Văn Hóa Việt Nam với Đông Nam Á

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TINH-THẦN TAM-GIÁO TRONG VĂN-HÓA VIỆT-NAM và ĐÔNG-NAM-Á
Tín-ngưỡng của Nho-giáo

❊ ❊ ❊

Đông-Nam-Á trước thời cận-đại vốn đã là trung-tâm ảnh-hưởng của văn-hóa Ấn-Độ và văn-hóa Trung-Hoa. Trên bán-đảo Ấn-Độ Chi-Na, có một dẫy núi từ Tây-Tạng chạy xuống vịnh Siam, chia bán-đảo thành hai khu-vực. Khu-vực phía Tây dẫy núi Hoành-Sơn hoàn-toàn thuộc ảnh-hưởng văn-hóa Ấn-độ, nhất là Phật-giáo Tiểu-Thừa. Khu-vực phía Đông là Việt-Nam, xưa kia là Giao-Chỉ, Chiêm-Thành, Thủy-Chân-Lạp, nơi gập gỡ đụng độ của trào-lưu văn-hóa Hoa, Ấn, mà dân-tộc Việt-Nam từ thời giải-phóng khỏi ách đô-hộ Tầu đã hòa-hợp thành một tinh-thần Tam-Giáo, Nho, Đạo, Thích hay Khổng, Lão, Phật.

Trước hết hãy phân-biệt danh-từ giáo với học ở trong tư-tưởng Hoa-Việt. Giáo là nói về tín-ngưỡng, tôn-giáo, mà học là nói về triết-học, học-phái. Ở Trung-Hoa cũng như ở Việt-Nam, ba hệ-thống tư-tưởng Lão, Phật và Khổng thường hay đi đôi với chữ giáo hay học. Khi nào người ta nói Lão-giáo, Phật-giáo hay Khổng-giáo, là có ý-nghĩa một nền tín-ngưỡng, như một tôn-giáo có nghi-lễ hẳn-hoi. Nhưng khi người ta nói Phật-học, Lão-học hay Khổng-học, là ngụ-ý nói về tư-tưởng triết-học duy-lý thực-nghiệm của mỗi hệ-thống. Vậy tư-tưởng Tam-giáo đồng-nguyên là nói về mặt tín-ngưỡng chứ không phải chỉ về mặt triết-lý mà thôi vậy. Đấy là một triết-học tôn-giáo hay Đạo-học.

Người ta sẽ thấy ngạc-nhiên ngay ở tại danh-từ Tam-giáo đồng-nguyên bởi vì mỗi tôn-giáo là một tín-ngưỡng có giáo-điều bất-khả xâm-phạm, có nghi-thức riêng-biệt, làm sao có thể qui về một tín-ngưỡng chung được. Nếu đã là một tín-ngưỡng chung thì chỉ có một tôn-giáo, làm sao lại có thể có ba tôn-giáo cùng chung một tín-ngưỡng được ?

Đấy là cả một vấn-đề tín-ngưỡng phải xét lại.

Ở nhân-loại có hai khuynh-hướng phổ-thông về tín-ngưỡng, một khuynh-hướng thờ phụng các thần-linh là những mãnh-lực thiên-nhiên nhân-cách-hóa, với một khuynh-hướng thờ phụng tổ-tiên là các linh-hồn những người thân-thích với mình. Ở khuynh-hướng thờ phụng tổ-tiên, người ta tin những người thân-yêu còn sống mãi sau khi xác-thịt đã tiêu-tan.

Ở khuynh-hướng thờ phụng thần-linh, tinh-thần nhân-loại muốn thấu-hiểu qua các hiện-tượng thiên-nhiên như sấm sét, sông núi qua các vẻ đẹp huy-hoàng cũng như qua các trạng-thái dũng-mãnh để tìm ra một cái gì bí-hiểm huyền-diệu. Và nhân-loại trong sự chiêm-ngưỡng những hiện-tượng thiên-nhiên ấy đã sớm gán cho chúng những thuộc tính của người, nhân-cách-hóa chúng thành những thần-tiên, những linh-hồn, hồn-Sông, hồn-Núi, thần-Sấm, thần-Sét. Đấy là khuynh-hướng thờ phụng thiên-nhiên.

Hai khuynh-hướng trên đây có tính-cách mâu-thuẫn, có thể dung-hòa trên một căn-bản thứ ba là nguyên-nhân của tín-ngưỡng. Dù ở tín-ngưỡng tổ-tiên hay ở tín-ngưỡng thần-linh là những mãnh-lực thiên-nhiên nhân-cách-hóa, nhân-loại đều tìm vượt ra ngoài giới-hạn của giác-quan mà nhân-loại không mãn-nguyện. Cái ý muốn vượt quá giới-hạn của giác-quan từ cổ xưa đã do trạng-thái nằm mộng khiến cho nhân-loại có tư-tưởng mình còn có một đời sống ở ngoài thân-thể nữa. Từ đấy sự tìm tòi bắt đầu và đào sâu mãi vào các từng lớp của tinh-thần để rồi khám phá ra những trạng-thái cao hơn trạng-thái thức và mộng. Những trạng-thái siêu-nhiên này đều thấy ở trong tất cả các nền tôn-giáo có hệ-thống của thế-giới, ấy là trạng-thái gọi là siêu-hóa hay thần-hóa và cảm-hứng. Ở tất cả các tôn-giáo chính, các nhà sáng-lập, tiên-tri, thiền-sư đều đã cảm thấy những trạng-thái tinh-thần khác với trạng-thái lúc thức và lúc ngủ. Ở trong trạng-thái siêu-thần ấy, các Ngài đã mục-kích trực-tiếp với một loại thực-kiện thuộc về phạm-vi tâm-linh. Đối với các Ngài lúc ấy, những thực-kiện tâm-linh này còn linh-động xác-thực hơn là các thực-kiện nhìn thấy ở lúc thức. Tất cả các tôn-giáo chính của thế-giới đều công nhận tinh-thần nhân-loại có thể vượt quá giới-hạn của giác-quan và khả-năng của lý-trí.

Tất cả các tôn-giáo chính đều công-nhận cho tinh-thần nhân-loại một khả-năng siêu-nhiên ; có thể thực-nghiệm những thực-kiện trừu-tượng một cách linh-động hiển-nhiên. Thực-kiện ấy hoặc là ở hình-thức Duy-Nhất Trừu-tượng, một hiện-thân Trừu-tượng như là một Nhân-cách Trừu-tượng gọi là Thượng-đế hay là một Định-luật luân-lý, hoặc là một Thực-thể Trừu-tượng ở bên trong tất cả hiện-hữu.

Đại-khái đấy là nguyên-nhân của tất cả các tín-ngưỡng. Nay thử xét trong ba hệ-thống tín-ngưỡng truyền-thống Việt-Nam và Trung-Hoa mệnh-danh là Tam-giáo Nho, Lão, Phật xem chúng « đồng-nhiên » ở đâu và « nhất-lý » như thế nào ở Việt-Nam kể từ triều-đại nhà Lý có tiếng phát-triển về Thiền-tông.

Nho-giáo thuộc về tín-ngưỡng linh-hồn bất-diệt, thờ phụng tổ-tiên đã đóng vai trò trọng-đại ở Trung-Hoa cũng như ở Việt-Nam trong công việc tổ-chức nhân-sinh xã-hội. Từ chỗ thờ linh-hồn tổ-tiên và tin vào luân-thường đạo-lý trường-cửu, Nho-giáo đã suy-tôn Khổng-tử người đã sáng lập ra tư-tưởng Nho với Thất-thập-nhị-hiên tức là 72 người đệ-tử có công kế-tiếp nghiệp thày. Đền thờ là Văn-Miếu trong đó Khổng-tử được thờ như một nhà giáo kiểu-mẫu « Vạn-thế sư biểu. »

Tín-ngưỡng của Lão-giáo

Lão-giáo thuộc về tín-ngưỡng thần-linh là những mãnh-lực thiên-nhiên nhân-cách-hóa. Cho nên Lão-Tử đã sớm trở nên một nhân-vật thần-thoại cùng với các thần-núi, thần-sông trở nên bất tử. Ngoài ra các tín-đồ Lão-giáo tin vào phù-thủy và ma-thuật, hô-phong phục-hổ là những phép thuật về quyền-năng thần-bí huyền-diệu gán cho thiên-nhiên.

Tín-ngưỡng của Phật-giáo

Phật-giáo thuộc về loại tín-ngưỡng đặc-biệt, không tin vào thần-linh, không tin vào tổ-tiên mà chỉ tin vào một cái Pháp (Dharma). Pháp là luật-pháp của sự sống, không phải kết-quả của sự suy nghĩ tìm-tòi mà là kết-quả của một trạng-thái tinh-thần đặc-biệt khi Thích-Ca giác-mê khải-ngộ. Pháp là một thực-kiện tâm-linh, làm cho đức Thích-Ca thông-cảm với chúng-sinh, vũ-trụ bằng một lòng từ-bi bác-ái.

Trên đây là ba khuynh-hướng tín-ngưỡng của Tam-giáo, tín-ngưỡng linh-hồn, tín-ngưỡng thần-linh, tín-ngưỡng tâm-linh. Sở-dĩ đồng-nguyên là cả ba đều bắt nguồn ở sự phấn-đấu của nhân-loại để siêu-việt giới-hạn của giác-quan, hướng về mục tiêu vô-hạn, mục-tiêu tự-do. Nguồn gốc chung là ở tại cái khả-năng vô-hạn của tinh-thần nhân-loại vậy.

Thiền-Tôn với Vấn-đề Đồng-nguyên Tam-giáo

Tin ở nhân-loại có linh-hồn bất-diệt, ở thiên-nhiên có thần-linh ma-lực hành-động đàng-sau hiện tượng, và cuối cùng tin ở tinh-thần nhân-loại có khả-năng tâm-linh vô-hạn, rồi tùy-theo với tín-ngưỡng khác nhau ấy mà xếp-đặt các hình thức cung-kính thờ-phụng trong phạm-vi tôn-giáo nghi-thức. Nghi-thức chỉ là những phương-diện để diễn đạt lòng tin bên trong, là những tượng-trưng cho những ý-nghĩa siêu-hình mà tín-đồ muốn đạt tới, muốn thực-hiện ở tại bản-thân. Lâu ngày ý-nghĩa lu-mờ, nghi-thức trở nên máy-móc vì xa lìa với xúc-động nội-tâm, do đấy mà các tôn-giáo, các tín-ngưỡng câu-chấp các hình-thức bên-ngoài, bỏ mất tinh-thần bên trong, trở nên bảo-thủ mà tranh-chấp với nhau, vì càng ngày cách-biệt với nguồn-gốc của người sáng-lập, đã từng đem cả tâm-thân để sống thực, để thực-nghiệm và đã thấy những thực-kiện tâm-linh là nền-tảng của các tín-ngưỡng.

