Sử Thi Ấn Độ Ramayana

Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1.làm Quen Với Rama
Câu Chuyện Của Thataka

❊ ❊ ❊

Sân chầu mới, vốn là niềm tự hào của vua Đaxaratha suốt ngày tấp nập những đoàn khách tới lui không ngớt, những đoàn tham quan của các vị đại thần, những đoàn sứ giả của rất nhiều vương quốc, và những đoàn dân đến kêu ca và đòi hỏi công lý. Nhà vua lúc nào cũng sắn sàng tiếp xúc với mọi người và làm tròn bổn phận của kẻ trị vì đất nước Kôxala mà không hề thấy có chút gì miễn cưỡng trong khi thi hành công vụ.

Một buổi chiều nọ, các sứ giả chạy vào báo cáo với nhà vua: “Có đạo sĩ Vivamitra”. Được tin này, nhà vua liền đứng dậy, vội vàng chạy ra đón khách. Vivamitra trước đây đã từng làm vua, đã từng là người có nhiều chiến công hiển hách, và tên tuổi của ông đã từng là niềm sợ hãi của bao người, cho đến khi ông từ bỏ cương vị nhà vua của mình và chọn con đường khổ luyện để trở thành đạo sĩ, ông đã phối hợp được trong người ông đạo đức cao cả của một vị đạo sĩ và uy phong lẫm liệt của một ông vua, và chẳng mấy chốc ông đã trở nên điềm tĩnh và cương nghị. Đaxaratha mời ông ngồi vào chỗ thích hợp rồi nói: “Hôm nay là một ngày vinh quang của chúng tôi, chúng tôi rất sung sướng được chào đón sự có mặt cao quý của Người. Người đi từ xa đến, có lẽ cần nghỉ ngơi một chút”.

“Thôi, không cần đâu”, vị đạo sĩ giản dị trả lời. Ông ta hoàn toàn làm chủ mọi nhu cầu của thân thể qua nhiều năm khổ luyện và tu dưỡng tinh thần, ôngcó thể khống chế tất cả mọi tác dụng của nóng, lạnh, đói, mệt, và đến cả sự suy nhược nữa. Sau đó nhà vua lại kính cẩn hỏi: “Thưa đạo sĩ, chúng tôi có thể làm gì được cho Người chăng?”. Vivamitra nhìn nhà vua và đáp: “Vâng, tôi đến đây là để xin nhà vua ban cho chút ân huệ. Tôi có ý muốn, trước tuần trăng sắp tới đây, tổ chức một buổi tế thần ở Xiđaxtrama. Chắc nhà Vua đã biết đó là nơi nào rồi”.

“Tôi đã nhiều lần đến chỗ đất thiêng liêng này, ở bên kia sông Hằng”.

Vị đạo sĩ ngắt lời: “Nhưng có những kẻ lởn vởn ở đó để chờ dịp phá rối tất cả mọi công việc thiêng liêng, và cần phải đánh dẹp chúng nó đi, như người ta đã từng đánh dẹp năm tội ác[i]dai dẳng trước khi có thể tiến hành những công việc thiêng liêng. Những sinh vật tội lỗi này lại được ban cho những pháp thuật hủy diệt không bờ bến. Thế nhưng bổn phận của chúng tôi là phải theo đuổi công việc cho đến cùng, không hề thay đổi. Lễ tế thần mà tôi định làm sẽ tăng thêm sức mạnh của cõi trần tục này và sẽ làm vui lòng các thần, thánh ở trên kia”.

“Nhiệm vụ của chúng tôi là phải che chở cho công việc cao quý của Người. Xin Người cho biết bao giờ sẽ làm, và tôi xin sẽ có mặt ở đó”.

Vị đạo sĩ nói: “Hoàng thượng không cần phải làm phiền đến thánh thể của Người. Chỉ xin Người cho hoàng tử Rama cùng đi với tôi, hoàng tử sẽ giúp tôi. Cậu ta có thể làm được”.

“Rama ư! ”, nhà vua kêu lên, kinh ngạc, “trong khi tôi đang ở đây để phục vụ Người”.

Vivamitra đã cảm thấy khó chịu, và cắt ngang lời của nhà vua: “Tôi biết rõ tấm lòng cao cả của Hoàng thượng, nhưng tôi muốn nhờ Rama cùng đi với tôi. Nếu Người không thích như thế, Người có thể nói thẳng ra thôi”.

Không khí bỗng trở nên căng thẳng. Tất cả triều đình đều theo dõi, đợi chờ trong cảnh im lặng trang nghiêm. Nhà vua trông thật khổ sở. “Rama hãy còn là một đứa trẻ con đang còn theo học nghệ thuật sử dụng vũ khí”. Câu nói của nhà vua dường như không bao giờ kết thúc, mà cứ kéo dài ra để tránh trớ và tìm cách thanh minh. “Nó là một thằng bé, một đứa trẻ con, nó còn quá trẻ và quá mềm yếu để có thể đương đầu với lũ quỷ”.

“Nhưng tôi biết Rama”, đó là câu trả lời dứt khoát của Vivamitra.

“Tôi có thể gửi đến Người cả một đạo quân, hay bản thân tôi sẽ dẫn một đạo quân đến bảo vệ cho công việc của Người. Một chú nhóc con như Rama thì có thể làm gì được với những thế lực khủng khiếp kia…? Tôi sẽ xin giúp Người như tôi đã có lần giúp Indra khi ông ta bị quấy nhiễu và bị cướp mất đất đai”.

Vivamitra không cần nghe hết câu nói của nhà vua và đứng dậy để ra về. “Nếu nhà vua không thể cho Rama đi, thì thôi, tôi không cần gì khác nữa”. Ông ta bước luôn xuống đường.

Nhà vua sửng sốt đến mức không thể cử động được. Khi đạo sĩ Vivamitra đi được nửa đường nhà vua mới nhận thấy khách đã ra đi không một lời cáo biệt và không được tiễn đến cửa theo phép lịch sự thông thường. Vaxixta, giáo sĩ và là cố vấn của nhà vua, rỉ tai Đaxaratha: “Hãy chạy theo đạo sĩ và mời Người trở lại”, rồi vội vã lao theo trước khi nhà vua kịp nghe những lời ông vừa nói. Ông đi mà gần như chạy, khi Vivamitra đã tới cuối sân chầu, chắn ngang đường đạo sĩ và nói: “Xin Người đừng đi nữa, Hoàng thượng đang đến. Không phải Hoàng thượng muốn…”

Một nụ cười ngượng nghịu hiện lên trên khuôn mặt đạo sĩ khi ông nói, giọng không hề đượm vẻ chua cay: “Tại sao ông và ai nữa kia bận bịu làm gì? Tôi đến đây là có dụng ý, nhưng nó đã thất bại, thì chẳng còn lý do gì để ở lại đây nữa”.

