Văn Hóa Việt Nam với Đông Nam Á

Lượt đọc: 110 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
KẾT-LUẬN

❊ ❊ ❊

Sau một thời-kỳ mất chủ-quyền dân-tộc cho các thế-lực cường-quốc Tây-phương, các dân-tộc Á-Châu trừ Nhật-bản và Thái-lan đã bắt đầu trở nên tương-đối độc-lập. Nhưng độc-lập là một chủ-quyền tương-xứng với điều-kiện tự mình tạo nên, còn cơ hội khách-quan chỉ là một sự ngẫu-nhiên đến, ngẫu-nhiên đi. Độc-lập là điều-kiện tất-yếu cho sự phát-triển phẩm-cách con người, điều này các dân-tộc Đông-nam-Á hơn ai hết hẳn đã thâm-hiểu qua kinh-nghiệm bản-thân, trong thời-kỳ nô-lệ, như tiếng nói cuối cùng của nhà ái-quốc Phi-luật-Tân Dr José Rizal trước khi bị hành-hình :

« Every creature has its stimulus, its mainspring. Take it away from him and he is a corpse, and who seeks activity in a corpse will encounter only worms » [1] – « Mỗi sinh-linh đều có khích-động riêng, động cơ riêng của nó. Lấy mất của nó cái sức ấy đi, nó chỉ còn là cái xác vô-hồn, và tìm sự hoạt-động trong một thể-xác thì chỉ thấy ròi bọ. »

Vậy độc-lập là điều-kiện tiên-quyết tất-yếu, không có không được, để cho một cá-nhân hay một dân-tộc trở nên một Người, một dân-tộc có nhân-cách Người. Chỉ có những nước độc-lập, có chủ-quyền mới có thể điều-khiển tổ-chức đời sống đoàn-thể về vật-chất và tinh-thần vì quyền-lợi của nhân-dân mình. Độc-lập là khẩu-hiệu chung, đồng-thanh tương-ứng của tất cả dân-tộc Đông-nam-Á hơn nữa của tất cả dân-tộc Á-Châu và Phi-Châu. Độc-lập chính là nguyện-vọng động cơ thúc-đẩy tất cả các dân-tộc mất chủ-quyền, cho nên tất cả các dân-tộc ấy đòi tự-do độc-lập trước hết. Và vì tự-do độc-lập là ý-thức văn-hóa dân tộc, ý-thức nhân-phẩm của một người công-dân biết tự-trọng đối với mình cũng như đối với người. Cho nên các chính-phủ quốc-gia đều bắt đầu phục-hưng các giá-trị truyền-thống của dân-tộc mình, mà ở Đông-Nam-Á có một phong-trào chấn-hưng văn-hóa dân-tộc nổi dậy.

Nhưng văn-hóa dân-tộc không có nghĩa hẹp-hòi thiển-cận của danh-từ kinh-tế chính-trị như người ta hiểu theo nghĩa thông-dụng của Tây-phương cận-đại, mà thi-hào Tagore bảo rằng : « Khi nào cái tổ-chức chính-trị và thương-mại mà tên khác của nó là Dân-tộc, trở nên toàn-quyền toàn-thế làm mất hòa-điệu của đời sống tối cao của xã-hội, bấy giờ là ngày đen tối của nhân-loại. » (Nationalism)

Đấy là quan-niệm Dân-tộc lỗi-thời đối với cái thế-giới tương-quan thống-nhất ngày nay. Nhưng Dân-tộc ở Á-Đông vốn có nghĩa là Quốc-gia, là nhà, là nước, một liên-quan tình cảm hơn là pháp-lý, một sợi dây tâm-lý thiêng-liêng hơn là quyền-lợi kinh-tế chính-trị. Cho nên dân-tộc là Tổ-quốc, là Tổ-tiên, một thứ tín-ngưỡng cơ-sở của các dân-tộc miền Đông-Nam-Á, tin sự-vật chung-quanh mình đều có hồn có thể cảm-thông : Hồn sông, Hồn núi, Hồn đá, Hồn cây. Đấy là tôn-giáo vật-linh tin vào sự thực-tại của linh-hồn. Đấy là nhận-xét của một Linh-mục Gia-tô R. P. Leopold Cadière (1869-1955) :