Thiền-tôn là một ngành thực-nghiệm tâm-linh trong Phật-giáo Việt-Nam lấy tâm làm Thiền như Ngộ-Ấn Thiền-sư đã nói về thuyết Tam-Bản của Ngài. Thuyết Tam-Bản lấy thân làm Phật, lấy khẩu làm Pháp, lấy tâm làm Thiền, xác-định những thực-nghiệm tâm-linh là gốc trọng-yếu của tất cả các tín-ngưỡng tôn-giáo. Và thực-nghiệm ấy là thực-nghiệm ở tại nơi tâm mình vì tâm là cả một tiểu vũ-trụ như Đông-phương đạo-học quan-niệm. Ở đấy chúng ta thấy trực-tiếp, « kiến » được bản-thể thực-tại bất-biến của tất cả thế-giới hiện-tượng biến-ảo. Kiến-tính (見性). Tất cả thế-giới hiện-tượng chúng ta biết là biết qua giác-quan biết-qua suy-luận, biết qua ý-niệm là hình-ảnh do giác-quan hay ngũ-uẩn (Thị, thính, khứu, vị, xúc-sắc, thanh, hương, vị, xúc) tạo nên. Vậy chúng ta biết thế-giới qua tâm ta, là cái biết gián-tiếp. Nếu có thể biết trực-tiếp được thì chỉ là lấy tâm mà kiến-tính, quan-tâm nghĩa là tâm cá-nhân cùng có chung với thế-giới một quan-hệ sinh-thành tồn-tại. Trước khi tìm biết tới cái tồn-tại của thế-giới bên ngoài, của đại vũ-trụ, thì hãy tìm biết tới cái tồn-tại ở tâm mình trong cái tiểu vũ-trụ này mà ta đã bẩm-thụ lúc mới sinh ra, mới hiện có thật trong cái thực-tại đại-đồng. Chỉ cái tồn-tại ở tâm ta, ta mới trực-tiếp biết được. Cái tồn-tại ấy là cái tính tồn-tại độc-nhất chung cho cả trong lẫn ngoài vậy.

Nhưng tâm ta thường-nhật là một trường tác-dụng biến-hóa như mặt nước nổi-sóng, đợt nọ liên-tiếp đợt kia, làm cho khó lòng nhìn thấy đáy để « kiến » được Tính là bản-thể của tâm. Bởi vậy nhà Phật mới đòi phải Chính-Kiến, Chính tư-duy, Chính-Ngữ, Chính-Nghiệp, Chính-Mệnh, Chính-Tinh-tiến, Chính-Niệm và sau cùng là Chính-Định tất cả gồm vào Bát-Chính-Đạo. Cái đạo Bát-Chính ấy cốt đi đến chỗ Chính-Định tức là Thiền-Định (Dhyana) để bước vào một trạng-thái Siêu-Ý-Thức ở trong tâm khi tâm không còn mảy-may vọng động vì cảm-giác cũng như vì ý-ảnh hay ý-niệm. Đấy là nhà Thiền-Sư đã thực hiện được cái tâm Vô-Niệm, khác nào mặt nước phẳng-lặng không một lăn-tăn sóng động. Đấy là con đường tín-ngưỡng của Thiền-Tôn, tin vào thực-nghiệm ở chính tại tâm mình. Một nhà Thiền-học danh-tiếng cận-đại ở thế-giới là đạo-sĩ Vivekananda đã căn-cứ vào thực-nghiệm mà viết :

« Khoa-học Raja Yoga (tức là Thiên-học) nhằm mục-tiêu trước tiên là mang lại cho chúng ta phương-tiện để quan-sát những trạng-thái bên trong (nội-tại). Dụng-cụ dùng là chính tinh-thần, sức mạnh của chú-ý, khi nào hướng-dẫn chính-đáng và hướng vào nội-giới có thể phân-tích tinh-thần (phân-tâm) và soi sáng những thực-kiện. Những năng-lực của tinh-thần khác nào những tia sáng lu-mờ, khi nào người ta tập-trung lại thì chúng soi-sáng. Đấy là phương-tiện duy-nhất của chúng ta để thâu-thái tri-thức. Mỗi người đều xử-dụng phương-tiện ấy, đối với ngoại-giới cũng như đối với ở nội-giới, nhưng nhà tâm-lý học phải quan-sát nội-giới một cách tỉ-mỉ, cũng như nhà khoa-học khảo-sát ngoại-giới ; và vì thế mà phải có nhiều công-phu luyện tập. Từ thuở nhỏ chúng ta chỉ được dạy cho nhìn sự-vật bên ngoài mà ít khi nhìn vào sự-vật bên trong. Cho nên chúng ta phần lớn đã mất cái khiếu quan-sát cơ-năng nội-tại. Như vậy thì chuyển-hướng tinh-thần vào bên trong nội-giới, không cho nó phóng ra bên ngoài, rồi tập-trung tất cả năng lực của nó lại và chiếu thẳng vào chính tinh-thần để nó tìm hiểu về chính bản-tính nó, ấy là cả một công-trình kỳ-khu. Tuy nhiên đấy là phương-tiện độc-nhất và duy-nhất để tìm một đường lối khoa-học tiếp-cận cho sự khảo-cứu này.

« Cái biết ấy dùng làm gì ? Trước hết là tri-thức tự nó có một phần-thưởng tối-cao, và sau nữa nó có ích-lợi. Nó làm cho người ta mất hết đau khổ phiền-não. Khi nào phân-tích chính cái tâm của mình, người ta đến trước nhãn-tiền với cái gì bất-di bất-dịch, cái gì mà tự bản-tính nó thì vĩnh-viễn thuần-nhất và hoàn-hảo, người ta sẽ không khổ-sở nữa, không đau phiền nữa. Tất cả đau khổ đều do sợ hãi, dục-vọng, bất-mãn sinh ra. Khi nào người ta thấy không bao giờ chết nữa, thì người ta không còn sợ chết. Khi nào nó biết nó hoàn-hảo, nó không còn khát-vọng hão-huyền nữa. Hai nguyên-nhân ấy đã không còn nữa thì đau khổ cũng hết, chỉ còn lạc-thú hoàn-toàn dù ngay khi người ta đương còn sống trong thân-thể này vậy ». [1]

Đấy là mục-đích của Thiền-định mà Thiền-tôn lấy làm con đường tu-luyện, thờ-phụng, cúng-kính, chính căn-bản tối cần-thiết, vì chính ở đấy mới chứng-nghiệm cho tín-ngưỡng, khiến có thể tiến-bộ về tinh-thần, hoán-cải tâm-tính. Tất cả những hình-thức khác của tín-ngưỡng bất quá chỉ là phụ-thuộc để dọn đường cho thực-nghiệm tâm-linh của thiền-định. Tất cả tri-thức đều dựa vào thực-nghiệm như Vivekananda đã tuyên-bố, và tập-trung tinh-thần hay thiền-định chính là căn-cốt của tất cả tri-thức chân-chính. Tri-thức chân-chính ở đây là tri-thức tâm-linh, tri-thức trực-tiếp về Thượng-Đế, về Phật-tính, tức là về một thực-thể duy-nhất của toàn-thể vũ-trụ nội-giới cũng như ngoại-giới. Đấy là tri-thức thực-nghiệm về linh-hồn, về bản-tính của Tâm mà Thiền-học lấy làm cứu-cánh cho tín-ngưỡng, cho tất cả tôn-giáo. Và đối với thiền-học thì người ta không cần phải có lòng tin hay tín-điều gì hết. Đạo-sĩ Vivekananda bảo :

« Các anh không nên tin vào cái gì mà chính các anh không tự đã thấy, đấy là điều mà Thiền-học dạy các anh. »

Như vậy đủ thấy Thiền-Tôn đã quan-niệm vấn-đề Tam-Giáo-Đồng-Nguyên trên nền-tảng tri-thức tâm-linh thực-nghiệm. Và cũng căn-cứ vào lịch-sử tín-ngưỡng Đông-Tây về thực-nghiệm tâm-linh như thế mà gần đây triết-gia Ấn Radhakrishnan đã dung-hòa các tôn-giáo, các tín-ngưỡng trong triết-học của ông như sau :

« 1. Trước nhất thực-nghiệm tâm-linh là một thái-độ phản-ứng của toàn-thể con người với Thực-Tại. Nó bao-hàm và siêu-vượt tất cả hoạt-động tri-thức, luân-lý, và tình-cảm. Nó là tri-thức trong thực-hiện. Bởi thế cho nên cụ-thể và có tính-cách cá-nhân chứ không trừu-tượng và đại-cương như tri-thức khái-niệm. Nó cũng không có thể trao-đổi qua danh-từ hợp-lý. Người ta chỉ có thể biết tinh-thần bằng thực-nghiệm với nó, cũng như người ta biết tình-yêu bằng yêu-đương chứ không bằng đọc sách về tình yêu.

« 2. Hai là, nó trực-tiếp toàn-thể, mang theo với nó sự chính-xác của nó. Nó ngự-trị bởi chính-quyền của nó được ngự-trị, tự nó thiết-lập cho nó tự duy-trì lấy, tự sáng với ánh-sáng của nó. Nó không cần đến sự xác-nhiên nào khác ở ngoài nó.

« 3. Ba là nó biểu-lộ cho chúng ta thấy một Hữu-Thể tuyệt-đối và trường-cửu, ngoài các phạm-trù của tư-tưởng và biểu-thị. Tuy-nhiên khi chúng ta bảo rằng tuyệt-đối biểu-thị ở thực-nghiệm thần-bí thì không có mảy-may phẩm-tính và chỉ có thể mô-tả bằng cách phủ-định. Chúng ta muốn nói ở đấy rằng tất cả tính xác-thực bất-khả tư-nghị của nó vượt quá tất cả các hình-thức tư-tưởng. Chúng ta gọi là Không, bởi vì nó không là cái gì Hữu-thể của chúng ta tạo ra nên không có thể quan-niệm với tinh-thần hữu-hạn của chúng ta, nhưng không phải bởi vì nó tuyệt-đối không.

« 4. Bốn là thực-nghiệm tâm-linh có ba đặc-tính là thực-tại, ý-thức và cực-lạc tức là Sat, Chit, Ananda theo các nhà tiên-tri Ấn-Độ mô-tả. Tuy chúng ta phân-biệt những phẩm-tính ấy, nhưng ở Thượng-Đế chúng ta không phân-biệt. Chúng ta cũng gán cho Thượng-Đế những đức-tính thiêng-liêng, công-lý, tình-yêu, dung-thứ v.v… bởi vì đấy là những đức-tính tối-cao nhân-loại biết được. Nhưng khi gán những đức-tính ấy, chúng ta chớ nên quên rằng chúng có ở tại Thực-tại cùng tột với ý-nghĩa khác với ý-nghĩa chúng có ở nơi ta. Cũng tương-tự như thế mà dù tuyệt-đối có, vượt lên trên tất cả quan-niệm về Hữu-ngã và Vô-ngã nhân-cách và phi nhân-cách. Chúng ta cũng gán nhân-cách cho Ngài như là một Phạm-trù cao nhất chúng ta có thể biết được. Nhân-cách của Thượng-Đế như vậy chỉ là một tượng-trưng. Đấy biểu-thị cái gì có thể gọi là quan-điểm thi-văn về Thượng-Đế hơn là quan-điểm khoa-học. Đấy biểu-thị Thượng-Đế đối với chúng ta chứ không phải Thượng-Đế ở chỗ Tự-Tại, bản-thân.

