Giờ đây, hỡi nữ thần Muse, ái nữ của Zeus, xin hãy kể về những nỗi gian lao và mưu mẹo của thiếu nữ xứ Colchis. Quả thực, tâm can ta đang chấn động trong nỗi kinh hoàng không nói nên lời, tự hỏi không biết nên gọi đó là niềm sầu muộn vì tình yêu cuồng dại hay là một cuộc đào thoát vội vàng, qua đó nàng đã bỏ lại sau lưng thần dân xứ Colchis.
Suốt cả đêm dài, vua Aeetes cùng các vị tướng dũng cảm nhất trong dân tộc mình đã bàn tính trong cung điện những âm mưu thâm độc chống lại các anh hùng, lòng hừng hực cơn giận dữ trước kết quả của cuộc tranh tài đầy căm phẫn; và nhà vua hoàn toàn không mờ hồ rằng những việc này diễn ra mà các công chúa của ngài không hay biết.
Nhưng thần Hera đã gieo vào lòng Medea nỗi sợ hãi tột cùng; và nàng run rẩy như chú nai tơ bị tiếng chó sủa làm cho khiếp vía giữa lùm cây rậm rạp của khu rừng sâu. Bởi ngay lập tức, nàng thực sự linh cảm rằng sự giúp đỡ mà mình trao đi không thể giấu được cha, và chẳng mấy chốc nàng sẽ phải cạn chén đắng muộn phiền. Nàng kinh hãi việc những nữ tì của mình sẽ tố giác tội lỗi; mắt nàng như lửa đốt và tai vang lên những tiếng thét kinh hoàng. Nàng thường đưa tay bóp nghẹt cổ họng, thường tự tay bứt tung những lọn tóc và rên rỉ trong sự tuyệt vọng khốn cùng. Chính ngay vào ngày hôm đó, thiếu nữ đã phải nếm trải độc dược và bỏ mạng, qua đó làm tan biến những dự định của thần Hera, nếu như nữ thần không thúc giục nàng, trong cơn hoảng loạn, phải trốn chạy cùng các con của Phrixus; và tâm hồn đang xao động trong lồng ngực nàng bỗng được xoa dịu; để rồi nàng trút từ ngực áo tất cả số độc dược trở lại vào chiếc tráp. Rồi nàng hôn chiếc giường của mình, hôn những cánh cửa gập ở cả hai phía, vuốt ve những bức tường, và giật phăng một lọn tóc dài trong tay, nàng để lại nó trong phòng cho thân mẫu như một vật kỷ niệm thời thiếu nữ, rồi cất tiếng khóc than đầy thống thiết:
“Hỡi thân mẫu, con ra đi và để lại lọn tóc dài này thay cho tấm thân con; xin hãy nhận lời từ biệt này khi con đi đến chốn xa xôi; tạm biệt Chalciope, và tất cả tổ ấm của con. Ước gì đại dương kia, hỡi người lạ mặt, đã đập ngươi thành từng mảnh trước khi ngươi đặt chân đến vùng đất Colchis!”
Nàng cất lời, giàn giụa những giọt nước mắt lăn dài trên má. Và tựa như một nữ nô lệ lén lút trốn khỏi ngôi nhà giàu có, kẻ vừa bị số phận cắt đứt khỏi quê hương chôn rau cắt rốn, chưa từng nếm trải những lao nhọc đớn đau, vẫn còn ngây thơ trước mọi lầm than và co ro vì sợ hãi trước những công việc đọa đày của kẻ ăn người ở, phải lang thang dưới đôi bàn tay tàn nhẫn của bà chủ; thiếu nữ kiều diễm cũng lao khỏi mái nhà của mình như thế. Nhưng những chiếc then cửa đã tự động bung ra, nhảy lùi lại trước những câu âm chú ma thuật nhanh như chớp của nàng. Với đôi chân trần, nàng rảo bước dọc theo những lối đi hẹp, tay trái kéo chiếc áo choàng che trán để giấu đi khuôn mặt cùng đôi má ngọc ngà, còn tay phải nâng vạt áo tunic lên. Nàng nhanh chóng vượt qua con đường tối tăm bên ngoài những tháp canh của thành phố rộng lớn trong nỗi sợ hãi; và không một lính canh nào nhận ra nàng, nàng lướt qua mà không bị họ phát hiện. Từ đó, nàng định đi đến đền thờ; bởi nàng rất rành đường đi lối lại, vì trước kia từng nhiều lần lang thang ở đó để tìm kiếm xác chết cùng những thứ rễ cây độc hại của mặt đất, như thói quen của một nữ phù thủy; và tâm hồn nàng phập phồng trong nỗi sợ hãi run rẩy. Nữ thần Titan, vầng trăng rọi sáng từ phương xa, đã nhìn thấy nàng đang trốn chạy trong cơn cuồng loạn, và hả hê vô cùng, thầm thì với chính tâm can mình:
“Thế ra không phải chỉ một mình ta lang thang đến hang động Latmian, cũng chẳng phải một mình ta cháy bỏng tình yêu dành cho Endymion tuấn tú; đã bao lần ta bị xua đuổi bởi những phép thuật xảo quyệt của ngươi, để trong bóng tối đêm dài ngươi có thể mặc sức hành nghề phù thủy, thực hiện những việc làm ngươi yêu thích. Và giờ đây, chính ngươi cũng vướng vào một mối tình cuồng dại tương tự; thần ái tình nào đó đã trao Jason cho ngươi làm nỗi đau khổ tột cùng. Thôi được, hãy bước tiếp, và hãy tôi luyện trái tim ngươi, dẫu ngươi có khôn ngoan đến đâu, để gánh lấy trọn vẹn gánh nặng đớn đau chất chứa đầy những tiếng thở dài.”
Nữ thần cất lời; nhưng đôi chân thiếu nữ vẫn rảo bước thật nhanh, vội vã tiến lên. Nàng hân hoan đặt chân lên bờ cao của dòng sông và nhìn thấy ở bờ bên kia ánh lửa bập bùng mà suốt đêm dài các anh hùng đang nhóm lên trong niềm hân hoan vì kết quả cuộc đấu. Rồi xuyên qua màn đêm, với giọng ca trong trẻo vang vọng từ bên kia dòng suối, nàng gọi Phrontis, người con út của Phrixus, và chàng cùng các anh em của mình cùng con trai của Aeson đã nhận ra giọng của thiếu nữ; các đồng đội của chàng ngạc nhiên đến lặng người khi biết đó thực sự là nàng. Ba lần nàng gọi, và ba lần theo lệnh của toàn đội, Phrontis lớn tiếng đáp lời; trong khi đó các anh hùng đang dùng đôi mái chèo khua nước thật nhanh để tìm kiếm nàng. Họ còn chưa kịp quăng dây cáp của con tàu lên bờ bên kia thì Jason đã nhẹ nhàng nhảy từ trên boong tàu xuống đất, tiếp theo sau chàng là Phrontis và Argus, những người con của Phrixus; còn nàng, ôm chặt lấy đầu gối họ bằng cả hai tay, cất lời khẩn cầu:
“Hỡi những người bạn, xin hãy cứu vớt tôi, một kẻ bất hạnh, khỏi tay Aeetes, và cứu cả chính các bạn nữa, bởi mọi chuyện đã phơi bày và chẳng còn phương thế nào cứu vãn. Nào, hãy cùng nhau trốn chạy trên con tàu trước khi nhà vua leo lên cỗ chiến xa phóng như bay. Tôi sẽ ru cho con rắn canh gác chìm vào giấc ngủ và trao cho các bạn bộ lông cừu vàng; còn anh, hỡi người lạ mặt, trước mặt các đồng đội của mình, hãy làm chứng cho những lời thề anh đã hứa vì tôi; và giờ đây, khi tôi đã trốn chạy xa xứ sở, xin đừng biến tôi thành đối tượng cho những lời khiển trách và sỉ nhục chỉ vì thiếu vắng người thân.”
Nàng nghẹn ngào cất lời trong đau đớn; nhưng trái tim con trai của Aeson khôn xiết vui mừng, và ngay khi nàng khuỵu xuống đầu gối mình, chàng dịu dàng nâng nàng đứng dậy, ôm lấy nàng vào lòng và cất lời an ủi: “Hỡi nàng, xin chính thần Zeus trên đỉnh Olympus và thần Hera, nữ hoàng của hôn nhân, hiền thê của Zeus, hãy làm chứng cho lời thề của ta rằng ta sẽ đưa nàng về cung điện của mình, lập nàng làm người vợ chính thất, khi chúng ta trở về đến vùng đất Hellas.”
Chàng vừa dứt lời liền nắm chặt bàn tay phải của nàng; và nàng giục họ chèo con tàu lướt nhanh đến khu rừng thiêng gần đó, để khi đêm còn chưa tàn, họ có thể cướp lấy và mang bộ lông cừu đi bất chấp ý muốn của Aeetes. Lời nói và hành động hòa làm một đối với đoàn thủy thủ đầy sốt sắng. Họ đưa nàng lên tàu, lập tức đẩy thuyền rời bờ; tiếng động vang lên rền vang khi các vị thủ lĩnh dồn sức vào mái chèo, còn nàng, giật mình lùi lại, đưa đôi tay đầy tuyệt vọng hướng về phía bờ. Nhưng Jason đã cất lời an ủi và kìm nén nỗi đau buồn của nàng.
Giờ đây, vào khoảnh khắc con người rũ bỏ giấc ngủ khỏi đôi mắt — những thợ săn, vì đặt trọn niềm tin vào bầy chó săn, chẳng bao giờ ngủ quên khi đêm sắp tàn, mà luôn tránh ánh sáng ban mai kẻo những tia nắng trắng xóa của nó xóa nhòa dấu vết và mùi hương của con mồi — thì con trai của Aeson và thiếu nữ bước ra từ con tàu đặt chân lên một khoảng thảm cỏ, nơi được người đời gọi là “Gác ngủ của con cừu”, nơi lần đầu tiên nó khuỵu đôi chân mỏi mệt để nghỉ ngơi, mang trên lưng người con dòng dõi Miny của Athamas. Và ngay gần đó, đen nhám vì muội than, là phần bệ của tòa tế đàn mà Phrixus dòng dõi Aeolus từng dựng lên cho thần Zeus, vị thần hộ mệnh của những kẻ lưu vong, khi chàng hiến tế kỳ quan bộ lông cừu vàng theo lời dắt dẫn của thần Hermes, vị thần đã nhân từ gặp chàng trên đường đi. Tại đó, theo mưu trí của Argus, các thủ lĩnh đã đưa họ lên bờ.
Cả hai theo lối mòn tiến vào khu rừng thiêng, tìm kiếm cội cây sồi khổng lồ treo bộ lông cừu vàng, trông tựa như đám mây ửng đỏ bởi những tia nắng rực rỡ của buổi bình minh. Nhưng ngay phía trước, con mãng xà với đôi mắt sắc lạnh không hề chớp đã nhìn thấy họ đến gần, nó vươn tấm cổ dài và rít lên một cách đáng sợ; khắp những bờ sông dài và khu rừng vô tận đều vang dội tiếng vọng. Những kẻ sống ở miền đất Colchis cách xa Aea thuộc dòng Titan vô cùng tận, gần cửa sông Lycus — con sông tách ra từ dòng Araxes gầm rú và hòa dòng nước thiêng của nó với Phasis, rồi cả hai cùng tuôn chảy thành một dòng đổ vào Biển Caspi — đều nghe thấy tiếng động ấy. Do quá sợ hãi, những người mẹ trẻ bừng tỉnh giấc, quàng đôi tay đầy đau đớn ôm chặt lấy những đứa con thơ đang say ngủ trong vòng tay, bởi những chân tay nhỏ bé đều giật mình trước tiếng rít ấy. Và tựa như khi phía trên đống củi đang âm ỉ cháy, vô số cuộn khói cuồn cuộn bay lên hòa lẫn với muội than, cuộn này tiếp nối cuộn khác thật nhanh, vút bay lên từ bên dưới thành những vòng khói lượn lờ; cũng vào lúc ấy, con quái vật đã cuộn những khúc mình vô số kể được bao phủ bởi lớp vảy cứng khô. Khi nó oằn mình quằn quại, thiếu nữ bước đến trước mắt nó, cất giọng ngọt ngào khẩn cầu giấc ngủ, vị thần tối cao, hãy đến giúp nàng làm tê liệt con quái vật; và nàng kêu gọi nữ hoàng âm phủ, kẻ lang thang trong đêm, hãy tỏ lòng khoan dung với hành động của nàng. Con trai của Aeson theo sau trong nỗi sợ hãi, nhưng con mãng xà, vốn đã bị ngự trị bởi khúc ca của nàng, đang duỗi thẳng tấm sống lưng khổng lồ và kéo dài vô số vòng cuộn, tựa như con sóng sẫm màu, lặng thinh và không một tiếng động, đang cuộn mình trên mặt biển lười biếng; thế nhưng nó vẫn ngẩng cao chiếc đầu gớm ghiếc, nung nấu ý định nuốt chửng cả hai trong cái hàm chết chóc. Nhưng nàng, với một nhành cây bách xù vừa mới chặt, nhúng và thấm đẫm thứ bùa phép tinh luyện từ vạc thuốc huyền bí của mình, vẩy lên đôi mắt nó trong lúc miệng lẩn nhẩn ngân nga khúc ca; và khắp xung quanh, mùi hương nồng đượm của bùa phép đã trùm lên giấc ngủ; ngay tại chỗ, nó hạ gầm chiếc hàm xuống; và tận sâu phía sau trong khu rừng rậm rạp với vô số tán cây, những khúc cuộn vô tận ấy vẫn đang duỗi thẳng ra.
Ngay lúc đó, Jason giật lấy bộ lông cừu vàng khỏi cây sồi theo lời dắt của thiếu nữ; còn nàng, đứng vững vàng, bôi thứ bùa phép lên đầu con quái vật cho đến khi chính Jason giục nàng quay trở lại tàu, và nàng rời khỏi khu rừng của Ares, chìm trong bóng râm tối sẫm. Và tựa như một thiếu nữ ngắm nhìn trên tấm áo dệt tinh xảo ánh trang rằm khi nó nhô lên khỏi căn phòng trên mái cao của nàng; và trái tim nàng hân hoan khi chiêm ngưỡng tia sáng đẹp đẽ ấy; cũng vào lúc ấy, Jason nâng cao bộ lông cừu vĩ đại trong tay; và từ ánh lấp lánh của những chùm len, một sắc đỏ rực như ngọn lửa đã phủ lên đôi má và vầng trán tuấn tú của chàng. Lớn bằng bộ da của một con bò đực một tuổi hoặc con hươu đực mà thợ săn gọi là brocket, bộ lông cừu vàng óng ánh ở mặt trên cũng có kích thước rộng lớn nhường ấy. Nó nặng nề, chi chít những cụm lông dày đặc; và khi chàng bước đi, ánh hào quang từ mặt đất thậm chí tỏa lên ngay dưới đôi chân chàng. Và chàng sải bước tiến đi với bộ lông cừu che kín vai trái từ tận cổ cho đến chân, đôi lúc chàng lại gom nó cả trong tay; bởi chàng vô cùng lo sợ, kẻo có vị thần hay người trần nào gặp mặt và cướp mất nó đi.
Ánh ban mai đang trải rộng khắp mặt đất khi họ trở về với đám đông các anh hùng; và các chàng trai kinh ngạc khi chiêm ngưỡng bộ lông cừu vĩ đại lấp lánh tựa như tia chớp của thần Zeus. Và ai nấy đều chồm dậy, số sắng muốn được chạm vào nó, muốn được ôm trọn nó trong tay. Nhưng con trai của Aeson đã ngăn tất cả lại, và quăng lên mình nó một chiếc áo choàng mới dệt; rồi chàng đưa thiếu nữ về phía đuôi tàu, xếp chỗ cho nàng ngồi đó và cất lời bảo ban tất cả mọi người:
“Hỡi những người bạn, giờ đây chớ nên trì hoãn việc trở về tổ quốc nữa. Bởi giờ đây, nhiệm vụ mà vì nó chúng ta đã dấn thân vào chuyến hải trình đầy gian khổ, chịu đựng bao đớn cay quặn thắt trong tim, đã được hoàn thành một cách nhẹ nhàng nhờ những mưu lược của thiếu nữ. Nàng đây — vì đó là ý muốn của nàng — ta sẽ đưa về nhà làm vợ chính thất; xin hãy bảo vệ nàng, vị cứu tinh vinh quang của toàn thể xứ Achaea và của chính các bạn. Bởi ta tin chắc rằng, Aeetes sẽ mang theo đại quân đến để chặn đường chúng ta từ sông ra biển. Nhưng giờ đây, một số người trong các bạn hãy luân phiên kéo mái chèo, ngồi sát cánh bên nhau; và một nửa hãy giương cao những chiếc khiên da bò, thứ vũ khí phòng thủ sẵn sàng chống lại phi tiêu của kẻ thù, và bảo vệ đường về của chúng ta. Giờ đây, trong đôi tay này, chúng ta đang nắm giữ vận mệnh của con cái, của quê hương thân yêu cùng các bậc sinh thành già nua; và toàn bộ xứ Hellas đều đặt trọn vào canh bạc này, hoặc gặt hái sự hổ thẹn vì thất bại, hoặc danh tiếng lẫy lừng.”
Chàng vừa dứt lời liền khoác lên mình bộ giáp chiến trận; và họ cất tiếng hò reo đầy kinh ngạc và phấn khích. Chàng rút kiếm khỏi vỏ, cắt đứt những sợi cáp neo ở đuôi tàu. Rồi ngay gần thiếu nữ, chàng đứng túc trực sẵn sàng bên người lái tàu Ancaeus, và nhờ nhịp chèo dồn dập, con tàu lướt nhanh đi khi họ cố gắng hết sức để chèo thoát ra khỏi dòng sông.