« Có tác-giả hay du-khách vội-vàng và phù-phiếm đã không nhận các dân-tộc Á-Đông có tín-ngưỡng : sự bận-tâm ở họ về vật thực-tế làm tiêu-tan mất cả lo-nghĩ về cõi siêu-nhiên. Tôi có quan-niệm trái hẳn là các dân-tộc Á-Đông, nhất là dân-tộc Việt-Nam rất là tín-ngưỡng. Danh-từ tôn-giáo ngụ nhiều trình-độ, nhiều sắc-thái. Nếu hiểu tôn-giáo là tín-ngưỡng vào một Đấng tuyệt-đối vĩ-đại vô-biên và hoàn-toàn vô cùng ; tín-ngưỡng vào sự phối-hợp bằng tinh-thần với Đấng hiện-diện ở khắp nơi ; tín-ngưỡng vào sự phối-hợp bằng hạo-khí của tâm với Đấng chí-thiện ấy, ngự-trị và bảo-vệ tất cả ; tổng-chi là sự nhận biết đức-tính vô-biên bằng một nghi-lễ xứng-đáng với Ngài ; hiểu như thế thì người Việt-Nam không có tín-ngưỡng. Họ không quan-niệm một đấng tối cao, họ sống không có Thượng-Đế như thế. Nhưng nếu người ta hiểu ý-nghĩa tôn-giáo là tín-ngưỡng, tín-ngưỡng về một thế-giới siêu-nhiên, ảnh-hưởng vào hành-vi nhân-sinh, thì phải công-nhận rằng dân Việt-Nam có cái đức-tính ấy ở trình-độ rất cao.

« Có thể nói rằng người Việt sống trong một không-khí siêu-nhiên. Bất cứ ở đâu nó cũng nhìn thấy ảnh-hưởng của thế-lực bí-ẩn hành-động vào đời sống của nó, tốt hay xấu. Bất cứ người Việt nào, thuộc về giai-cấp nào ở xã-hội đều không vượt được ra ngoài sự ám-ảnh về siêu-nhiên ấy…

« Người ta phê-bình rằng đấy là sự sợ hãi gây nên những tín-ngưỡng ấy. Bất-luận, dù nguyên-nhân là một tình-cảm này hay tình-cảm khác, sự thật vẫn là người Việt tin mình cử-động, sinh-hoạt trong thế-giới siêu-nhiên. Cái siêu-nhiên ám-ảnh nó. Nó không sao thoát khỏi, ban ngày cũng như ban đêm, giấc ngủ cũng không giải-thoát được, bởi vì mộng-triệu cũng là những biểu-hiện của Thần-Linh.

« Thần-linh ở tại khắp cả ; một hòn đá lớn, một gốc cây cổ-thụ, một rừng sâu, một vực sông, ngọn núi cao, một vũng nước giữa đồng, mỗi thỏi đất, thửa ruộng, một gốc âm-u, đều là cơ-sở của Thần-linh. Thần ở khắp cả, thấm-nhuần khắp cả, tất cả đều của Thần.

« Cái tín-ngưỡng vào thế-giới thần-linh ấy có thể nói đã bao hàm lấy đời sống của người Việt, thúc-đẩy nó phải cúng lễ. Trước khi hành-động phải cầu che chở của thần-linh, gạt những động-cơ có thể làm ngài bất bình ; nếu trong hành-động thần-linh tỏ sự bất-bình tức thì phải lễ tạ.