« 5. Năm là thực nghiệm tâm-linh không những biểu-lộ cho chúng ta một thực-tại siêu-nhiên, mà còn đem lại cho chúng ta cái tin-tưởng về duy-nhất của thế-giới. Nhà đạo-học tâm-linh thần-hóa tri-giác thực-tại không những siêu-nhiên mà còn tiềm-tại. Đối với các Ngài tất cả sự-vật sống và động và hiện-thực ở tại trong một tâm-linh đại-đồng.

« 6. Sáu là sự khẳng-định có lẽ trọng-đại nhất về thực-nghiệm tôn-giáo ấy là sự đồng-thể cảm thấy giữa linh-hồn và Thượng-Đế. Chúng ta nghe thấy nói rằng trong lúc tuệ-giác tối-cao biên-giới tự-ngã cá-nhân với thực-tại cùng-tột biến mất. Nhà tâm-linh thần-hóa cảm thấy bản-ngã của mình có thể nói chỉ là trung-tâm của một tâm-linh biến-tại (vô sở bất tại). Đấy là một điểm nhắc đi nhắc lại trong tất cả truyền-thống tâm-linh thần-hóa, trong tâm-linh học Ấn-Độ giáo, trong Tân-Bá-Lạp-Dô phái, trong Hồi-giáo và trong Thiên-chúa giáo. Lời kinh Upanisad danh-tiếng, « Thử tức Bỉ » và lời tuyên-bố của Jésus « Ta với Thiên-phụ ta là một », cùng là bao nhiêu bằng chứng của các nhà thần-hóa khắp thế-giới đều nhận rõ một loại thực-nghiệm tương-tự.

« 7. Bẩy là sự-thực, cái thực-nghiệm trọng-đại về sự hợp-nhất với Thượng-đế cũng chỉ hiếm có đối với tinh-thần hết sức thành-tín từng sống trên thế-giới, tỏ rằng có nhiều trở ngại cho sự tự thực-hiện. Đấy là mục-đích công-khai của tất cả tôn-giáo có tổ-chức để giúp chúng ta vượt qua những trở ngại ấy. Những giới-luật và những chay giới mà các tôn-giáo tuyên-dương phần lớn rút trong những điều-kiện của các nhà sáng-lập đầu tiên, từng chứng-kiến những cảnh-giới tâm-linh ấy. Sự khắc-phục xác-thịt, sự tu-sửa chính tâm, cầu-nguyện một mình, sự ưa chuộng đời sống mặc-tưởng trầm-tư, sự thông-cảm với tinh-thần hồn-nhiên v.v… đều là những đường lối và phương-tiện chung cho tất cả các tôn-giáo. Đấy là những con đường vạch trong rừng rậm của bao nhiêu thế-hệ đã qua. Ở những bước đầu của đời sống tâm-linh ấy là một điều tiện-lợi có sự giúp đỡ của một truyền-thống tín-ngưỡng và một nhà tu có tổ-chức để hướng-dẫn chúng ta trên những con đường trên.

« 8. Tám là người ta dùng nhiều tượng-trưng trong các dòng tâm-linh thần-hóa để mô-tả cùng một thực-nghiệm nhiệt-thành. Kẻ nào không bao giờ có thể vượt lên trên những tượng-trưng ấy đều là những tín-đồ mù-quáng, tranh-dành, cãi cọ và làm cho tôn-giáo bị miệt-thị. Nhưng đối với hạng tín-ngưỡng cố gắng qui-hồi những tượng-trưng của một tôn-giáo đã thành-lập trở về thực-nghiệm nguyên-thủy của các nhà sáng-lập thì lòng tương-thân tương-kính rất là tự-nhiên giữa các tín-ngưỡng khác nhau. Những tinh-thần tín-ngưỡng chân-chính luôn-luôn giúp các đạo-hữu trở về tâm-linh và làm cho các hình-thức tôn-giáo thành-lập thích-hợp hơn và trung-thành hơn với thực-nghiệm tâm-linh thần-hóa.

« 9. Chín là thực-nghiệm giúp chúng ta nhận-thức và thẩm-thức giá-trị tối-cao của tinh-thần như đạo-đức, mỹ-thuật, chân-lý và tình-yêu khiến chúng ta hiểu mục-đích của cuộc đời chúng ta ở tại thế-gian và chỉ-dẫn chúng ta tiến bước trên con đường tìm Tuyệt-đối là sự thành-tựu của tất cả những giá-trị kia. Nghệ-thuật và văn-chương, khoa học và tri-thức, tình-yêu và phụng-sự đều là những điều tốt ở các đường lối của chúng, nhưng chúng không có thể thay thế cho thực-nghiệm tín-ngưỡng được. Cả đến luân-lý tuy mật-thiết đi đôi với tôn-giáo cũng không thay thế cho tôn-giáo được ». [2]

Trên-đây là nhận-định của hai nhà tư-tưởng có uy-tín hiện nay về vấn-đề tôn-giáo tâm-linh, căn-cứ vào thực-nghiệm tâm-linh thần-hóa Đông,Tây, kim, cổ. Ở đấy chúng ta đã nhận thấy tại sao có chủ-nghĩa Tam-giáo Đồng-nguyên hay Vạn-Pháp Nhất-lý rất phát-triển ở triều-đại Lý và Trần tại Việt-Nam. Đấy là chân-chính tự-do tín-ngưỡng vì Thiền-tôn là một loại chỉ lấy thực-nghiệm tâm-linh làm cơ-bản. Đã lấy thực-nghiệm tâm-linh làm kinh-điển, mà Trần-thái-Tôn gọi là « Nội-điển », thì tất cả nghi-thức bề ngoài chỉ là tượng-trưng phụ-thuộc, cho nên các nhà Thiền-tôn Việt-Nam lúc bấy giờ không chấp-nhất mà thực lòng tương-thân tương-kính, vì trong tam-giáo theo các nhà sáng-lập, giáo nào cũng nhằm vượt quá giới-hạn tượng-trưng (symbole) để trở về ý-nghĩa chân-chính của nguồn-gốc chung là thực-tại siêu-việt bất-khả tư-nghị, chỉ có thể thực-nghiệm trực-tiếp giữa tâm với tâm, tinh-thần với tinh-thần mà thôi.

Khổng-tử thì nói : « Dư dục vô ngôn, tứ thời hành yên, vạn-vật dục yên, thiên hà ngôn tai » – Ta không muốn nói đâu, bốn mùa đi lại muôn vật sinh-trưởng. Trời có nói gì đâu.

Lão-Tử cũng nói : « Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh » – Đạo có thể nói được thì không phải đạo trường-cửu. Danh có thể gọi được thì không phải danh còn mãi.

Cho nên Lão-Tử chủ-trương : « Bất ngôn chi giáo » : Giáo-lý không dùng lời nói. Và Phật Thích-Ca tay cầm hoa sen miệng mỉm cười mà Ca-Diệp giác-ngộ giáo-lý của Ngài.

Cả ba nhà Giáo-Chủ đều đã có thực-nghiệm tâm-linh về một thực-tại siêu-nhiên ở tại ngay chính thân-tâm các Ngài, trong lúc siêu-thần nhập-hóa vượt lên cảm-giác lẫn tri-thức suy-luận. Hèn gì mà có người hỏi sư Bản-Tịch rằng : Thế nào là ý của Tổ-Thiền ? Nhà sư bèn trả lời : Khác nào cái cách « Thánh ốp đồng ».

« Thánh ốp đồng » là một trạng-thái tâm-lý khi cái ý-thức về mình lúc thức mờ đi để cho một tâm-hồn đặc-biệt phi-thường xuất-hiện ra cử-động, ra ngôn-ngữ mà người ngồi đồng chỉ việc tuân-theo, cho đến khi đồng giáng cũng không biết mình đã làm gì. Đấy là một trạng-thái tâm-hồn thần-hóa, tuy tà chính khó phân-biệt. Ở đây nhà sư lấy hiện-tượng « ốp đồng » để ví với trạng-thái xuất-thân hay thần-hóa của nhà tu-luyện, đại-ý muốn nói « ý của Tổ-Thiền » cốt ở thực-nghiệm trong tâm mình một trạng-thái tâm-linh « chân tâm » vượt lên trên giác-quan và ý-thức lúc thức bình thường. Ở trong cái ý-thức Chân-tâm ấy là một ý-thức Siêu-thức người ta nhìn sự-vật dưới một ánh-sáng khác thường, cho nên người ta hiểu ý-nghĩa có và không cũng khác với ý-nghĩa thông-thường. Các nhà thiền-sư Việt-Nam đời Lý đều tin rằng Phật Pháp cùng ý-nghĩa Sắc Không của tâm-linh Phật-giáo không có thể lấy lời nói mà giảng-giải được, chỉ phải lấy tâm-truyền-tâm hay là gắng tu luyện đến chỗ « Thánh ốp đồng » nghĩa là đến chỗ Siêu-thần nhập-hóa. Như vậy các Thiền-sư nhà Lý chỉ chú-trọng vào tín-ngưỡng thực-nghiệm tâm-linh mà thôi vậy.

Xem ngay như sự vấn-đáp về đạo giữa nhà Thiền-sư Khánh-hỉ với Đạo-Dung hai vị thiền-sư danh tiếng đời Lý mà bia chùa Hương-Nghiêm ở Thanh-Hóa còn ghi chép cho tới ngày nay :

« Cao tăng Khánh-Hỉ để ý đến Đạo-Dung cho là một kỳ nhân, và dạy cho Phật Pháp. Đạo-Dung hỏi : « Điều gì cốt yếu trong Pháp ? »

« Cao tăng trả lời : « Pháp vốn không phép, ta lấy gì mà bảo người ». Bỗng nghe, sư Đạo-Dung thấy trong lòng nở nang, bèn giác giác-ngộ.

« Một hôm sư Đạo-Dung hỏi Cao-tăng : « Tôi đã hiểu rõ chữ Không và chữ Sắc. Sắc là bởi kẻ phàm thấy, Không là bởi kẻ Thánh thấy. Có phải thế không ? »

« Cao-tăng trả lời bằng một bài kệ :

Ở đời chi hỏi sắc và không

Học đạo chẳng qua tìm Tổ-Tông

Trồng quế trên trần sao được rậm

Ngoài tâm tìm Phật khó lòng mong

Bao hàm nhật nguyệt trong hạt cải

Thu hết càn-khôn đầu mũi lông

Đại dụng rõ ràng tay nắm chặt

Ai hay phàm thánh biết đâu cùng

« Từ đó Sư thích dạo núi sông, không đâu ngại đến ». [3]

Xem thế đủ rõ tinh-thần Thiền-Tôn Việt-Nam nói riêng và Thiền-Tôn nói chung trên nền móng tự-chứng tâm-linh, coi các tín-ngưỡng hình-thức tượng-trưng như là phụ-thuộc vào công phu thực-nghiệm tại chính nội-tâm của mình. Do đấy mà tinh-thần Thiền-tôn đã xây cơ-sở vững-chắc cho thuyết-lý truyền-thống « Tam-giáo-đồng-Nguyên, Vạn-pháp-Nhất-Lý » của dân-tộc Việt kể từ ngót hai ngàn năm đến nay vậy.