Đến lúc này, tình yêu và những hành động của Medea đã bị vạch trần trước mặt tên Aeetes ngạo mạn và toàn thể thần dân xứ Colchis. Họ kéo đến hội trường trong tư thế vũ trang; và đông đúc tựa như những con sóng của biển động khi chúng dâng lên với chùm bọt trắng xóa do gió thổi, hay như những chiếc lá rụng xuống mặt đất từ khu rừng ngàn nhánh vào tháng rụng lá — ai có thể đếm hết số lượng của chúng? — họ tuôn chảy với số lượng vô tận dọc theo bờ sông, vừa đi vừa thét gào trong cơn cuồng nộ; và trên cỗ xe ngựa lộng lẫy, Aeetes nổi bật hơn tất cả cùng những con chiến mã là quà tặng của thần Helios, nhanh như những luồng gió thổi. Tay trái ngài giương cao chiếc khiên cong, tay phải cầm ngọn đuốc thông khổng lồ, và ngay phía trước ngài là ngọn giáo uy dũng giương cao. Còn Apsyrtus nắm giữ dây cương của bầy chiến mã. Nhưng con tàu đã rẽ sóng xé biển tiến lên, được thúc đẩy bởi những tay chèo lực lưỡng cùng dòng nước của con sông hùng vĩ đang đổ xuống cuồn cuộn. Nhà vua trong nỗi đau đớn khôn cùng liền giơ cao đôi tay cất tiếng cầu khẩn thần Helios và thần Zeus làm chứng cho những hành động tội lỗi của chúng; và ngài thốt ra những lời đe dọa khủng khiếp nhắm vào toàn thể thần dân của mình, rằng nếu họ không tự tay bắt lấy thiếu nữ, dù là trên đất liền hay khi con tàu vẫn đang trôi bồng bềnh giữa sóng nước khơi xa, rồi áp giải nàng trở về, để ngài có thể thỏa mãn tâm hồn khát khao trả thù cho tất cả những chuyện ấy, thì chính mạng sống của họ sẽ là cái giá phải trả để nhận lấy và gánh chịu toàn bộ cơn thịnh nộ cùng sự trả thù của ngài.
Aeetes vừa dứt lời; và ngay trong ngày hôm đó, người Colchis hạ thủy những con tàu của mình, chất đầy ngư cụ lên boong, rồi cũng trong ngày hôm ấy giương buồm ra khơi; ngươi sẽ chẳng thể bảo rằng một đại quân hùng mạnh như thế chỉ là một hạm đội tàu thuyền, mà ngỡ như một đàn chim vô tận, từng đàn từng đàn đang kêu la inh ỏi khắp mặt biển.
Gió thổi lồng lộng theo kế hoạch của nữ thần Hera, để Medea xứ Aea có thể nhanh chóng đặt chân đến vùng đất Pelasgia, trở thành tai họa cho dòng dõi Pelias, và vào sáng ngày thứ ba, họ đã buộc những sợi cáp ở đuôi tàu vào bờ biển Paphlagonia, ngay cửa sông Halys. Bởi Medea đã giục họ cập bờ và dâng lễ vật tạ ơn nữ thần Hecate. Giờ đây, những gì thiếu nữ chuẩn bị để dâng lễ vật thì không một phàm nhân nào được phép hay biết, và mong tâm hồn ta đừng xúi giục ta cất tiếng ca về điều đó. Sự kính sợ kìm giữ đôi môi ta, thế nhưng kể từ thời điểm đó, tòa tế đàn mà các anh hùng dựng lên trên bãi biển dâng hiến nữ thần vẫn tồn tại cho đến tận ngày nay, trở thành một thắng tích cho người đời sau chiêm ngưỡng.
Ngay lập tức, con trai của Aeson và những anh hùng còn lại nhớ lại lời của Phineus, rằng con đường rời khỏi Aea của họ sẽ khác biệt, nhưng đối với tất cả mọi người thì ý nghĩa ấy vẫn vô cùng mơ hồ. Lúc bấy giờ, Argus cất tiếng, và họ háo hức lắng nghe:
“Chúng ta sẽ đi đến Orchomenus, nơi mà nhà tiên tri không bao giờ sai sót, kẻ mà các ngươi từng gặp trước kia, đã tiên đoán về hải trình của các ngươi. Bởi có một con đường khác, được chỉ dẫn bởi những vị tư tế của các vị thần bất tử, những kẻ xuất thân từ vùng Thebes thuộc Tritonia. Cho đến nay, tất cả các vì sao quay cuồng trên thiên đường vẫn chưa xuất hiện, và dẫu có ai dò hỏi đi chăng nữa, cũng chẳng thể nghe ngóng được điều gì về dòng dõi thần thánh của người Danai. Chỉ có người Arcadian ở vùng Apidanea là tồn tại từ trước, những người Arcadian sống từ trước cả khi mặt trăng xuất hiện, theo lời đồn đại, họ ăn quả sồi trên các ngọn đồi; và vào thời điểm ấy, vùng đất Pelasgia vẫn chưa được cai trị bởi những người con vinh quang của Deucalion, vào những ngày mà Ai Cập, người mẹ của những con người thời cổ đại, được gọi là miền đất Ban Mai màu mỡ, cùng dòng sông Triton chảy hiền hòa, nơi nuôi dưỡng toàn bộ miền đất Ban Mai; và chẳng bao giờ những cơn mưa từ thần Zeus làm ẩm ướt mặt đất; nhưng từ sự dâng tràn của dòng sông, những mùa màng bội thu đã vươn lên. Từ vùng đất này, người ta kể rằng có một vị vua[27] đã mở lối đi vòng quanh khắp toàn bộ châu Âu và châu Á, đặt trọn niềm tin vào sức mạnh, uy lực và lòng can đảm của thần dân mình; và ngài đã lập nên vô số thành phố bất cứ nơi nào đặt chân đến, trong số đó nay vẫn có nơi còn người ở, có nơi đã hoang phang; bao thời đại đã trôi qua kể từ thuở ấy. Nhưng Aea vẫn sừng sững không suy suyển cho đến tận ngày nay cùng hậu duệ của những con người mà vị vua ấy đã cho định cư tại Aea. Họ gìn giữ những bút tích của cha ông, được khắc trên các trụ đá, nơi ghi chép mọi ngả đường và ranh giới của biển cả cũng như đất liền khi các ngươi chu du khắp mọi hướng ngả. Có một con dòng sông, nhánh cùng tận của Đại Dương, rộng và sâu thăm thẳm, đến mức một chiếc tàu buôn cũng có thể vượt qua; họ gọi nó là Ister và đã ghi dấu nó từ xa; và trong một quãng, nó một mình rẽ ngang vùng đất canh tác vô tận trong một dòng duy nhất; bởi vượt qua những trận cuồng phong của gió bắc, tận sâu trong dãy núi Rhipaean, những mạch nguồn của nó tuôn trào với tiếng gầm vang. Nhưng khi nó bước vào ranh giới của người Thrace và Scythian, tại đây, chia dòng nước thành hai nhánh, nó một phần đổ dòng chảy vào biển Ionian,[28] và một phần hướng về phương nam đổ vào một vịnh sâu uốn cong từ vùng biển Trinaerian, vùng biển nằm dọc theo xứ sở của các ngươi, nếu quả thực sông Achelous bắt nguồn từ xứ sở các ngươi.”
Chàng vừa dứt lời thì nữ thần ban cho họ một điềm lành hạnh phúc, và tất cả khi nhìn thấy liền hò reo đồng thuận rằng đây chính là con đường đã được định sẵn cho họ. Bởi trước mặt họ xuất hiện một vệt sáng thiên đàng, dấu hiệu chỉ lối cho họ đi qua. Và họ hân hoan bỏ lại đằng sau người con của Lyeus, giương buồm rộng khơi ra biển lớn, với ánh mắt hướng về những ngọn núi Paphlagonia. Nhưng họ không vòng qua mũi Carambis, bởi gió lớn và ánh sáng rực rỡ của ngọn lửa thiên đàng đã ở lại cùng họ cho đến khi họ chạm tới dòng sông hùng vĩ Ister.
Lúc bấy giờ, một số người Colchis trong cuộc tìm kiếm vô vọng đã vượt khỏi vùng Pontus qua những phiến đá Cyanean; nhưng những người còn lại tiến đến con sông, được dẫn dắt bởi Apsyrtus, và khi rẽ hướng, ngài đã bước vào cửa sông mang tên Cửa Đẹp. Thế nên ngài đã vượt lên trước các anh hùng bằng cách băng qua một dải đất hẹp để tiến vào vịnh sâu tận cùng của biển Ionian. Bởi có một hòn đảo được bao bọc bởi dòng Ister, mang tên Peuee, hình tam giác, với phần đáy trải dài dọc theo bờ biển và góc nhọn hướng về phía dòng sông; và xung quanh nó, cửa sông bị chia đôi. Một cửa họ gọi là cửa Narex, và cửa kia, ở phần hạ lưu, là cửa Đẹp. Và qua lối này, Apsyrtus cùng đoàn quân Colchis ào ạt lao tới với tốc độ tối đa; nhưng các anh hùng lại ngược dòng tiến xa tít về phía phần cao nhất của hòn đảo. Nơi các đồng cỏ, những mục đồng trong vùng đã bỏ lại vô số đàn gia súc vì khiếp sợ những con tàu, bởi họ đinh ninh rằng đó là những con quái vật từ lòng biển dồi dào dị vật đang bò lên bờ. Bởi trước đó chưa từng có ai nhìn thấy những con tàu đi biển, dù là người Scythian hòa lẫn với người Thrace, hay người Sigynni, hay người Graucenii, hay người Sindi — những kẻ giờ đây đang sinh sống trên vùng đồng bằng hoang mạc rộng lớn của Laurium. Nhưng khi họ đã đi qua gần ngọn núi Angurum và vách đá Cauliacus, cách xa ngọn núi Angurum — nơi dòng Ister chia dòng chảy, đổ ra biển ở bên này và bên kia — cùng đồng bằng Laurium, thì bấy giờ người Colchis mới tiến ra vùng biển Cronian và chặn đứt mọi ngả đường, nhằm ngăn không cho kẻ thù trốn thoát. Và các anh hùng xuôi dòng sông phía sau, tiến đến hai hòn đảo Brygean của nữ thần Artemis ở ngay gần đó. Nơi một trong hai hòn đảo có một ngôi đền thiêng; và họ cập bờ ở hòn đảo còn lại để tránh đại quân của Apsyrtus; bởi người Colchis đã bỏ qua những hòn đảo này trong số rất nhiều hòn đảo nằm giữa dòng sông, y như vậy, vì sự kính trọng dành cho ái nữ của thần Zeus; nhưng những hòn đảo còn lại, bị đông đúc người Colchis chiếm giữ, đã chặn đứng các ngả đường ra biển. Và tại những hòn đảo khác ở gần đó cũng vậy, Apsyrtus đã để lại đại quân của mình kéo dài đến tận sông Salangon và vùng đất Nestian.
Tại đó, người Minyae lúc bấy giờ hẳn đã chịu khuất phục trong một trận chiến khốc liệt, khi ít kẻ chống chọi lại đông người; nhưng trước khi chuyện đó xảy ra, họ đã lập một giao ước, né tránh một cuộc tranh chấp khủng khiếp; về phần bộ lông cừu vàng — bởi chính Aeetes đã hứa như vậy với họ nếu họ vượt qua các thử thách — họ sẽ giữ nó như một chiến lợi phẩm chính đáng, dù họ có cướp nó bằng mưu mẹo hay đường hoàng bất chấp ý muốn nhà vua; nhưng về phần Medea — vì đó là nguyên nhân gây ra tranh chiến — họ sẽ giao nàng vào sự bảo hộ của ái nữ thần Leto ở một nơi tách biệt khỏi đám đông, cho đến khi một trong số các vị vua ban hành công lý đưa ra phán quyết, liệu nàng phải trở về nhà cha mình hay đi theo các vị thủ lĩnh đến vùng đất Hellas.
Giờ đây, khi thiếu nữ đã nghiền ngẫm tất cả những điều này, nỗi đau đớn buốt nhói không ngừng lay động tâm can nàng; và nàng vội vã gọi riêng một mình Jason ra khỏi đám đồng đội, dẫn chàng đi đến một nơi thật xa, rồi nghẹn ngào thốt lên những lời đứt quãng trước mặt chàng:
“Mưu đồ mà các người đang toan tính về tôi là gì đây, hỡi con trai của Aeson? Phải chăng chiến thắng đã khiến chàng hoàn toàn quên sạch mọi điều, và chàng chẳng màng mảy may đến tất cả những lời chàng từng thốt ra khi bị tình thế ép buộc? Đâu rồi những lời thề trước thần Zeus — vị thần của những kẻ khất cầu, đâu rồi những lời hứa ngọt ngào của chàng? Vì những điều đó, một cách chẳng mấy đoan trang, với ý chí bất chấp liêm sỉ, tôi đã rời bỏ quê hương, vinh quang của mái nhà và cả cha mẹ — những thứ vốn thân thương nhất đối với tôi; và giờ đây một mình bơ vơ nơi xứ người, tôi bị cuốn phăng đi trên biển cả cùng những chú chim bói cá than khóc chỉ vì rắc rối của chàng, cốt để cứu mạng chàng qua những thử thách với bầy bò đực và những kẻ sinh ra từ đất mẹ. Cuối cùng là bộ lông cừu — khi sự việc vỡ lở, chính vì sự dại dột của tôi mà chàng mới đoạt được nó; và tôi đã giáng một vết nhơ ô nhục lên phận hồng nhan. Thế nên tôi nói rằng, với tư cách là con gái, là vợ và là em gái của chàng, tôi đi theo chàng đến vùng đất Hellas. Hãy sẵn sàng sát cánh bên tôi cho đến cùng, chớ vội bỏ rơi tôi bơ vơ khi chàng diện kiến các vị vua. Xin hãy cứu lấy tôi; hãy để công lý và lẽ phải, những điều đôi ta đã thỏa thuận, được giữ vững; bằng không, chính tay chàng hãy cứa đứt cổ họng này bằng gươm g giáo, để tôi nhận được phần thưởng xứng đáng cho cơn cuồng tình của mình. Khốn khổ cho tôi! Nếu nhà vua, kẻ mà cả hai người cùng phó mặc giao ước tàn nhẫn ấy, phán quyết rằng tôi thuộc về người anh trai của mình. Làm sao tôi có thể diện kiến mặt cha? Liệu đó có phải là với một danh dự vẹn toàn? Sự trả thù nào, tai họa nặng nề nào mà tôi sẽ không phải oằn mình gánh chịu trong đớn đau vì những việc tày trời tôi đã gây ra? Và liệu chàng có giành được chặng đường về mà trái tim hằng mong mỏi? Nguyện xin hiền thê của Zeus, vị nữ hoàng tối cao mà chàng hằng ca tụng, đừng bao giờ để điều đó xảy ra. Nguyện xin chàng đôi khi hãy nhớ đến tôi khi bị nỗi thống khổ vò xé; nguyện xin bộ lông cừu tan biến như giấc cõi mộng vào chốn tối tăm âm u trên đôi cánh của gió! Và nguyện xin các Nữ thần Báo Thù của tôi ngay lập tức trừng phạt, xua đuổi chàng khỏi quê hương, vì tất cả những gì tôi phải chịu đựng qua sự tàn nhẫn của chàng! Những lời nguyền này sẽ chẳng bị bỏ mặc rơi xuống đất vô nghĩa đâu. Chàng đã phạm phải một lời thề lớn lao, hỡi kẻ vô tình; nhưng ngươi và đồng đội của mình sẽ chẳng thể ung dung ngồi đó ném những ánh mắt chế nhạo ta được bao lâu đâu, bất chấp mọi giao ước của các ngươi.”
Nàng cất lời trong cơn giận dữ sục sôi; và nàng khao khát phóng hỏa đốt tàu, chém nát nó thành từng mảnh, rồi tự mình lao vào ngọn lửa hung tàn. Nhưng Jason, lòng mang máng nỗi sợ, dịu dàng cất lời đáp:
“Xin nàng hãy kìm lòng; tôi nào có muốn thế này. Nhưng chúng ta đang tìm kiếm một khoảng lặng tránh khỏi chiến trận, bởi một đám đông kẻ thù tợ như ngọn lửa đang vây quanh chúng ta, tất cả cũng vì nàng. Vì tất cả những kẻ sinh sống ở vùng đất này đều đang nóng lòng phò tá Apsyrtus, để đưa nàng trở về nhà với phụ vương, tựa như một thiếu nữ bị bắt cóc. Và tất cả chúng ta sẽ ngã xuống trong sự hủy diệt căm phẫn nếu giáp lá cà giao chiến với chúng; và nỗi đau sẽ còn cay đắng hơn nữa nếu chúng ta bỏ mạng và để mặc nàng làm mồi ngon cho chúng. Nhưng giao ước này sẽ dệt nên một mẻ lưới mưu mẹo đưa hắn đến bờ diệt vong. Người dân trong vùng sẽ vì nàng mà không chống lại chúng ta, chẳng màng phò tá người Colchis, khi vị vương tử của chúng — người bảo vệ và cũng là anh trai nàng — không còn bên cạnh nữa; và tôi cũng chẳng ngần ngại đọ kiếm với người Colchis nếu chúng dám chặn đường về nhà của tôi.”
Chàng vừa nói vừa xoa dịu nàng; nhưng nàng thốt ra một câu nói chết chóc: “Hãy lắng nghe đây. Khi những việc tồi tệ đã xảy ra, chúng ta buộc phải toan tính những mưu kế tồi tệ, bởi thoạt đầu tôi đã mụ mị vì sai lầm, và theo ý trời, chính tôi đã thực hiện những mong muốn tội lỗi ấy. Trong cơn hỗn loạn, xin hãy che chở cho tôi khỏi những ngọn giáo của người Colchis; còn tôi sẽ lừa Apsyrtus bước vào tay chàng — hãy đón tiếp hắn bằng những món quà lộng lẫy — chao ôi, ước gì tôi có thể thuyết phục được các sứ giả trước lúc họ khởi hành để đưa một mình hắn đến lắng nghe lời tôi. Khi ấy, nếu việc này làm vừa lòng chàng, hãy thủ tiêu hắn và khơi mào xung đột với người Colchis đi, tôi chẳng màng.”
Thế là cả hai đồng thuận và chuẩn bị một tấm lưới mưu mô lớn dành cho Apsyrtus, chuẩn bị nhiều món quà xứng tầm khách quý, trong đó có cả chiếc áo choàng thiêng của Hypsipyle mang sắc đỏ thắm. Các vị thần Graces đã tự tay dệt nó cho Dionysus trên hòn đảo Dia bao quanh bởi biển cả, và ngài đã trao nó cho con trai mình là Thoas sau đó, rồi Thoas để lại cho Hypsipyle, và nàng đã trao món quà hiếu khách được chế tác tinh xảo ấy cùng bao kỳ quan khác cho con trai của Aeson để mặc. Ngươi chẳng thể nào thỏa mãn nổi khao khát ngọt ngào khi chạm vào nó hay ngắm nhìn nó. Từ đó tỏa ra một làn hương thơm ngát từ thời điểm chính nhà vua xứ Nysa nằm nghỉ ngơi trên đó, má ửng hồng vì rượu và mật khi ngài ôm lấy bầu ngực kiều diễm của người thiếu nữ – ái nữ của Minos, kẻ từng bị Theseus bỏ rơi trên đảo Dia sau khi nàng theo ngài rời khỏi Cnossus. Và khi nàng đã thuyết phục được các sứ giả dụ người anh trai đến, ngay lúc nàng đặt chân đến đền thờ nữ thần theo đúng thỏa thuận, và bóng tối đêm đen bao trùm lấy họ, để nàng có thể cùng hắn bàn tính một kế hoạch tinh vi hầu cướp lấy bộ lông cừu vàng vĩ đại và trở về mái nhà của Aeetes — bởi nàng viện cớ rằng những người con của Phrixus đã dùng vũ lực trao nàng cho những kẻ lạ mặt bắt đi; với những lời xảo trá ấy, nàng tung vào gió và bầu không khí những bùa phép mê hoặc của mình, thứ mà dẫu từ khoảng cách xa xôi cũng đủ sức kéo một con mãng xà hung ác tụt xuống từ đỉnh núi hiểm trở.
