cũ. “Ai đi gọi Rama? ”.

“Tâu Xumantra”, Vaxixta đáp lại. Cuối cùng, một tiếng chân vang lên, nặng đến nỗi nhà vua đang mê, bừng tỉnh dậy. Cửa mở, và nhà vua cũng mở mắt, nói to: “A, Xumantra? Còn Rama đâu? ”. Trước khi Vaxixta và Kauxalya kịp dặn trước, Xumantra đã trình bày: “Rama, Xita và Lasơmana đã qua sông, sang đến bờ bên kia, theo một lối mòn đi quanh một bụi tre…”.

“Ôi”, nhà vua rên rỉ, “thế nào, thế nào? … Bao giờ? ”. Người không thể nói hết câu. Xumantra cố nói: “Rama muốn tránh đám đông…”.

Nhà vua không sao chịu đựng nổi khi nghĩ rằng Rama và Xita đang trên đường mòn gai góc trong rừng bên kia những bụi tre. Người ngất lịm đi và không bao giờ hồi phục lại nữa. (Nhà thơ cho biết: “Nhà vua băng hà ngay trong khi Xumantra đang nói”.)

Vua mất đi, đất nước không có người trị vì. Vaxixta gấp rút cho mời các vị đại thần và các quan trong triều đến họp bàn và quyết định: “Việc thứ nhất là phải bảo vệ thi hài của nhà vua cho đến ngày Baratha có thể trở về và tổ chức lễ tang”. Họ giữ thi hài ướp hương thơm trong một bể dầu.

Hai sứ giả được cử đi, mang theo một lệnh bài cho Baratha đòi phải về kinh gấp. Những sứ giả cho ngựa suốt ngày đêm phi nước đại, và không được trình bày một điều gì, không được đưa ra bất cứ một tin gì. Những người này là những người đáng tin cậy, có nhiều kinh nghiệm trong công việc đưa những lệnh bài của triều đình, và không hề làm điều gì sai với mệnh lệnh. Trong vòng tám ngày, họ đến trước cổng điện Axuapathi ở Kekaya và tuyên bố: “Chúng tôi mang đến cho Baratha một lá thư quan trọng”.

Baratha rất đỗi vui mừng và truyền: “Hãy đưa họ vào ngay, không được chậm trễ”. Chàng tiếp họ trong phòng riêng và hỏi ngay: “Phụ vương ta có được vui không và sức khỏe của Người có tốt không? ”. Các sứ giả đã đưa một câu trả lời đúng theo nghi thức, và Baratha: “Còn anh ta, Rama, thì ra sao? ”. Và họ lại cũng lặp lại một câu trả lời tương tự, rồi thưa: “Chúng tôi mang đến cho Ông lớn một phong thư”. Baratha nhận phong thư niêm kỹ (viết trên lá cọ và bọc trong lụa), mở ra, rồi đọc: “Mời ngài về Ayođhya ngay có việc nước”. Chàng ra lệnh trọng thưởng cho các sứ giả và bắt tay ngay vào việc xếp đặt cho chuyến đi trở về Ayođhya, không còn đủ kiên nhẫn để nhờ nhà thiên văn của hoàng cung chọn giờ lành cho một chuyến đi dài.

Khi họ đến gần ngoại vi Ayođhya, Baratha hỏi em chàng là Xatruna: “Em có nhận thấy điều gì thay đổi trong không khí chăng? .

“Không có chuyến xe nào, không có người cưỡi ngựa, cũng không có cái cảnh dân cư qua lại trong các công viên hay các đường lớn…”.

“Đường sá, nhà cửa đều không có ánh sáng…”.

“Không có một tiếng nhạc nào – không có tiếng hát, tiếng đàn, hoặc tiếng cười vui… Cảnh lặng im sao mà nặng nề thế! Rất ít người qua lại trên đường, và nếu có một hai người, thì sao nét mặt họ ủ rũ thế. Có điều gì không hay đến với họ chăng? ”.

Baratha đi thẳng đến cung thất của Đaxaratha, bước lên, đi vào phòng với những lời chào có sẵn trên môi. Không thấy nhà vua ở chỗ quen thuộc, chang dừng lại, muốn biết xem nên tìm Người ở đâu. Đúng vào lúc đó, một nữ tỳ ở phòng trong mở cửa ra, nói: “Hoàng hậu cho gọi ngài”. Chàng lập tức đến phòng Kicai-i. Chàng cúi chào mẹ rất kính cẩn, chạm tay vào chân bà. Kicai-i hỏi: “Ông ngoại, các cậu và những người khác ở Kekaya có được bình yên và vui vẻ cả không? ”.