“Ôi, thưa Đại nhân, chính Người cũng đã có lúc làm vua”.

“Nhưng giờ đây, việc đó có quan hệ gì đến chúng ta? ”. Vivamitra đáp lại, lòng càng thêm cay đắng, bực bội vì đã lâu ông không thích nghe ai nhắc lại những chuyện cũ kỹ đó nữa, và ông chỉ muốn người ta luôn luôn biết ông là một người Brahma.

Vaxixta nhẹ nhàng đáp lại: “Chỉ là muốn Người nhớ đến những tình cảm thông thường của con người, nhất là của một người như Đaxaratha, không có con và phải vất vả cầu xin mới có được…”

“Vâng, có thể là như vậy, thưa ngài, nhưng tôi xin nói lại rằng tôi đến đây với một sứ mệnh, và khi sứ mệnh đó không thành, thì tôi phải đi thôi”.

“Nó không thất bại nữa đâu”, Vaxixta nói, và đúng vào lúc đó nhà vua vừa đến gặp họ trên đường; cả triều đình cũng cất bước đi theo.

Đaxaratha cúi mình thi lễ và thưa: “Kính thưa Đại nhân, xin mời Người trở lại nơi an tọa”.

“Để làm gì, tâu Hoàng thượng? ”. Vivamitra hỏi lại.

“Xin cứ ngồi rồi nói chuyện dễ hơn…”

“Tôi không tin ở bất cứ một cuộc nói chuyện nào cả”.Vivamitra nói, nhưng Vaxixta khẩn khoản mời mãi cho đến khi đạo sĩ trở lại chỗ ngồi.

Khi tất cả mọi người đều ngồi lại chỗ cũ, Vaxixta nói với nhà vua: “Qua cử chỉ của nhà truyền giáo này, chắc là có một ý đồ thiêng liêng của thần thánh mà ông ta có thể biết nhưng không thể giải bày được. Rama được tìm dến để giúp đỡ, đó là một điều may mắn. Xin Hoàng thượng đừng ngăn cản cậu ta. Xin hãy để cậu ta cùng đi với đạo sĩ”.

“Ô, nhưng bao giờ, bao giờ? ” Nhà vua lo lắng hỏi lại.

“Ngay bây giờ” Vavimitra nói. Trông nhà vua có vẻ như bị tổn thương, và thất vọng, vị đạo sĩ dịu lòng đi chút ít, nói đôi lời khích lệ: “Hoàng thượng không thể trông cậy mãi mãi vào sự gần gũi về thể xác với kẻ mà Nguời thương yêu. Một hạt giống cứ nằm luôn dưới gốc cây mẹ sẽ bị cằn cỗi mãi cho đến khi nó được đem trồng ở nơi khác. Rama sẽ sống trong sự chăm sóc ân cần của tôi, và câu ta hoàn toàn yên ổn. Nhưng cuối cùng, rồi cậu ta cũng sẽ xa tôi. Người trần, ai cũng vậy, khi đến lúc, đều phải ra đi và tìm lấy sự trưởng thành bằng con đường riêng của mình cả”.

Nhà vua bắt đầu: “Nhưng, Siđaxrama đang ở rất xa…”

Vivamitra đọc được tâm trạng của nhà vua và nói: “Không cần xe để chở chúng tôi đến đó, tôi sẽ làm cho con đường của cậu ta được dễ dàng”.

“Rama chưa bao giờ rời xa người em Lasơmana của nó. Có thể cho đi cùng với nó chăng? ”. Nhà vua xin được như vậy, và có vẻ yên lòng hơn khi nghe đạo sĩ nói: “Vâng, tôi sẽ trông nom cho cả hai, mặc dầu sứ mệnh của họ là phải trông nom tôi. Xin hãy cho các cậu ấy chuẩn bị sẵn sàng để theo tôi, xin cho các cậu ấy chọn thứ vũ khí họ thích nhất và sửa soạn ra đi! ”.

Đaxaratha, với cái nhìn của kẻ đang giao những con tin vào tay quân thù, quay lại phía viên cận thần và bảo: “Hãy đi gọi mấy đứa con của ta”.

*

**

Đi theo sát bước chân thầy như hai cái bóng, Rama và Lasơmana đã vượt qua ranh giới của đô thành và tới con sông Xaradu chảy bọc quanh kinh đô về phía Bắc. Khi đêm xuống họ nghỉ lại trong rừng thưa và sáng sớm qua sông. Khi mặt trời vượt lên quá đỉnh núi, họ đến một khu rừng rất thú vị, treo tỏa lên như một vòm khói từ rất nhiều dàn hỏa thiêu. Vivamitra giảng giải cho Rama: “Ở đây, đã có lúc thần Xiva ngồi nhập định, và đã nghiền nát vị thần Tình ái ra tro khi vị này đến tìm cách phá rối cuộc suy tưởng của Người. Từ những thời xa xưa không thể nào nhớ được, các vị thánh đến cầu xin thần Xiva tiến hành lễ hỏa thiêu của họ, và vòm khói mà hai cậu nhìn thấy là từ những ngọn lửa hỏa thiêu mà đến”.