Ông Hoàng-xuân-Hãn người đất Thanh-Hóa tác giả quyển Lịch-Sử Lý-Thường-Kiệt, sau khi sưu-tập các văn bia của các chùa cổ đất cố-đô văn-hóa của dân-tộc Việt, có kết-luận một cách khá minh-xác về tín-ngưỡng cố-hữu của dân-tộc Việt bắt đầu từ đất Giao-Châu như sau :

« Trước khi các tôn-giáo ngoài tràn vào, người Việt chắc đã tôn-sùng những mãnh-lực thiên-nhiên, như núi sông, sấm chớp. Những di tích còn lại không những ở trong tập-tục của dân-gian, mà trong điều-lệ kế-tự, nay còn những vị thần được thờ tại rất nhiều nơi mà không ai rõ gốc-tích tự đâu tới. Thần Cao-Sơn chắc cũng là đức Thánh Tản-Viên, thần Long-Thủy có lẽ gốc ở thác Bờ. Lại như các đền hay chùa Pháp-Vân, Pháp-Vũ, Pháp-Lôi, Pháp-Điện, hẳn là di-tích các thần mây, mưa, sấm, chớp. Đến Bắc thuộc, đạo Nho và đạo Lão được đem vào. Nhất là trong đời loạn-ly sau khi Hán mất, Sĩ-Nhiếp là Thái-thú ở Giao-Châu, giữ một vùng yên ổn thì nhiều nhà trí-thức Trung-Hoa tụ-tập ở Luy-Lâu, (Bắc-Ninh) trú-sở Giao-Châu. Nhờ đó Nho-học và Đạo-học lại càng bành-trướng, trong hai đạo mới, đạo Lão là thích-hợp với tín-ngưỡng gốc của dân Việt. Cho nên nó lan-tràn chóng và hòa lẫn những tập-tục dân gian. Còn như Nho-giáo, tuy được dựa thế những kẻ cầm quyền, phần đông là Nho-sĩ, nhưng nó cũng chỉ giữ tính-cách thường, chứ không thành một tín-ngưỡng mới.

« Sau đó đạo Phật từ Ấn-Độ mới lan đến góc Đông-Nam Lục-địa với tính cách ôn-hòa, thần-bí, Phật-giáo chóng ăn sâu vào lòng tín-ngưỡng người Việt. Nó dung-hòa dễ-dàng với sự sùng bái thường, và nó dễ đi đôi với đạo-giáo đến đây từ trước.

« Ba tôn-giáo Nho, Lão, Phật đã sớm thành cơ-bản tín-ngưỡng dân Việt, và đồng-thời tiến-triển. Cho nên thường gọi là Tam-Giáo. Tuy nói là Tam-Giáo tịnh-hành nhưng theo thời-đại, một hay hai giáo vẫn được chuộng hơn. Ta sẽ thấy trong thời nhà Lý Phật-giáo chiếm bậc nhất. Nhưng ta cũng phải nhận rằng Phật-giáo thịnh-hành ở xứ ta, cũng như ở Trung-Hoa bấy giờ, đã dung-hòa với đạo-giáo và những tín-ngưỡng gốc ở dân-gian. Nó đã biến thành một tôn giáo lấy Phật làm gốc, nhưng lại ghép vào các vị thần-linh mà xưa chỉ là một mãnh-lực thiên-nhiên. Và nó dùng những kỹ-thuật, theo đuổi những mục-đích thích-hợp với đạo-giáo hơn là Phật-giáo.

« Địa-vị các tăng-già trong suốt đời Lý vẫn là trọng ; như ảnh-hưởng về chính-trị hình như không có bao nhiêu. Về phương-diện tinh-thần và luân-lý, thì hẳn rằng Phật-giáo có ảnh hưởng hơn. Nó đã đổi cái triều-đình vũ-phu và mộc mạc của các đời Đinh, Lê, đóng ở chỗ đầu ngàn cuối sông, ra một triều-đình có qui-mô có lễ-độ, ở giữa bình-nguyên, có thể so bì với các nước khác ở miền Bắc. » [4]

Trên đây Hoàng Quân có ý nói cái tín-ngưỡng đầu tiên của dân Việt thuộc về tín-ngưỡng vật linh. Về sau nhờ có sự du-nhập của ba nền đạo-lý mà dân-tộc đã kết-tinh ra tín-ngưỡng tam-giáo đồng-nguyên hay tịnh hành. Điều ấy không ai chối cãi. Tuy nhiên nó đòi chúng ta phải xét đến cái trình-độ tín-ngưỡng của thời-đại nhà Lý theo quá trình tâm-linh hóa đi từ vật linh qua đa thần, đến nhất thần và sau hết đến trình độ tối-cao của tín-ngưỡng là tôn-giáo tâm-linh thực-nghiệm nhờ đấy mà có được tinh-thần « Tam-giáo tịnh-hành » tối quí của nhân-loại vậy.

Trước hết chúng ta phải công-nhận rằng tín-ngưỡng vật-linh quả là tín-ngưỡng đầu tiên của dân Việt, dù những di-tích văn-hóa Đông-Sơn như văn-hóa « trống đồng » có cho ta ngờ rằng trước khi các nền giáo-lý chính Đông-phương như Nho, Lão, Phật du nhập vào đất Việt bản-xứ đã tín-ngưỡng vật-tổ, linh-hồn bất-diệt, căn-cứ vào các hình thuyền khắc trên mặt « trống-đồng » tả cuộc lễ chuyên-chở linh-hồn người chết sang bên kia thế-giới như tục-lệ của dân Dayak ở Bornéo còn sót lại :

« Trong những đề-tài cổ truyền có một đề-tài bầy tỏ những nét giống một cách không chối-cãi với những hình thuyền khắc ở « trống đồng » Hà-nội. Đấy là một chiếc « thuyền vàng » chở dân Dayak đầu tiên đổ bộ lên đất Bornéo thủa cổ xưa. Từ ngày chiếc thuyền ấy không đi trên bể nữa, nó được dùng để chở những linh-hồn người chết sang đảo Bồng-Lai-Cực-Lạc ở giữa Vân-Hồ…

« Như thế, trống-đồng tại Hà-nội với hình điêu-khắc phong-phú có lẽ là bằng-chứng của một nền văn-hóa cổ xưa còn sót lại vết-tích ngày nay ở dân Dayak tại Bornéo. » [5]

Mặc dầu tín-ngưỡng cố hữu của dân Việt nguyên-thủy là vật-tổ, vật-linh, hay linh-hồn bất diệt, một điều dĩ-nhiên là ở thời nhà Lý, một triều-đại đã có ý-thức tối cao về dân-tộc độc-lập và tồn-tại, chống với Bắc địch, phạt Chiêm-thành phương Nam, ở thời ấy dân-tộc Việt Nam đã đồng-hoá thuần-thục được ba nền tôn-giáo chính của Á-Đông vào dân-tộc tính thành một nền Tam-Giáo-Đồng-Nguyên phong-phú làm sinh-lực sáng-tạo của mình. Vậy thử hỏi cái quá-trình tâm-linh hóa tín-ngưỡng của nhân-dân nhà Lý đã tới mực nào ?

Bắt đầu là tín-ngưỡng vật-linh, vốn là trình-độ tín-ngưỡng chung của tất cả nhân-loại thời nguyên-thủy cũng như của các bộ-lạc du-mục miền thượng-du ngày nay. Chân tay không, hàng ngày tiếp-xúc với mọi hiện-tượng thiên-nhiên, nhân loại bắt đầu sợ hãi đối trước những mãnh-lực vĩ-đại của vũ-trụ. Từ sợ hãi họ đi đến suy-tôn thờ kính. Từ lòng kính sợ ấy sinh ra có tục nhân-cách-hóa các mãnh-lực thiên-nhiên, và đồng-thời, vì hàng ngày lặn chìm nơi rừng núi, thân-mật với các mãnh-lực và cũng vì mục-đích thực-tiễn sống còn, lại nhân sẵn có sức cảm-thông tự-nhiên với hoàn-cảnh, người ta nhân-cách-hóa những mãnh-lực thiên-nhiên trong sự cầu tụng. Trong sự cầu-tụng ấy người ta tìm cách làm thỏa-mãn những mãnh-lực thiên-nhiên coi như những linh-hồn tương-tự với mình và rồi người ta tìm bắt chước để thâu lượm, tư-hữu những mãnh-lực ấy cho mình. Đấy là con đường tín-ngưỡng vật-linh đưa đến tín-ngưỡng ma-thuật của các dân-tộc du-mục xưa cũng như nay. Bên cạnh việc nhân-cách hóa các mãnh-lực thiên-nhiên đẻ ra tín-ngưỡng thiên-nhiên vật-linh, vật-tổ, còn có cả một ma-thuật, như phù-trú, để đồng-hóa các mãnh-lực thiên-nhiên vì mục-đích thực-tiễn.

Người ta không thể đồng-hóa hay nhân-bản hóa thiên-nhiên, nếu không gần-gũi thiên-nhiên, cảm-thông đồng-điệu tham-gia vào thiên-nhiên như cùng một thể. Đấy là cái trực-giác « vạn-vật nhất-thể » nó làm nguồn-gốc cho cái tín-ngưỡng vật-linh, vật-tổ với hậu-quả của nó là ma-thuật vì biết trực-giác là thể-hiện và thể-hiện là quyền-năng. Một đoàn-thể tôn-sùng một hiện-tượng thiên-niên làm vật-tổ, thì coi mình là cái vật-tổ ấy, có tất cả cái xấu cũng như cái tốt của vật-tổ. Nếu vật-tổ là con thú nào thì đoàn-thể tự coi mình có những tính-tình và năng-lực của con thú ấy. Đấy là tinh-thần ma-thuật vật-linh của nhân-loại cổ sơ, cho sự biết là thể-hiện hai vật tham-gia vào với nhau chứ không đối đãi chủ với khách, vì tính-tình chất-phác, trí-thức chưa phát-triển, họ chưa ý-thức được mình biệt-lập với hoàn-cảnh. Từ cái tâm-hồn dễ thông-cảm ấy mà nẩy-nở các vần thơ để ca-tụng đồng-thời cúng cầu. Và cũng tự cái tâm-hồn chất-phác ấy mà có sự mê-tín về ma thuật.

Ma-thuật là khả-năng biến-hóa ở thiên-nhiên. Tự nó không có gì là mê-tín hay hoang-đường vì sức biến-hóa của thiên-nhiên thì vô cùng mà khoa-học ngày nay mới giải-thích được và xử-dụng được một phần nào.

Sở-dĩ có mê-tín ma-thuật là người xưa gán cho những nguyên-nhân bí-mật đứng bên ngoài hiện-tượng để điều-động những hiện-tượng một cách hỗn-độn vô trật-tự, ngẫu-nhiên tùy theo ý-muốn quỉ-thần xấu hay tốt. Họ không tìm ở tại bản tính của sự-vật để giải-thích và tìm-hiểu lý-do ví như quả táo rơi vì có ma quỉ ẩn trên cây đã tinh-nghịch ném quả táo, chứ không phải ở bản-tính quả táo có cái sức hấp-dẫn với mặt đất.