Baratha thưa lại rằng tất cả mọi người trong cung thất của Đức Ông đều khỏe mạnh cả. Rồi chàng nói: “Con muốn được chạm vào bàn chân sen của phụ vương, Người đi đâu rồi? Con sẽ tìm Người ở đâu? ”.

“Nhà vua vĩ đại đã được những con người trên thiên đường chói lọi của thế giới bên kia đón nhận rồi. Người sung sướng và bình yên. Đừng có đau buồn làm gì”. Kicai-i bình thản trả lời.

Khi chàng thấy rõ tầm quan trọng của những tin này, và nói lại được nên lời, Baratha nói: “Không có ai, ngoài mẹ ra, có thể nói tới những lời khủng khiếp đó theo cái kiểu như thế này. Có phải tim của mẹ là bằng đá không? Biết thế, con chẳng bao giờ rời Người ra một bước. Thật là một nỗi bất hạnh, một sự sai lầm của con. Cõi trần này không hề thấy một ông vua nào vĩ đại hơn, không một đứa con nào có được một người cha cao quý hơn. Số của con là không được ở với Người, không được nghe tiếng nói của Người, không được cảm thấy sự có mặt vinh quang của Người – để mà hưởng thụ những ngày nghỉ ngơi, thế đấy! Sao mà khéo chọn lúc để nghỉ ngơi thế! ”. Rồi chàng cứ kể đi kể lại những chiến công lừng lẫy của cha chàng, và như thế cũng làm nhẹ bớt được đôi chút nỗi sầu muộn của chàng. Chàng lặng im, suy nghĩ hồi lâu, rồi nói: “Nỗi đau của con sẽ không thể nào giảm được, nếu con chưa gặp anh Rama, và được nghe tiếng nói của anh”.

Về điểm này, Kicai-i đáp lại, giọng chính sự: “Cùng với vợ, và em, cậu ta đã đi vào sống trong rừng rồi”.

“Sao anh lại chọn một lúc như thế này mà đi vào rừng? Bao giờ anh trở lại? Điều gì đã khiến anh phải đi? Anh đi trước hay sau khi nhà vua chết? Anh có phạm tội lỗi gì chăng? Nguyên nhân của chuyến lưu đày này là cái gì? Thánh thần đã quyết định, hay nhà vua quyết định việc đó? Anh đi trước hay sau khi vua mất! Ôi, thật không thể hiểu được – anh ấy có phạm sai lầm gì chăng? Mà dẫu anh Rama có phạm điều gì sai lầm thì anh cũng còn có thể được hưởng tấm lòng nhân đạo chứ”.

“Hoàn toàn không phải như anh nghĩ. Việc anh ấy đi, phụ vương các anh đều biết cả”.

“Cha chết, anh phải đi đày… Sao thế nhỉ? Có chuyện gì bí mật ở đây? Đằng sau tất cả các chuyện này là cái gì? ”.

“Giờ anh ãy lắng nghe những điều ta nói. Hãy bình tĩnh và sáng suốt. Tất nhiên nếu bố anh còn sống thì tốt đẹp hơn nhiều. Nhưng việc đó ngoài quyền hạn của chúng ta. Anh nên chấp nhận sự việc như nó đã đến, và đừng để cho tình cảm lấn át và làm suy yếu tâm trí của anh. Theo lời hứa không thể nào xóa được, cha anh đảm bảo cho ta được thỏa mãn hai ước vọng, thì hôm nay anh là vua của đất này, còn Rama thì tự anh ấy đã tránh ra ngoài con đường của anh. Sau khi đã chấp nhận cho ta những lời hứa đó, thì đầu óc cha anh bị suy sụp và yếu đi…”.

Bây giờ Baratha đã hiểu rõ. Chàng nghiến răng, nhìn thẳng vào mặt bà ta và quát to: “Bà đúng là một con rắn độc, một kẻ không có tim. Bà đã dùng thủ đoạn, mánh khóe lừa nhà vua, bắt Người phải hứa, mà không cần biết rằng như thế có nghĩa là giết Người. Bây giờ, tôi làm sao có thể chứng tỏ với mọi người rằng tôi hoàn toàn không dính gì vào đó cả? Làm sao cho mọi người có thể không nghĩ rằng tôi cũng là một trong những kẻ mưu tính việc này? … Bà đã đưa lại cho tôi một tiếng xấu xa nhất, chưa từng có từ khi loài người bắt đầu sinh ra dưới ánh sáng mặt trời”.