Một nhóm ẩn sĩ từ nhưng nơi ẩn dật ra đón Vivamitra và ông cùng đệ tử của ông ở lại nghỉ đêm với họ. Vivamitra hoãn cuộc hành trình đến sáng hôm sau và, tới một vùng đất hoang vu vào lúc giữa trưa. Cái từ “hoang vu” gợi ra ý nghĩ về sự cằn cỗi hoàn toàn của mảnh đất này. Dưới sức nóng như thiêu như đốt của mặt trời, tất cả cây cối đều khô héo và biến thành bụi, đá và sỏi đều nát ra thành cát, nằm mênh mông thành những đụn, những gò kéo dài mãi đến tận chân trời. Ở đây, mỗi tấc đất đều bị lở lói, khô cằn và nóng đến mức không thể tưởng tượng được. Đất bị nứt nẻ bày ra ở khắp nơi những khe hở khổng lồ. Ở đây cũng không còn phân biệt được sáng, trưa, chiều, tối nữa và mặt trời dường như ở lì một chỗ trên đầu mọi người, thiêu đốt mặt đất, không hề chuyển động. Những nơi súc vật bị tiêu diệt, xương trắng phơi đầy, kể cả xương của lũ rắn dữ mồm há hốc ra vì khát đến chết. Trong những cáimồm vĩ đại này (theo lời nhà thơ kể lại), có những con voi đi tìm bóng mát không được đã chết, cả voi và rắn đều biến thành hóa thạch. Một đám hơi mù nóng nực xông lên, đốt cháy tất cả các vòm trời trong khi băng qua chỗ đất này. Vivamitra nhận thấy trên sắc mặt của hai chàng thanh niên hiện lên vẻ phân vân và hoảng hốt nên ông truyền cho họ hai câu thần chú (gọi là “Bala” và “Adi-Bala”). Khi họ tập trung suy nghĩ và niệm những câu đó, thì không khí nóng bỏng, khô cằn trên chặng đường còn lại đã thay đổi, và họ cảm thấy như đang đi dạo qua một luồng mát dịu với ngọn gió heo may từ phươngNamthổi vào mặt họ. Rama lúc nào cũng tò mò muốn biết đất nước chàng đang đi qua, hỏi: “Sao chỗ đất này ghê gớm thế nhỉ? Sao nó có vẻ tàn khốc thế nhỉ? ”.

“Cậu sẽ biết được câu trả lời khi cậu nghe câu này – của một người đàn bà kiêu căng, thô bạo, ăn và tiêu hóa tất cả mọi sinh vật, có sức mạnh của hàng nghìn con voi điên”.

Người đàn bà ta vừa nói đến là con gái của Sukêta, một Yakisha, tức là một nhân thàn trong sạch, hùng mạnh, phẩm chất cao cả. Nàng rất xinh đẹp và cương nghị. Khi lớn lên, nàng lấy một thủ lĩnh tên là Xunda. Họ sinh được hai đứa con trai là Marisa và Xubaku, cả hai đều được hưởng những quyền lực phi thường, cộng thêm với sức mạnh cường tráng của cơ thể. Với tính khí kiêu căng, hợm hĩnh, họ coi thường tất cả mọi người chung quanh họ. Phụ thân họ thích thú với cái lối huênh hoang ồn ào đó và cũng bị nhiễm tính khí đó nên cũng hùa theo họ. Ông ta có thể dễ dàng nhổ bật gốc những cây cổ thụ và ném ra ngoài xa và tiêu diệt tất cả mọi sinh vật gặp trên đường đi của ông. Những hành vi tàn ác này đã đến tai nhà hiền triết vĩ đại Agaxtia (một vị thánh đã có lần hút cạn nước biển khi một số người điên loạn bị ngã xuống tận đáy biển và Ngọc hoàng Indra kêu gọi Người đến cứu). Agaxtia ẩn dật trong khu rừng này và khi Người biết được có một cuộc hủy diệt đang xảy ra ở chung quanh, Người liền nguyền rủa kẻ đã gây ra chuyện đó và Xunda đã bị giết. Khi vợ hắn biết tin hắn chết, mụ và các con mụ gầm thét lên, đòi phải trả thù; chúng thách thức Người khi bị Người nguyền rủa: “Khi chúng bay còn là một bọn hủy diệt cõi đời, chúng bay chỉ có thể trở thành một bọn quỷ dữ -acuras– và sống trong những thế giới thấp hèn nhất” (Cho đến lúc này chúng đã thành những nhân thần. Giờ đây chúng đã bị hạ thấp xuống hàng ngũ của bọn quỷ dữ). Cả ba đều phải hóa kiếp, nét mặt và dáng điệu trở nên kinh tởm, và tính tình, bản chất cũng vậy. Mấy đứa con ra đi tìm kết bạn với bọn quỷ dữ siêu đẳng. Người mẹ thì ở lại sống một mình ở đây, hít thở hơi lửa và chịu đựng tất cả mọi bệnh tật. Không có chút gì mọc lên ở đây: chỉ có hơi nóng và cát. Mụ ta là một người nóng nảy, khó tính, mụ cầm trong tay đinh ba và cây nhọn, và lũ rắn độc quấn vào tay mụ như một tràng dây trang sức. Cái con người đang kinh tởm đó tên là Thataka. Đúng là sự có mặt của một chútloba(tội lỗi thấp hèn) đã làm khô héo và suy vong bản chất của con người. Và thế đấy, sự có mặt của con quỷ này đã làm cho khu vực này, đã có lúc hết sức phì nhiêu, trở nên cằn cỗi. Mụ luôn luôn tìm cách phá rối những người ẩn dật, không để cho họ yên tĩnh cầu kinh; mụ ngoạm vào mồm tất cả mọi sinh vật đang chuyển động và đẩy chúng xuống tận dưới ruột mụ.

*

**

Nắm chiếc cung đang đeo trên vai, Rama hỏi: “Bây giờ tìm mụ ta ở đâu?”.

Trước khi Vivamitra kịp trả lời, thì mụ đã dẫn xác đến, đất rung chuyển dưới bàn chân của mụ và một trận cuồng phong thổi đến trước. Mụ lườm họ với đôi mắt nảy lửa, hai chiếc nanh lòi ra, đôi môi chìa ra để lộ cái mồm há hốc như một cái hang, và đôi mày nhíu lại giận dữ. Mụ đưa cái đinh ba lên gầm thét: “Đây là vương quốc của ta, ta sẽ nghiền nát đến con sâu nhỏ nhất trong cõi đời và con người phải chui xuống nhanh đi để ta khỏi phải chịu nhịn đói”.

