Văn Hóa Việt Nam với Đông Nam Á

Lượt đọc: 117 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ĐỊA-LÝ VĂN-HÓA Á-CHÂU

❊ ❊ ❊

XƯA nay đã có biết bao nhiêu quan-điểm về vấn-đề văn-hóa Đông-phương và Tây-phương. Có thể nói lịch-sử cận-đại chỉ chạy chung quanh vấn-đề ấy mà thôi. Có quan-điểm cho Đông-phương là Đông-phương mà Tây-phương là Tây-phương, hai bên không thể gặp nhau, như văn-hào Anh-Cát-Lợi viết :

East is East and West is West

Never the twain can meet.

Đây là một quan-điểm phổ-thông hơn hết trong dư-luận thế-giới.

Có quan-điểm lại cho không phải vấn-đề tinh-thần nhân-loại có Đông hay có Tây mà là vấn-đề vật-chất với tinh-thần, như thi-hào Ấn-Độ viết :

Man is man and machine is machine

Never the twain can meet.

(Người là người và máy móc là máy móc, hai đàng không thể gặp nhau).

Lại cũng còn nhiều quan-điểm khác như kẻ thì cho văn-hóa Đông-phương thì tĩnh mà văn-hóa Tây-phương thì động, hay là văn-hóa Đông-phương bảo-thủ, văn-hóa Tây-phương tiến-hóa v.v… Rồi cứ theo cái đà luận-điệu bao-biện « vơ đũa cả nắm » như phương-ngôn Việt-Nam thường nói, người ta dần dần coi Đông và Tây như hai danh-từ, hai khái-niệm trừu-tượng đứng biệt lập hẳn lên như hai cá-thể lơ lửng giữa không trung « chân không bén đất, cật không bén trời » không còn liên-quan gì đến lịch-sử hay địa-lý, khí-hậu, nghĩa là không có quan-hệ với không-gian và thời-gian, trong đó nhân-loại sống còn sinh-hoạt. Nếu hai danh-từ Đông-phương và Tây-phương đối với chúng ta còn có được ý-nghĩa gì thiết-thực, không phải là hai khái-niệm trừu-tượng mơ hồ thì chúng ta không thể xét chúng ly-khai đoạn-tuyệt với con người thực-tế, con người bằng da bằng thịt luôn luôn sinh-hoạt ở trong những điều-kiện thời-gian và không-gian, trong hoàn-cảnh lịch sử, địa-lý, khí-hậu và xã-hội. Đông-phương với Tây-phương tóm lại chỉ là các trạng-thái sinh-hoạt khác nhau của một nhân-loại biết yêu biết ghét, biết tìm hiểu và biết sống theo những lý-tưởng nó đã tìm hiểu và tin. Những trạng-thái sinh-hoạt ấy trước hết ngụ ý nghĩa sống còn và tiến-hóa, Nhân-loại không thể sống còn và tiến-hóa được nếu nó không thích-ứng điều-hòa được trước hết với hoàn-cảnh thiên-nhiên, với khí-hậu và địa-lý, không để cho chúng tiêu-diệt. Đây là một điều tiên-quyết khi chúng ta muốn tìm hiểu hay so-sánh Đông-Tây vì Đông-Tây là hai phương-diện sinh-hoạt của nhân-loại ở hai hoàn-cảnh địa-lý khí-hậu khác nhau trên mặt đất kể từ khi có nhân-loại hiện ra.

Bởi vậy mà nghiên-cứu văn-hóa Á-Châu, trước hết chúng ta cần phải tìm hiểu chính cái địa-bàn sân khấu trên đó nhân loại Á-Châu kể từ lúc khởi thủy của lịch-sử đã phô diễn những hoạt-động giao dịch với thiên-nhiên, từ các nhóm người nhỏ ở các khu-vực dần dần mở rộng ra các khu vực lớn của lục-địa Á-Châu và trở nên những khối nhân-loại vĩ-đại hàng triệu, gồm nhiều ngôn-ngữ khác nhau với chủng-tộc khác nhau vậy. Loài người sinh-hoạt trong một hoàn-cảnh thực-tế nào, ắt phải chịu ảnh-hưởng sâu xa của hoàn-cảnh, và những ảnh-hưởng đầu tiên ấy, chắc hẳn đã in dấu khá thâm sâu vào cá-tính văn-hóa và văn-minh của nó sau này, nếu chẳng phải đã quyết-định một phần lớn vào khuynh-hướng riêng biệt của từng hoàn-cảnh, từng khu-vực văn-hóa như khu-vực Đông với Tây, hay Trung-Hoa với Ấn-Độ.