Nhưng không phải tâm-hồn chất-phác cổ-xưa đều mê-tín. Có những hạng tiên-tri ẩn-dật nơi thâm-sơn cùng-cốc đã cảm-thông với thiên-nhiên và thực-nghiệm ở nội-tâm các ngài trong trầm-tư mặc-định cái bản-tính đồng-nhất-thể với toàn-thể thiên-nhiên. Trên con đường nội-tỉnh ấy các ngài cùng tuyên-bố, ở nhân-loại có những khả-năng biến-hóa vô cùng như ma thuật.

Lão-tử viết ở Đạo-Đức-Kinh :

« Bất xuất hộ-tri thiên-hạ.

Bất hành nhi tri

Bất kiến nhi danh

Bất vi nhi thành ».

« Không ra khỏi cổng mà biết thế-giới

Không đi mà biết

Không thấy mà gọi được tên

Không làm mà nên »

Hay là :

« Lục hành bất ngộ hủy hổ.

Nhập quân bất bị giáp binh ».

« Đi trên đất không gặp hổ báo tê-giác

Vào trong chiến trận không bị giáp binh. »

Tóm lại đấy là các phép thần-thông của các đạo-sĩ trong các đạo thờ thiên-nhiên. Họ lập ra cả một khoa tu luyện, để biến-hóa năng-lực sinh-lý ra năng lực thần-thông và tâm-linh, căn-cứ vào một khoa siêu-tâm-lý-học.

Ở thời nhà Lý tín-ngưỡng thiên-nhiên đã nối đạo Lão và đạo Phật với ngành Thiền-Tôn, cho nên ở triều-đình cũng như trong giới trí-thức người ta thấy lưu-truyền nhiều chuyện về thần-thông của các nhà Thiền-sư, nào chuyện Nguyễn-Bông, Giác-Hoàng, Từ-Đạo-Hạnh, Lê-Văn-Thịnh, sư giáng-hổ, giáng-sấm, thủy-cung gọi nước v.v… Nay chỉ xin kể lại sự-tích nhà Thiền-sư Từ-Đạo-Hạnh để thấy tư-tưởng ma-thuật, tư-tưởng linh-hồn và tư-tưởng tâm-linh trà-trộn với nhau mật-thiết.

Từ-Đạo-Hạnh mà nay có tượng thờ ở chùa Láng là nơi danh-tiếng gần Hà-nội, vốn là con Từ-Vinh nguyên làm chức Tăng-quan-đô-sát đã Trụ-trì chùa này từ đời Lý-Nhân-Tôn (1077-1127). Vinh từng du học ở làng Yên-Lãng (làng Láng) cho nên gọi là chùa Láng, và Từ-Đạo-Hạnh là Đức-Thánh-Láng.

Từ-Vinh lấy vợ họ Tăng, Tăng thị sinh con trai là Từ-Lộ, tức là Từ-Đạo-Hạnh, Ít tuổi Từ-Lộ có tính ngông-nghênh, ngày thường ông kết bạn với nho-giả Phi-Sinh, Đạo-sĩ Lê-Toàn-Nghĩa và con hát Vi-Ất. Tối thì chịu khó đọc sách, ngày thì đánh cầu thổi sáo, đánh bạc làm vui. Cha Từ-Vinh thường trách là lười biếng. Một đêm cha lén vào phòng ngủ dòm trộm, thấy đèn chong suốt đêm, sách vở chồng đống. Từ-Lộ thì tựa án ngủ, tay không buông sách, từ đấy cha không lo nữa.

Sau Từ-Lộ dự kỳ thi Tăng-quan, liền đỗ thứ nhất khoa thi Bạch-Liên-khoa, cũng như cha thủa trước. Bạch-Liên vốn là tên một tôn trong Phật-giáo do nhà-sư Tuệ-Viễn đời Tấn (265-419) bên Tầu tổ-chức một xã Bạch-Liên, lấy « qui y tịnh độ » làm tôn-chỉ. Về sau dòng này biến thành một dòng mượn đạo Phật để lợi-dụng phép « sấm vĩ phù lục » là phép ma-thuật.

Từ-Vinh thường dùng tà-thuật quấy Diên-thành-Hầu. Hầu nhờ Pháp-sư Đại-Điên dùng phép đánh chết. Thần tích chùa Láng, chùa Thầy và các nơi thờ Từ-Đạo-Hạnh có nói rằng Từ-Vinh dùng phép tàng hình lẩn vào trong hậu cung của Diên-thành-Hầu để ghẹo cung-phi. Hầu nhờ Đại-Điên bắt. Một hôm Đại-Điên lấy gio rắc trước cửa phòng cung-nhân rồi đọc chú, vẽ bùa và giao cho cung-nhân một cuốn chỉ ngũ-sắc. Đại-Điên dặn cung-phi rằng nếu Vinh tới thì lấy chỉ buộc vào lưng rồi hô-hoán lên. Vinh tàng thể, nhưng mắc vào lưới phép không chạy được. Y bèn biến hình làm con dán và trốn vào vách. Đại-Điên tới tìm mãi không thấy, sau thấy có râu dán thò ra. Đại-Điên bèn cầm râu kéo ra thì là một con dán trắng. Đại-Điên đánh chết, lại hiện ra thây người là Từ-Vinh. Cứ theo « Thiền-uyển tập-anh » thì sau khi đánh chết, Đại-Điên vứt thây nhà sư phá-giới xuống sông Tô-Lịch. Thây trôi đến cầu Vu-Quyết, trước nhà Diên-thành-Hầu thình-lình đứng dựng lên mà trỏ tay vào nhà Hầu tỏ vẻ về sau thù tất báo. Hầu sợ hãi liền đi tìm Đại-Điên Pháp-sư. Pháp-sư đọc câu kệ rằng : « Tăng hận bất cách túc, Thầy tu có giận ai không để qua đêm khác. » Tức thì cái thây ngã xuống và trôi đi.

Từ khi Từ-Vinh phạm-tội, vợ con bị tróc nã, thì Từ-Lộ với mẹ trốn về cố hương ở làng Phục-Lạp ở tỉnh Sơn-Tây. Từ đấy để ý trả thù cho cha, cắt tóc làm tăng, tìm thầy học đạo. Giữa đường gặp Nguyễn-chí-Thành tức là Nguyễn-minh-Không cùng môn-học Phật. Hai người kết bạn đi thăm cảnh Hương-tích tức chùa Hương ở hạt Hà-Đông, được đức Quan-thế-Âm hiện hình trỏ đường lên núi rồi truyền đạo trao phép. Sách Lĩnh-Nam-Trích-Quái chép rằng : « Từ-Lộ định đi đến nước Ấn-độ cầu-thuật linh-dị, giữa đường đến nước Kim-xỉ-Man (Vân-Nam) thấy hiểm trở bèn về tu ở chùa Phật-tích (Sài-Sơn thuộc Quốc-Oai Sơn-Tây bây giờ) ».

Sách Sự-Tích Thực-Lục chép rằng : « Từ-Lộ một hôm rình được Đại-Điên đi ra, làm phép lấy gậy đánh bóng Đại-Điên, nhưng nghe thấy trên không-trung có tiếng thét lên : Thôi ! Thôi ! Lộ vứt gậy về nhà, thương nhớ đến cha, càng tức giận, muốn đi đến Ấn-độ bên Tây-Thiên cầu phép linh-dị. Bấy giờ cùng bạn là Minh-Không và Giác-Hải đều đi đến Kinh-xỉ-Man đường lối hiểm toan trở về. Thấy một bà già ngồi cái thuyền con trên mặt sông. Lộ hỏi : Độ bao lâu nữa thì đến Tây-Thiên ? Bà đáp : « Hiểm-trở không đi được nhưng lão có cái thuyền nhỏ có thể chở đi và có cái trượng nhỏ có thể thẳng sang Tây-Thiên được ». Bà cho mượn thuyền và trượng rồi đọc kệ tiễn đi. Vụt chốc ba người đều đến Tây-Thiên. Từ-Lộ giữ thuyền, Minh-Không và Giác-Hải lên bờ đi học phép, được rồi về ngay trước. Lộ đợi trong thuyền ba ngày chẳng thấy hai bạn trở về, chỉ thấy một bà già vơ-vẩn đến bờ sông. Lộ hỏi : « Bà có thấy hai gã đi cầu đạo không ? » Bà ấy đáp rằng : « Hai người ấy đã được ta dạy phép thiêng đắc-đạo trở về rồi ». Bà lại bảo Lộ gánh hai thùng nước về nhà rồi dạy cho phép thiêng gồm cả phép xúc-địa (rút đường) nữa, cùng lời chú Đà-La-Ni là mật-ngữ của chư Phật Bồ-Tát tóm đủ mọi đức. Lộ mới đọc thần-chú làm cho Minh-Không Giác-Hải giữa đường đau bụng, rồi hiện-hành phép xúc-địa để đi lên trước. Đến cầu Ngái tức Ngải-Cầu-Xã (Hà-Đông) Lộ hóa hình con hổ gầm bên trong bụi để nhát hai bạn. Nhưng họ cũng học được phép thiêng biết ngay là Lộ lộng phép giả hình, bèn cùng nhìn nhau bảo rằng : « Bạn muốn thân này, kiếp sau sẽ được thân ấy ». Lộ tức thì hiện hình nói lại : « Chúng ta cùng được đức Thế-Tôn truyền đạo. Nếu hậu-thân tôi phải xuống thế gian ở ngôi nhân-chủ quyết không tránh khỏi quái bệnh, tôi với bạn đã có duyên, nguyện lại cứu cho ».

Sài-Sơn Thắng-Tích-Tạp-Chí chép rằng :

« Khi Từ-Lộ và Minh-Không đã được đức Quan-Âm trao cho phép-thuật, hai thầy thử lẫn nhau. Minh-Không đi vài trăm bước lên trước giả làm mỏi mệt ngồi dưới gốc cây lớn. Từ-Lộ chẳng đoái lại và cứ sấn bước đi lên ước chừng một dặm, rồi nắm tay quyết hóa làm con dao rạch bụng lôi ruột và hóa thành con hổ đói gầm thét chực bắt người. Minh-Không biết là Từ-Lộ hóa hình, nhưng giả làm không biết, cứ lướt qua. Vì tình bè bạn không nỡ dùng phép thuật yểm trừ, Minh-Không chỉ vạch đất làm thành để tránh miệng hổ, phàn-nàn như rủa rằng : « Đạo-Hạnh học đạo cầu tiên lại muốn làm giống thú dữ ! Sau này sẽ phải chịu kiếp ấy ! » Từ-Lộ sợ, lại hóa-thân như cũ, lạy bạn vừa khóc vừa nói : « Trót dại quá vui thử phép, sau nếu phải chịu quái bệnh thì nhờ bạn cứu cho ! »

Từ-Lộ từ biệt Minh-Không và Giác-Hải trở về tu-luyện ở chùa Thiên-Phúc núi Sài-Sơn (Sơn-Tây), ngày thường Từ tụng chú Đại-Bi-Tâm Đà-La-Ni niệm đủ một vạn tám nghìn lần, mỗi lần ngắt một cành thông làm ghi đến nỗi hai cây thông trồng quang không. Một vị thần tự-xưng Tứ-Trấn-Thiên-Vương cảm công phu trì tụng ấy lại hầu. Từ-Lộ đã tự-phụ mình đã túc-trí thần-thông bèn quay về Yên-Lãng để trả thù cho cha. Khi đến cầu Yên-Quyết, Vu-Quyết làng Cót trên sông Tô-Lịch, Lộ phóng cái trượng trên mặt nước, trượng đứng xửng lên rồi đi như bay ngược lên cầu Tây-Dương là chỗ xưa kia cái thây Từ-Vinh đứng trước nhà Hầu-Điên-Thành. Mừng rằng phép của mình thắng được phép của Đại-Điên, Lộ đi thẳng đến tận nơi, thì Đại-Điên nhắc lại việc trước. Lộ mới trông lên trời thấy yên lặng bèn đánh chết Đại-Điên rồi vứt xác xuống Tô-Lịch. (Vì thế nên hàng năm cứ ngày hội chùa Láng, có lệ rước thánh giá qua chùa Yên-Quyết, Dịch-Vọng là chùa của Đại-Điên trụ-trì để diễn lại việc đánh nhau).