Rama do dự, bởi mặc dù tất cả mọi tội ác, mụ vẫn còn là một người đàn bà. Làm sao ta có thể giết mụ được? Vivamitra thấu hiểu tâm tình của chàng và nói: “Cậu không nên xem mụ ta như một người đàn bà. Một con quỷ dữ như vậy không nên coi trọng. Sức khỏe, sự thô bạo, dáng điệu bên ngoài của mụ đã loại mụ ra khỏi hạng đó rồi. Trước đây, thần Vixnu đã từng giết Kyathi, vợ của Brigu, kẻ đã che chở cho bọn quỷ dữacurastrốn khỏi cơn giận của Người, khi bà từ chối không chịu nhân nhượng đối với Người. Mandorai, một người đàn bà đã tiêu diệt tất cả mọi cõi đời, bị Ngọc Hoàng Indra đánh quỵ, mà Indra vẫn được cả nhân loại tha cho. Đấy mới chỉ là hai trường hợp. Một người đàn bà sống như quỷ dữ thì đã mất tất cả mọi tư cách, và không còn được đối xử như một người đàn bà nữa. Mụ Thataka này còn đáng sợ hơn cả Thần chết Yama, vì Thần chết chỉ lấy cuộc đời của người khác khi thời gian đã chín muồi rồi. Nhưng con quỷ cái này, khi ngửi thấy mùi của một sinh vật là đã háo hức muốn giết và ăn ngay. Đừng có hình dung mụ ấy như một người đàn bà. Cậu phải truất bở hắn ra khỏi thế giới này đi. Đó là nghĩa vụ của cậu”.

Rama thưa: “Con sẽ xin làm theo lời thầy”.

Thataka ném chiếc đinh ba về phía Rama. Trong khi chiếc đinh ba đang bay tới, rừng rực lửa hồng, Rama giương cung lên, bắn một mũi tên dập tan chiếc đinh ba ra làm trăm mảnh. Sau đó, mụ ta hốt luôn tất cả sỏi đá ném đi mong đè bẹp kẻ thù. Rama lại bắn mấy mũi tên nữa và biến tất cả những thứ đó thành ra vô hiệu. Cuối cùng một mũi tên của Rama xuyên qua họng con quỷ dữ và chấm dứt cuộc đời của nó; và cũng từ đó Rama bắt đầu nhận lấy sứ mệnh của mình là diệt trừ quỷ dữ và tội ác trong cõi trần này. Các thần tụ hợp trên trời bày tỏ nỗi vui mừng và niềm sảng khoái, rồi nói với Vivamitra: “Ôi, tôn sư, người là bậc thầy của các thứ vũ khí, xin người hãy đem tất cả hiểu biết và quyền lực của người truyền lại cho cậu bé này không chút e dè. Cậu ta là một vị cứu tinh”. Vivamitra làm đúng theo lời dặn này là đã dạy cho Rama tất cả những môn cần thiết cho việc sử dụng vũ khí. Sau đó ít lâu, các vị thần đứng đầu từng loạiashiras(vũ khí) kính cẩn hiện lên trước mặt Rama và tuyên bố: “Giờ đây, chúng tôi là người của Ngài, xin Ngài cứ ra lệnh cho chúng tôi, không kể ngày đêm”.

Khi họ đến một khu rừng mịt mù sương phủ, trên một ngọn núi, Vivamitra lại kể một câu chuyện khác.

Câu chuyện Mahabali

Đây là vùng đất thánh nơi thần Vixnu đã có lần ngồi nhập định. (Mặc dầu Rama chính là Vixnu, cái lốt người trần thế của chàng trong lúc này làm cho chàng không hay biết gì về nguồn gốc của mình cả). Trong khi thần Vixnu dấn thân vào cuộc hóa kiếp này, thì Mahabali đã tóm cả đất và trời bắt phải thần phục lão. Lão chúc mừng chiến thắng này bằng cách tổ chức một lễ tế thần rất lớn và nhân dịp này mời tất cả các vị trí thức đến dự. Tất cả các vị thần đã từng chịu khổ đau khi phải đương đầu với Mahabali, đều kết thành đoàn kéo nhau đến nơi trước kia thần Vixnu đã ngồi nhập định và cầu xin Người giúp đỡ họ lấy lại đất nước. Đáp lại những lời kêu gọi đó, thần Vixnu đầu thai vào một gia đình Brama làm một cậu bé tý hon. Trong con người hình dáng nhỏ nhoi này, lại có vô vàn kiến thức và uy lực. Mahabali rất nhanh chóng nhận ra tầm cỡ lớn lao của cậu, khi chính bản thân cậu đến trình diện trước cung vua. Mahabali đã hết sức kính cẩn và nồng nhiệt đón tiếp người khách này.

Người khách nói: “Tôi được nghe danh tiếng lẫy lừng của Ngài nên tôi đã từ rất xa tìm đến. Lòng ham muốn cả đời tôi là được nhìn thấy một người lừng danh vì lòng cao cả và lượng bao dung. Hôm nay, được gặp Ngài đây thì tôi đã thỏa mãn nỗi lòng ham muốn trọn đời của tôi rồi. Toàn thiện, toàn mỹ đến như Ngài thực không có gì có thể so sánh được. Khi một kẻ nghèo hèn như tôi mà được nhìn qua một chút thánh thể của Ngài, thì một phần của thánh thể cũng đã đến với tôi rồi”.

“Thôi, xin ngài đừng ca ngợi tôi nữa”, Mahabali trả lời, “tôi chẳng qua cũng chỉ là một võ tướng, một kẻ đi chinh phục đất đai – những loại người thấp kém nếu đem so với những người học vấn uyên thâm như ngài. Tôi không phải dễ dàng bị cái dáng dấp bên ngoài ám ảnh. Tôi biết ngài là một vĩ nhân. Tôi sẽ tất sung sướng nếu ngài bằng lòng nhận một chút quà của tôi gọi là đáp lại cái vinh dự mà cuộc đi thăm của ngài đã đem lại cho tôi”.

“Thưa, tôi không muốn gì cả. Tôi không cần một món quà nào khác hơn là thiện chí của ngài”.

“Không, xin ngài chớ đi, ngài cứ yêu cầu một cái gì đi. Ngài cứ ghi lại cái gì ngài thích đi. Tôi sẽ rất sung sướng được thỏa mãn điều đó”.

“Vâng, nếu ngài cứ khẩn khoản như thế, thì tôi xin ngài cho tôi một mảnh đất”.

“Được rồi, ngài cứ chọn chỗ đất nào ngài thích”.

“Một mảnh đất rộng không hơn ba bước chân của tôi”.