Lương-Khải-Siêu từng viết :

« Cực hàn cực nhiệt chi địa, kỳ nhân cùng nhật chi lực, dĩ ứng phó thiên-nhiên giới chi tiến bách, do thả bất cập, dĩ cổ văn-minh chi lịch-sử, độc khởi ư ôn đới. Phù khốc nhiệt chi thời, sử nhân tinh-thần hôn trầm, dục dữ thiên-nhiên lực tương-tranh nhi bất khả đắc.

« Nghiêm hàn chi thời, sử nhân tinh thần, tiều tụy dữ thiên nhiên lực tương để đại kịch, nhi cánh vô dư lực dĩ cập kỳ tha. Nhiệt đới chi nhân, đắc y thực thái dị, nhi bất tư tiến thủ. Hàn đới chi nhân, đắc ý thực thái nan, nhi bất năng tiến thủ. Duy cư ôn đới giả, hữu tứ thời chi biến thiên, hữu hàn thử chi đại tạ, cẩu phi lao lực, tắc bất túc dĩ tự cấp. Cẩu năng lao lực, diệc tất đắc kỳ báo thù. Tỉ văn-minh chi quốc dân, sở dĩ khởi ư bắc bán-cầu, chi đại nguyên dã. » [1]

Nghĩa là :

« Đất rét quá hay nóng quá, người ta phải dùng hết sức hàng ngày để đối phó với sự bức bách tiêu-mòn của thiên-nhiên, mà cũng còn không kịp. Bởi thế mà lịch-sử văn-minh chỉ bắt đầu ở nơi ôn-đới. Thời tiết quá nóng khiến cho người ta tinh thần mờ ám, muốn cùng với sức thiên-nhiên tranh thắng mà không được.

« Thời-tiết quá lạnh khiến người ta tinh-thần tiều-tụy, cùng với sức thiên-nhiên chống cự kịch liệt quá đến nỗi không còn thừa sức để lo việc khác nữa. Nhân-dân miền nhiệt-đới, có được sự ăn mặc dễ dàng, mà không nghĩ đến sự tiến-thủ nữa. Nhân dân miền hàn đới khó khăn mới có được ăn mặc thì không thể tiến-thủ được. Duy chỉ có ở miền ôn-đới, bốn mùa biến-thiên, có nóng có lạnh đắp đổi lẫn nhau, nếu không lao lực thì không đủ để tự cung-cấp, nếu có thể lao-lực thì cũng có được sự đền bù. So sánh dân-tộc các nước văn-minh thì thấy nguồn gốc chính bắt đầu ở phía bắc bán-cầu vậy ».

Trên đây họ Lương cũng đồng tình với các nhà nhân-văn-học hiện-đại mà xác-nhận ảnh-hưởng trọng đại của hoàn-cảnh địa-lý khí-hậu vào cách-thức sinh-hoạt và tư-tưởng của nhân-loại. Đành rằng nhân-loại thích-ứng với hoàn-cảnh khác với cầm-thú ở chỗ không hoàn-toàn thụ động mà luôn luôn phản-động lại tìm biến-đổi thiên-nhiên, lợi-dụng nguyên-liệu để tăng-cường cho sự sống, do đấy mà chỉ có nhân-loại mới sáng tạo được văn hóa với văn minh. Nhưng dù sao ngay từ bước đầu, ảnh-hưởng của khí-hậu địa-lý quyết-định chiều tiến-hóa của nhân-loại ở các khu-vực Đông hay Tây. Bởi vậy mà muốn tìm hiểu chiều khác nhau ấy để cải-thiện lẫn nhau, chúng ta cần phải xét tới hoàn-cảnh địa-lý, khí-hậu vậy.