Sau khi thù cha đã sạch, Từ-Lộ đi thăm các từng-lâm để tham-thiền học đạo, rồi lại trở về núi Sài-Sơn tu luyện, một ngày một đắc-đạo hơn, sai khiến được cả sơn-cầm dã-thú và ra tay phù-lục chữa bệnh hiệu-nghiệm như thần.

Còn Đại-Điên thì xác theo dòng sông trôi đến bãi Trung-Loan thuộc địa phận Trường-An-Lương (Ninh-Bình). Dù xác thịt đã nát, tinh-phách hãy còn, hóa thành đứa tiểu-đồng ở trong mo cây cau ngã xuống, biết nói ngay, tự-xưng là Giác-Hoàng (Vua Giác tức là Phật). Vào năm Ất-Vị (1115) đời vua Nhân-tôn dân Thanh-Hóa, vì Trường-An bấy giờ thuộc xứ này, mới tâu vua biết. Vua sai đi xem quả-nhiên thông minh tú lệ, bèn truyền cho đưa về ở chùa Báo-Thiên, chỗ hiện nay là nhà thờ lớn Hà-nội. Vua định dùng Giác-Hoàng làm Hoàng-Thái-Tử, quân-thần đều can-ngăn, nói nếu Giác-Hoàng thật có linh-dị thì nên đầu thai vào cung. Vua cho lập đàn Thác-thai ở chùa Báo-Thiên. Ông Hoàng-Xuân-Hãn đã dịch đoạn sự-tích này ở « Việt-sử-lược » đời Trần và « Thiền-Uyển Tập-Anh-Ngữ-Lục » như sau :

« Vua mới sai đặt trai-đàn trong cung, muốn sai Giác-Hoàng đầu thai để làm con mình. Có vị sư ở núi Phật-Tích tên Từ-Lộ hiệu Đạo-Hạnh nghe tin ấy lấy làm lo. Sư bèn giao cho em gái vài hạt châu có làm phép và dặn rằng : « Đến xem hội hãy dắt châu vào mái nhà, đừng để ai thấy ». Từ-thị làm đúng như lời. Bỗng-nhiên Giác-Hoàng phát cơn sốt mà ốm. Y bèn nói với người ta rằng : « Ta thấy trong nước lưới sắt bày la-liệt khắp cả không có lối nào vào cung để thác sinh ».

« Vua sai lục tìm khắp trong chốn trai đàn thì thấy mấy hạt châu mà Từ-thị đã giấu. Vua sai bắt Từ-Lộ trói ở hành lang Hưng-Thánh rồi toan kết tội chết. Nhân lúc ấy có em vua là Sùng-Hiền-Hầu vào chầu vua. Từ-Lộ thấy kêu van thảm-thiết rằng : « Mong Hiền-Hầu cứu bần-tăng được thoát thì sẽ làm con Hầu để báo đức ». Sùng-Hiền-Hầu nhận-lời. Vào thăm vua, Hầu tìm cách cứu Đạo-Hạnh. Hầu nói : « Nếu Giác-Hoàng quả có thần-lực mà lại bị Từ-Lộ làm phép yểm được, thì Lộ chẳng giỏi hơn Giác-Hoàng hay sao ? » Sự ấy đã rõ, tôi nghĩ rằng : Chi bằng vua cho phép Lộ vào thác-sinh. Vua bèn tha cho sư. Còn Giác-Hoàng thì bệnh thành nguy-kịch. Y dặn người chung quanh rằng : « Sau khi ta mất hãy dựng tháp ở Tiên-Du để táng ta ».

Rồi Sùng-Hiền-Hầu đưa Lộ về nhà. Lộ xin nguyện thác-thai rồi hiện hình ngay trong thùng nước tắm cho phu-nhân cảm-động rồi dặn rằng bao giờ sinh nở cho biết trước. Theo Đại-Việt Sử-Ký Toàn-Thư thì năm Hội-Tường Đại-Khánh thứ ba (1112) vua Nhân-Tôn nhiều tuổi rồi chưa có con, muốn chọn con anh em vào thừa-tự. Em là Sùng-Hiền-Hầu cũng chưa có con. Nhân gặp Sư thần-núi Thạch-Thất là Từ-đạo-Hạnh đến nhà Hầu cùng bàn việc cầu-tự. Đạo-Hạnh bảo bao giờ phu-nhân đến kỳ sinh nở thì sẽ đến báo trước. Ý giả sẽ vì phu-nhân cầu đảo đức Sơn-Thần chăng ? Sau ba năm phu-nhân có mang tới kỳ sinh-sản thấy khó, Hầu sai người đến bảo cho Đạo-Hạnh biết, thì Đạo-Hạnh lập-tức tắm rửa thay sống áo vào trong động thoát xác để lại mà đi. Phu-nhân đẻ ngay con trai là Dương-Hoán.

Cứ sự-tích Thực-Lục, sau khi Đạo-Hạnh di-chúc và đọc-kệ với môn-đồ, lên trên động gục đầu vào vách đá, đạp chân bàn đá rồi nghiễm-nhiên hóa đi, dấu vết hãy còn. Nhưng có thuyết cho rằng Đạo-Hạnh chơi trên núi Phật-Tích (Sài-Sơn) thấy trên mặt đá trắng có vết chân người, Đạo-Hạnh lấy chân mình in vào thấy đúng, tục lại ngoa-truyền là thi-giải. Sử cũng chép rằng dân làng thấy làm lạ bèn đem thây Đạo-Hạnh vào khám để thờ, rồi mỗi năm cứ 7 tháng 3 mở hội coi như ngày giỗ. Lúc thời Vĩnh-Lạc khoảng năm 1407-1428 nhà Minh, quân Trung-Hoa sang chiếm đóng Bắc-Việt, đốt mất thây Đạo-Hạnh, dân lại tô tượng lên thờ.

Dương-Hoán sinh năm Hội-Tường Đại-Khánh thứ 7 (1116) năm sau lên hai được chọn vào nuôi trong cung, dựng lên là Hoàng Thái-Tử, khi vua Nhân-Tôn gần mất có ký-thác vào đình-thần Lê-Bá-Ngọc giúp cho Hoàng-tử lên ngôi vào năm đầu Thiên-Phủ Khánh-Thọ (1127). Bấy giờ Dương-Hoán đã 12 tuổi, lớn lên cũng hay chính-sự nhưng tin phù-độ, tự-tôn sinh-phụ Sùng-Hiền-Hầu là Thái-Thượng-Hoàng và sinh mẫu Đỗ-thị làm Hoàng-Thái-Hậu. Sau vua mắc ác tật thầy thuốc nào cũng vô hiệu, được Sư Minh-Không chữa cho mới khỏi. Minh-Không được tôn làm Quốc-Sư và nhà vua tha thuế cho vài trăm hộ làm hộ-nhi (1136).

Tương truyền rằng khi thầy Đạo-Hạnh sắp thi-giải để đầu-thai có câu chú vào thang thuốc phó cho đệ-tử Nguyễn-Chí-Thành tức là Minh-Không rằng : « Sau hai mươi năm hễ thấy quốc-vương có bệnh lạ sẽ chữa cho được ngay ».

Theo Lĩnh-Nam-Trích-Quái thì vua mắc bệnh mê loạn tâm thần, gầm lên như sấm, hoặc truyền rằng hóa ra hổ.

Bấy giờ có tiểu-đồng hát :

Muốn chữa bệnh đấng con trời

Phải tìm được Khổng-Minh-Không.

Hoặc ở dân-gian có câu :

Tập tầm vông ? Tập tầm vông ?

Có ông Khổng-Minh-Không

Chữa được Thần-Tông Hoàng-Đế ?

Triều-đình liền cho đi dò hỏi, rước ngài Minh-Không về kinh. Khi Ngài đến kinh thấy có nhiều tăng-sĩ, pháp-sư lương-y xúm nhau lại bàn bạc để chữa bệnh cho Hoàng-Đế. Thấy ngài quần nâu áo vải quê kệch, các người kia đều tỏ vẻ khinh-bỉ vì ngờ-vực. Ngài chào hỏi xong lấy một cái đinh dài năm tấc đóng vào cột mà bảo : « Ai nhổ được cái đinh này mới chữa được bệnh cho Thiên-Tử ». Nhưng không ai làm được. Ngài mới khẽ rút lên thì cái đinh tuột ra rất nhẹ. Bấy giờ mọi người mới kinh sợ để ngài tự-ý chữa bệnh cho vua.

Khi vào thăm bệnh vua, ngài thét to lên rằng : Đại-trượng-phu đứng đầu muôn dân, trị vì bốn bể sao lại làm cách cuồng loạn như thế ?

Vua Thần-Tôn trong cơn mê, nghe nói giật mình kinh hãi và không lồng-lộn gầm-thét nữa. Minh-Không mới truyền đun một vạc dầu sôi bỏ cái đinh ban nãy vào làm phép, sau đem tắm cho vua thì bao nhiêu lông rụng cả và bệnh cũng khỏi dần.

Cách hai năm sau vua lại ốm nặng và mất ở đền Vinh-Quang, mới 23 tuổi, vào năm 1138.

Từ ngày vua Thần-Tôn thăng-hà chỗ nhà cũ của Từ-Lộ Từ-Vinh trong chùa Yên-Lãng (chùa Láng) thường thấy khí thiêng nhức-động, dân làng kinh-dị bèn tâu lên triều-đình. Vua Anh-Tôn đặc sai người đến tế, rồi triều-đình cho sửa chữa lại chùa và ban cho hiệu là Chiêu-Thiền-Sư có nghĩa là Rõ-đạo thiền.