Balimỉm cười, nhìn anh ta từ trên xuống dưới, rồi hỏi: “Thế đã đủchưa? ”.

“Đủ rồi”.

“Bây giờ, tôi sẽ…” Mahabali bắt đầu nói, nhưng không để ông ta nói hết câu, quân sư Sucrucharya đã cắt ngang và nói xen vào: “Tâu Hoàng thượng, xin Người hãy thận trọng. Con người nhỏ bé trước mặt Người đây chỉ là một sự trá hình; anh ta nhỏ đấy nhưng là một vũ trụ nhỏ…”

“Thôi, đừng nói nữa! Ta biết rõ trách nhiệm của ta. Cho, khi mình có thể cho, là thức thời, còn ngăn cản một tặng phẩm là một hành động phỉ báng, không xứng đáng với ông. Một người ích kỉ cũng không xấu gì hơn một kẻ đã đưa tay ra cho rồi dừng lại. Thôi, đừng ngăn ta nữa”. Nhà vua nói xong, rồi rót một chút nước trong bình vào lòng bàn tay lật ngửa của người tí hon kia để khẳng định lời hứa của mình. (Theo một vài bản thì lúc này quân sư Sucrucharya biến thành con ong bay vào làm nghẽn cái bình, không rót được nước ra, và như thế đất vẫn còn giữ lại được, không phải đem cho. Người tí hon nhận thấy điều đó, đã lấy một ngọn cỏ nhọn cho vào bình, nhờ vậy chiếc bình được thông, nhưng cỏ lại bắn vào mắt Sacrucharya; do đó về sau người ta thường gọi ông là nhà học giả một mắt). Rót nước rồi,Balimới bảo người tí hon: “Nào, ngài hãy đo và lấy chỗ đất ba bước của ngài đi”.

Vào lúc nước rơi vào bàn tay thì cái con người mà khuôn mặt đối với cha mẹ trông cũng buồn cười, bỗng dưng có vóc hình to lớn đồ sộ ngang với cả đất trời. Bước thứ nhất anh ta đo hết cả đất; bước thứ hai anh ta đo hết cả trời. Còn bước thứ ba, thì trong khắp cả vũ trụ không còn một chỗ nào nữa để đo, và anh ta hỏi Mahabali: “Tôi sẽ đặt bước thứ ba của tôi ở đâu?”.

Mahabali hoảng hốt, quỳ xuống, cúi lạy và nói: “Nếu không còn chỗ nào khác thì đây, đầu tôi đây”. Vixnu đưa chân lên, đặt trên đầu Mahabali và đạp hắn ta xuống đến tận cùng địa ngục, rồi bảo: “Thôi, người cứ ở lại đây”, và kẻ chuyên phá rối cõi đời này đã được xử như vậy đó.

*

**

Kết thúc câu chuyện, đạo sĩ Vivamitra bảo rằng: “Đây là chấm dứt hành trình của chúng ta theo thời gian đã định. Ta sẽ tiến hành lễ tế thần ở đây với sự che chở của các cậu”.

Đạo sĩ mời một đoàn các vị thánh và chuẩn bị cho buổi lễ. Rama và Lasơmana lo việc canh giữ chỗ đất. Trong khi đó thì bọn quỷ dữ tập hợp nhau trên trời bên trên vùng đất thánh, sẵn sàng xông vào phá buổi lễ. Bọn quỷ dữ mang theo nhiều thứ vũ khí nguy hiểm, la hét, gầm réo ầm ỹ, cố tình gây hỗn loạn theo cách khác. Chúng trút nước sôi và rác bẩn xuống, trút những lời phỉ báng, dọa nạt, chúng đập những tảng đá lớn ra rồi ném xuống và làm đủ moi thứ phù phép kinh khủng nữa.

Các vị thánh trông có vẻ hoang mang, hoảng sợ. Rama khuyên họ: “Xin các vị cứ bình tĩnh và tiếp tục cầu kinh đi”.

Lasơmana nói với Rama: “Xin để em đương đầu với chúng nó”. Chàng lao thẳng vào bọn quỷ, còn Rama thì bắn lên một mũi tên, và tạo ra mọt cái ô che cho vùng đất thánh khỏi bị máu của lũ quỷ làm hoen ố. Subahu và Marisa, con của Thataka cho rằng đây là dịp tốt nhất để trả thù cho mẹ chúng và nhằm đánh vào Rama là chính, nhưng mũi tên đầu tiên của chnagf đã tống Marisa ra tận ngoài xa, rồi hất luôn nó xuống biển; mũi thứ hai loại trừ nốt Subahu. Bọn quỷ dữ trước đây hăng hái tập hợp nhau lại, giờ hoảng hốt bỏ chạy tán loạn.

Buổi lễ tế thần đã thành công. Đạo sĩ Vivamitra tuyên bố: “Hỡi Rama, chỉ cậu mới có thể giúp ta trong công việc này. Buổi lễ tiến hành không phải chỉ để thỏa mãn riêng ta, mà còn đem lại điều hay, điều lành cho cả nhân loại nữa”.

Rama hỏi: “Sắp tới còn phải làm gì nữa? ”.

Vivamitra trả lời: “Giờ thì cậu đã làm được rất nhiều rồi. Nhưng trước mắt cậu hãy còn rất nhiều việc”, và liên tưởng đến những việc Rama phải làm tròn dưới dạng hóa thân này, đạo sĩ nói tiếp: “Giờ đây, chúng ta hãy đi tới thành phố Mithia, ở đó sẽ có một lễ tế thần rất lớn do Vua Janaka cử hành và ở đó sẽ có nhiều việc khác sẽ xảy đến và cậu sẽ thấy hứng thú trong những trò giải trí đó”. Mặc dầu theo sự gợi ý của ông, thì chuyến đi này là một dịp nghỉ ngơi đối với Rama, ông cũng thấy trước rằng đó chỉ là mở đầu cho một chuỗi dài những sự kiện mà rồi đây, trong tương lai, Rama sẽ phải dấn thân vào.

Đi được một ngày, họ đến thung lũng có sông Hằng đang chảy. Đạo sĩ nói: “Đấy, các cậu thấy con sông Hằng, con sông thiêng liêng nhất trong cõi trần này, từ trong núi Hy Mã Lạp Sơn chảy ra, và chảy xuyên qua nhiều thung, nhiều núi, băng qua nhiều vương quốc. Giờ đây nó chảy lặng lẽ thế này, nhưng lúc đầu… Nhưng thôi, hãy nghe câu chuyện của nó”.