Hỡi Tình Yêu tàn nhẫn, mối họa lớn, lời nguyền lớn cho nhân loại, chính từ ngươi mà phát sinh những cuộc tranh chiến chết chóc, những tiếng than khóc cùng rên rỉ, và vô số nỗi đau đớn cũng tuôn trào bão táp từ ngươi. Hãy trỗi dậy, hỡi vị thần, và vũ trang cho mình chống lại những người con của kẻ thù, tựa như khi ngươi lấp đầy trái tim Medea bằng sự điên cuồng nguyền rủa. Thế rồi, bằng số phận nghiệt ngã nào mà nàng đã sát hại Apsyrtus khi hắn đến gặp nàng? Câu chuyện của chúng ta phải kể tiếp điều đó.
Khi các anh hùng đã để lại thiếu nữ trên hòn đảo của Artemis theo đúng giao ước, cả hai bên đều chèo thuyền cập bờ ở những nơi riêng biệt. Còn Jason tiến vào chôn phục kích để rình bắt Apsyrtus cùng các đồng đội của hắn. Nhưng hắn, vì bị lừa phỉnh bởi những lời hứa hẹn đanh thép ấy, đã nhanh chóng vượt qua sóng biển trên con tàu của mình, và trong đêm tối đặt chân lên hòn đảo thiêng; bước đi đơn độc để gặp nàng, hắn dùng lời lẽ dò la người em gái, tựa như một đứa trẻ ngây thơ thử thách dòng thác mùa đông mà ngay cả những tráng sĩ cũng chẳng thể vượt qua, xem nàng có toan tính mưu mẹo gì chống lại những kẻ lạ mặt hay không. Và thế là cả hai thỏa thuận với nhau mọi điều; ngay lập tức, con trai của Aeson nhảy bổ ra từ chỗ mai phục dày đặc, tay giương cao thanh gươm trần; thiếu nữ vội quay mặt đi và che kín mặt bằng chiếc khăn voan để khỏi chứng kiến cảnh máu me của người anh trai khi ngài bị giáng đòn. Jason nhắm chuẩn và đánh ngã hắn, tựa như một kẻ mổ thịt hạ gục một con bò đực sừng dài vũng mãnh, ngay gần ngôi đền mà người Brygi ở vùng đất liền đối diện từng dựng lên cho Artemis. Hắn khuỵu gối ngã xuống hiên đền; và cuối cùng, vị vương tử trong hơi thở hổn hển cuối cùng đã hứng lấy dòng máu sẫm tuôn ra từ vết thương bằng cả hai tay; và hắn nhuộm đỏ chiếc khăn voan cùng xiêm y bạc màu của người em gái khi nàng đang co rúm lùi xa. Với cái liếc mắt sắc lẹm bên sườn, vị Nữ thần Báo Thù tàn nhẫn không thể chối từ đã chứng kiến hành động chết chóc mà họ vừa gây ra. Và vị anh hùng, con trai của Aeson, cắt lấy những phần đầu và chân của tử thi, ba lần liếm một ít máu và ba lần nhổ chất ô uế khỏi răng mình, đúng theo nghi thức của kẻ sát nhân để chuộc lại một tội ác phản bội. Còn cái xác nhầy nhụa, ngài giấu xuống lòng đất, nơi cho đến tận ngày nay những khúc xương ấy vẫn nằm lại giữa xứ sở của người Apsyrtians.
Giờ đây, ngay khi các anh hùng nhìn thấy ngọn lửa bùng lên từ cây đuốc mà thiếu nữ giơ cao làm hiệu cho họ tiến lên, họ cho con tàu của mình áp sát thuyền của người Colchis, rồi tàn sát đại quân Colchis tựa như diều hâu săn bầy chim cu gáy, hay như những con sư tử đồng hoang, khi chúng nhảy bổ vào chuồng gia súc, xua chạy một bầy cừu lớn tụm lại với nhau. Chẳng một tên nào trốn thoát được cái chết, các anh hùng ào ạt lao vào toàn bộ thủy thủ đoàn, tiêu hủy họ như ngọn lửa; và cuối cùng Jason cũng gặp lại họ, hớt hải muốn ra tay trợ giúp dẫu chẳng còn việc gì cần đến; nhưng họ đã sớm lo toan cho cả phần chàng. Ngay lúc đó, họ ngồi xuống bàn tính một mưu kế khôn ngoan cho hành trình của mình, và thiếu nữ đã bước đến bên họ giữa lúc họ đang trầm tư, nhưng Peleus là người cất lời trước:
Bây giờ tôi ra lệnh cho các anh hãy lên tàu khi trời hãy còn đêm, và dùng mái chèo vượt qua lối đi đối diện với nơi quân địch đang canh gác, bởi lúc bình minh khi thấy cảnh ngộ của mình, tôi tin rằng không một lời thúc giục đuổi theo chúng ta nữa có thể lay chuyển được chúng; mà như rắn mất đầu, chúng sẽ tan rã trong sự bất hòa trầm trọng. Và khi đám đông đã tơi tả, con đường trở về của chúng ta sẽ vô cùng dễ dàng.
Chàng vừa dứt lời; và các chàng trai đồng tình với lời của con trai Aeacus. Họ nhanh chóng bước lên tàu, miệt mài chèo không nghỉ cho đến khi đặt chân tới hòn đảo thiêng Electra, hòn đảo cao nhất trong tất cả, nằm gần dòng sông Eridanus.
Nhưng khi người Colchis hay tin về cái chết của vị vương tử, họ quả thực vô cùng nóng lòng muốn truy đuổi con tàu Argo và người Minyae qua toàn bộ vùng biển Cronian. Tuy nhiên, thần Hera đã ngăn chặn họ bằng những tia chớp kinh hoàng từ bầu trời. Cuối cùng, căm phẫn chính quê hương mình ở xứ Cytaean vì run sợ trước cơn thịnh nộ dữ dội của Aeetes, họ đã cập bờ và dựng lên những mái nhà trường tồn tại đó, tản mác khắp nơi xa xôi. Một số đặt chân lên chính những hòn đảo nơi các anh hùng từng dừng chân, và họ vẫn sinh sống ở đó cho đến ngày nay, mang cái tên bắt nguồn từ Apsyrtus; những kẻ khác dựng lên một thành phố có tường lũy kiên cố bên dòng sông Illyrian sâu thẳm tối tăm, nơi có lăng mộ của Harmonia và Cadmus, chung sống giữa người Encheleans; và những người khác sống giữa những ngọn núi được gọi là Hùng Lôi, kể từ ngày những tiếng sấm của thần Zeus, con trai của Cronos, ngăn cản họ băng qua hòn đảo đối diện.
Giờ đây, các anh hùng khi thấy hành trình trở về đã an toàn, liền tiếp tục hành trình và buộc chặt dây cáp vào vùng đất của người Hylleans. Bởi các hòn đảo mọc dày đặc trên dòng sông khiến con đường trở nên nguy hiểm cho những kẻ hải hành qua đây. Không như trước kia, người Hylleans không hề toan tính hãm hại họ, mà còn tự nguyện trợ giúp hải trình của họ, nhận lấy phần thưởng là một chiếc đỉnh ba chân vĩ đại của thần Apollo. Bởi Phoebus từng ban hai chiếc đỉnh ba chân cho con trai của Aeson để mang theo trên chặng đường hải trình mà chàng phải thực hiện, vào thời điểm chàng đến đền Pytho thiêng liêng để thỉnh vấn về chính chuyến đi này; và số mệnh đã định rằng dù được đặt ở vùng đất nào đi nữa, vùng đất ấy sẽ chẳng bao giờ bị tàn phá bởi những cuộc tấn công của kẻ thù. Thế nên cho đến tận ngày nay, chiếc đỉnh ba chân ấy vẫn được giấu kín tại vùng đất đó gần thành phố Hyllus xinh đẹp, tận sâu dưới lòng đất, để nó mãi mãi khuất tầm mắt phàm nhân. Dù vậy, họ không còn tìm thấy vua Hyllus còn sống trên mảnh đất ấy, người được Melite xinh đẹp sinh ra cho Heracles nơi đất khách của người Phaeacians. Bởi chàng từng đến cung điện của Nausithous và Macris — vú nuôi của Dionysus — để thanh tẩy bản thân khỏi tội ác sát hại chính những đứa con của mình; tại đây, chàng đem lòng yêu và chinh phục thủy thần nước ngọt Melite, ái nữ của dòng sông Aegaeus, và nàng đã hạ sinh ra dũng sĩ Hyllus. Nhưng khi lớn lên, chàng không muốn sống trên hòn đảo ấy dưới sự cai trị của vua Nausithous; thay vào đó, chàng tập hợp một đội quân bản địa Phaeacians và tiến đến biển Cronian; vì anh hùng vua Nausithous đã trợ giúp hành trình của chàng, và tại đó chàng định cư, nhưng người Mentores đã sát hại chàng khi chàng đang chiến đấu bảo vệ đàn gia súc trên cánh đồng của mình.
Hỡi các nữ thần, xin hãy cho hay, vì cớ gì mà ngoài vùng biển này, gần xứ Ausonia và quần đảo Ligystian mang tên Stoechades, người ta lại ca tụng rõ mồn một những dấu tích vĩ đại của con tàu Argo? Sức ép và nhu cầu to lớn nào đã đưa các anh hùng đi xa đến thế? Cơn gió nào đã thổi đưa họ?
Khi Apsyrtus ngã xuống trong một trận thất thủ kinh hoàng, chính thần Zeus — vị vua của các vị thần — đã nổi giận đùng đùng trước những việc họ đã làm. Và ngài sắc phong rằng dưới sự hướng dẫn của nàng Circe xứ Aea, họ phải tự thanh tẩy bản thân khỏi vết nhơ máu me khủng khiếp và chịu đựng vô số nỗi thống khổ trước khi trở về. Tuy nhiên, không một vị thủ lĩnh nào hay biết điều này; nhưng họ vẫn lao đi xa tắp bắt đầu từ vùng đất Hyllean, để lại phía sau tất cả những hòn đảo từng một thời đông đúc người Colchis — quần đảo Liburnian hết đảo này đến đảo khác, Issa, Dysceladus và Pityeia xinh đẹp. Kế đó họ tiến đến Corcyra, nơi thần Poseidon từng đưa ái nữ của Asopus — Corcyra tóc vàng — đến định cư cách xa vùng đất Phlius, nơi ngài từng cướp nàng đi vì tình yêu; và những thủy thủ nhìn từ ngoài khơi, thấy nó đen kịt bởi những khu rừng u ám, đã gọi nó là Corcyra Đen. Tiếp đó họ vượt qua Melite hân hoan trong làn gió nhẹ thổi mơn man, và Cerossus hiểm trở, cùng Nymphaea ở phía xa, nơi nữ thần Calypso, ái nữ của Atlas, sinh sống; và họ ngỡ như mình nhìn thấy những ngọn núi mờ sương của Hùng Lôi. Và rồi thần Hera nhớ lại những mưu toan và cơn giận dữ của thần Zeus dành cho họ. Nàng bèn toan tính một cái kết cho chuyến hải trình của họ và khơi dậy những cơn bão giông cản đường, khiến họ bị cuốn ngược trở lại hòn đảo đá Electra. Và ngay lập tức, giữa lúc hải trình, thân cây của chiếc tàu rỗng bỗng cất tiếng nói bằng giọng người — thứ mà Athena từng dựng ở trung tâm phần mũi tàu, được làm từ gỗ sồi vùng Dodona. Và nỗi sợ hãi tột cùng bủa vây lấy họ khi nghe tiếng nói kể về cơn giận dữ khủng khiếp của thần Zeus. Bởi nó tuyên bố rằng họ không thể trốn thoát khỏi những nẻo đường của một đại dương vô tận hay những trận cuồng phong bão táp, trừ khi Circe tẩy sạch cho họ tội lỗi sát nhân tàn nhẫn đối với Apsyrtus; và nó giục Polydeuces cùng Castor cầu nguyện các vị thần bất tử trước tiên hãy ban cho họ một con đường xuyên qua biển Ausonia, nơi họ sẽ tìm gặp Circe — ái nữ của Perse và Helios.
Con tàu Argo cất tiếng kêu như thế giữa màn đêm; và những người con của Tyndareus vùng dậy, giơ cao đôi tay hướng về các đấng bất tử cầu xin từng ơn phước: nhưng sự chán nản lại bao trùm lấy những người anh hùng Minyae còn lại. Và con tàu Argo lướt nhanh dưới cánh buồm, tiến sâu vào dòng chảy của Eridanus; nơi ngày xưa, bị trúng sấm sét rực lửa vào ngực, Phaethon nửa thân cháy rụi đã rơi từ cỗ xe của Helios xuống cửa hồ sâu thẳm ấy; và cho đến tận ngày nay nó vẫn ục ục phun lên những đám hơi nước nặng nề từ vết thương đang âm ỉ cháy. Và không một loài chim nào sải đôi cánh nhẹ bay có thể vượt qua vùng nước ấy; mà vừa đến giữa chừng là chúng lao đầu vào ngọn lửa, run rẩy chao đảo. Và xung quanh, những thiếu nữ — các ái nữ của Helios — bị giam cầm trong những thân cây dương cao lớn, bi thương cất tiếng than khóc thảm thiết; và từ đôi mắt mình, họ tuôn rơi xuống đất những giọt hổ phách sáng ngời. Chúng bị mặt trời làm cho khô cứng trên bãi cát; nhưng hễ khi nào dòng nước của hồ sẫm màu tràn qua bờ trước những luồng gió than van, thì chúng lại cuộn thành một khối trôi vào Eridanus với dòng triều dâng ngập tràn. Nhưng người Celt đã gán câu chuyện này cho họ rằng, đó chính là những giọt nước mắt của người con thần Leto — Apollo — bị cuốn đi bởi những dòng nước xoáy, vô số giọt nước mắt mà ngài từng rơi khi đến với vùng đất thiêng của người Hyperboreans và rời bỏ thiên đàng rạng rỡ trước lời quở trách của phụ vương, vì nổi giận liên quan đến đứa con trai mà thần nữ Coronis đã sinh ra ở vùng Lacereia sáng ngời tại cửa sông Amyrus. Và câu chuyện ấy được truyền tụng trong số những con người nơi đây. Nhưng chẳng có chút ham muốn thức ăn hay thức uống nào chạm đến các anh hùng, tâm trí họ cũng chẳng hướng về niềm vui. Mà họ bị hành hạ tợn suốt cả ngày dài, nặng nề và kiệt quệ trong tâm hồn, bởi mùi hôi thối khó chịu đến tột cùng mà dòng nước của Eridanus tỏa ra từ thi thể vẫn đang cháy của Phaethon; và vào ban đêm, họ nghe thấy tiếng khóc thét xé lòng của các ái nữ nhà Helios, cất giọng lanh lảnh than van; và khi họ than khóc, những giọt nước mắt của họ trôi dạt trên mặt nước tựa như những giọt dầu.
Từ đó họ tiến vào dòng sông sâu thẳm Rhodanus đổ vào Eridanus; và nơi chúng giao nhau có tiếng gầm rú của dòng nước hòa quyện. Giờ đây, dòng sông ấy, bắt nguồn từ tận cùng trái đất, nơi có những cánh cổng và dinh thự của Đêm, một mặt tuôn trào ra bãi biển Đại Dương, mặt khác đổ vào biển Ionian, và mặt thứ ba qua bảy cửa miệng tuôn dòng chảy của nó ra biển Sardinia cùng vịnh vô tận của nó.[29] Và từ Rhodanus, họ bước vào những hồ nước bão táp, trải rộng khắp vùng đại lục Celt với kích thước kỳ diệu; và tại đó họ suýt đối mặt với một tai ương ô nhục; bởi một nhánh nào đó của dòng sông đang cuốn họ hướng về một vịnh của Đại Dương mà trong sự vô tri họ sắp sửa lao vào, và họ sẽ chẳng bao giờ từ đó trở về an toàn. Nhưng thần Hera từ thiên đàng lao xuống, cất tiếng thét vang lừng từ vách đá Hercynian; và tất cả đều rung chuyển trong nỗi sợ hãi trước tiếng thét của nàng; bởi bầu trời vĩ đại rung chuyển dữ dội. Và nhờ nữ thần, họ quay ngược trở lại, nhận ra con đường mà qua đó sự trở về của họ đã được định đoạt. Và sau một khoảng thời gian dài, họ đã đến được bãi biển của vùng biển dâng trào nhờ sự toan tính của thần Hera, vượt qua bình an vô sự qua vô số bộ lạc Celt và Ligyans. Bởi xung quanh họ, nữ thần đã rải một lớp sương mù đáng sợ ngày qua ngày khi họ tiến bước. Và thế là, giương buồm vượt qua cửa giữa, họ đã đến được quần đảo Stoechades an toàn nhờ sự giúp đỡ của những người con thần Zeus; thế nên những bàn tế đàn và nghi lễ thiêng liêng được thiết lập để tôn vinh họ vĩnh viễn; và không chỉ chuyến hải trình ấy được họ cứu giúp, mà thần Zeus còn ban phước cho cả những con tàu của những thủy thủ mai sau nữa. Sau đó, rời khỏi Stoechades, họ tiến đến đảo Aethalia, nơi sau những nhọc nhằn, họ dùng những hòn sỏi để lau sạch mồ hôi đầm đìa; và những hòn sỏi có màu da người được rải đầy trên bãi biển;[30] và ở đó có những chiếc đĩa ném cùng bộ giáp kỳ diệu của họ; và ở đó có bến cảng Argo được đặt theo tên họ.