Hoàn-cảnh địa-lý, khí-hậu của văn-minh Đông-Tây khác nhau ở ngay từ nguồn gốc khởi phát. Văn-minh Đông-phương ở khu-vực Trung-Hoa hay Ấn-Độ đã nẩy-nở tại lưu-vực các dòng sông lớn giữa lục-địa chạy dài không gián đoạn từ ôn-đới xuống nhiệt đới, còn văn-minh Tây-phương ở khu-vực Hy-Lạp hay La-Mã đã sinh trưởng ở nơi hải-đảo hay bán-đảo chính giữa ôn-đới hầu như cách biệt với lục-địa. Do đấy mà ngay từ bước đầu nhân-loại Tây-phương đã hướng về đường thông-thương để phát-triển, còn nhân-loại Đông-phương hướng về đường canh-mục. Canh-mục dựa vào thiên-nhiên để sinh sống, mà thông-thương thì phải tranh thắng với trở ngại thiên-nhiên, trước hết là sóng biển ngăn cách đảo nọ sang đảo kia. Ở ngay bước đầu ấy, chúng ta có thể thấy nẩy nở những tính-tình khác khác nhau như hiếu động và hiếu tĩnh và đồng thời quan niệm khác nhau về sự vật. Tây-phương quan-niệm Người với thiên nhiên đối-lập nhau, thù-nghịch nhau như hai thế-giới cách biệt bằng một cái hố bất khả xâm-phạm : vật và tâm.

Trái lại Đông-phương lại quan-niệm Thiên-Địa-Nhân, ba « tài » quán thông, thế-giới là một hòa-điệu thái-hòa. Về điểm này, thi hào Ấn, R. Tagore đã viết rất bóng bẩy :

« Chúng ta có thể nhìn một con đường ở hai phương-diện khác nhau : Một là chúng ta có thể nhìn ở con đường ấy như là cái gì nó làm xa cách chúng ta với vật ta mong muốn. Và như thế thì mỗi bước chúng ta đi trên con đường ấy là một bước đường tranh-thủ bằng sức lực chống đối với các chướng ngại vật. Hai là người ta cũng có thể xem con đường kia như con đường giắt ta đến mục-đích của chúng ta, và ở trong quan-điểm này thì con đường kia là thành phần thuộc về mục-đích, nó đã là bước đầu thắng-lợi của chúng ta. Trong khi đi trên đường chúng ta chỉ thu lượm được những gì nó tự-nhiên cống-hiến cho chúng ta. Quan-điểm thứ hai này là quan-điểm của Ấn-Độ nhìn thiên-nhiên. Điều cốt-yếu đối với chúng ta là chúng ta với thiên-nhiên hòa-hợp. Người ta có thể tự duy trì là vì những ý tưởng của mình có chỗ hòa hợp với sự vật. Nếu người ta có thể lợi dụng những mãnh lực thiên nhiên cho mục tiêu của mình là chỉ vì năng lực của mình hòa-hợp với thế-lực đại-đồng. Rút cục thì sự nỗ-lực của người không có thể bao giờ trái nghịch với mục-đích biểu-hiện ra ở thiên-nhiên.

« Thiên-nhiên ở Tây-Phương theo cảm-tưởng thông-thường trái lại chỉ thuộc về giống vô tri-giác cầm-thú. Người ta tưởng như thấy có một sự đứt đoạn không giải-thích nổi ở ngay tại chỗ khởi điểm của nhân-tính. Đối với Tây-phương, tất cả cái gì thấp kém trên cầu thang tiến-hóa thì chỉ là thiên-nhiên và tất cả cái gì mang dấu thành-tựu về tri-thức hay đạo-đức là thuộc về nhân-loại. Khác nào người ta xếp đặt bông hoa và nụ hoa vào hai phạm-trù riêng biệt, và người ta gán cái đẹp cho hai nguyên-lý mâu-thuẫn và khác-biệt. Tinh-thần Ấn-Độ trái lại, không từng ngần-ngại thừa nhận sự thân-thuộc giữa người với thiên-nhiên và sự liên-tục trong sự tương-quan của mình với vạn-vật.