Chuyện sông Hằng

Mỗi một tấc đất trên cõi trần này, như các cậu giờ đây đã có thể nhận ra được, đều có một kỷ niệm thiêng liêng. Mẹ Đất đã có mặt ở đây ngay từ khi mới tạo thiên lập địa và là một trong năm nguyên tố đầu tiên. Người đã nhìn thấy vô số những cặp chân theo đuổi hàng nghìn mục đích, ý đồ, cả thiện lẫn ác, và sẽ còn tiếp tục mãi cho đến khikala(Thời gian) nuốt chửng và tiêu đi tất cả mọi thứ. Ngay cả khi các thành viên đều đã vãn hết rồi, mỗi tấc đất vẫn còn giữ lại dấu vết của tất cả những gì đã từng xảy ra thuở trước. Chúng ta chỉ biết được đầy đủ khi ta nhớ đến những kỷ niệm thiêng liêng hoặc những kỷ niệm khác trên từng mảnh đất ta đặt chân lên. Nếu khác đi thì cũng tựa như người mù đi qua những hành lang và những khu vườn chói chang, rực rỡ. Chính vì vậy mà ta đã giảng giải cho các cậu nghe câu chuyện của từng nơi ta đã đi qua. Các cậu thấy con sông này đấy. Nó là sông Hằng từ dãy núi Hy Mã Lạp Sơn xuống, chảy dọc theo thung lũng mang trong mình hương thơm của nhiều thứ cỏ lạ và của những thứ hiếm hoi tìm thấy trên đường. Sông chảy qua khá nhiều vương quốc, và mỗi tấc đất nó đụng tới đều trở thành thiêng liêng; sông Hằng rửa sạch mọi tội lỗi và hóa thân cho mọi người; người chết có thể được cứu rỗi bằng một ngụm nước sông này hoặc bằng một ít tro từ xương người đốt ra và ném vào trong nước đó. Giờ các cậu thấy con sông trong và đẹp. Nhưng sông Hằng đã bị kiềm chế và thẩm tra trước khi xuống tới chỗ đất này; câu chuyện của nó cũng hàm cả số phận của tổ tiên các cậu nữa đấy, của các vị tổ tiên lâu đời nhất.

Xakara, một trong các vị tổ tiên của hai cậu đã từng cai trị đất này rất đỗi tài năng. Người có rất nhiều con trai, cũng tài năng và cũng hết lòng tận tụy với cha mình. Đến một lúc thích hợp, Người có ý định tổ chức một lễ tế thần rất quan trọng, gọi là “Lễ Ngựa”.

Để chuẩn bị cho buổi lễ này, người ta thả một con ngựa lộng lẫy, yên cương đầy đủ và trang hoàng rực rỡ, cho nó được tự do theo ý muốn chạy qua biên giới rất nhiều vương quốc, và nước nào để cho ngựa chạy qua thì coi như đã chịu thần phục người chủ ngựa. Nhưng nếu ở nơi nào đó người dám bắt con ngựa lại, cử chỉ đó sẽ được coi như một lời thách thức và sẽ gây ra chiến tranh; người chủ con ngựa sẽ đánh cái quốc gia nơi con ngựa bị bắt rồi lại thả nó ra lần nữa, rồi lại lần nữa, lần nữa mãi cho đến khi nó đi thông được hết và quay trở về nhà. Thế là tất cả những nước con ngựa đã đi qua đều trở thành chư hầu của nhà vua, và nhà vua mừng chiến thắng đó bằng cách tổ chức “Lễ Ngựa” lớn lao này, nó đưa ông lên địa vị chúa tể tối cao của cõi trần. Những người hưởng ứng một kế hoạch như vậy đều tin chắc ở thắng lợi và có thể đương nhiên nghĩ đến việc mở rộng đất đai và thách thức đến cả chính Indra nữa. Do đó mà Indra và tất cả các vị thần đều hết sức cảnh giác và bực mình mỗi khi thấy có một lễ tế thần đang được chuẩn bị và tìm đủ mọi cách làm cho nó thất bại.

Khi con ngựa của Xakara sắp sửa ra đi thì Indra chặn lại, và giữ nó ở một nơi rất xa, sâu thăm thẳm dưới mặt đất, đằng sau đạo sĩ Kapila, người đã tìm được nơi ẩn náu xa xôi dưới đất này sớm hơn để dùng làm nơi tụng niệm và suy tưởng. Khi biết con ngựa đã bị bắt đưa xuống tận dưới đất, những người con của Xakara bắt đầu đào sâu xuống và rộng ra vào đến tận trong ruột gan của đất. Họ tìm thấy con ngựa đang bị trói đằng sau một người đang ngồi tham thiền nhập định; họ bắt con ngựa và hành hạ vị thánh vì họ tin chắc rằng ông ta đã lấy cắp con ngựa; ngay lúc đó vị thánh nhìn họ trừng trừng và đôi mắt giận dữ bừng bừng như lửa của ông ta đã đốt họ ra tro. Có một người trong đoàn sống sót – người cháu nội của nhà vua –, anh ta đến tạ lỗi vị thánh rồi trở về nhà giúp vua hoàn tất Lễ ngựa. Về sau, nhà vua thoái vị, nhường ngôi lại cho cháu; con trai của anh ta, Bhagiratha, được giao cho trọng trách phải đưa cho được sông Hằng xuống đất.