Và nhanh chóng từ đó họ vượt qua biển khơi, chiêm ngưỡng những bờ biển Tyrrhenian của xứ Ausonia; và họ đến bến cảng nổi tiếng Aeaea, quăng những sợi cáp từ tàu vào bờ ngay gần đó. Tại đây, họ tìm thấy Circe đang tắm gội đầu trong lớp bọt mặn của biển cả, bởi nàng vừa trải qua một phen hoảng sợ tột độ vì những cơn ác mộng ban đêm. Căn phòng và toàn bộ bức tường cung điện của nàng dường như đẫm máu chảy, ngọn lửa đang thiêu rụi toàn bộ những thảo dược ma thuật mà nàng từng dùng để bỏ bùa những kẻ lạ mặt bất cứ ai ghé đến; và chính nàng dùng đôi tay vớt máu để dập tắt ngọn lửa đang rực cháy; rồi nàng thoát khỏi nỗi sợ hãi chết chóc. Thế nên khi bình minh ló dạng, nàng đứng dậy, dùng bọt biển tắm gội mái tóc và xiêm y của mình. Và những con quái vật, chẳng giống với loài thú rừng hoang dã, cũng chẳng giống loài người về hình dáng, mà mang thân hình chắp vá của đủ loại chi thể, nối đuôi nhau kéo đến thành bầy, tựa như đàn cừu từ chuồng rồng rắn nối đuôi theo chân người mục tử. Những sinh vật ấy, được tạo thành từ đủ thứ chi thể khác nhau, vốn do chính tay nàng tạo ra từ lớp bùn nguyên thủy khi chúng chưa kịp đặc quánh lại dưới bầu trời không mưa, cũng chưa từng nhận lấy một giọt độ ẩm nào từ những tia nắng thiêu đốt; nhưng thời gian đã nhào nặn những hình thù ấy và xếp chúng vào hàng ngũ; cứ thế, những con quái vật có hình thù kỳ dị ấy đi theo sau nàng. Nỗi kinh ngạc tột cùng bao trùm lấy các anh hùng, và ngay khi nhìn vào hình dáng và khuôn mặt của Circe, họ dễ dàng đoán ra nàng chính là chị em của Aeetes.
Giờ đây, khi nàng đã xua tan được nỗi sợ hãi từ những cơn ác mộng ban đêm, nàng liền quay gót bước đi, dùng sự khéo léo để ra hiệu cho các anh hùng đi theo, vẫy tay mời gọi họ. Lúc bấy giờ, đoàn tùy tùng vẫn đứng yên theo lệnh của con trai Aeson, nhưng Jason đã dắt theo thiếu nữ xứ Colchis. Cả hai cùng bước đi trên một con đường cho đến khi tới sảnh đường của Circe, và nàng ngạc nhiên trước sự xuất hiện của họ, mời họ ngồi lên những chiếc ghế được đánh bóng sáng loáng. Cả hai lặng thinh không tiếng động, tiến thẳng đến lò sưởi và ngồi xuống đó, theo đúng phong tục của những kẻ khất cầu khốn khổ. Medea che kín mặt bằng cả hai bàn tay, còn Jason cắm phập xuống đất thanh gươm có chuôi vĩ đại mà ngài từng dùng để hạ sát con trai của Aeetes; họ chẳng hề ngước mắt lên nhìn nàng. Và ngay lập tức, Circe nhận ra số phận của một kẻ khất cầu và tội ác sát nhân. Thế nên, để tỏ lòng tôn kính trước sắc lệnh của thần Zeus — vị thần của những kẻ khất cầu, kẻ vừa giận dữ vừa hết lòng dung dưỡng những kẻ hạ sát người — nàng bắt đầu dâng lễ vật để tẩy rửa tội lỗi cho những kẻ khất cầu nhẫn tâm khi họ đến trước bàn tế đàn. Đầu tiên, để chuộc lại tội ác chưa được thanh tẩy, nàng giơ lên trên đầu họ con lợn sữa mà bầu vú vẫn còn căng sữa từ trong bụng mẹ, và sau khi cắt cổ nó, nàng vẩy dòng máu lên đôi tay họ; và một lần nữa nàng thực hiện nghi thức tạ ơn với các lễ vật thức uống khác, cẩn khấn thần Zeus Đấng Thanh Tẩy, vị đấng bảo hộ cho những kẻ khất cầu vấy máu sát nhân. Tất cả những vết nhơ được quét sạch thành một đống đã được các nữ tì của nàng mang ra khỏi cung điện — những nàng tiên cá Naiad phục vụ nàng mọi việc. Và ở bên trong, Circe đứng cạnh lò sưởi, tiếp tục đốt những chiếc bánh chuộc tội không pha rượu, vừa cầu nguyện mong có thể kìm hãm cơn giận dữ của các Nữ thần Báo Thù tột cùng, và cầu xin chính thần Zeus hãy khoan dung, hiền hòa với cả hai, dù tay họ có vấy bẩn máu của người lạ hay, với tư cách là người thân, vấy máu của máu mủ đi chăng nữa, họ vẫn khẩn cầu lòng nhân từ của ngài.
Nhưng khi nàng đã hoàn tất mọi công việc, nàng liền nâng họ đứng dậy, mời họ ngồi lên những chiếc ghế được đánh bóng kỹ lưỡng, còn bản thân nàng ngồi ngay gần đó, đối diện với họ. Và ngay lập tức, nàng chất vấn rõ ràng về mục đích và chuyến hải trình của họ, vì sao họ lại đến vùng đất và cung điện của nàng, rồi cứ thế ngồi khất cầu bên lò sưởi của nàng như vậy. Bởi quả thực, ký ức kinh hoàng về những giấc mơ bỗng ùa về trong tâm trí nàng khi nàng trầm ngâm; và nàng khao khát được lắng nghe giọng nói của thiếu nữ, người họ hàng của mình, ngay khi nhìn thấy nàng đã ngước đôi mắt từ mặt đất lên. Bởi tất cả những ai thuộc dòng dõi Helios đều rất dễ nhận ra, vì từ ánh sáng rực rỡ lóe lên từ đôi mắt, họ phóng ra phía trước một luồng hào quang tựa như vàng. Thế nên Medea đã kể cho nàng nghe mọi điều nàng hỏi — ái nữ của Aeetes mang trái tim u ám, cất giọng dịu dàng bằng thứ tiếng Colchis, kể về cả cuộc tầm sư học đạo lẫn những chặng đường của các anh hùng, về những nhọc nhằn của họ trong các cuộc thử thách chớp nhoáng, và cách nàng đã lầm lỗi qua những mưu kế của người chị gái đầy đau khổ, cũng như cách nàng cùng những người con của Phrixus đã trốn chạy xa xôi khỏi sự kinh hoàng bạo ngược của người cha; nhưng nàng né tránh việc kể về vụ sát hại Apsyrtus. Tuy nhiên, nàng chẳng thể qua mặt được Circe; dẫu vậy, bất chấp tất cả, nàng vẫn chạnh lòng thương xót thiếu nữ đang đẫm lệ, và cất lời:
“Khốn khổ thay, một con đường trở về thật tồi tệ và ô nhục đã được ngươi toan tính. Ta tin rằng ngươi sẽ chẳng thể trốn tránh cơn giận dữ nặng nề của Aeetes được bao lâu đâu; chẳng mấy chốc ngài sẽ kéo đến tận những tòa nhà của xứ Hellas để báo thù cho cái chết của con trai mình, bởi những việc ngươi đã làm là không thể dung thứ. Nhưng vì ngươi là kẻ khất cầu của ta và là họ hàng của ta, ta sẽ không toan tính thêm điều ác nào chống lại ngươi trong chuyến ghé thăm này; nhưng hãy rời khỏi sảnh đường của ta, đi cùng với người lạ mặt, bất kể hắn là ai, kẻ vô danh mà ngươi đã cướp lấy bất chấp ý muốn của cha ngươi; và đừng quỳ lạy bên lò sưởi của ta nữa, bởi ta sẽ chẳng bao giờ chấp thuận những mưu kế và cuộc trốn chạy ô nhục của ngươi.”
Nàng vừa dứt lời thì nỗi đau đớn khôn cùng bủa vây thiếu nữ; nàng trùm vạt áo lên đôi mắt và cất tiếng khóc than, cho đến khi vị anh hùng nắm lấy tay nàng, dẫn nàng rời khỏi sảnh đường trong cơn run rẩy vì sợ hãi. Thế là họ rời khỏi mái nhà của Circe.
Nhưng hành động của họ không lọt khỏi mắt hiền thê của vị thần Zeus — con trai của Cronos; bởi Iris đã báo cho nàng hay khi nhìn thấy họ rời khỏi sảnh đường. Bởi thần Hera đã sai nàng canh chừng thời điểm họ trở lại tàu; thế nên nàng lại hối thúc Iris và cất lời:
“Hỡi Iris thân mến, giờ hãy đến đây, nếu ngươi từng hoàn thành bất kỳ mệnh lệnh nào của ta, hãy bay vút đi trên đôi cánh nhẹ nhàng, và bảo Thetis trỗi dậy từ biển khơi để đến đây. Bởi ta đang có việc cần đến nàng. Sau đó hãy đến những bãi biển nơi những chiếc đe bằng đồng của Hephaestus đang được nện bởi những chiếc búa lực lưỡng, và bảo ngài hãy kìm hãm những luồng bão lửa cho đến khi con tàu Argo vượt qua chúng. Rồi tiếp tục đến gặp Aeolus — vị thần cai trị gió, những đứa con của bầu trời trong trẻo; và cũng hãy truyền đạt ý muốn của ta cho ngài để ngài làm cho mọi cơn gió dưới bầu trời phải lặng thấu, không một luồng gió thoảng nào được làm xao động mặt biển; tuy nhiên, hãy để hơi thở của ngọn gió tây thổi cho đến khi các anh hùng đặt chân đến đảo Phaeacian của Alcinous.”
Nàng vừa dứt lời thì lập tức Iris lao vút xuống từ đỉnh Olympus, rẽ lối bằng đôi cánh nhẹ được sải rộng. Nàng lao mình xuống biển Aegean, nơi tọa lạc dinh thự của Nereus. Nàng đến gặp Thetis trước tiên, và theo những lời gợi ý của thần Hera, truyền đạt câu chuyện rồi đánh thức nàng đến diện kiến nữ thần. Tiếp đó nàng đến gặp Hephaestus, nhanh chóng bắt ngài phải ngừng lại tiếng búa sắt đinh tai; và những chiếc ống bễ nhuốm khói phải ngưng thổi gió. Và thứ ba, nàng đến gặp Aeolus, người con trai nổi tiếng của Hippotas. Khi đã trao lời nhắn nhủ cho ngài và dừng đôi chân nhanh nhẹn khỏi hành trình, Thetis rời bỏ Nereus cùng các chị em, từ biển khơi tiến lên đỉnh Olympus diện kiến nữ thần Hera; và nữ thần ân cần mời nàng ngồi cạnh mình, cất lời bảo ban:
“Hỡi nàng Thetis cao quý, hãy lắng nghe những điều ta đang nóng lòng muốn thổ lộ cùng nàng. Nàng thừa biết trong tim ta dành sự quý trọng nhường nào cho vị anh hùng — con trai của Aeson — cùng những kẻ đã phò tá chàng trong thử thách, và cách ta đã cứu họ khi họ lướt qua giữa hai hòn đá Xê-lê-rơ,[31] nơi những trận bão lửa dữ dội gầm rú và sóng nước cuồn cuộn vây quanh những mỏm đá gồ ghề. Và giờ đây, hành trình vượt qua tảng đá khổng lồ của Scylla và Charybdis đang gầm thét kinh hoàng đang chờ đợi họ. Nhưng về phần nàng, từ thuở ấu thơ chính tay ta đã dưỡng dục và yêu thương nàng hơn tất cả những ai sinh sống dưới lòng biển mặn, bởi nàng đã từ chối chia sẻ chiếc giường với thần Zeus, bất chấp mọi khát khao của ngài. Bởi những việc như thế luôn được ngài xem trọng, là ôm ấp các nữ thần hoặc phàm nhân. Nhưng vì kính trọng ta và mang nỗi sợ trong tim, nàng đã né tránh tình yêu của ngài; và khi ấy ngài đã thề một lời thề lớn lao rằng nàng sẽ không bao giờ được gọi là hiền thê của một vị thần bất tử. Tuy nhiên, ngài vẫn chẳng ngừng lén lút dòm ngó nàng bất chấp ý muốn của nàng, cho đến khi vị thần Themis đáng kính tuyên bố cho ngài toàn bộ sự thật, rằng số phận của nàng là sinh ra một người con trai hùng mạnh hơn cả phụ vương; thế nên ngài đã từ bỏ nàng, bất chấp mọi khao khát, vì sợ rằng một kẻ khác sẽ sánh ngang với mình và cai trị các đấng bất tử, đồng thời để ngài có thể mãi mãi giữ vững ngai vàng thống trị của mình. Nhưng ta đã trao cho nàng người con trai xuất sắc nhất của mặt đất để làm phu quân, để nàng tìm thấy một cuộc hôn nhân vừa ý và sinh hạ con cái; ta đã triệu tập tất cả các vị thần đến dự tiệc. Và chính tay ta đã thắp ngọn đuốc cưới, để đáp lại sự tôn kính ân cần mà nàng dành cho ta. Nhưng nào, hãy để ta kể cho nàng nghe một câu chuyện không bao giờ sai lệch. Khi con trai nàng đến đồng bằng Elysium — đứa trẻ mà giờ đây trong cung điện của Chiron nhân mã đang được các tiên nữ nước ngọt dưỡng nuôi, dẫu nó vẫn thèm thuồng dòng sữa mẹ của nàng — số mệnh đã định sẵn nó sẽ là phu quân của Medea, ái nữ của Aeetes; nàng hãy trợ giúp cô con dâu của mình như một người mẹ chồng nên làm, và hãy giúp đỡ cả Peleus nữa. Cớ sao cơn giận dữ của nàng lại kiên định đến thế? Chàng ta đã bị che mờ bởi sự khờ dại. Bởi sự mù quáng vốn giáng xuống cả các vị thần. Ta tin chắc rằng theo lệnh của ta, Hephaestus sẽ ngừng thổi bùng cơn cuồng nộ của ngọn lửa, và Aeolus — con trai của Hippotas — sẽ kìm giữ những luồng gió phóng nhanh của ngài, ngoại trừ ngọn gió tây kiên định, cho đến khi họ chạm tới bến cảng của người Phaeacians; nàng hãy toan tính một cuộc trở về bình an. Những mỏm đá và những con sóng bạo ngược là nỗi sợ duy nhất của ta, chỉ chúng mà thôi, và nàng có thể vô hiệu hóa chúng với sự trợ giúp của các chị em mình. Và chớ để họ rơi vào cảnh bất lực trong lòng Charybdis kẻo ả nuốt chửng họ trong một cú ngoạm, hoặc tiếp cận hang ổ gớm ghiếc của Scylla, nàng Scylla tử thần xứ Ausonia, kẻ mà nữ thần lang thang đêm tối Hecate — người được gọi là Crataeis[32] — đã sinh ra cho Phorcys, kẻo lao vào họ với cái hàm kinh hoàng để tiêu diệt những vị anh hùng kiệt xuất nhất. Nhưng hãy dẫn dắt con tàu của họ theo con đường mà ở đó vẫn còn một đường tơ kẽ tóc thoát khỏi diệt vong.”
Nàng vừa dứt lời, Thetis liền đáp lại bằng những lời sau: “Nếu cơn cuồng nộ của ngọn lửa đói khát và những trận bão giông thực sự ngừng lại, ta chắc chắn sẽ dũng cảm hứa hẹn sẽ cứu lấy con tàu, dẫu cho sóng gió có chặn ngang lối đi, miễn là gió tây thổi tươi mát và trong lành. Nhưng đã đến lúc phải bước đi trên một con đường dài vô tận, đi tìm những người chị em sẽ trợ giúp ta, và đến nơi những sợi cáp của con tàu được buộc chặt, để khi bình minh ló dạng, các anh hùng có thể toan tính cách giành lấy con đường trở về nhà.”
Nàng cất lời, lao vút xuống từ bầu trời, rơi vào giữa những dòng nước xoáy của biển xanh thẳm; nàng cất tiếng gọi các Nereid khác — những người chị em ruột thịt của mình — đến trợ giúp; và họ nghe thấy, tụ họp lại; Thetis tuyên bố những mệnh lệnh của thần Hera cho họ, rồi nhanh chóng thúc giục tất cả lên đường hướng về biển Ausonia. Còn chính nàng, nhanh hơn cả tia chớp mắt hay những mũi tên của mặt trời khi nó nhô lên từ một vùng đất xa xôi tít tắp, vội vã lướt qua biển khơi, cho đến khi nàng đến được bãi biển Aeaea thuộc đất liền Tyrrhenian. Và nàng tìm thấy các anh hùng đang bên con tàu giải trí bằng việc ném đĩa và bắn cung; nàng đến gần và nhẹ nhàng chạm vào bàn tay của Peleus — con trai của Aeacus, bởi chàng chính là phu quân của nàng; chẳng ai có thể nhìn thấy nàng rõ ràng, nhưng nàng hiện hình trong mắt một mình chàng, và cất lời bảo ban:
“Giờ đây các anh không thể tiếp tục ngồi lì trên bãi biển Tyrrhenian nữa, mà vào lúc bình minh, hãy tháo những sợi cáp của con tàu tốc hành ra, vâng lệnh thần Hera, vị thần hộ mệnh của các anh. Bởi theo lệnh của nàng, các thiếu nữ con nhà Nereus đã tề tựu để kéo con tàu của các anh vượt qua giữa những mỏm đá mang tên Planctae, [33] vì đó là con đường đã được định sẵn cho các anh. Nhưng khi thấy chúng ta đến gặp, xin chớ hé lộ hình hài của ta cho bất kỳ ai, mà hãy giữ kín trong tâm trí, kẻo chàng lại khiến ta nổi giận hơn cả lần liều lĩnh trước kia.”
Nàng vừa dứt lời liền biến mất vào tận sâu đáy biển; nhưng một nỗi đau buốt nhói xé lòng Peleus, bởi từ trước tới nay chưa bao giờ chàng thấy nàng trở lại, kể từ lần đầu tiên nàng rời khỏi phòng hoa chúc và chiếc giường trong cơn thịnh nộ, vì cớ đứa con trai quý tử Achilles khi ấy còn là một đứa trẻ sơ sinh. Bởi nàng vẫn luôn dùng ngọn lửa bao bọc lấy tấm thân phàm trần của đứa trẻ mỗi đêm. Và ngày qua ngày, nàng xức ambrosia lên khung thể non nớt của nó, để nó trở thành bất tử và để nàng có thể xua đuổi tuổi già gớm ghiếc khỏi thân thể nó. Nhưng Peleus đã chồm dậy từ giường ngủ và nhìn thấy đứa con trai thân yêu đang thở hổn hển trong ngọn lửa; vừa trông thấy, ngài gào thét một tiếng kinh hoàng, thật là một kẻ ngu ngốc; và nàng nghe thấy, liền chộp lấy đứa trẻ ném mạnh xuống đất trong tiếng thét gào, còn bản thân nàng tựa như một luồng gió lao vút khỏi sảnh đường như một giấc mộng rồi nhảy ùm xuống biển trong cơn giận dữ tột cùng, và từ đó không bao giờ quay trở lại nữa. Thế nên sự kinh ngạc ngỡ ngàng đã xiềng xích tâm hồn ngài; dẫu vậy, ngài vẫn tuyên bố với các đồng đội mọi mệnh lệnh của Thetis. Và họ dừng ngang cuộc chơi, vội vã kết thúc các cuộc tranh tài, chuẩn bị bữa ăn cùng những chiếc giường rải cỏ, nơi sau bữa tối họ đã ngủ qua đêm như mọi khi.