« Đối với Ấn-Độ, lý đồng-nhất tính căn-bản của tạo-hóa không phải là một đề-tài suy luận triết-học. Cứu-cánh của đời sống là thực-hiện cái đại hòa-điệu trong tình-cảm và trong hành-vi. Bằng tâm niệm và tinh-thần cung-kính, và bằng sự quy-chế hóa đời sống, Ấn-Độ đã tu sửa tâm hồn để cho tất cả đều có một ý-nghĩa tâm-linh. Đối với nó, đất, nước và ánh sáng, hoa, trái, không phải chỉ là những hiện-tượng vật-lý người ta lợi-dụng để rồi bỏ đi. Chúng là những vật cần-thiết cho nó để đạt tới lý tưởng hoàn toàn cũng như trong một bản nhạc thì mỗi một thanh âm đều hướng vào toàn bộ cộng-đồng. Ấn-Độ đã cảm-thông bằng trực giác cái thực-tại cốt-yếu của vũ-trụ đối với chúng ta có một ý nghĩa sống còn, chúng ta phải ý-thức lấy cho đầy đủ và thiết-lập với vũ-trụ những quan-hệ khiến cho chúng ta thực hiện được cái thực-tại ấy trong tinh-thần tương-ái, với một bầu lạc-cảm, an-hòa, quảng-đại chứ không phải chỉ có sự khích-động của khoa-học tò mò hay là của sự cầu lợi vật-chất ». [2]

« Tất cả những nhận-định trên đây của thi-hào Tagore đối với khuynh-hướng truyền-thống của văn-hóa Ấn-Độ có thể thích-hợp hoàn-toàn cho văn-hóa Trung-Hoa. Cái điểm xuất-phát của văn-hóa Ấn-Độ, nhìn vũ-trụ là một đại hòa-điệu để rồi tìm thực-hiện ở tâm-hồn đến chỗ quân-bình toàn-diện thì cũng chính là cái điểm xuất phát ở văn-hóa truyền-thống Trung-Hoa như viết trong bộ kinh tối cổ là Kinh Dịch. Mở đầu, kinh Dịch viết : 各正性命保合太和乃利貞 [3]

« Các chính tính-mệnh, bảo hợp thái hòa nãi lợi trinh.

« Trong vũ trụ, mỗi vật riêng biệt đều giữ cái đường tiến-hóa của bản tính cho ngay chính, bảo vệ và hòa-hợp với hòa-điệu đại-đồng thì lợi-ích lâu dài ». 2

Và Khổng-Tử tuy là một nhà luân-lý chính-trị thực-tiễn, nhưng cũng không mãn-nguyện với tri-thức hay tình-cảm về cái thực-tại của vũ-trụ ấy mà còn nhằm thực-hiện nó ở tại tâm-hồn đến cảnh-giới lạc-cảm đầy đủ. Cho nên Ngài nói ở Luận-ngữ :

« Biết đạo không bằng yêu đạo

Yêu đạo không bằng vui đạo »

« Tri chi bất như hiếu chi 知之不如好之 [4]

Hiếu chi bất như lạc chi 好之不如樂之 ».

Không cần chứng-minh dài lời, chúng ta chỉ cần biết rằng tuy văn-hóa Ấn-độ và Trung-Hoa có nhiều điểm khác nhau, một đàng thì nặng về thần-bí, một đàng thiên về thực-tế, nhưng cả hai đều chung một khởi-điểm căn-bản, là tin vào cái gì truyền-thống trường-cửu ở vũ-trụ và thế-giới. Tất cả hiện-hữu đều nằm trong cái truyền-thống ấy, và cái thực-tại truyền-thống ấy linh-động không phải là vấn-đề lý-thuyết mà là một vấn-đề thực-hiện phải sống bằng sự tu sửa tự bên trong tâm hồn, để ảnh hưởng ra ngoài nhân quần xã-hội và thiên-nhiên, và đồng-thời sự hoạt-động ở xã-hội và thiên-nhiên phải đi đến mục-đích tu sửa tâm hồn, mở rộng nhân bản đến quân bình toàn diện.

Truyền thống ấy là một tín ngưỡng do địa-lý, khí-hậu từ lúc khởi-thủy đã ấn định vào tâm-não của dân-tộc Á-Châu. Chúng không quen nhìn sự-vật trong vũ-trụ đối-lập cái nọ với cái kia mà từ cá-nhân đến đoàn-thể, từ bộ-lạc đến quốc-gia, thiên-hạ, từ nhân-loại đến thiên-nhiên, chúng cầu tìm cái dòng sáng-tạo cộng thông liên-tục để mà thể-hiện. Bởi vậy mà các biên-giới chính-trị hay kinh-tế, chủng-tộc hay dân-tộc, giai-cấp quí-tộc hay bình-dân, tâm hay vật chỉ có ý-nghĩa tương-đối và luôn luôn biến-hóa. Nếu Vật hòa vào Tâm hay Tâm hòa với Vật thì không còn là hai phạm-trù đối-lập mâu-thuẫn là vì Á-Châu đã tín-ngưỡng vào cái gì truyền-thống, cái gì trường-cửu linh-động như một nguồn sống đại-đồng vô-hạn trôi chẩy không ngừng, ngày đêm bất chỉ bên trong thế-giới biểu-hiện ra hai phương-diện Vật và Tâm.