Khi Bhagiratha lớn lên và biết được số phận của tổ tiên mình, thì anh ta tự thấy có nhiệm vụ phải giúp cho các vị được cứu rỗi và có một chỗ xứng đáng để dung thân chứ không phải cứ lơ lửng mãi giữa không trung. Anh ta hết lòng hết dạ cầu khẩn đức Brahama, vị sáng thế đến hàng vạn năm và được Người dạy cho phải tìm đến nhờ thần Xiva giúp đưa con sông Hằng từ trên trời cao xuống dưới cõi trần, rồi đem xương của các vị tổ tiên rửa vào trong nước thánh. Anh ta cầu khẩn thần Xiva đến một vạn năm, thần hiện lên và hứa sẽ thỏa mãn yêu cầu của anh nếu anh thuyết phục được sông Hằng chịu xuống. Anh ta lại cầu khẩn sông Hằng đến năm nghìn năm. Sông Hằng hiện lên trong hình vóc một cô gái nhỏ nhắn xinh xắn và nói: “Xiva đã hứa sẽ giúp đỡ ngươi, đó là điều chắc chắn, nhưng nếu sông Hằng chảy xuống với tất cả sức mạnh của nó, thì cõi trần này không thể nào chịu nổi, không gì có thể chịu nổi sức mạnh ào ào chảy xuống của sông Hằng. Thần Xiva nhận giúp người – nhưng phải hỏi xem ý thần là như thế nào. Hãy cầu thần một lần nữa đi”.

Sau khi Bhagiratha cầu nguyện thêm, thần Xiva lại hiện lên lần nữa và nói: “Hãy cứ để cho sông Hằng chảy xuống, ta sẽ giúp ngươi. Ta sẽ trông nom khô để cho một giọi nước nào bị phí hoài hay được phép gây tai họa cho bất cứ một ai”. Lời hứa đó đã chuyển thành một loạt những lời thách thức giữa Xiva và sông Hằng, và Bhagiratha bắt đầu cảm thấy rằng anh ta đang dựa vào những lời thách thức của hai vị thần. Nhưng vững vàng, bền bỉ (tên của anh ta là một từ đồng nghĩa với vững bền, dai dẳng), anh ta cầu nguyện ba vạn năm tất cả, chịu đựng rất nhiều điều khổ hạnh khắc nghiệt,như sống bằng lá khô rụng, rồi bằng khí trời, rồi bằng ánh nắng, và đến giai đoạn cuối cùng anh ta bỏ tất cả những thứ đó, sống không dùng một thứ gì cả, tâm tâm, niệm niệm rằng trong cõi đời này khong có gì khác ngoài ý đồ của anh và rất tin tưởng ở nó.

Đến khi cuộc hành xác Bhagiratha chấm dứt, thì sông Hằng từ gốc vốn ở rất xa thế giới của Brahma, vị sáng thế, bắt đầu chảy xuống thành một trận hồng thủy dữ dội. Như đã hứa, thần Xiva hiện lên vừa đúng lúc trận hồng thủy sắp sửa trùm lên và đập trái đất nát vụn ra như cám. Thần Xiva lấy thế, đứng vững trên hai chân, khuỳnh tay ra và đưa ra đón nhận dòng sông đang ào ào chảy xuống và thế là trận hồng thủy đáng sợ đã tan biến đi trong những lọn tóc rối tung của Người. Tất cả những tiếng gào réo ầm ỹ và hành động kiêu căng, tự phụ của sông Hằng cuối cùng đã đi tới cái kết thúc ngoan ngoãn này – yên tĩnh và ngoan ngoãn đến nỗi chính Bhagiratha cũng cảm thấy khó chịu. Nếu như kết cục của sông Hằng chỉ có thế thì tất cả bao nhiêu năm khổ hạnh và nguyện cầu của anh ta không đem lại được gì trong kết cục này cả. Thần Xiva hiểu nỗi lo sợ của anh ta nên đã nhổ một sợi tóc của Người cho Bhagiratha; anh ta rất cẩn thận và lo âu đi theo sợi tóc xuống dưới đất, đến tận nơi có tro của tổ tiên anh và giúp cho linh hồn các vị được cứu rỗi. Nhưng Bhagiratha không phải chỉ giúp cho linh hồn của tổ tiên mình, mà còn giúp cho cả nhân loại nữa, vì sông Hằng mang theo dọc đôi bờ vô số những điện thờ thiêng liêng và dọc theo dòng chảy của nó đã nuôi dưỡng hàng triệu thước đất và hàng triệu sinh linh. Và hố sâu mà con cái Xakara đào trong khi đi tìm ngựa cũng đầy lên, trở thành những biển lớn ngày nay.

*

**

Đô thành Mithila đã đến trong tầm mắt họ. Khi đi qua một chỗ đất hơi nhô cao lên một chút bên những tường lũy của pháo đài, Rama chú ý đến một tảng đá hình thù không rõ ràng, đứng chôn một nửa dưới đất; khi chàng sát bàn chân lên, thì bụi nơi chân chàng rơi xuống tảng đá, và ngay lúc đó, biến nó thành một người đàn bà đẹp. Người đàn bà trân trọng cúi chào và kính cẩn đứng ra một bên. Vivamitra giới thiệu nàng với Rama: “Nếu cậu đã nghe nói đến đạo sĩ Gôtama mà những lời nguyền rủa đã khiến cho thân hình của Indra vĩ đại có đến nghìn mắt… Người đàn bà này là vợ của Người đấy, tên nàng là Ahalia”. Và Đạo sĩ kể lại với Rama câu chuyện của nàng.

Chuyện nàng Ahalia

Ngoài những yếu tố của cái đẹp tuyệt đối ra, có một lần đức Brahma đã tạo ra một người đàn bà, và đặt tên cho nàng là Ahalia (tiếng Xanxcri có nghĩa là đẹp tuyệt vời). Thần Indra, vốn là vị thần cao cả nhất trong các thần, say mê vẻ dẹp của nàng, và đinh ninh rằng chỉ mình mới xứng đáng được lấy nàng làm vợ. Đức Brahma biết được tham vọng và thói kiêu căng của Indra, đã bỏ qua không nhắc đến ông ta, mà tìm đạo sĩ Gôtama, và giao phó cô gái cho Người. Cô lớn lên trong sự chăm nom, săn sóc của Người, và khi đã đến lúc thì đạo sĩ đem trả cô ta lại cho đức Brahma, và xin đức sáng thế cho cưới nàng luôn.

Đức Brahma đánh giá cao tấm lòng tinh khiết và tư tưởng trong sáng của vị đạo sĩ (đầu óc của Người chưa hề có một lần để gợn những ý nghĩ tầm thường về xác thịt), và phán: “Con hãy lấy nó đi, nó xứng đáng là vợ của con, hay nói đúng hơn, chỉ con mới xứng đáng là chồng của nó”. Nàng đã lấy chồng như vậy đó và được đức Brahma cùng các vị thần khác ban phúc cho. Vốn đã sống với Gôtama suốt cả thời thơ ấu, nên Ahalia biết rõ tính nết của Người và đã tỏ ra là một người vợ tuyệt vời. Họ đã sống hạnh phúc với nhau.