Giờ đây, khi ánh ban mai mang theo ánh sáng đang chạm vào rìa bầu trời, thì theo sự xuất hiện của ngọn gió tây thổi nhanh, họ từ đất liền bước lên các hàng ghế chèo; họ hân hoan kéo neo khỏi đáy sâu và chuẩn bị ngư cụ theo đúng thứ tự; rồi giương buồm lên phía trên, căng thật phẳng bằng các dây kéo từ xà ngang. Một làn gió tươi mát thúc đẩy con tàu lướt đi. Và chẳng mấy chốc họ nhìn thấy một hòn đảo xinh đẹp, Anthemoessa, nơi các nàng Sirens có giọng ca trong trẻo — ái nữ của Achelous — thường dùng những khúc ca ngọt ngào để lừa phỉnh bất cứ kẻ nào thả neo tại đó, rồi tiêu diệt hắn. Chúng được sinh ra bởi Terpsichore kiều diễm, một trong các nàng Muse, kết hợp cùng Achelous; và thuở xưa chúng từng chăm sóc ái nữ cao quý của Demeter khi còn chưa lấy chồng, cùng cất giọng đồng ca cho nàng nghe; và vào thời điểm ấy, hình hài của chúng một phần giống loài chim, một phần giống thiếu nữ. Và luôn canh chừng từ vị trí quan sát của mình với bến cảng tuyệt đẹp, chúng từng tước đoạt con đường về ngọt ngào của rất nhiều người, tiêu diệt họ bằng nỗi khao khát mòn mỏi; và đột nhiên, chúng cũng cất lên những lời ca tựa tiếng hoa huệ từ đôi môi hướng về các anh hùng. Họ suýt chút nữa đã quăng dây cáp từ tàu xuống bờ, nếu như nhà thơ Orpheus xứ Thrace — con trai của Oeagrus — không nhanh tay gảy cây đàn lia Bistonian, vang lên những nốt nhạc dồn dập của một giai điệu gợn sóng để tai họ ngập tràn âm thanh khảy đàn; và tiếng đàn lia đã át đi giọng ca của các thiếu nữ. Gió tây cùng con sóng ầm ào xô từ phía sau đẩy con tàu lướt đi; còn các nàng Sirens vẫn không ngớt cất lên tiếng ca bất tận. Dẫu vậy, chỉ riêng người con trai tuấn tú của Teleon trong số các đồng đội đã lao mình từ chiếc ghế đánh bóng xuống biển trước tất cả mọi người, đó là Butes, tâm hồn chàng đã tan chảy trước giọng ca trong trẻo vang vọng của các nàng Sirens; và chàng bơi qua con sóng sẫm màu để leo lên bãi biển, thật là một kẻ khốn khổ. Chắc hẳn chúng đã cướp mất con đường trở về của chàng ngay tại đó, nếu như nữ thần cai quản Eryx, Cypris, không chạnh lòng tước đoạt chàng khi còn giữa dòng nước xoáy, nhân từ cứu vớt để chàng đến sinh sống trên đỉnh Lilybean. Các anh hùng trong nỗi đau đớn đành bỏ lại các nàng Sirens, nhưng những hiểm nguy khác còn tồi tệ hơn, hủy diệt tàu thuyền, đang chờ đợi họ ở nơi giao nhau của các vùng biển.
Bởi một bên xuất hiện mỏm đá trơn nhẵn của Scylla; bên kia Charybdis không ngừng phun trào và gầm rú; một phần khác những hòn đá Wandering đang gầm thét dưới con sóng vĩ đại, nơi trước kia ngọn lửa thiêu đốt bùng ra từ đỉnh những vách đá, phía trên tảng đá rực rỡ ánh lửa, và bầu không khí mờ mịt khói, ngươi chẳng thể nhìn thấy ánh sáng mặt trời. Khi ấy, dẫu Hephaestus đã ngừng tay khỏi những nhọc nhằn, mặt biển vẫn tiếp tục bốc lên một làn hơi ấm áp. Ngay lúc đó, từ bên này và bên phía kia, các ái nữ của Nereus đã đến hội ngộ họ; và ở phía sau, nữ thần Thetis đặt tay lên cán bánh lái, để dẫn dắt họ giữa những hòn đá Wandering. Và tựa như khi thời tiết đẹp, những đàn cá heo ngoi lên từ đáy sâu và đùa giỡn vòng quanh con tàu khi nó lướt đi, lúc thấy ở phía trước, lúc phía sau, lúc lại bên mạn tàu và mang lại niềm vui cho các thủy thủ; các nàng Nereid cũng lao vút lên và lượn thành từng hàng quanh con tàu Argo, trong khi Thetis dẫn đường cho hải trình của nó. Và khi họ sắp chạm tới những hòn đá Wandering, lập tức họ kéo vạt áo lên trên đôi đầu gối trắng ngọc ngà, và vươn cao, ngay trên những mỏm đá và nơi sóng vỗ, họ chạy vội đi bên này bên kia cách xa nhau. Con tàu được nâng bổng lên khi dòng nước siết đánh vào nó, và khắp xung quanh, con sóng hung tợn dâng lên tràn qua những mỏm đá, những tảng đá có lúc chạm tới bầu trời như những vách núi cao ngất, có lúc lại chìm sâu dưới đáy biển được cắm chặt xuống tận đáy và những con sóng dữ tràn ngập qua chúng thành từng trận lũ. Và các nàng Nereid, tựa như những thiếu nữ gần bãi cát vén vạt áo lên tận eo để không vướng víu và đùa giỡn với một quả bóng tròn trịa; rồi họ chuyền tay nhau bắt lấy nó và ném vút lên không trung; và nó chẳng bao giờ chạm đất; cứ thế, họ luân phiên chuyền tay nhau đưa con tàu bay qua không trung vượt trên những con sóng, khi nó không ngừng lao đi xa khỏi những mỏm đá; và xung quanh họ, nước phun trào và sủi bọt trắng xóa. Bản thân chúa tể Hephaestus đứng trên đỉnh một mỏm đá trơn nhẵn, tỳ đôi vai vạm vỡ lên cán búa của mình, chiêm ngưỡng họ, và hiền thê của Zeus chiêm ngưỡng họ khi đứng phía trên bầu trời rực rỡ; nàng vòng tay ôm lấy Athena, nỗi sợ hãi bủa vây nàng khi chiêm ngưỡng. Và khoảng thời gian dài bằng một ngày mùa xuân, họ đã nhọc nhằn nhường ấy, bồng bềnh con tàu giữa những mỏm đá vang vọng tiếng gầm; rồi các anh hùng lại bắt lấy gió và lướt đi; họ nhanh chóng vượt qua đồng cỏ Thrinacia, nơi đàn gia súc của Helios gặm cỏ. Tại đó, các tiên nữ, tựa như những chú mòng biển, lao mình xuống đáy sâu, khi đã hoàn thành những mệnh lệnh của hiền thê thần Zeus. Cùng lúc đó, tiếng cừu bê gầm vang vọng đến tai các anh hùng qua làn sương mù cùng tiếng bò rống ngay gần đó. Và trên những đồng cỏ đẫm sương, Phaethusa — người con út của các ái nữ nhà Helios — chăm bẵm đàn cừu, tay cầm chiếc gậy uốn bằng bạc; trong khi Lampetia, chăn dắt đàn gia súc, cầm chiếc trượng bằng kim loại orichalcum rực rỡ khi nàng đi theo. Những con gia súc ấy được các anh hùng nhìn thấy đang gặm cỏ bên dòng sông, trải dài khắp đồng bằng và vùng ngập nước; chẳng có con nào có màu sẫm tối mà tất cả đều trắng như tuyết và kiêu hãnh với cặp sừng bằng vàng. Thế là họ lướt qua chúng vào ban ngày, và khi đêm xuống, họ đang rẽ sóng vượt qua một vịnh biển lớn, hân hoan, cho đến khi bình minh ló dạng lần nữa soi rọi hành trình của họ.
Đối diện với vịnh Ionian nằm một hòn đảo trong vùng biển Ceraunian, đất đai màu mỡ, với bến cảng ở cả hai phía, bên dưới là lưỡi hái, như truyền thuyết kể lại — xin hãy ban ơn cho tôi, hỡi các nàng Muse, tôi không hề tự nguyện kể câu chuyện thời cổ đại này — nơi Cronos tàn nhẫn đã cắt đứt cơ thể cha mình; nhưng những người khác gọi nó là lưỡi hái gặt lúa của Demeter, nữ thần thế giới ngầm. Bởi Demeter từng sinh sống trên hòn đảo đó, và dạy cho người Titans gặt những bông lúa mì, tất cả cũng vì tình yêu dành cho Macris. Từ đó nó được gọi là Drepane,[35] người vú nuôi thiêng liêng của người Phaeacians; và cứ thế, chính người Phaeacians về bản chất mang dòng máu của Uranus. Đến với họ là con tàu Argo, bị kìm hãm bởi bao gian lao, được đưa đến bởi những cơn gió từ biển Thrinacian; và Alcinous cùng thần dân của ngài với lễ tế nhân từ đã hân hoan chào đón sự xuất hiện của họ; toàn thành phố vui mừng hoan hỉ vì họ; ngươi sẽ nói rằng họ đang vui mừng trước chính những đứa con trai của mình. Bản thân các anh hùng sải bước trong niềm hân hoan giữa đám đông, tựa như thể họ đã đặt chân lên trái tim của xứ Haemonia; nhưng chẳng mấy chốc họ sẽ phải vũ trang và cất tiếng hô chiến trận; bởi xuất hiện ngay gần họ là một đại quân vô tận của người Colchis, những kẻ đã vượt qua cửa biển Pontus và giữa những phiến đá Cyanean để đi tìm các vị thủ lĩnh. Chúng khao khát ngay lập tức cướp lấy Medea đưa về nhà cha nàng tách biệt khỏi những người khác, bằng không chúng đe dọa với sự tàn nhẫn hung ác sẽ dâng lên tiếng hô chiến trận kinh hoàng ngay lúc đó và sau này khi Aeetes đến. Nhưng chúa tể Alcinous đã ngăn chặn họ giữa lúc họ đang khao khát chiến tranh. Bởi ngài khao khát xoa dịu cuộc tranh chấp phi pháp giữa hai bên mà không cần sự va chạm của chiến trận. Và thiếu nữ trong nỗi sợ hãi chết chóc thường xuyên khẩn cầu các đồng đội của con trai Aeson, thường xuyên dùng đôi tay chạm vào đầu gối của Arete — hiền thê của Alcinous:
“Thiếp xin ngài, hỡi nữ hoàng, xin hãy khoan dung và đừng giao thiếp cho người Colchis để đưa về cho cha, nếu chính ngài cũng là một phần của giống loài phàm nhân, những kẻ có trái tim nhanh chóng lao vào bờ diệt vong từ những lỗi lầm nhỏ nhặt. Bởi ý thức kiên định của thiếp đã rời bỏ thiếp — đó chẳng phải vì sự phóng túng. Xin ánh sáng thiêng liêng của thần Helios làm chứng, xin các nghi lễ của nữ thần lang thang đêm tối — ái nữ của Perses — làm chứng. Thiếp không tự nguyện rời khỏi mái nhà của mình cùng những con người xa lạ; nhưng một nỗi sợ hãi khủng khiếp đã xúi giục thiếp nghĩ đến chuyện trốn chạy khi thiếp lầm lỗi; chẳng còn mưu kế nào khác. Chiếc đai lưng thời thiếu nữ của thiếp vẫn còn đó, y như trong cung điện của cha thiếp, vẹn nguyên, chưa từng bị chạm đến. Xin hãy thương xót thiếp, hỡi nữ vương, và thuyết phục chúa tể của ngài rủ lòng thương; nguyện xin các đấng bất tử ban cho ngài một cuộc đời vẹn toàn, niềm vui, con cái và vinh quang của một thành phố không bị tàn phá!”
Nàng cứ thế khẩn cầu Arete trong giàn giụa nước mắt, và cứ thế khẩn cầu từng vị thủ lĩnh lần lượt:
“Vì các anh, hỡi những con người dũng mãnh vô song, và vì những gian lao của tôi trong các cuộc thám hiểm của các anh mà tôi phải chịu đựng khổ đau tột cùng; chính tôi, người mà nhờ sự giúp đỡ của tôi các anh mới ách được bầy bò đực, và gặt hái mùa màng chết chóc của những kẻ sinh ra từ đất mẹ; chính tôi, người mà qua đường về của các anh, các anh sẽ mang bộ lông cừu vàng về xứ Haemonia. Kìa, tôi đây, kẻ đã mất đi quê hương và cha mẹ, kẻ đã mất đi mái nhà cùng mọi niềm vui của cuộc sống; tôi đã trao trả lại cho các anh quê hương và tổ ấm; các anh sẽ hân hoan gặp lại cha mẹ bằng ánh mắt vui mừng; nhưng đối với tôi, một vị thần tàn nhẫn đã cướp sạch mọi niềm vui; và tôi lang thang cùng những kẻ lạ mặt, mang thân phận bị nguyền rủa. Hãy sợ giao ước và những lời thề của các anh, hãy sợ Nữ thần Báo Thù trừng phạt những kẻ khất cầu cùng sự trừng phạt của thiên đàng, nếu tôi rơi vào tay Aeetes và bị sát hại với sự nhục nhã đớn đau. Tôi chẳng màng đến bất kỳ ngôi đền nào, tháp phòng thủ nào, hay nơi trú ẩn nào khác, mà chỉ đặt trọn vào các anh. Thật cứng rắn và tàn nhẫn trong sự nhẫn tâm của các anh! Các anh chẳng màng chút lòng kính trọng nào dành cho tôi trong tim dẫu thấy tôi bất lực, vươn đôi tay hướng về đầu gối của một nữ vương xa lạ; thế mà, khi các anh khao khát chiếm đoạt bộ lông cừu, các anh sẵn sàng đối mặt với tất cả người Colchis và cả tên Aeetes ngạo mạn; nhưng giờ đây các anh đã quên đi lòng dũng cảm, khi mà họ chỉ có một mình và bị cô lập.”
Nàng cất lời khẩn cầu; và bất kỳ ai nàng cúi đầu cầu xin, người đó đều cố gắng vực dậy tâm hồn và xoa dịu nỗi đau đớn cho nàng. Trong tay, họ lắc lư những ngọn giáo sắc nhọn, rút gươm ra khỏi vỏ; và họ thề sẽ không chùn bước trong việc cứu trợ, nếu nàng phải đối mặt với một phán quyết bất công. Toàn bộ đoàn quân đều kiệt sức và Đêm đã buông xuống, Đêm đặt dấu chấm hết cho những công việc của con người, ru ngủ toàn bộ mặt đất; nhưng với thiếu nữ, chẳng có giấc ngủ nào mang lại sự bình yên, mà trái tim trong lồng ngực nàng đang bị vò xé bởi nỗi đau đớn. Tựa như khi một người phụ nữ lao nhọc quay chiếc trục sợi suốt đêm, và xung quanh nàng là những đứa con mồ côi đang rên rỉ, bởi nàng là một góa phụ, và những giọt nước mắt lăn dài trên má nàng, khi nàng nghĩ về số phận nghiệt ngã đang tóm lấy mình; đôi má của Medea cũng đẫm lệ như thế; và trái tim trong lồng ngực nàng chìm trong nỗi thống khổ, bị xuyên thủng bởi nỗi đau buốt nhói.
Giờ đây, bên trong cung điện thuộc thành phố, cũng như mọi khi, chúa tể Alcinous và Arete — người vợ đáng kính của Alcinous — đang nằm trên chiếc giường của họ suốt đêm để bàn tính các kế hoạch về thiếu nữ; và vị hiền thê cất lời với người chồng chính thất của mình bằng những lời đầy âu yếm:
“Này phu quân của em, xin hãy đến, hãy cứu lấy người thiếu nữ khốn khổ khỏi tay người Colchis và tỏ lòng nhân từ với người Minyae. Argos ở gần hòn đảo của chúng ta và những người con của Haemonia; nhưng Aeetes không sống gần đây, chúng ta cũng chẳng hề biết gì về Aeetes: chúng ta chỉ nghe danh tiếng của ngài; nhưng người thiếu nữ gánh chịu nỗi thống khổ tột cùng này đã làm tan nát trái tim em qua những lời khẩn cầu của nàng. Hỡi nhà vua, xin đừng giao nàng cho người Colchis để đưa về nhà cha. Nàng đã mụ mị khi lần đầu tiên trao cho chàng ta thứ độc dược để làm tê liệt bầy bò; và tiếp đó, để chữa lành cái ác này bằng cái ác khác, như chúng ta vẫn thường làm trong những lầm lỗi của mình, nàng đã trốn chạy khỏi cơn giận dữ nặng nề của vị phụ vương ngạo mạn. Nhưng Jason, theo như em nghe được, đã bị ràng buộc bởi những lời thề lớn lao rằng chàng sẽ lập nàng làm vợ chính thất trong cung điện của mình. Thế nên, phu quân của em, xin đừng tự ý khiến con trai của Aeson trở thành kẻ bội thề, cũng đừng để người cha, nếu chàng có thể giúp đỡ, thực hiện một hành động tai họa không thể dung thứ lên đứa con của mình. Bởi những người cha thường quá mức ghen tuông với con cái mình; Nycteus từng toan tính điều sai trái gì với Antiope mặt đẹp! Danae đã phải chịu đựng những nỗi đau đớn nào trên vùng biển rộng lớn qua cơn cuồng nộ điên cuồng của người cha! Mới đây thôi, và chẳng ở đâu xa, Echetus trong sự phóng túng tàn nhẫn đã đâm những chiếc cọc đồng vào mắt con gái mình; và nàng đang héo mòn vì một số phận cay đắng, nghiền những hạt đồng trong bóng tối ngục tù.”