Sinh sinh chi vị dịch

Sống Sống hoài gọi là biến dịch

hay là : Thiên địa chi đại đức viết sinh 天地之大徳曰生 (Cái đức lớn nhất của trời đất là nguồn sống). [5]

Cái nguồn sống sáng-tạo, sinh sinh ấy mà Á-Châu lấy làm thực-thể truyền-thống, trường-cửu của vũ-trụ thiên-biến vạn-hóa chính đã do cái địa-lý và khí-hậu của lục-địa mênh mông, cây cỏ tươi tốt gợi ra và in sâu trong tâm-hồn nhân-dân nông-nghiệp Á-Châu.

« Người trồng cấy lúa hành-động với cách-thức tương-tự những nghi-thức ma-thuật hay tôn-giáo ; những hành-động của nó không có một hiệu-quả tức thì. Gặp thời-tiết nhất định trong năm, do vị-trí các ngôi sao đã vạch ra cho nó, nó bắt đầu làm đất, một công việc kỳ lạ không trông thấy kết-quả cụ-thể ngay. Trong đám đất đã xới lộn ấy, nó đã đặt những củ hay hạt giống ăn được mà có lẽ nó cần dùng để nuôi thân. Sau đấy, một khi đã làm xong những động-tác tập-truyền ấy, nó đợi chờ.

« Nó bảo vệ các khoảnh đất đã cấy hay đã gieo ấy bằng hàng rào và ngăn-cản các giống vật khác không quấy nhiễu sự nẩy nở của các mầm mống kia. Nó tự bảo vệ một cách tiêu-cực. Một vài tháng sau, nó thu hoạch gấp bội kết-quả của những vật nó đã đặt xuống đất.

« Công việc của người chăn nuôi súc-vật thì khác hẳn, súc-mục bốn chân, và nhất là cừu, sinh sống cũng như người và sinh đẻ dưới mắt nó cũng một lối. Sự sinh-sản của mục-súc như vậy thì ít có vẻ bí-hiểm so với đất-đai. Nhưng nó cần có sự trông nom và can-thiệp luôn luôn của người. Mỗi ngày phải trông nom, coi sóc, dắt đi cho ăn uống ; phải che chở chúng chống với thú dữ và chống với người khác đến phải chiến-đấu. Phải lo cho chúng thức ăn : du-mục di-chuyển để tìm cỏ và thức ăn nước uống cần-thiết cho súc-vật. Phải nghĩ hộ cho nó và trông nom một cách tích-cực.

« Người ta đã có thể tưởng-tượng sự khác nhau về tính-tình Tây-phương và Viễn-đông khi qui về sự biện-biệt giữa mục-đồng, nông-phố. Tính-tình Tây phương là tính tình của mục-đồng, tính tình của Đông-phương là tính-tình của nông-phố ». [6]

Và tác giả trên đây kết-luận vũ-trụ quan khác nhau của tính-tình mục-đồng Tây-phương và tính-tình nông-phố Đông-phương :

« Trung-Hoa và Ấn-Độ xưa, dung-hòa nhân-loại với vũ-trụ, đã đối-lập cái mà chúng ta gọi là phiếm-thần với nhị-nguyên căn-bản của Âu-châu thời cổ. Sản-phẩm của sự phát-triển nền văn-minh nô-lệ cổ xưa, kể từ thời kỳ-tích Hy-lạp, quan-niệm nhị-nguyên ấy sẽ là dụng cụ tinh-thần chính của tư-tưởng Tây-phương. Nhưng cái văn-hóa ấy, coi con người như cái máy đã sớm khích-động ra những sự phản-động lại. Ở phương-diện luân-lý, sự phản-động chính đã là sự khôi-phục lại bản tính thiêng-liêng nhân-loại và sự phân-biệt hẳn nhân-loại với động-vật khác. Sự khôi phục ấy bành-trướng rất mạnh với giáo-lý Giáng-sinh, cơ-bản của đạo Cơ-Đốc. Ngôi sáng-tạo và chúa-tể vũ trụ, Thượng-Đế xuống làm người và để tham gia và khôi-phục lại nhân-tính ».