Thần Indra vẫn không chịu từ bỏ những ảo vọng xấu xa đối với Ahalia, và đã thường tới gần lều cỏ của đạo sĩ Gôtama dưới nhiều lốt hóa thân khác nhau, đợi hễ có dịp là ngắm nhìn và thưởng thức vẻ đẹp của khuôn mặt và dáng hình Ahalia; thần cũng theo dõi những thói quen của đạo sĩ và biết hàng ngày đạo sĩ thường rời lều vào lúc bình minh đi ra sông để tắm và để cầu kinh khoảng hai tiếng đồng hồ. Không thể chịu đựng nổi một mối tình hờ hững như thế này nữa, Indra quyết định dừng mưu mô lừa bịp để chiếm trái tim nàng. Một hôm, khó lòng đợi cho đến giờ đạo sĩ ra đi theo thường lệ, thần đã giả tiếng gáy của con gà trống, đánh thức đạo sĩ dậy. Vị đạo sĩ tưởng trời đã sáng nên đi ra sông. Bây giờ, Indra mới đội lốt đạo sĩ chui vào trong lều, và làm tình với Ahalia. Nàng thuận tình, nhưng chẳng mấy chốc đã nhận ra kẻ đang hưởng thụ với mình đây là một tên lừa bịp, nhưng nàng không thể làm gì được nữa rồi. Ngay lúc đó, Gôtama quay trở về, trong lòng tự nhiên cảm thấy có điều gì không hay và bắt gặp cả hai trên giường. Ahalia đứng sang một bên vừa xấu hổ, vừa hối hận. Indra vội biến thành con mèo (là con vật dễ nhập vào và dễ thoát ra nhất) và tìm cách chuồn đi. Nhà đạo sĩ hết nhìn con mèo đến nhìn người đàn bà và không hề thất vọng. Ông chặn con mèo lại và nói với nó những lời sau đây:

“Này mèo, ta biết ngươi rồi, tính đam mê đến ám ảnh đối với giống cái là tai họa của ngươi. Như vậy sẽ có hàng nghìn dấu vết của giống cái phủ lên trên thân thể ngươi để cho mọi người trên khắp cõi trần này có thể hiểu được đầu óc ngươi luôn luôn có gì đang thực sự diễn ra trong đó”. Những lời này vừa mới thoát ra khỏi môi đạo sĩ thì lập tức bộ phận sinh dục của người phụ nữ hiện lên trên khắp thân thể của Indra. Thật không có gì xấu hổ nhục nhã hơn nữa đối với tên Indra kiêu căng và hay làm dáng này.

Sau khi Indra rút lui, trở về thế giới của hắn, đạo sĩ Gôtama nhìn vợ và nói: “Thân thể của nàng đã phạm vào tội lỗi. Hãy để cho cái thân thể đó cứng lại thành một tảng đá không có hình thù rõ ràng, ngay ở nơi nàng…”. Ahalia thất vọng, van xin: “Thiếp đã phạm phải một sự nhầm lẫn nghiêm trọng. Những tâm hồn cao cả xưa nay vẫn tha thứ cho những lầm lạc của những kẻ thấp kém hơn mình. Xin… thiếp đã cảm thấy một sức nặng đang bò dần lên chân. Xin chàng hãy làm một điều gì… để giúp thiếp…”.

Lúc này đạo sĩ cũng thấy khổ tâm và nói: “Khi nào chàng Rama, con trai của vua Đaxaratha đi qua con đường này vào một ngày nào sau này thì nàng sẽ được cứu rỗi”.

“Bao giờ? Và ở đâu? ” Nàng thất vọng hỏi lại, nhưng trước khi lời nói ra khỏi môi thì nàng đã biến thành một tảng đá rồi.

Tình cảnh của Indra lúc đầu đã trở thành một trò chơi trong cõi trần này, nhưng về sau thì thấy rõ là bi thảm quá. Hắn luôn ở trong bóng tối và chui rúc trong các xó xỉnh, không bao giờ dám ra trước mặt người khác, cả đàn ông lẫn đàn bà. Điều đó đã làm động lòng các vị thần, hơn nữa, những nhiệm vụ trăm hình nghìn vẻ trong nhiều thế giới khác nhau đều phải ngưng lại cả, nên họ đã kéo một đoàn đến gặp đức Brahma và xin Người can thiệp giúp với đạo sĩ Gôtama. Bây giờ, nỗi bực dọc trong lòng nhà đạo sĩ cũng đã nguôi rồi. Và Người đã đáp lại lời kêu gọi của đức Brahma: “Cho một nghìn thứ cộng thêm vào dáng dấp của Indra đều trở thành mắt cả”. Về sau, do đó mà Indra đã trở thành “Vị thần nghìn mắt”.

*

**

Vivamitra kết thúc câu chuyện và nói với Rama: “Hỡi đại nhân, ngài sinh ra là để phục hồi đạo đức và lẽ phải cho nhân loại và tiêu diệt tất cả mọi tội ác. Trong buổi lễ tế thần vừa qua, tôi đã có dịp nhìn thấy uy lực của đôi cánh tay của ngài và giờ đây tôi lại được thấy tầm cỡ lớn lao của bàn chân ngài chạm tới”.

Rama nói với Ahalia: “Nàng nên đi tìm gặp người chồng đáng kính của nàng và hãy sống với người như trước. Còn những chuyện cũ đã qua rồi thì thôi, không nên để nó đè nặng trong lòng nữa”.

Trên đường đến Mithila, họ dừng lại ngủ ở nơi ẩn dật của Gôtama, và Vivamitra đã nói với đạo sĩ: “Bà vợ của đạo sĩ đã có lại được hình dáng bình thường như cũ, nhờ có được bàn chân của Rama chạm đến. Đạo sĩ hãy đến đón nàng về, trái tim nàng đã được rửa sạch qua bao nhiêu thử thách mà nàng đã chịu đựng. Tất cả những việc đó làm xong, họ lại tiếp tục đi, để lại sau lưng những rừng xanh và những lùm cây ngào ngạt hương thơm, và đến gần những chiếc cổng lớn của đô thành Mithila.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.