Rồi chàng kết thúc, đầy hối tiếc: “Bà đáng phải chết đi vì tâm địa xấu xa của bà… Nếu tôi không dùng bàn tay này của tôi để xé nát cuộc đời bà, thì bà đừng có tự hào mà cho rằng đó là vì bà là mẹ tôi, mà bà được tha cho là vì tôi sợ làm thế anh Rama sẽ quở trách tôi”.

Chàng bỏ đi không cần nói thêm một lời, và đến thẳng cung thất của Kauxalya, mẹ của Rama. Bà đón tiếp chàng rất lịch sự và rất thương yêu, nhưng trong lòng không thật hoàn toàn tin rằng Baratha trong trắng vô tội trong việc này. Baratha sụp xuống trước mặt bà và than khóc: “Con biết đi tìm cha con trong thế giới nào đây. Và con biết tìm gặp lại anh con ở đâu, hở mẹ? Số phận sao mà cay nghiệt, bắt con phải đi tới nhà ông ngoại, để giờ con phải chịu những nỗi đắng cay này? ”.

Sau khi chàng tiếp tục bày tỏ nỗi đau buồn và lòng quyết tam lìa bỏ cuộc đời còn hơn là phải chịu đựng gánh nặng của hai cuộc chia ly và chịu mang tiếng xấu, thì Kauxalya biết rõ chàng quả thực là vô tội. Khi chàng nói xong, bà hỏi: “Như vậy là con không biết một tý gì về ý đồ tội lỗi của mẹ con à? ”.

Nghe đến đây, Baratha phẫn uất đến nỗi gào lên tự kết án mình: “Nếu mà con được biết một tý gì về âm mưu đen tối này của mẹ con thì xin cho con bị đày xuống dưới địa ngục tối tăm nhất thường dành cho…”. Rồi chàng kể ra một tràng những tội lỗi xấu xa mà người ta đã phạm phải ở dưới địa ngục.

Vaxixta đến. Baratha hỏi: “Cha tôi nằm ở đâu? ”. Người ta đưa chàng tói chỗ quản thi thể nhà vua.

Vaxixta nói: “Đã đến lúc chúng ta phải tiến hành lễ tang”. Khi Baratha đã sẵn sàng để làm lễ, thì thi hài Đaxaratha được đặt lên lưng voi, cùng một đoàn có kèn, trống tang, đi đến bờ sông Xarayu, ở đó một trụ tang đã dựng sẵn. Thi hài Đaxaratha được đặt lên trụ có những người cầu kinh và những nghi thức hoàn chỉnh. Khi đã đến lúc thắp các trụ tang, Baratha cầm ngọn lửa trong tay tiến đến gần trụ, bỗng nhiên, vào phút cuối cùng Vaxixta ngăn chàng lại, nhắc lời dặn cuối cùng của nhà vua không nhìn nhận Kicai-i và con trai của bà. Ông ta rất đau khổ và hết sức tế nhị giải thích: “Đó là một nhiệm vụ đau đớn nhất mà thần thánh bắt tôi phải thi hành”.

Baratha hiểu rõ. Chàng lùi ra, để cho em chàng Xatruna tiếp tục buổi lễ, với ý nghĩ chua cay: “Đây lại là một món quà nữa của mẹ ta cho ta, thậm chí không được phép chạm tới trụ tang của cha ta! ”.

Vào lúc cuối ngày, Baratha trở về cung, đóng cửa ở một mình trong đó. Sau năm ngày tang, các vị đại thần cùng Vaxixta bàn bạc với nhau, rồi đến gặp Baratha, yêu cầu chàng nối giữ ngôi vua, vì đất nước lúc này đang cần có một người trị vì. Baratha từ chối, và bảo rằng: “Tôi quyết định phải tìm cho được anh Rama và mời anh trở về ”. Chàng hạ lệnh cho nhân dân và quân lính phải sẵn sàng theo chàng đi vào rừng. Cả một đoàn rất đông dân chúng, quân đội, ngựa, voi, đàn bà, trẻ con kéo nhau đi về phía rừng Chitrakuta, nơi Rama đang cắm trại. Khi họ đi qua sông Hằng và khi Chitrakuta đã ở trong tầm mắt thì Lasơmana, vốn tự coi mình là người bảo vệ cho Rama, chú ý đến đám đông ở đằng xa, và kêu to: “Đây, nó đã đến với cả một đạo quân – chắc chắn là anh không thèm trở về van xin cái đất nước phi nghĩa của nó đâu. Em sẽ tiêu diệt hết chúng nó. Em còn đủ sức trong ống tên của em”.