Quan-niệm phiếm-thần trong văn-hóa truyền-thống Á-Châu không phải có ý-nghĩa duy-vật, kéo nhân-tính thoái-hóa xuống hàng vô-tri giác và cầm thú, mà trái lại như đã nói ở trên, nó tin vào một lý-tính trường-cửu, truyền-thống bản-tính siêu nhiên và tồn-tại trong cái hệ-thống « Tam Tài » Thiên, Địa, Nhân.

Thành tính tồn tồn đạo nghĩa chi môn. 成性存存道義之門

Thành-tựu cái bản-tính trường-cửu là cửa ngõ cho đạo-lý và cho nghĩa-lý. [7]

Bản tính trường-cửu, bản-ngã tâm-linh hay là nhân-vị thiêng-liêng đều là những danh-từ để nói về cái nguyên-lý siêu-nhiên trong cái hệ-thống Tam Tài nhất nguyên là Thiên Địa Nhân, trong đó nguyên-lý siêu-nhiên đứng ở trên bình-diện biểu-hiện của lương nguyên tâm vật mâu thuẫn đối đãi. Chừng nào chúng ta quan-niệm thế-giới hiện-hữu chỉ có vật-chất với tinh-thần xung-đột, mâu thuẫn với nhau, mà chúng ta tìm cách giải-quyết sự mâu-thuẫn ấy bằng cách lấy tinh-thần diệt vật-chất hay lấy vật-chất diệt tinh-thần, nghĩa là chúng ta giản-dị hóa bằng cách trừ bỏ một phương-diện đi, ấy là chúng ta đã giải-quyết trong sự ngu-muội không tưởng, vì như thế thì hết cả thế-giới sinh-thành hiện-hữu.

Ông Trần-đức-Thảo, trước đây ở Paris đã lên tiếng bênh-vực triết-lý Mác-Xít, muốn nhờ triết-học Mác-Xít để phục-hưng triết-lý nhân-bản truyền-thống Đông-phương. Trong đầu óc trí-thức duy-vật của ông, ông đã ngộ nhận bộ mặt nhất nguyên bề ngoài của triết-lý Mác-Xít mà cho nó giống với quan-niệm nhất nguyên Tam Tài cố-hữu Á-Châu. Cho nên ông đã viết :

« Tư-tưởng Đông-phương từ xưa đến nay không phân-biệt vật-thể và tinh-thần, tự-nhiên và ý-niệm, vậy hiểu một cách dễ dàng phương-pháp duy-vật biện-chứng, chưng bầy cuộc biến-chuyển từ Vật-Sinh-Tâm. Chủ-nghĩa Mác-Xít tương-phản với hình-thức văn-minh Âu-Tây, đã gặp nội-dung thiết thực ở Đông-phương, mà Đông-phương trở nên cách-mạng lại gặp trong hình thức Mác-Xít một cách phục-hưng tinh-thần cựu-truyền trên lập-trường nhân-bản phổ-biến ». [8]

Sở dĩ tư tưởng Đông-phương không phân lý Vật với Tâm là vì không nhìn sự-vật bằng con mắt trí-thức, cho nên Tâm với Vật chỉ là hai phương-diện biểu-hiện của một thực-thể siêu-nhiên. Vật với Tâm cũng như Âm với Dương, mà ở trong Dương có Âm và trong Âm cũng có Dương (Âm trung chi Dương, Dương trung chi Âm). Nhưng Âm-Dương hay Vật-Tâm không phải hai khái-niệm trí-thức bản-nhiên mâu-thuẫn, vì mâu-thuẫn thì không thể gặp nhau mà tiêu-diệt lẫn nhau. Vậy nếu có cuộc sinh-thành biện-chứng mâu thuẫn là vì sự mâu-thuẫn ấy chỉ là ảo-ảnh của trí-thức mê-muội lấy sự biểu-hiện ảo-hóa làm thực-tại tuyệt-đối. Vật tự nó không thể sinh được tâm mà tâm cũng không sinh được vật, chừng nào vật với tâm ly-khai đoạn-tuyệt với cái thực-thể siêu-nhiên nguyên-thủy. Muốn sinh-thành thì tất phải có sự hòa-hợp, đã hòa-hợp thì không còn xung-đột mâu-thuẫn. Vậy ở bình-diện mâu-thuẫn, đối-đãi của vật-tâm thì không thể sinh-thành. Cái khả-năng sinh-thành phải thuộc về cái Lý Duy-Nhất sáng-tạo ở trên bình-diện mâu-thuẫn, đối đãi, Âm-Dương hay Vật-Tâm.