Nàng cất lời khẩn cầu; và qua những lời của người vợ, trái tim ngài trở nên mềm mại, và ngài cất lời:
Arete, bằng vũ lực ta có thể đánh đuổi người Colchis, tỏ lòng nhân từ với các anh hùng vì lợi ích của thiếu nữ. Nhưng ta sợ việc phớt lờ phán quyết công chính của thần Zeus. Cũng chẳng hay ho gì khi không màng đến Aeetes, như nàng nói: bởi chẳng có ai quyền uy hơn Aeetes. Và nếu ngài muốn, ngài có thể giáng chiến tranh xuống xứ Hellas, dẫu ngài có sống ở nơi xa xôi. Thế nên ta có bổn phận đưa ra phán quyết sao cho trước mắt mọi người là tốt nhất; và ta sẽ không giấu nàng điều đó. Nếu nàng vẫn còn là trinh nữ, ta sắc lệnh rằng họ phải đưa nàng trở về cho cha; nhưng nếu nàng đã chia sẻ chiếc giường với phu quân, ta sẽ không tách nàng ra khỏi chúa tể của nàng; cũng như nếu nàng mang thai một đứa con trong lồng ngực, ta sẽ không giao nó cho kẻ thù.”
Ngài vừa dứt lời, giấc ngủ liền chầm chậm ập đến ru ngài chìm vào giấc say. Và nàng ghi khắc lời khôn ngoan ấy vào tâm can, lập tức đứng dậy khỏi giường bước qua cung điện; các nữ tì hối hả tụ họp lại, ân cần phục vụ người chủ nhân của mình. Nhưng nàng lặng lẽ gọi sứ giả của mình tới và căn dặn, một cách khôn ngoan giục con trai của Aeson hãy cưới thiếu nữ, và đừng khẩn cầu Alcinous nữa; bởi chính ngài, nàng nói, sẽ tuyên bố với người Colchis rằng nếu nàng vẫn là trinh nữ, ngài sẽ giao nàng để đưa về nhà cha, nhưng nếu nàng đã chia sẻ chiếc giường với phu quân, ngài sẽ không tách rời nàng khỏi tình yêu đôi lứa.
Nàng vừa dứt lời, đôi chân sứ giả liền vội vã rời khỏi sảnh đường, để tuyên bố với Jason lời phán điềm lành của Arete cùng mưu kế của vị vua kính sợ thần linh Alcinous. Và ngài tìm thấy các anh hùng đang canh gác trong bộ giáp đầy đủ tại bến cảng Hyllus, gần thành phố; và ngài thuật lại toàn bộ thông điệp; trái tim mỗi anh hùng đều hân hoan; bởi lời ngài mang đến chính là điều họ hằng mong đợi.
Và ngay lập tức, họ pha một chén rượu dâng lên các đấng tối cao theo đúng phép tắc, cung kính dẫn cừu đến tế đàn, và ngay trong đêm đó, chuẩn bị cho thiếu nữ chiếc giường tân hôn trong hang động thiêng, nơi ngày xưa Macris từng sinh sống — ái nữ của Aristaeus, chúa tể loài ong, kẻ đã phát hiện ra công việc của loài ong và độ béo ngậy của ô liu, thành quả của lao động. Chính nàng là người đầu tiên ôm lấy người con trai của Zeus ở Nysa tại xứ Euboea thuộc Abantia, và dùng mật ong làm ẩm đôi môi khô khốc của nó khi thần Hermes đưa nó ra khỏi ngọn lửa. Thần Hera nhìn thấy, và trong cơn giận dữ đã xua đuổi nàng khỏi toàn bộ hòn đảo. Và thế nên nàng đã đến sống ở một nơi xa xôi, trong hang động thiêng của người Phaeacians, ban tặng sự giàu có vô tận cho cư dân nơi đây. Tại đó, vào thời điểm ấy, họ đã trải một chiếc giường lớn; và trên đó họ đặt bộ lông cừu vàng lấp lánh, để hôn nhân được tôn vinh và trở thành chủ đề ca tụng. Các nàng tiên nữ đã tụ tập những bông hoa đủ màu sắc rực rỡ mang đến đặt vào bầu ngực trắng ngọc ngà của họ; và một ánh hào quang tựa ngọn lửa tỏa rực xung quanh tất cả, ánh sáng rực rỡ phát ra từ những chùm lông vàng. Nó thắp lên một khao khát ngọt ngào trong đôi mắt họ; thế nhưng bất chấp mọi khát khao, sự kính sợ đã ngăn cản mỗi người vươn tay chạm vào đó. Một số được gọi là ái nữ của dòng sông Aegaeus; những người khác sinh sống quanh các đỉnh núi Meliteian; và những người khác nữa là các tiên nữ rừng xanh từ những đồng bằng. Bởi chính thần Hera — hiền thê của thần Zeus — đã sai họ đến để tôn vinh Jason. Hang động đó cho đến ngày nay vẫn được gọi là hang động thiêng của Medea, nơi họ trải tấm vải lanh mịn thơm ngát và đưa hai người đến với nhau. Các anh hùng trong tay cầm sẵn ngọn giáo chiến trận, đề phòng kẻ thù bất ngờ ập đến tấn công chớp nhoáng, và trên đầu đội những vòng hoa lá, tất cả hòa nhịp trong khi tiếng đàn lia của Orpheus vang lên trong trẻo, cùng cất cao khúc ca tân hôn ngay lối ra vào của phòng hoa chúc. Tuy nhiên, con trai của Aeson không có ý định hoàn thành hôn lễ của mình trong cung điện của Alcinous, mà là ở cung điện của cha mình khi chàng đã trở về nhà ở Ioleus; và đó cũng là ý nguyện của chính Medea; nhưng sự ngặt nghèo của tình thế đã buộc họ phải kết hôn vào lúc này. Bởi quả thực, chúng ta những bộ lạc phàm nhân khốn khổ chẳng bao giờ bước đi trên con đường hạnh phúc với bước chân vững chãi; mà luôn có một nỗi đau đớn cay đắng song hành cùng niềm vui của chúng ta. Thế nên cả hai cũng vậy, dẫu tâm hồn họ đã tan chảy trong tình yêu ngọt ngào, vẫn bị kìm hãm bởi nỗi sợ hãi, không biết phán quyết của Alcinous có được thực hiện hay không.
Giờ đây, bình minh trở lại với những tia sáng thần thánh đã xua tan màn đêm u tối khỏi bầu trời; những bãi biển trên hòn đảo mỉm cười và những con đường băng qua đồng bằng ở phía xa đẫm sương đêm, tiếng động ồn ào vang lên trên đường phố; người dân rộn ràng khắp thành phố, và ở phía xa, người Colchis cũng rộn ràng nơi biên giới của hòn đảo Macris. Ngay lập tức, Alcinous đến gặp họ theo đúng giao ước, để tuyên bố mục đích của mình về thiếu nữ, và trên tay ngài cầm một chiếc trượng bằng vàng — chiếc trượng công lý, nhờ đó người dân được phân định những phán quyết công minh khắp thành phố. Đi theo ngài theo đúng thứ tự và khoác trên mình bộ giáp chiến trận là những vị thủ lĩnh của người Phaeacians, tiến bước theo từng tốp. Từ các tháp canh, phụ nữ túa ra thành đám đông để chiêm ngưỡng các anh hùng; người dân nhà nông kéo đến hội ngộ khi nghe tin đồn, bởi thần Hera đã tung ra một lời loan báo xác thực. Người mang theo con cừu được chọn từ đàn của mình, kẻ mang con bê chưa từng cày kéo; những người khác đặt sát bên những vại rượu lớn để pha chế; và khói tế lễ dâng vút lên tận xa. Phụ nữ mang theo vải lanh mịn — thành quả của bao nhọc nhằn, như thói quen của phụ nữ, cùng những món quà bằng vàng và các đồ trang sức đa dạng, những thứ thường được mang đến cho những cô dâu mới cưới; và họ kinh ngạc khi chiêm ngưỡng hình dáng cân đối cùng vẻ đẹp của những vị anh hùng hào hoa, trong số đó có con trai của Oeagrus, người thường xuyên nện đôi sandal lấp lánh xuống mặt đất theo nhịp đàn lia và lời ca vang dội của mình. Tất cả các nàng tiên nữ cùng nhau, mỗi khi ngài gợi nhắc về hôn nhân, lại cất lên khúc ca cô dâu kiều diễm; và đôi khi họ lại hát một mình khi xoay tròn trong điệu múa, hỡi thần Hera, để tôn vinh người; bởi chính người đã đặt vào lòng Arete việc công bố lời lẽ khôn ngoan của Alcinous. Và ngay khi ngài ban hành sắc lệnh về phán quyết công minh của mình, và việc hoàn thành hôn nhân được loan báo, ngài đã chu toàn để nó được giữ vững kiên định; chẳng có nỗi sợ hãi chết chóc hay cơn giận dữ nặng nề nào của Aeetes chạm đến ngài, mà ngài giữ vững phán quyết của mình qua những lời thề không thể phá vỡ. Thế nên khi người Colchis hay tin rằng họ đang khẩn cầu trong vô vọng và ngài giục họ hoặc tuân thủ các phán quyết của ngài hoặc đưa tàu rời khỏi các bến cảng và vùng đất của ngài, thì họ bắt đầu sợ hãi những lời đe dọa của chính vị vua của mình và khẩn cầu Alcinous tiếp nhận họ làm đồng đội; và tại hòn đảo đó, họ đã sinh sống suốt thời gian dài cùng người Phaeacians, cho đến khi năm tháng trôi qua, người Bacchiadae — dòng dõi xuất thân từ Ephyra[36] — đến định cư giữa họ; và người Colchis chuyển đến một hòn đảo đối diện; từ đó họ được định sẵn sẽ vươn tới những ngọn núi Ceraunian của người Abantes, cùng người Nestaeans và Oricum; nhưng tất cả những điều này chỉ được thực hiện sau khi vô số thời đại trôi qua. Và cho đến nay, những bàn tế đàn mà Medea dựng lên tại nơi linh thiêng của thần Apollo — vị thần chăn dắt gia súc — vẫn nhận được những vật hiến tế hàng năm để tôn vinh các Nữ thần Vận Mệnh và các Nữ thần Nước. Khi người Minyae khởi hành, Alcinous đã ban tặng rất nhiều món quà tình bạn, và Arete cũng vậy; hơn thế nữa, nàng còn ban cho Medea mười hai nữ tì người Phaeacian từ cung điện để làm bạn đồng hành cùng nàng. Vào ngày thứ bảy, họ rời khỏi Drepane; và lúc bình minh, một làn gió tươi mát từ thần Zeus thổi tới. Họ lướt đi, được chở che bởi hơi thở của gió. Dẫu vậy, các anh hùng vẫn chưa được định sẵn đặt chân đến xứ Achaea, cho đến khi họ phải chịu đựng gian khổ tận những vùng biên viễn của Libya.
Giờ đây họ đã bỏ lại phía sau vịnh mang tên người Ambracian, giờ đây với những cánh buồm giương rộng là vùng đất của người Curetes, tiếp theo là những hòn đảo hẹp cùng quần đảo Echinades, và vùng đất của Pelops vừa mới hiển hiện trong tầm mắt; đúng lúc ấy, một luồng gió bắc tai hại đã tóm lấy họ giữa hải trình và cuốn họ hướng về vùng biển Libya suốt chín đêm chín ngày, cho đến khi họ tiến sâu vào vũng Syrtis, nơi chẳng có đường về cho tàu thuyền một khi chúng đã bị ép buộc lao vào vũng vịnh ấy. Bởi tứ bề đều là bãi cạn, tứ bề là những khối rong biển từ đáy sâu; và trải trên chúng là lớp bọt sóng nhẹ nhàng vỗ không tiếng động; một dải cát kéo dài đến tận chân trời mờ mịt; chẳng có bất kỳ sinh vật bò hay bay nào di chuyển ở đó. Tại đây, dòng triều dâng — vì dòng triều này thường rút khỏi đất liền rồi ập ngược trở lại bãi biển tiến đến với sự vội vã và gầm rú — đã đẩy đột ngột họ lên bờ biển trong cùng, và chỉ còn một phần nhỏ của sống tàu nằm lại trong nước. Họ lao mình khỏi con tàu, và nỗi buồn bủa vây khi họ chiêm ngưỡng làn sương mù cùng những bề mặt đất liền rộng lớn trải dài tựa sương mù và liên tục đến tận xa tăm tắp; chẳng có chút dấu hiệu nào của nước, chẳng có con đường nào, chẳng có chuồng trại chăn gia súc nào mà họ có thể nhìn thấy từ xa, mà toàn bộ khung cảnh bị chiếm lĩnh bởi một sự tĩnh lặng chết chóc. Và thế rồi một vị anh hùng, lòng đầy bực dọc, cất lời hỏi người khác:
“Đây là vùng đất nào? Bão tố đã hất chúng ta trôi dạt về đâu? Ước gì, bất chấp nỗi sợ hãi chết chóc, chúng ta đã dám lao đi qua chính con đường giữa những mỏm đá va đập ấy! Thà rằng vượt qua ý muốn của thần Zeus và bỏ mạng trong việc liều lĩnh thực hiện một chiến công vĩ đại còn hơn. Nhưng giờ đây, chúng ta nên làm gì, bị gió kìm chân ở lại đây dù chỉ trong chốc lát? Bờ rìa của vùng đất vô tận này hiện ra thật hoang vắng làm sao!”
Một người vừa cất lời; và giữa họ, Ancaeus — người lái tàu — trong sự tuyệt vọng vì hoàn cảnh khốn cùng, cất giọng đầy đau đớn: “Quả thực chúng ta tiêu đời rồi bởi một số phận kinh hoàng; chẳng có đường thoát khỏi diệt vong; chúng ta buộc phải gánh chịu những nỗi thống khổ tàn khốc nhất, khi đã lạc vào vùng hoang vắng này, dẫu cho gió có thổi từ đất liền đi chăng nữa; bởi khi ta nhìn phóng tầm mắt khắp nơi, tứ bề ta chỉ thấy một vùng biển bãi cạn, những khối nước, những đường nét chằng chịt, chảy qua lớp cát xám xịt. Và từ lâu, con tàu thiêng liêng của chúng ta đáng lẽ đã bị đập nát ở một nơi xa bờ; nhưng chính dòng triều đã đẩy cô ta lên cao trên vùng đất từ đại dương sâu thẳm. Nhưng giờ đây dòng triều lại cuộn mình trở về biển, và chỉ còn lại bọt biển, thứ mà chẳng con tàu nào có thể đi nổi, cuộn tròn quanh chúng ta, vừa vặn che phủ mặt đất. Thế nên ta cho rằng mọi hy vọng về hành trình và sự trở về của chúng ta đã bị cắt đứt. Hãy để ai khác thể hiện tài nghệ; hãy để kẻ khao khát sự cứu rỗi của chúng ta ngồi vào ghế lái tàu. Nhưng thần Zeus chẳng có ý muốn hoàn thành ngày trở về của chúng ta sau bao nhọc nhằn.”
Chàng cất lời trong giàn giụa nước mắt, và tất cả những ai am hiểu về tàu thuyền đều đồng tình với điều đó; nhưng trái tim của tất cả đều tê dại, và sự tái nhợt lan tràn trên má họ. Và tựa như những bóng ma vô hồn lang thang qua thành phố chờ đợi kết quả của chiến tranh hoặc dịch bệnh, hay một cơn bão lớn vùi dập vô số lao động của loài bò, khi những bức tượng tự động đổ mồ hôi và rỉ máu, những tiếng rống vang lên trong các đền thờ, hay khi vào lúc giữa trưa mặt trời kéo màn đêm từ bầu trời xuống, và các vì sao tỏa sáng rạng ngời qua lớp sương mù; cũng vào lúc ấy, dọc theo bãi cát tận cùng, các vị thủ lĩnh lang thang, mò mẫm tìm đường. Ngay sau đó, buổi chiều tối tăm ập xuống; họ đau đớn ôm lấy nhau, nghẹn ngào nói lời từ biệt trong nước mắt, để rồi mỗi người tách khỏi đồng đội của mình, gục ngã trên bãi cát và chờ chết. Họ tản ra khắp nơi để chọn chỗ nghỉ ngơi; trùm kín đầu bằng áo choàng, nhịn ăn và không một chút thức ăn trong bụng, họ nằm lì suốt đêm lẫn ngày đó, chờ đợi một cái chết thảm thương. Nhưng ở một góc riêng, các thiếu nữ túm tụm bên nhau than khóc cạnh ái nữ của Aeetes. Tựa như những chú chim non chưa đủ lông đủ cánh bị mẹ bỏ rơi ngã ra từ khe đá cất tiếng kêu chít chít lanh lảnh; hay như bên bờ sông Pactolus chảy hiền hòa, những con thiên nga cất cao tiếng hát, và khắp xung quanh, đồng cỏ đẫm sương cùng dòng nước hiền hòa của sông vang vọng tiếng vọng; những thiếu nữ ấy, vùi làn tóc vàng vào bụi đất, suốt đêm dài đã cất tiếng khóc than thảm thiết. Và tại đó, tất cả hẳn đã từ giã cõi đời mà chẳng có lấy một cái tên, vô danh trước mặt người phàm, những vị anh hùng dũng cảm nhất ấy, với nhiệm vụ chưa hoàn thành; nhưng khi họ héo mòn trong tuyệt vọng, các tiên nữ anh hùng — những vị nữ thần hộ mệnh của Libya — đã chạnh lòng thương xót họ, những kẻ từng tìm thấy Athena vào thời điểm nàng nhảy vung trong bộ giáp rạng rỡ từ trán phụ vương, rồi được tắm gội bởi dòng nước của Trito. Đã là lúc giữa trưa và những tia nắng gắt gao nhất của mặt trời đang thiêu đốt Libya; họ đứng gần con trai của Aeson, nhẹ nhàng kéo chiếc áo choàng khỏi đầu chàng. Vị anh hùng ngước đôi mắt nhìn xuống rồi liếc sang một bên, để tỏ lòng kính trọng các nữ thần, và khi chàng nằm hoang mang đơn độc, họ cất lời an ủi chàng bằng những lời lẽ dịu dàng:
“Hỡi kẻ bất hạnh, cớ sao chàng lại bị sự tuyệt vọng vò xé đến thế? Chúng ta thừa biết cách các ngươi lên đường tìm kiếm bộ lông cừu vàng; chúng ta biết rõ từng nhọc nhằn của các ngươi, mọi chiến công vĩ đại mà các ngươi đã lập nên trong những chuyến lang thang trên đất liền và biển cả. Chúng ta là những kẻ độc hành, nữ thần của vùng đất, cất tiếng nói bằng tiếng người, những nữ anh hùng, là hộ mệnh và ái nữ của Libya. Nào, đứng dậy đi; đừng tiếp tục đau khổ trong sự khốn cùng này nữa, và hãy đánh thức các đồng đội của chàng. Và khi Amphitrite ngay lập tức tháo cỗ xe có bánh xe phóng nhanh của thần Poseidon, các ngươi hãy trả ơn cho người mẹ của mình vì mọi sự nhọc nhằn khi bà mang nặng đẻ đau các ngươi suốt thời gian dài trong bụng; và cứ thế các ngươi có thể trở về vùng đất thiêng liêng của xứ Achaea.”