Di-tích Từ-đạo-Hạnh sang Tây-Thiên học phép thiêng còn ở hòm Châu-Kinh để ở trong chùa. Vào đời Thịnh-Đức thứ tư (1656) chúa Trịnh Thanh-Đô-Vương tức là Trịnh-Tráng có đến chùa xem sự tích rồi mở hòm kinh thấy bốn lá đồng-thư đều viết chữ Thiện, chúa cho sao tả xong rồi lại biến mất còn lại giấy trắng. Chúa chuẩn cho dân làm tạo-lệ giữ chùa. Lịnh-dụ còn khắc trong bia tạo-lệ của Bản-tự hiệu số văn-bia 432-433 trong thư-viện Viễn Đông Bác-Cổ.

Theo tờ trình lên viện Viễn-Đông Bác-Cổ ngày 10-9-1947 của dân làng Yên-Lãng, tập đồng thư mới bị mất sau ngày tác-chiến 26-12-1946 tại Hà-nội.

Trên đây là cả một câu chuyện có vẻ nửa thực nửa hư, nửa thần-thoại, nửa lịch-sử, mà nhân-dân truyền-tụng, mà sách vở ghi chép. Coi như một tài-liệu phản chiếu tư-tưởng của thời-đại chúng ta hãy xét xem sự dung-hòa ba nền tín-ngưỡng ở thời nhà Lý thực-trạng như thế nào.

Trước hết là trong câu chuyện tư-tưởng pháp-thuật thuộc về tín-ngưỡng thiên-nhiên với tư-tưởng linh-hồn thuộc về tín-ngưỡng tổ-tiên đã luôn luôn gặp-gỡ pha trộn làm cho tính-cách mâu-thuẫn của hai loại tín-ngưỡng hầu như mất cả biên-giới.

Một ngôi chùa mà thờ một vị sư coi như một vị Thánh với tượng nhà vua đứng đàng trước, vị Sư Thánh đứng liền đàng sau, đấy đã là một sự lạ. Rồi đến việc Từ-Vinh dùng pháp-thuật làm việc dâm đãng để bị một vị pháp-sư cao tay khác đánh chết ! Ở đây ta thấy rằng trong tín-ngưỡng thiên-nhiên chuộng về ma-thuật cũng còn có đường tà đường chính. Năng-lực sinh-lý ở trạng-thái bản-năng tình-dục có thể trở nên một sức mạnh động cơ ghê gớm, nó có thể thúc đẩy người ta càng thêm dâm-dục, nó có thể được siêu hóa thành năng-lực tinh-thần để trị tà-ma được, khi nào ở một bản-lĩnh chân-chính như Đại-Điên chẳng hạn.

Nhưng Từ-Lộ phải trả thù cho cha tìm đánh chết Đại-Điên, dù biết cha có lỗi, thế là ý-nghĩa gì ? Khổng-tử nói ở Luận-Ngữ trả lời kẻ tố cáo cha ăn trộm dê, vì tính chính-trực, vì công-lý rằng : « Người chính-trực của phái ta khác, dẫu cha có lỗi thì con giấu cho cha, mà con có lỗi thì cha giấu cho con, chính-trực ở tại bên trong ». Bởi vậy mà Từ-Lộ chịu ảnh hưởng đạo Nho, không biết đến cái lỗi của cha, chỉ biết làm con phải trả thù cho cha, là Từ-Vinh, ngõ-hầu rửa sạch oán-hận để linh-hồn cha mình được siêu thoát. Hành-động trả-thù cho người thân vừa thuộc về tín-ngưỡng nghiệp-báo, vừa thuộc về tín-ngưỡng linh-hồn tổ-tiên. Nghiệp-báo là một tín-ngưỡng cố-hữu của các dân-tộc cổ-xưa mà sau Phật-giáo đã đồng-hóa vào làm cương-lĩnh cho giáo-lý giải-thoát. Có rửa sạch nghiệp trong lòng thì mới giải-thoát được, bằng không thì nhắm mắt không xong, dù có chết ở thể-xác mà hồn còn vơ-vẩn không đi thoát. Nhưng đạo Phật không cho phép « Tăng hận cách túc », nhà sư không được oán hận qua sang đêm khác kia mà ! Như vậy Từ-Lộ cốt đi học phép thuật bảo là Thế-Tôn và Quan-Thế-Âm, hai vị đại-diện cho đức Từ-Bi Bác-Ái thì đã đi sai cả chủ-trương của Phật-giáo. Vả lại ngay cả ở đạo Lão phát-triển tín-ngưỡng thiên nhiên, tin khả-năng ma-thuật mà theo Đạo-Đức-Kinh cũng « lấy đức báo oán » « Báo oán dĩ đức » làm tôn chỉ hành-vi, thì hành-động trả thù cho cha của Từ-Lộ không phải theo giáo-lý của Phật hay của Lão, mà là theo giáo-lý gần với Khổng-Nho thờ tổ tiên vậy. Ở đấy chúng ta thấy cách dung-hòa Tam-giáo trên phương-diện thực-tiễn, không quá lý-tưởng mà gần với thực-tế. Thù cha gần với lòng người con có hiếu là bổn-phận làm người, có làm tròn bổn phận làm người thì mới mong thành Tiên, thành Phật, Từ-Lộ thi-hành đạo-lý từng giai-đoạn. Cho nên sau khi trả được thù rồi thì mới nhất-quyết đi tu Thiền và đem pháp-thuật để chữa bệnh.

Về việc đầu thai chúng ta cũng thấy cùng một tinh-thần thực-tiễn dung-hòa cả tư-tưởng vật-linh (hiện vào thùng tắm), tư-tưởng đền ơn của luân-lý Nho với tư-tưởng giải thoát Thiền-tôn (Thi-giải).

Ba hệ-thống tín-ngưỡng ấy ở Từ-Đạo-Hạnh hầu như không có biên-giới cách-biệt mà có thể chung sống, như ba trình-độ tiến-hóa hay siêu-hóa từ vật-lý qua tâm-lý đến tâm-linh của một quá-trình sống-động.

Nhưng dù sao chúng ta cũng nhận thấy sự quá chú-trọng về pháp-thuật là một trình-độ kém vô-tư trong đạo-học của một nhà sư. Và ngoài giới đi tu chân-chính thì nhân-gian nghe thấy pháp thuật sẽ trở nên mê-tín và cuồng-loạn. Việc nhà vua bị thác loạn tinh-thần há không phải vì quá tin vào pháp-thuật đó ư ? Pháp-thuật thiên-nhiên tuy-nhiên vô-hạn và có thể có thật đấy, nhưng thiên-nhiên cũng ở tại chính bản-thân mình nữa. Làm chủ được pháp-thuật thiên-nhiên bên ngoài mà chính bản-thân không làm chủ được thì người sẽ bị ngoại vật dịch-sử. Đấy không phải lý-tưởng của nhân-loại là giống tối-linh trong trời đất. Nó hướng về mục-đích tự-do, làm chủ-động trên mặt đất. Cho nên cuối cùng vẫn là nhân-loại tiến tới trình-độ phản-tỉnh tự mình ý-thức lấy mình, làm chủ được mình để tìm tiến lên mục-đích chí công vô-tư mới thực là chính-đáng. Chắc triều-đình nhà Lý đã có người hiểu như thế, cho nên trong một bài văn-sách khoa-cử về đạo Lão, mới hỏi rằng :

« Ngày nay dương hanh vừa thời, khí tà chẳng phạm, chính là ngày trong nước thái-bình, càng muốn cho đời này, dân này đều vào trong đài xuân, cùng bước lên cõi thọ, thì phải dùng thuật gì để cho được tới nơi ? Hãy nói rõ ra để xem cái học giúp đời ra thế nào ? ».

Và trong một bài làm có đoạn rằng :

« Thi hành tiểu-đạo vốn đã có thuật, mà kinh-nghiệm sự hành đạo cốt ở lòng chính. Bởi vì lòng có chính thì nghệ mới tinh, nghệ có tinh thì đức mới trọng. Lấy đó mà cứu dân thì đời này, dân này đều vào trong đài xuân cõi thọ, chẳng khó khăn gì…

« Bậc đại-phạm cứu dân vốn đã có thuật thiêng, mà bụng yêu dân đều trong một lòng. Nếu trước hết chính lại lòng thì bọn tà-mị không thể rục-rịch, trước hết chính lại thân thì khí tà không thể xâm-phạm. Lòng đã chính rồi thì lấy đó mà ra ơn cho dân ; nuôi kẻ không bị thương, giúp kẻ không bị nguy, dắt kẻ không bị khổ, khi đó dân-gian đều yên vui giầu-thọ. Thân đã chính rồi thì lấy đó giúp chúng, kẻ nguy được yên, kẻ đuối được vớt, kẻ chết sống lại, khi đó dân đều được sung sướng về khí-hòa âm quang, như thế thì đời này, dân này được hớn hở trèo lên đài xuân, được vui mừng bước lên cõi thọ. Ấy mới là « dài lâu được cái mệnh mạch của sinh dân, mạnh mẽ được cái nguyên-khí của nhà nước ». Lời ấy đến nay mới nghiệm. Xét cái lẽ sở dĩ-nhiên chẳng phải bởi cái thuật chính lòng, chính thân sao ? » [6]

Như vậy đủ thấy cái trình-độ sáng-suốt của một trí-thức đương-thời tin rằng : « Một lòng chính trực muôn quỉ nép hình, mà khí tà chẳng phạm ». Đấy chẳng là một tín-ngưỡng chân-chính lắm sao ? Không tin ở sức bên ngoài mà phải tìm vào nguồn gốc bên trong ở nơi thâm-tâm để phụng sự lý-tưởng nhân-sinh trước hết.

Phương-ngôn Việt-Nam chẳng có nói :

Đừng ngồi chiếu lệch giường nghiêng

Ở cho chính đính cũng thiêng bằng thần

Giữ cho thân chính, cho tâm chính đấy là bước đầu và cũng là bước cứu-cánh của đạo-lý là quan-niệm minh-bạch chân-chính và đạt tới cái chân-chính. Và cái chân-chính ấy khi biết trở về tìm ở nơi tâm và sống hiện thực ở nơi tâm đấy là tín-ngưỡng tâm-linh thực-nghiệm của Tâm-Giáo vậy. Vì căn-cứ vào thực-nghiệm ấy, xây-dựng đức tin vào sức thấy trực-tiếp của con mắt tinh-thần về thực-kiện tâm-linh, cho nên một vị Hòa-thượng đời Trần, tên là Như-Nguyệt thuộc giòng thiền-tông Tào-Khê ở Việt-Nam, với một giọng chí-thành đã dung-hợp Tam-giáo như sau :

« Trong nơi danh-giáo có ba

Nho hay giúp nước sửa nhà trị dân

Đạo thời dưỡng khí an thần

Thuốc trừ tà bệnh chuyên cần luyện đan.

Thích độ nhân miễn tam đồ khổ

Thoát cửu-huyền thất Tổ siêu-phương.

Nho dùng Tam-cương Ngũ-thường.

Đạo gìn Ngũ-Khí giữ giàng Ba-Nguyên,

Thích giáo nhân tam qui ngũ giới.

Thể một đường xe phải dùng ba.

Luận chung Thánh-Tổ Nho-gia

Trong đời trị thế người là Nhân-sư

Sao bằng Đâu-xuất vị cư,

Lão-quân thiên-chủ đại trù dược phương

Phật là vạn-pháp trung vương

Làm thầy ba giới đạo trường Nhân-Thiên

Những thánh hiền nguồn nhân bể quả

Xưa tu hành trí đã rộng cao

Trong nơi ba giới ra vào

Mười phương trí-thức ai nào khả nghi ! »

(Việt-Nam Phật điển tùng san

Hà-nội Viễn-Đông bác cổ học viện – Hà Nội.