Khi hai anh em đứng nhìn và theo dõi, thì Baratha bỏ tất cả những người đi theo lại phía sau, và một mình đi tới trước, trong bộ quần áo bằng vỏ cây, tay chắp lại trong dáng điệu cầu khẩn, nước mắt lưng tròng, chàng vừa đi vừa van xin: “Anh Rama ơi! Anh Rama, xin anh tha lỗi cho em”. Rama nói thầm với Lasơmana: “Em có nhìn thấy dáng bộ hiếu chiến và chiến bào nó mặc không? ”.

Lasơmana ngẩng đầu lên và thú thật: “Em đã nghĩ sai về nó”.

Baratha chạy tới sụp xuống chân Rama. Rama đỡ chàng dậy và nói những lời tử tế.

Khi Rama biết tin cha đã chết chàng ngã ra bất tỉnh. Sau một lúc, khi đã bình phục, chàng đi ra bờ sông làm lễ tang theo các thủ tục đòi hỏi người con của ông vua băng hà phải làm. Khi sau buổi lễ, họ đã hơi nguôi. Baratha bắt đầu câu chuyện: “Em đến đây với tất cả những người này là để mời anh trở về làm vua trên đất nước chúng ta”.

Rama lắc đầu và nói: “Vâng, mười bốn năm nữa. Đó là ý muốn của phụ vương chúng ta. Theo lệnh của Người, em là vua”.

“Nếu anh muốn em làm vua, thôi thì cũng được, nhưng em xin thoái vị vào lúc này, và nhường ngôi cho anh”.

Cuộc trao đổi cứ tiếp tục như thế với những lập luận có tầm cỡ triết học và kinh viện cao; cả đoàn người kính cẩn lắng nghe.

Ở trong một thế giới đã quá quen với những chuyện tranh giành của cải, quyền lực và cuối cùng mọi người thường kêu to “Của chúng tôi” hoặc “Của tôi, không phải của các anh” thì thật lạ lùng khi thấy hai người tranh cãi về chuyện cái vương quốc nàykhông phảicủa ai, và nói với nhau: “Nó là của anh, không phải của em”.

“Thôi được, nếu em có thẩm quyền – thì em giao nó cho anh cai trị”, tới một lúc nào đó, Baratha phải nói: “Nếu anh muốn thế, thì theo lệnh của em, với tư cách là người cầm quyền, anh phải làm vua”. Câu chuyện cứ tiếp tục như vậy. Rama vẫn cứ nhắc lại rằng không lời nói nào cao hơn lời một người cha; không có đạo đức nào hơn là phải vâng theo lời đó. Trong khi nói, nếu có nhắc đến Kicai-i thì chàng lúc nào cũng nhắc bằng những lời tao nhã nhất, và bao giờ cũng là “mẹ”. Vaxixta theo dõi cuộc tranh luận, phải nói xen vào: “Tôi vốn là thầy của thái tử, và không thể có uy quyền nào cao hơn uy quyền của thầy – thái tử phải trở về Ayođhya làm vua”. Rama nói lại: “Thật là không đúng nếu thầy ban cho tôi cái lệnh đó. Cha mẹ tôi, là những người đã cho tôi cả thể xác và linh hồn, còn cao hơn thầy”.

Baratha tuyên bố: “Đó là ý nguyện của tôi. Tôi không cần biết điều gì sẽ xảy đến. Tôi sẽ từ bỏ hết và sẽ sống trong rừng mười bốn năm với anh Rama”.

Các vị thần theo dõi những lập luận này, sợ rằng nếu Rama chịu trở lại, thể theo yêu cầu của đất nước, thì mục đích cuộc hóa thân của chàng sẽ thất bại, nên tuyên bố rằng: “Baratha, chàng hãy trở về trị vì thay cho Rama trong mười bốn năm”.

Không còn việc gì trong đó nữa, Baratha nói: “Tôi không còn gì để nói nữa. Tôi sẽ trị vì mười bốn năm, nhưng không thêm một ngày nào. Nếu sau mười bốn năm mà anh không xuất hiện, anh Rama ạ, thì em sẽ tự hủy mình. Xin anh hãy cho em đôi giày của anh. Đó là vật biểu tượng của anh. Và em sẽ trị vì, nhân danh vật biểu tượng này. Từ nay cho đến khi anh trở về, em sẽ không vào trong đất Ayođhya, mà chỉ ở ngoại vị thành phố”.

Rất kính cẩn cầm đôi giày của Rama trong tay, Baratha trở về. Chàng đóng đô ở một làng nhỏ tên là Nanđigram, trong vùng ngoại vi Ayođhya, đặt đôi giày của Rama trên ngai, và cai trị đất nước như một người nhiếp chính.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.