Họ vừa dứt lời liền biến mất cùng giọng nói ngay tại nơi đứng. Còn Jason ngồi trên mặt đất, đảo mắt nhìn xung quanh, và cất tiếng kêu:
“Xin hãy khoan dung, hỡi các nữ thần cao quý của hoang mạc, thế nhưng lời nói về cuộc trở về của chúng ta ta vẫn chưa hiểu rõ tường tận. Chắc chắn ta sẽ tụ tập các đồng đội lại và kể cho họ nghe, ngẫu nhiên nếu chúng ta có thể tìm thấy một dấu hiệu nào để trốn thoát, bởi mưu kế của nhiều người vẫn tốt hơn.”
Chàng cất lời, bật dậy đứng thẳng, lớn tiếng gọi các đồng đội ở phía xa, những kẻ đang phủ đầy bụi bẩn, tựa như một con sư tử gầm rú qua khu rừng để tìm kiếm bạn tình; và tận những ngọn núi xa xôi, các thung lũng rung chuyển trước tiếng gầm của ngọn giáo; gia súc trên đồng cỏ và người chăn dắt run rẩy vì sợ hãi; thế nhưng đối với họ, giọng nói của Jason chẳng hề đáng sợ chút nào — đó là giọng nói của một người bạn gọi những người bạn. Với ánh mắt cúi gầm, họ tụ tập lại gần, và ngay sát nơi con tàu nằm, chàng bắt họ ngồi xuống trong nỗi buồn đau cùng những người phụ nữ đi cùng, rồi cất lời kể lại mọi chuyện:
“Lắng nghe đây, hỡi những người bạn; khi ta nằm trong nỗi buồn đau, ba nữ thần khoác áo da dê từ cổ xuống thắt lưng ở phía sau và ngang hông, tựa như các thiếu nữ, đã đứng ngay sát trên đầu ta; họ vén áo choàng của ta ra bằng bàn tay nhẹ nhàng, bảo ta hãy tự đứng dậy đi đánh thức các ngươi, và trả cho người mẹ của chúng ta một sự đền ơn hậu hĩnh cho mọi nhọc nhằn khi bà mang nặng đẻ đau chúng ta suốt quãng thời gian dài trong bụng, khi Amphitrite tháo cỗ xe phóng nhanh của thần Poseidon. Nhưng ta vẫn chưa thể hiểu rõ tường tận về thông điệp thần thánh này. Họ thực sự nói rằng họ là những nữ anh hùng, hộ mệnh và ái nữ của Libya; và mọi nhọc nhằn mà chúng ta từng chịu đựng trước kia trên đất liền và biển cả, họ đều tuyên bố rằng họ biết rất rõ. Rồi ta chẳng còn thấy họ ở đó nữa, mà một làn sương mù hoặc đám mây đã chen vào che khuất họ khỏi tầm mắt ta.”
Chàng vừa dứt lời, tất cả đều kinh ngạc khi lắng nghe. Bấy giờ, một điềm lạ kỳ lạ nhất đã được tạo ra cho người Minyae. Từ biển khơi nhảy vung lên đất liền một con quái mã khổng lồ, kích thước to lớn, với chiếc bờm vàng tung bay quanh cổ; và nhanh chóng từ cơ thể nó rũ sạch lớp bọt biển dồi dào rồi bắt đầu lao đi, với đôi chân nhanh như gió. Ngay lập tức Peleus hân hoan cất tiếng giữa đám đông các đồng đội:
“Ta cho rằng tai của Poseidon đã được tháo gỡ ngay lúc này bởi đôi tay của người vợ thân yêu của ngài, và ta đoán rằng người mẹ của chúng ta chẳng phải ai khác chính là con tàu của chúng ta; bởi chắc chắn nó đã mang nặng đẻ đau chúng ta trong bụng và không ngừng rên rỉ với những nhọc nhằn đau đớn. Nhưng với sức mạnh vững chãi và đôi bờ vai không mỏi mệt, chúng ta sẽ nhấc bổng cô ấy lên và mang đi trong vùng đất hoang mạc cát trắng này, nơi con chiến mã phi nhanh kia vừa chạy qua trước. Bởi nó sẽ không lặn xuống lòng đất; và ta tin rằng những dấu chân của nó sẽ chỉ dẫn cho chúng ta đến một vịnh biển nào đó phía trên.”
Chàng vừa dứt lời, mưu kế thích hợp đã làm hài lòng tất cả. Đó là câu chuyện mà các nàng Muse đã kể; và ta cất tiếng hát vâng lệnh các nàng Pierides, và ta đã lắng nghe câu chuyện này một cách chân thực nhất; rằng các ngươi, hỡi những người con vinh quang nhất của các vị vua, bằng sức mạnh và lòng dũng cảm của mình trên những hoang mạc cát trắng của Libya, đã nâng cao tột đỉnh trên đôi vai mình con tàu cùng mọi thứ mang theo, và mang nó suốt mười hai ngày đêm liên tục. Thế nhưng ai có thể kể hết nỗi đau cùng niềm sầu khổ mà họ phải chịu đựng trong nhọc nhằn ấy? Chắc chắn họ mang dòng máu của các đấng bất tử, họ mới gánh vác một nhiệm vụ như thế, bị ép buộc bởi định mệnh. Họ tiến về phía trước và mang nó đi biết bao xa xôi, hân hoan tiến đến dòng nước của hồ Tritonian! Họ bước xuống và đặt nó rời khỏi đôi vai vạm vỡ của mình!
Rồi, tựa như những con chó săn cuồng nộ, họ lao đi tìm kiếm một nguồn nước; bởi bên cạnh sự đau khổ và thống khổ, một cơn khát cháy cổ đang bủa vây họ, và sự tìm kiếm của họ không hề vô ích; họ đã đến được vùng đất thiêng nơi Ladon — con rắn của vùng đất — cho đến tận hôm qua vẫn canh giữ những quả táo vàng trong khu vườn của Atlas; và xung quanh, các tiên nữ Hesperides đang bận rộn cất cao khúc ca tuyệt đẹp. Nhưng vào thời điểm ấy, bị hạ gục bởi Heracles, nó nằm ngã gục bên thân cây táo; chỉ còn chóp đuôi của nó vẫn đang oằn mình quằn quại; còn từ đầu dọc theo tấm lưng sẫm màu, nó nằm đó vô tri; và nơi những mũi tên để lại trong dòng máu của nó chất độc đắng ngắt của con thủy quái Lernaean, ruồi nhặng héo mòn và chết trên những vết thương đang mưng mủ. Ngay gần đó, các nàng Hesperides với đôi tay trắng ngọc ngà vắt qua mái tóc vàng cất tiếng khóc than lanh lảnh; và các anh hùng đột ngột tiến đến gần; nhưng các thiếu nữ, trước sự tiếp cận chớp nhoáng của họ, ngay lập tức biến thành bụi đất ngay tại nơi họ đứng. Orpheus nhận ra điềm báo thần thánh, cất tiếng cầu nguyện thay cho các đồng đội: “Hỡi các đấng thiêng liêng, xinh đẹp và nhân từ, xin hãy khoan dung, hỡi các nữ vương, dẫu các vị có thuộc hàng các nữ thần trên thiên đàng, hay những vị dưới lòng đất, hay được gọi là các tiên nữ Độc Hành; nào, hỡi các tiên nữ, dòng dõi thiêng liêng của Oceanus, hãy hiện thân rõ ràng trước đôi mắt khao khát của chúng ta và chỉ cho chúng ta thấy một con suối nước từ vách đá hoặc một dòng chảy thiêng tuống trào từ mặt đất, hỡi các nữ thần, nhờ đó chúng ta có thể làm dịu đi cơn khát đang thiêu đốt chúng ta không ngừng. Và nếu một ngày nào đó chúng ta trở về trong chuyến hải trình đến vùng đất Achaea, chúng ta sẽ mang đến cho các vị — những người đứng đầu các nữ thần — với lòng thành kính vô số lễ vật, những giọt thanh lương cùng các bữa tiệc.”
Ngài cất lời khẩn cầu bằng giọng điệu than khóc; và từ vị trí của mình, họ chạnh lòng thương xót nỗi đau của họ; và kìa! Đầu tiên họ làm cho cỏ mọc lên từ mặt đất; và trên thảm cỏ vươn lên những chồi cây cao, rồi những cây non xum xuê mọc thẳng đứng vút cao trên mặt đất. Hespere hóa thành cây dương và Eretheis thành cây du, còn Aegle thành thân cây liễu thiêng. Và từ những thân cây ấy, hình hài của họ hiện ra, rõ ràng như trước kia, một điều kỳ diệu vĩ đại vô cùng, và Aegle cất lời dịu dàng đáp lại những ánh mắt khao khát của họ:
“Chắc chắn đã có một sự cứu trợ vĩ đại đến với những nhọc nhằn của các ngươi, gã người đáng nguyền rủa ấy, kẻ đã tước đoạt sự sống của con rắn canh gác của chúng ta và hái những quả táo vàng của các nữ thần rồi bỏ đi; và để lại nỗi đau đớn đắng cay cho chúng ta. Bởi hôm qua có một kẻ tàn bạo nhất trong sự hung hăng phóng túng, hung ác nhất về hình dáng; và đôi mắt hắn lóe lên dưới hàng lông mày cau lại; một kẻ nhẫn tâm; và hắn khoác trên mình tấm da của một con sư tử quái dị bằng da thô, chưa thuộc; và hắn mang theo một cây cung vững chãi bằng ô liu, cùng một cây cung, thứ mà hắn dùng để bắn chết con quái vật này đây. Thế nên hắn cũng đến, như một kẻ băng qua đất liền bằng chân trần, khô héo vì khát; và hắn lao cuồng nhiệt qua nơi này, tìm kiếm nước, nhưng chẳng đời nào tìm thấy. Lúc bấy giờ có một tảng đá đứng gần hồ Tritonian; và bằng trí khôn của chính mình, hoặc theo sự xúi giục của vị thần nào đó, hắn đã nện chân mình vào phía dưới nó; và nước phun trào đầy dòng. Và hắn, tựa cả hai tay và ngực xuống mặt đất, đã uống một ngụm nước khổng lồ từ khe nứt của tảng đá, cho đến khi, khom lưng như một con thú trên đồng cỏ, hắn đã thỏa mãn cái dạ dày vĩ đại của mình.”
Nàng vừa dứt lời; họ hân hoan với những bước chân vui sướng chạy đến nơi Aegle đã chỉ dẫn suối nước, cho đến khi đến nơi. Và tựa như khi những con kiến đào đất tụ tập thành bầy quanh một khe nứt hẹp, hay như ruồi đậu trên một giọt mật ngọt nhỏ xíu túm tụm lại với sự khao khát vô tận; cũng vào lúc ấy, tụm lại với nhau, người Minyae bu quanh con suối từ vách đá. Và thế nên với đôi môi ướt đẫm, người này gọi người kia trong niềm vui sướng:
“Lạ lùng thật! Quả thực Heracles, dẫu ở xa tít tắp, đã cứu lấy các đồng đội của mình, những kẻ kiệt quệ vì khát. Ước gì chúng ta có thể tìm thấy hắn trên đường đi khi băng qua đại lục!”
Họ cất lời, và những ai sẵn sàng cho công việc này liền đáp lời, họ tách ra mỗi người một ngả, bắt đầu tìm kiếm. Bởi vì những ngọn gió đêm, dấu chân đã bị xóa nhòa nơi cát bị xới tung. Hai người con trai của Boreas xuất phát, đặt niềm tin vào đôi cánh của mình; Euphemus nương tựa vào đôi chân nhanh nhẹn, và Lynceus phóng tầm mắt sắc bén đi xa; cùng với họ lao đi Canthus, người thứ năm. Chàng được thúc giục bởi định mệnh của các vị thần và lòng dũng cảm của chính mình, để có thể tìm hiểu chắc chắn từ Heracles nơi hắn đã để lại Polyphemus — con trai của Eilatus; bởi chàng khao khát chất vấn hắn mọi điều liên quan đến người đồng đội của mình. Nhưng vị anh hùng đó đã lập nên một thành phố vinh quang giữa những người Mysians, và vì khao khát trở về nhà, đã đi xa tít qua đất liền tìm kiếm con tàu Argo; và cuối cùng chàng đã đến vùng đất của người Chalybes, những kẻ sống gần biển; tại đó số mệnh đã khuất phục chàng. Một đài tưởng niệm được dựng lên cho chàng dưới một gốc cây dương cao, ngay đối diện biển cả. Nhưng ngày hôm đó Lynceus tưởng rằng mình nhìn thấy Heracles đi một mình, ở phía xa, trên vùng đất vô tận, như một người vào đầu tháng nhìn thấy, hoặc nghĩ rằng mình nhìn thấy mặt trăng qua một đám mây. Và chàng quay về báo cho các đồng đội rằng không một kẻ tìm kiếm nào khác có thể tìm thấy Heracles trên đường đi, và họ cũng quay trở lại, cùng Euphemus chân nhanh và cặp song sinh con trai của Boreas xứ Thrace, sau một sự nhọc nhằn vô ích.
Nhưng ngươi, hỡi Canthus, số phận của cái chết đã tóm lấy ngươi ở Libya. Ngươi đã bắt gặp đàn gia súc đang gặm cỏ; và có một kẻ chăn gia súc đi theo để bảo vệ bầy cừu của mình, trong lúc ngươi đang dẫn chúng đi[37] cho các đồng đội đang cần kíp, đã sát hại ngươi bằng một cú ném đá; bởi hắn chẳng phải kẻ yếu đuối, Caphaurus — cháu nội của Phoebus xứ Lycoreian và thiếu nữ trinh nguyên Acacallis, người từng bị Minos đuổi khỏi nhà để đến sống ở Libya, chính đứa con gái của ông, khi nàng đang mang gánh nặng nặng nề của các vị thần; và nàng đã sinh cho Phoebus một người con trai vinh quang, được gọi là Amphithemis và Garamas. Và Amphithemis cưới một tiên nữ Tritonian; nàng sinh cho ông Nasamon và Caphaurus dũng mãnh, kẻ vào ngày hôm đó trong lúc bảo vệ bầy cừu của mình đã sát hại Canthus. Nhưng hắn không thoát khỏi đôi tay báo thù của các thủ lĩnh, khi họ hay tin về việc hắn đã làm. Người Minyae, khi hay biết, sau đó đã mang thi thể chôn cất xuống đất trong nỗi tiếc thương; và họ mang theo bầy cừu.
Ngay lập tức vào ngày hôm đó, một số phận tàn nhẫn cũng tóm lấy Mopsus — con trai của Ampycus; và chàng chẳng thể thoát khỏi một cái chết cay đắng bằng tài tiên tri của mình; bởi chẳng có cách nào tránh khỏi cái chết. Giờ đây, nằm trên cát để tránh cái nắng giữa trưa là một con rắn độc, quá lười biếng để tự mình tấn công một kẻ thù không mong muốn, nó cũng chẳng chồm lên tấn công trực diện một kẻ lùi bước. Nhưng vào bất kỳ sinh vật nào trong số những sinh vật sống mà trái đất nuôi dưỡng này mà con rắn ấy từng tiêm nọc độc đen của nó, con đường đến âm phủ của kẻ đó ngắn chưa đầy một củ, thậm chí cả khi Paeeon — nếu ta được phép nói điều này một cách công khai — có chăm sóc hắn đi chăng nữa, khi những chiếc răng của nó chỉ vừa sượt qua da. Bởi khi Perseus Eurymedon tựa thần linh bay lượn trên bầu trời Libya — vì mẹ hắn gọi hắn bằng cái tên ấy — mang theo chiếc đầu của Gorgon vừa mới bị cắt đứt cho nhà vua, tất cả những giọt máu sẫm rơi xuống đất đã sinh ra một bầy loài rắn ấy. Giờ đây Mopsus bước lên phần đuôi của nó, đặt bàn chân trái của mình lên đó; và nó oằn mình quằn quại trong đau đớn, cắn xé phần thịt giữa ống chân và các cơ. Medea và các nữ tì hoảng sợ bỏ chạy; nhưng Canthus dũng cảm rờ vào vết thương đang rỉ máu; bởi chẳng có nỗi đau quá mức nào hành hạ chàng. Khốn khổ cho nàng! Sự tê dại làm tê liệt chân tay đã len lỏi dưới da, và một lớp sương mù dày đặc đang lan rộng trên đôi mắt chàng. Ngay lập tức những chân tay nặng nề của chàng bất lực chìm xuống mặt đất và ngã lạnh; các đồng đội cùng vị anh hùng — con trai của Aeson — tụ tập lại quanh ngài, kinh ngạc trước cái chết cận kề. Dẫu đã chết, ngài vẫn chẳng thể nằm dưới ánh mặt trời dù chỉ trong chốc lát. Bởi ngay lập tức chất độc bắt đầu làm thối rữa phần thịt bên trong của ngài, tóc rữa ra và rụng khỏi da. Họ vội vã hối hả đào một ngôi mộ sâu bằng những chiếc cuốc đồng; họ bứt tóc, các anh hùng và các thiếu nữ, khóc thương nỗi thống khổ thảm thiết của người đã khuất; và khi ngài đã nhận được các nghi lễ chôn cất thích hợp, họ ba lần diễu hành vòng quanh ngôi mộ trong bộ giáp đầy đủ, chất đắp lên ngài một gò đất.