Bắc-Kỳ Phật-giáo tổng hội phát-hành)

- Vậy Nho chú-trọng vào liên-hệ Người với Người.

- Đạo chú trọng vào liên-hệ Người với Thiên-nhiên.

- Phật chú-trọng vào liên-hệ Người với Siêu-nhiên.

Làm sao nối lại cảnh hiện-thực với cõi siêu-nhiên đấy là mục-tiêu tối cao, tối cổ và tối kim, của hoạt-động nhân-loại bất phân Đông Tây ở trí-thức khoa-học cũng như ở cảm hứng nghệ-thuật và ở tín-ngưỡng tôn-giáo. Chính-đấy là đối-tượng thực-nghiệm tâm-linh của tinh-thần « Tam-giáo Đồng-nguyên vạn-pháp nhất-lý » vậy.

Tinh-Thần Truyền-Thống Việt-Nam

Trở lại mấy trang sử cũ, ngày nay người ta chỉ biết nhắc nói đến những chiến-công oanh-liệt của Đức Thánh-Trần, hay ca-tụng cử-chỉ « Châu-chấu đá xe » của Lý-Thường-Kiệt, ít ai đã tự hỏi vì đâu mà có những trang-sử vẻ-vang đời Lý, đời Trần. Hẳn rằng không ai chối-cãi những bậc vĩ-nhân ấy, nếu không có tinh-thần đoàn-kết của cả một dân-tộc, quân dân nhất trí, đồng lòng, thì liệu có thể thành-công được chăng ? Một anh hùng lưu-danh thiên-cổ đã đại-diện cho biết bao anh-hùng vô-danh mà đời sau không biết. Lại cái tinh-thần quân dân một người kia đã lấy ở đâu cái khí-phách quật cường, cái đức-tính hy-sinh hòa thuận ? Đấy là quyền sống bắt buộc chăng ? Nhưng làm thế nào cho quyền sống riêng, tự có thể nhượng-bộ cho quyền sống chung ; ấy là bí-quyết, và cái bí-quyết ấy không thể đừng nghĩ đến tinh-thần Phật-giáo đã long thịnh khắp từng lớp xã-hội Việt-Nam ở thời đại nhà Lý, nhà Trần. Phật-giáo ở xứ này quả như lời ông Phạm-Quỳnh đã viết : « đã có những cỗi rễ sâu-xa ; nhưng được coi như Quốc-giáo thì ở các triều-đại lớn, Lý và Trần, thế-kỷ XI-XIII nó mới thực thịnh-vượng. Các nhà Vua đều có tín-đồ nhiệt-thành của Phật-giáo, những chùa rải-rác khắp nơi đến nay hãy còn di-tích, những Già-lam thì đầy những sư và tiểu. Thực là một thời đại hoàng-kim của Phật-giáo ở Việt-Nam ».

Sử chép rằng : « Ở thời Lý người tu hành nhan-nhản trong nhân-gian, chùa và tĩnh-thất mọc lên khắp trong nước. Và ở nhà Trần thì tại Triều-đình nhà vua là Hòa-Thượng, Hoàng-hậu là sư-ni, các công-thần vương-tử họp thành giáo-hội ».

Một phong-trào văn-hóa phổ-thông và lâu bền như thế làm thế nào khỏi ảnh-hưởng thâm-trầm vào tinh-thần dân-tộc. Nếu quả Phật-giáo có mầu yếm-thế chán đời, như thời nay người ta thường nói, thì làm thế nào tinh-thần dân-tộc Việt-Nam đã tỏ ra dũng-mãnh nhất ở thời-đại Lý, Trần, mà cuộc chiến thắng với quân Nguyên đã chứng-minh rõ-rệt ? Muốn giải thích điều nghi-vấn ấy, chúng ta chỉ cần giở lịch-sử Phật-giáo Việt-Nam và Khóa-hư-lục của Trần-thái-Tôn cũng đủ biện-bạch. Đọc đến bài tựa Khóa-hư-lục của Thái-Tôn bất giác chúng ta tưởng như đọc sự-tích Phật khi bỏ cung-điện, vợ, con đang đêm vào núi vậy :

« Năm Chánh-Bình thứ năm, giờ thân, tháng tư, đêm mồng ba, mặc áo thường ta, ra khỏi cửa cung gọi tả hữu mà bảo : Trẫm muốn ra chơi ngoài cung, ẩn nghe dư-luận của nhân-dân để xét chí-nguyện của dân, họa may biết được sự khó-khăn vất-vả. Đi theo lúc ấy chẳng qua bảy, tám người. Đêm hôm ấy giờ Hợi, một mình cưỡi ngựa đi trốn, sang sông đi về phía Đông. Sang rồi bèn nói rõ sự tình cho tả hữu biết. Tả hữu ngạc-nhiên cũng sa nước mắt mà khóc. Ngày hôm sau giờ Mão đi đến Đại-Than, bến đò Phả-Lại. Sợ có người ngoài biết, lấy vạt áo che mặt mà sang sông. Qua sông thì lần theo đường núi mà đi.

« Đến quá trưa, vào tạm nghỉ ở Chùa Giác-Hạnh. Sáng sớm lại đi, vượt ải qua đèo, lặn suối trèo non, mệt mỏi đến không sao tiến bước được nữa.

« Trẫm bèn xuống ngựa vịn đá mà đi. Đến giờ Mùi thì đến chân núi Yên-tử. Sớm hôm sau trèo lên đỉnh núi tìm gặp Quốc-Sư là Sa-Môn trong phái Trúc-Lâm. Nhà sư gặp thì mừng rỡ, thong thả nói với Trẫm rằng : « Lão tăng ở sơn dã đã lâu, xương cứng da mồi, ăn rau ăn hạt, uống nước suối chơi trong rừng, lòng nhẹ như mây nổi theo gió mà đến đây. Nay bệ-hạ bỏ địa-vị làm chủ nhân-dân, nghĩ đến kẻ hèn nơi rừng hoang này, quả có điều gì khích động mà đến đây chăng ? » Trẫm nghe nói hai hàng lệ tuôn rơi bèn bộc-bạch : « Trẫm nay còn thơ trẻ, đau đớn mất hai thân, một mình đứng đầu sĩ-dân, không có chỗ nương-tựa. Nghĩ lại đời trước sự-nghiệp của Đế-Vương hưng-phế không thường, cho nên trẫm vào núi này chỉ cầu tu Phật, không cầu được vật gì khác ».

« Núi vốn không có Phật, chỉ có ở Tâm. Lắng tâm mà thấy, đấy gọi là chân Phật. Nay Bệ hạ nếu giác ngộ Tâm ấy thì đứng ở trần-gian mà thành Phật không phải khốn khổ cầu Phật ở ngoài ».

Xem đấy đủ thấy tâm-sự một nhà Vua biết bao thiết tha về đạo-lý, chúng ta không còn khó hiểu vì sức đức-hóa của một chính-trị thân-dân, cho nên khí dân mới được hùng-mạnh, nhân-tâm trong nước mới khỏi chia lìa. Sở-dĩ có kết quả ấy là vì tinh-thần Phật-giáo Việt-Nam chuyên chú-trọng về Thiền ; mà đạo Thiền cố luyện tập lấy khí-lực tâm-linh để tập-trung vào hành động xã-hội nhân-sinh tức như đức tính « dũng » ở Khổng-học. Do đấy mà tinh-thần Phật-giáo ở Việt-Nam không những không gây xung đột với các môn tư-tưởng khác như Khổng, Lão mà lại còn đem lại cho người ta một quan-điểm rộng-rãi về tâm-linh-học. Mở đầu (Thiền tôn chỉ nam) của tác-giả Khóa-Hư chúng ta thấy ngay quan-điểm tổng-hợp đồng-nhất trong sai-biệt : « Phật vô Nam bắc quân khả tu cầu. Tính hữu trí ngu, đồng tư giác-ngộ » = « Phật không có chia ra Nam Bắc. Đã là Phật thì dù Nam Bắc nên cầu lấy cả. Tính con người có thông minh và ngu độn nhưng đều phải trông cậy vào sự giác-ngộ. »

Ngày nay tư-tưởng Phật-giáo ở Việt-Nam nên noi theo tiêu-chuẩn tâm-linh họat-động ấy, tưởng không hại gì cho khuynh-hướng bác-ái từ-bi của ngành Quan-Âm Bồ-Tát hay đạo-lý tình-yêu đại-đồng. Hơn nữa tinh-thần Phật-giáo Việt-Nam đời Lý, Trần có khơi nguồn khai mạch thì mới có thể dọn đường cho Văn-hóa Việt-Nam tiếp-thụ và đồng-hóa các trào-lưu văn hóa Cơ-Đốc hay khoa học ngày nay, ở thế-giới tương-quan vì nó căn-cứ vào thực-nghiệm tâm-linh, thỏa mãn cả lý-trí lẫn tình-cảm. Và chỉ có thực-nghiệm tâm-linh vượt lên trên các hệ-thống suy-luận của trí-thực với những khái-niệm trừu-tượng cố-định thì mới có thể dung-hòa theo tinh-thần « Đồng qui nhi thù đồ » 同歸而殊途, mà càng ngày càng mở-rộng triển-khai cho đức sáng-tạo. Đấy không còn là Phật, là Lão, hay Nho nữa, mà là một sự tổng-hợp hơn là một sự triết-trung, một sự vượt lên hơn là một sự cắt xén, một hòa-điệu của một bản nhạc hơn là một hỗn-hợp của sự tổng-cộng. Cái tinh-thần ấy đã được chứng minh phong-phú ở quá-khứ lịch-sử Đông-Nam-Á, sẽ còn nhiều hứa hẹn ở tương lai « Năm Châu một Chợ, Bốn Bể một Nhà » vậy.

[1] Raja-Yoga, Yoyas-pratiques, ed. Albin Michel, trang 374-375.

[2] Trích-dẫn trong cuốn Hinduism của D.S. Sarma nghiên-cứu triết học của Radbakrihnan trang 235-238.

[3] Theo Thiền-Uyển tập anh do Hoàng-xuân-Hãn trích dẫn ở sách Lý-thường-Kiệt tập II trang 435.

[4] Hoàng-Xuân-Hãn Lý-Thường-Kiệt, Sông Nhị, tr. 391-392.

[5] Victor Goloubew. Thời đại thanh đồng ở Bắc-Việt và phía Bắc Trung-Việt EFEO tr. XXIX 1929.

[6] Việt-Nam Cổ-văn-học sử Nguyễn-dan-Chi (Hàn-Thuyên).

tusachtiengviet.com Đánh máy : Thanhbanhuu, doraemin, ThaoPham, Quach trang, Thanhbanhuu, quynhchau, seira.tran, mocklov Kiểm tra chính tả : Mạc Tú Anh, Vũ Thị Diễm Tuyết, Trần Trung Hiếu, Lê Mỹ Hương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.