Vì không hiểu cái lý uyên-thâm ấy, cho nên chủ-nghĩa duy-vật biện-chứng muốn giải-quyết sự mâu-thuẫn của thế-giới bằng một sự lấy Vật mà trừ bỏ Tâm. Tâm là cái bóng của Vật thì làm gì còn có sự sinh-thành biện-chứng nữa. Vậy nếu thực-tại còn là thực-tại vận-động biện-chứng thì biện-chứng ấy không có thể là duy-vật được. Đã duy-vật thì hết biện-chứng mà đã biện-chứng thì không phải là duy-vật. Biện chứng mâu-thuẫn là theo quan-điểm trí-thức của chúng ta, còn ở tại bản thể siêu-nhiên thì cuộc sinh-thành tạo-hóa tự nó không có gì là mâu-thuẫn biện-chứng cả. Chúng ta không có thể quan-niệm lý mâu-thuẫn biện chứng như là một nguyên-lý tuyệt-đối mà chỉ là hình-ảnh cách-thức biểu-hiện của một cái lý siêu-nhiên ở ý-thức nhân-loại hiện-tại.

Bởi vậy mà triết-lý nhất-nguyên Mác-Xít duy-vật thực không phải là bạn đồng-minh của Đạo-học truyền-thống Á-Châu, vì một đàng thì phản truyền-thống, một đàng căn-bản truyền-thống, một đàng duy-vật, một đàng siêu-nhiên, một đàng chỉ quan-niệm có biến-đổi, một đàng tin vào Bản-thể Lý-tính tồn-tại trường-cửu.

Chủ nghĩa Mác-Xít vốn là sản-phẩm của hoàn-cảnh địa-lý khí-hậu Tây-phương xuất-hiện ra giữa trạng-huống giai-cấp tương-tranh của xã-hội công nghệ « giao-tranh-lợi », mà giá trị con người không hơn gì một cái máy. Chủ-nghĩa Mác-Xít tưởng có thể giải-quyết được sự mâu-thuẫn ấy bằng chế-độ xã-hội thống-trị độc-tài của giai-cấp vô sản diệt trừ giai-cấp tư-bản ở phương-diện chính-trị. Làm như thế vì chủ-nghĩa Mác-Xít ở phương-diện tư-tưởng đã giải-quyết sự mâu-thuẫn bằng cách lấy « Vật sinh Tâm ». Nhưng « Vật sinh Tâm » hay « Tâm sinh Vật » thì cũng chỉ là những hệ-thống khái-niệm hợp-lý tĩnh-chỉ không thích-hợp với tinh-thần « sinh-sinh bất tức » của văn-hóa truyền-thống Đông-phương. Cho nên chỉ có « đồng thanh mới tương ứng, đồng khí mới tương cầu » ; như lời cổ-nhân Á-Châu đã tuyên-bố từ hơn hai nghìn năm về trước.

[1] Địa-lý dữ văn-minh chi quan-hệ. (Ẩm-băng văn-tập).

[2] Tafore, Sadhana. (bản dịch của Jean Herbert)

[3] Dịch Kinh.

[4] Luận ngữ.

[5] Hệ từ truyện.

[6] René de Hetrelon. Essai sur l’origine des différences de mentalité entre Occident et Extrême-Orient (France Asie).

[7] Hệ từ.

[8] Trích ở sách « Triết-lý đi đến đâu » của Trần-đức-Thảo, trang 55 ; nhà xuất bản Minh-Tân, Paris.

tusachtiengviet.com Đánh máy : Thanhbanhuu, doraemin, ThaoPham, Quach trang, Thanhbanhuu, quynhchau, seira.tran, mocklov Kiểm tra chính tả : Mạc Tú Anh, Vũ Thị Diễm Tuyết, Trần Trung Hiếu, Lê Mỹ Hương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.