Nhưng khi họ đã lên tàu, khi gió nam thổi trên mặt biển và họ đang tìm kiếm một lối đi để thoát ra khỏi hồ Tritonian, trong một thời gian dài họ chẳng có mưu kế gì, suốt cả ngày cứ thế trôi dạt vô định. Và tựa như một con rắn uốn lượn dọc theo con đường ngoằn ngoèo của nó khi những tia nắng gắt gao nhất của mặt trời thiêu đốt; và với tiếng rít nó quay đầu sang bên này bên kia, trong cơn cuồng nộ đôi mắt nó rực sáng như những tia lửa, cho đến khi nó bò vào hang ổ qua một khe nứt trên vách đá; tàu Argo tìm kiếm lối ra khỏi hồ, một luồng lạch cho tàu thuyền, đã lang thang trong một thời gian dài. Ngay lập tức Orpheus ra lệnh cho họ mang chiếc đỉnh ba chân vĩ đại của thần Apollo ra khỏi tàu để dâng hiến cho các vị thần trong vùng như một sự tạ ơn cho con đường trở về của họ. Họ bước xuống đặt món quà của thần Apollo lên bờ; rồi xuất hiện trước mặt họ, dưới hình hài của một thiếu niên, vị thần Triton vung xa, ngài nhặt một cục đất lên trao như món quà của một người lạ, và cất lời:
“Hãy nhận lấy nó, hỡi những người bạn, bởi ta chẳng có món quà nào của người lạ đáng giá ở đây lúc này để đặt vào bàn tay của những kẻ khất cầu ta. Nhưng nếu các ngươi đang tìm kiếm một lối đi xuyên qua vùng biển này, như nhu cầu thường thấy của những kẻ qua đường qua một vùng đất lạ, ta sẽ chỉ dẫn cho các ngươi. Bởi phụ vương ta là Poseidon đã ban cho ta sự thông hiểu sâu sắc về vùng biển này. Và ta cai quản bờ biển nếu ngẫu nhiên ở vùng đất xa xôi của các ngươi, các ngươi từng nghe nói về Eurypylus, sinh ra ở Libya, quê hương của loài thú dữ.”
Ngài cất lời, và Euphemus sẵn sàng đưa tay ra đón lấy cục đất, cất lời đáp lại:
“Hỡi người anh hùng, nếu ngẫu nhiên ngươi có biết chút gì về Apis[38] và vùng biển của Minous, hãy thuật lại thật chân thực cho chúng ta, những kẻ đang hỏi ngươi. Bởi chúng ta không tự nguyện đến đây, mà do sức mạnh của những trận bão lớn nên chúng ta mới chạm đến biên giới của vùng đất này, và đã mang con tàu của mình trên vai đến vùng nước của hồ này băng qua đất liền, gánh chịu gánh nặng vô cùng nặng nề; và chúng ta chẳng biết đâu là lối đi mở ra cho hải trình của mình đến vùng đất của Pelops.”
Ngài cất lời; Triton vươn tay chỉ ra xa vùng biển và cửa sâu của hồ, rồi cất lời: “Đó chính là lối ra biển, nơi vùng nước sâu nằm yên tĩnh và sẫm màu; hai bên là những con sóng bạc cuộn trào với đỉnh lấp lánh; và lối đi hẹp ở giữa để các ngươi ra ngoài. Và biển cả ấy trải dài trong sương mù đến vùng đất thiêng liêng của Pelops vượt qua Crete; nhưng hãy giữ hướng bên phải khi các ngươi đã bước vào sóng triều từ hồ, và chèo lái con đường ôm sát bờ biển, chừng nào nó còn hướng về phía bắc; nhưng khi bờ biển uốn cong, sụt lún về hướng ngược lại, thì hải trình của các ngươi sẽ được an toàn nếu các ngươi đi thẳng về phía trước từ mũi đất nhô ra. Nhưng hãy đi trong niềm hân hoan, và đối với nhọc nhằn, đừng có nỗi buồn đau nào rằng những chân tay trong sức trẻ cường tráng vẫn phải nhọc nhằn.”
Ngài cất lời khuyên nhủ ân cần; họ lập tức lên tàu, quyết tâm thoát khỏi hồ bằng cách sử dụng mái chèo. Họ hối hả lướt đi; trong khi đó Triton nhấc lấy chiếc đỉnh ba chân vĩ đại, và họ nhìn thấy ngài bước vào hồ; nhưng sau đó chẳng ai nhận ra ngài biến mất gần họ cùng chiếc đỉnh ba chân như thế nào. Nhưng trái tim họ được khích lệ, bởi một trong các đấng tối cao đã gặp họ với vẻ thân thiện. Họ giục con trai của Aeson dâng hiến cho ngài con cừu được chọn lựa kỹ càng nhất và khi đã sát hại nó hãy cất cao khúc ca tụng. Ngay lập tức chàng vội vã chọn lựa và nâng nạn nhân lên, sát hại nó ngay phía đuôi tàu, và cầu nguyện bằng những lời này:
“Hỡi vị thần, kẻ đã hiển hiện trên biên giới vùng đất này, dẫu các ái nữ sinh ra từ biển cả có gọi ngài là Triton — kỳ quan biển vĩ đại, hay Phorcys, hay Nereus, xin hãy khoan dung, và ban cho chúng tôi cuộc trở về nhà thân thương với trái tim chúng ta.”
Chàng cất lời, cắt cổ nạn nhân ngay trên mặt nước và ném nó xuống từ đuôi tàu. Vị thần trỗi dậy từ đáy sâu trong hình hài thực sự của ngài. Tựa như khi một người huấn luyện chiến mã cho đường đua rộng lớn, và chạy dọc theo, nắm lấy phần bờm xù, trong khi chiến mã tuân lệnh chủ nhân theo sau, ngẩng cao chiếc cổ trong niềm tự hào, và chiếc hàm rinh rích tiếng kêu lớn khi nó nhai nát chiếc hàm từ bên này sang bên kia; vị thần cũng túm lấy sống tàu của con tàu Argo rỗng, dẫn dắt nó tiến ra biển. Từ đỉnh đầu, vòng qua lưng và thắt lưng cho đến bụng, cơ thể ngài có hình hài kỳ diệu tựa như các đấng tối cao; nhưng bên dưới hai bên sườn là chiếc đuôi của một con quái vật biển kéo dài tột đỉnh, phân nhánh sang bên này bên kia; ngài đập bề mặt sóng bằng những chiếc gai, phần bên dưới tách thành các vây cong, tựa như cặp sừng của vầng trăng non. Và ngài dẫn dắt tàu Argo cho đến khi đưa nó ra biển trong hải trình của mình; rồi ngài nhanh chóng lặn xuống vực thẳm mênh mông; các anh hùng hò reo khi chiêm ngưỡng điềm báo kinh hoàng ấy bằng đôi mắt của mình. Nơi đó là bến cảng của Argo và có những dấu tích dừng chân của nó, cùng các bàn tế đàn dâng hiến Poseidon và Triton; bởi trong ngày hôm đó họ đã lưu lại. Nhưng lúc bình minh với cánh buồm giương rộng, họ lướt đi trước hơi thở của gió tây, giữ vùng đất hoang mạc ở bên phải. Và vào buổi sáng hôm sau, họ nhìn thấy mũi đất và vũng lõm của biển, uốn cong vào trong vượt qua mũi đất nhô ra. Ngay lập tức gió tây ngừng lại, và xuất hiện luồng gió của gió nam trong trẻo; trái tim họ hân hoan trước âm thanh nó tạo ra. Nhưng khi mặt trời lặn và ngôi sao ra lệnh cho người mục tử dồn chuồng trở lại, mang lại sự nghỉ ngơi cho những người nông cày mỏi mệt, vào thời điểm đó ngọn gió dịu xuống trong đêm tối; thế nên họ cuộn buồm hạ cột buồm cao và miệt mài khua những chiếc mái chèo được đánh bóng suốt đêm và qua cả ngày, rồi lại khi đêm tiếp theo buộn xuống. Carpathus gồ ghề ở phía xa chào đón họ; và từ đó họ sẽ băng qua Crete, nơi vươn lên giữa biển cao hơn các hòn đảo khác.
Và Talos — người bằng đồng — khi bẻ những tảng đá từ vách đá cứng, đã ngăn họ buộc cáp vào bờ, khi họ đến vũng đậu của bến cảng Dicte. Hắn thuộc dòng dõi bằng đồng, của những người sinh ra từ cây tần bì, kẻ cuối cùng còn lại trong số những người con của các vị thần; và con trai của Cronos đã ban hắn cho Europa để làm kẻ canh gác Crete và sải bước quanh hòn đảo ba lần một ngày với đôi chân bằng đồng của mình. Giờ đây trong toàn bộ phần còn lại của cơ thể và các chi, hắn được tạo ra bằng đồng và bất khả xâm phạm; nhưng bên dưới gân mắt cá chân của hắn là một mạch máu đỏ sẫm; và điều này, với những vấn đề sự sống và cái chết của nó, được che phủ bởi một lớp da mỏng. Thế nên các anh hùng, dẫu kiệt quệ vì nhọc nhằn, đã nhanh chóng chèo lùi tàu khỏi đất liền trong nỗi kinh hoàng cay đắng. Và giờ đây cách xa Crete, họ hẳn đã bị cuốn đi trong hoàn cảnh khốn khổ, suy sụp cả vì khát lẫn đau đớn, nếu như Medea không cất lời với họ khi họ quay đầu bỏ chạy:
“Hãy lắng nghe ta. Bởi ta tin rằng một mình ta có thể khuất phục cho các ngươi người đàn ông đó, bất kể hắn là ai, dẫu khung thể hắn được làm bằng đồng từ đầu đến chân, trừ khi sinh mạng hắn cũng là bất tử. Nhưng hãy sẵn sàng giữ con tàu của các ngươi ở đây ngoài tầm ném đá của hắn, cho đến khi hắn chịu thua trước ta.”
Nàng vừa cất lời; họ kéo con tàu ra ngoài tầm với, tựa vào mái chèo, chờ đợi để xem kế hoạch bất ngờ nào nàng sẽ mang lại; còn nàng, cầm vạt áo choàng màu tím che lên đôi má ở cả hai bên, bước lên boong tàu; con trai của Aeson nắm lấy tay nàng dẫn đường dọc theo các hàng ghế chèo. Bằng những khúc ca, nàng xoa dịu và kêu gọi các Thần Chết, những kẻ nuốt chửng sự sống, những chú chó săn chớp nhoáng của Hades, những kẻ lơ lửng khắp bầu trời, lao xuống những kẻ đang sống. Quỳ gối khất cầu, nàng ba lần gọi họ bằng những khúc ca, và ba lần bằng những lời cầu nguyện; và định hình tâm hồn mình cho điều ác, với cái nhìn thù hận, nàng bỏ bùa đôi mắt của Talos — người bằng đồng; đôi răng nàng nghiến ken két trong cơn giận dữ cay đắng với hắn, và nàng phóng ra những bóng ma tai hại trong cơn cuồng nộ của mình.
Hỡi cha Zeus, quả thực sự kinh ngạc lớn lao dâng trào trong tâm trí ta, khi chứng kiến sự diệt vong dire gặp gỡ chúng ta không chỉ từ bệnh tật và vết thương, mà kìa! Thậm chí từ khoảng cách xa xôi, có thể, nó đang tra tấn chúng ta! Thế là Talos, dẫu khung thể bằng đồng, cuối cùng đã chịu thua trước sức mạnh của nữ phù thủy Medea. Và trong lúc hắn đang ném những tảng đá khổng lồ để ngăn họ cập bến cảng, hắn đã làm sướt mắt cá chân mình trên một mỏm đá nhọn; và chất dịch ichor tuôn trào như chì nóng chảy; và chẳng bao lâu sau hắn đứng sừng sững trên mỏm đá nhô ra. Nhưng tựa như một cây thông khổng lồ, cao vút trên những ngọn núi mà thợ mộc đã bỏ lại khi chưa chặt đứt hẳn bằng những chiếc rìu sắc bén lúc họ trở về từ khu rừng — thoạt đầu nó rung rẩy trong gió đêm, rồi cuối cùng gãy phăng ở phần gốc và đổ ầm xuống; Talos trong chốc lát đứng trên đôi chân không mỏi, lảo đảo qua lại, cho đến khi cuối cùng, hoàn toàn kiệt sức, ngã phịch xuống với tiếng thầm vang dội. Đêm đó các anh hùng nằm lại Crete; rồi, ngay khi bình minh rực sáng, họ dựng một đền thờ cho nữ thần Athena xứ Minoa, múc nước và lên tàu, để trước tiên họ có thể vượt qua chiều cao của Salmone bằng cách chèo thuyền.
Nhưng ngay lập tức khi họ lướt qua vùng biển rộng lớn Crete, đêm tối làm họ hoảng sợ, màn đêm mà họ gọi là Màn Che Bóng Tối; các vì sao chẳng thể xuyên thủng màn đêm tử thần ấy cũng chẳng có những tia sáng của mặt trăng, mà sự hỗn độn đen tối từ thiên đàng hạ xuống, hay có lẽ một bóng tối khác xuất hiện, dâng lên từ tận sâu thẳm. Và các anh hùng, dẫu họ trôi dạt trong Hades hay trên mặt nước, chẳng hề hay biết một chút nào; nhưng họ phó mặc hải trình của mình cho biển cả trong sự nghi ngờ bất lực không biết nó đang đưa họ đi đâu. Nhưng Jason giơ cao đôi tay cất tiếng kêu cứu Phoebus với giọng vĩ đại, kêu gọi ngài cứu lấy họ; những giọt nước mắt tuôn rơi trong cơn khẩn thiết; và ngài liên tục hứa sẽ mang vô số lễ vật đến Pytho, Amyclae và Ortygia. Và nhanh chóng, hỡi con trai của Leto, kẻ nhanh nhạy lắng nghe, người đã lao xuống từ thiên đàng đến những tảng đá Melantian, những hòn đá nằm đó trong biển cả. Rồi lao vút lên một trong hai đỉnh núi sinh đôi, người giương cao cây cung vàng trong tay phải; và cây cung lóe lên một ánh hào quang chói lọi khắp nơi. Trước mắt họ xuất hiện một hòn đảo nhỏ của quần đảo Sporades, đối diện với hòn đảo nhỏ Hippuris, và tại đó họ thả neo và dừng lại; ngay lập tức bình minh ló dạng mang lại ánh sáng cho họ; và họ dựng lên một nơi ở vinh quang cho Apollo trong một khu rừng râm mát, cùng một bàn tế đàn râm mát, kêu gọi Phoebus vị thần “Lấp Lánh”, vì ánh hào quang có thể nhìn thấy từ xa; và họ gọi hòn đảo trọc ấy là Anaphe,[39] bởi Phoebus đã hiển thị nó cho những con người đang bấy bá hoang mang. Họ hiến tế tất cả những gì con người có thể cung cấp để tế lễ trên một bãi biển hoang vắng; thế nên khi các nữ tì người Phaeacian của Medea nhìn thấy họ đang rót nước dâng lễ libation lên những màn than hồng, họ chẳng thể kìm nén tiếng cười trong lồng ngực mình, bởi họ từng thấy cừu tề tựu đầm đìa trong sảnh đường của Alcinous. Các anh hùng thích thú trước trò đùa và tấn công họ bằng những lời chế nhạo; tiếng cười đùa vui vẻ cùng sự tranh cãi ném qua ném lại đã bùng lên giữa họ. Và từ trò đùa ấy của các anh hùng, những lời chế nhạo ấy được phụ nữ ném vào đàn ông trên hòn đảo đó bất cứ khi nào họ dùng lễ tế tạ ơn thần Apollo — vị thần lấp lánh, người bảo vệ Anaphe.
Nhưng khi họ đã tháo cáp rời khỏi đó trong thời tiết đẹp, Euphemus nhớ lại một giấc mơ trong đêm, kính trọng người con trai vinh quang của Maia. Bởi đối với ngài, cục đất do thần ban tặng được giữ trong lòng bàn tay sát ngực đang được bú mớm bởi những dòng sữa trắng, và từ đó, dẫu nhỏ bé, mọc lên một người phụ nữ tựa trinh nữ; và ngài, bị khuất phục bởi khao khát mãnh liệt, đã nằm ôm lấy nàng trong vòng tay tình yêu; hòa quyện với nàng, ngài thương xót nàng, tựa như nàng là một thiếu nữ được ngài nuôi nấng bằng chính sữa của mình; nhưng nàng an ủi ngài bằng những lời lẽ dịu dàng:
“Thiếp là ái nữ của Triton, hỡi người bạn thân, và là vú nuôi của con cái chàng, chẳng phải thiếu nữ; Triton và Libya là cha mẹ của thiếp. Nhưng hãy trả thiếp về cho các ái nữ của Nereus để sinh sống trong biển cả gần Anaphe; thiếp sẽ quay trở lại ánh sáng mặt trời một lần nữa, để chuẩn bị một mái nhà cho hậu duệ của chàng.”
Ngài ghi khắc ký ức ấy vào tim, và tuyên bố nó cho con trai của Aeson; Jason trầm ngâm về lời tiên tri của vị thần Bắn Xa, cất cao giọng nói:
“Hỡi người bạn, vinh quang vĩ đại đã rơi vào số phận của chàng. Bởi từ cục đất này khi chàng ném nó xuống biển, các vị thần sẽ tạo ra một hòn đảo, nơi con cháu của chàng sẽ sinh sống; bởi Triton đã trao nó cho chàng như một món quà của người lạ từ đại lục Libya. Chẳng có vị thần nào khác ngoài ngài đã trao điều này cho chàng khi ngài gặp chàng.”
Chàng cất lời; và Euphemus không làm cho câu trả lời của con trai Aeson trở thành vô nghĩa; được khích lệ bởi lời tiên tri, ngài ném cục đất xuống đáy sâu. Từ đó trỗi dậy một hòn đảo, Calliste, người nuôi dưỡng thiêng liêng của những người con của Euphemus, những kẻ từng sinh sống ở Lemnos xứ Sintian vào thời xa xưa, bị người Tyrrhenian đuổi khỏi Lemnos và đến Sparta như những kẻ khất cầu; khi họ rời Sparta, Theras — người con trai tuấn tú của Autesion — đã đưa họ đến hòn đảo Calliste, và đặt tên nó theo tên mình là Thera. Nhưng điều này xảy ra sau thời của Euphemus.
Và từ đó họ liên tục bỏ lại đằng sau những dặm dài biển cả và dừng chân trên bãi biển Aegina; họ ngay lập tức tranh tài trong một cuộc cạnh tranh vô hại về việc lấy nước, xem ai là kẻ múc nước đầu tiên và đến tàu trước. Bởi cả nhu cầu lẫn ngọn gió không ngừng nghỉ đều thúc giục họ. Tại đó cho đến tận ngày nay, các chàng trai của người Myrmidons vẫn mang trên vai những chiếc bình đầy ắp, và với đôi chân nhanh nhẹn tranh đấu cho chiến thắng trong cuộc đua.
Xin hãy khoan dung, dòng dõi các vị thủ lĩnh được ban phước! Và nguyện xin những khúc ca này năm qua năm càng thêm ngọt ngào để ca tụng giữa loài người. Bởi giờ đây ta đã đến được cái kết vinh quang cho những nhọc nhằn của các ngươi; chẳng có cuộc phiêu lưu nào giáng xuống các ngươi khi trở về từ Aegina, chẳng có trận bão gió nào cản trở các ngươi; mà các ngươi lướt qua vùng đất Cecropian và Aulis bên trong Euboea cùng những thành phố Opuntian của người Locrians trong tĩnh lặng, và hân hoan đặt chân lên bãi biển Pagasae.