« Sự thờ cúng Tổ-tiên tuy có cao hơn nhưng căn-bản cả hai đều mật-thiết liên-quan với nhau. Tổ-tiên mất đi, người ta không thấy nữa, nhưng các người không từng bỏ gia-đình. Họ chú-ý đến con cháu, phù-hộ cho hạnh-phúc hay đem cho tai họa tùy theo sự con cháu có làm tròn nhiệm-vụ hiếu-nghĩa hay không. Hơn nữa tổ-tiên ngự tại trong nhà, trên bài-vị bàn thờ ông vải. Vị nào không còn tại đây, di-chuyển sang nhà thờ họ thì thường được mời về chia sẻ vui buồn với gia-đình. Luôn luôn người ta mời tham-gia vào các hành-vi trọng-đại của đời sống chung : ăn hỏi, cưới xin, sinh-nở của một phần-tử gia-đình. Tư-tưởng tổ-tiên chi-phối toàn-thể đời sống gia-đình, cũng như tư-tưởng thần-linh chi-phối đời sống hàng ngày của người Việt. Người gia-trưởng là thủ-tự việc thờ cúng ấy và truyền lại chức thừa tự ấy cho con trưởng. Bất hạnh cho gia-đình nào tuyệt-tự !

« Đời sống xã-hội đối với dân Việt chỉ là đời sống gia-đình mở rộng, cũng hoàn-toàn thấm-nhuần tôn-giáo. Những thần bảo-lộ mỗi đoàn-thể, chức-tước hay không chức-tước, làm ra mưa và mùa-nàng tươi tốt. Các thần che chở hỏa-tai, hạn-hán, và dịch-tễ. Bởi vậy cho nên nắm mạ đầu tiên là dâng cho thần cũng như bó lúa gặt đầu được đoàn-thể biết ơn đem cúng. Và gặp những ngày nhất định nào trong một năm người ta cúng tế linh-đình. Các kỳ-mục trong làng như cha chú của làng được cử ra làm chủ-tế. Và trên nữa có các quan chủ-tế trong tỉnh, vua chủ-tế trong nước.

« Xem thế thì biết không có gì trong đời sống nhân-dân Việt-Nam thoát ra ngoài ảnh-hưởng tôn-giáo. Tôn-giáo chi-phối người Việt từ lúc lọt lòng, cho đến lúc chết, và cả sau khi chết rồi còn giữ trong vòng ảnh-hưởng. Khi người ta thấy gốc-rễ của những thể siêu-nhiên ăn sâu trong tâm-hồn Việt-Nam người ta không thể không nhận dân-tộc này rất tín-ngưỡng vậy.

« Và nếu người ta ngược trở về mấy thế-kỷ trước kỷ-nguyên Thiên-Chúa, những tín-ngưỡng vẫn như thế, tập-tục cũng vẫn thế, ít ra là ở những điểm cốt yếu. » [2]

Chính đúng trên cái cơ-bản vạn-linh vật-tổ truyền-thống của dân-tộc Đông-Nam Á-Châu như giáo-sĩ Cardière đã xác-nhận minh-bạch trên đây, mà văn-hóa Việt-Nam đã điều-hòa đặc-tính văn-hóa Ấn-độ Trung-Hoa thành một hợp-hóa thuần-nhất, gọi là Tam-giáo. Sự hợp-hóa ấy không phải lấy giáo này hợp hóa giáo kia, như ở Tầu người ta đã lấy hết Khổng-giáo để hợp-hóa Phật và Đạo hay lấy Lão để hợp-hóa Phật hay Khổng. Hợp-hóa mà Phật vẫn là Phật, Khổng vẫn là Khổng, Lão vẫn là Lão không trộn lẫn mà hỗ-tương như thái-độ của nhà Sư Phù-Vân với Trần-Thái-Tôn. Vua không làm việc Sư, Sư không làm việc của Vua, chỉ gặp nhau ở chân-lý không phải của riêng Phật, không phải của riêng Khổng. Vì cùng chung một tinh thần văn-hóa ấy mà cận-đại một tín-đồ Khổng giáo như Phan-Bội-Châu với một tín-đồ Cơ-đốc giáo như Mai-lão-Bạng mới có sự gặp nhau ở nhà tù Quảng-Châu : không phải vì tôn-giáo mà các cụ vào tù, chính vì dân-tộc vậy. Sự gặp-gỡ ấy thực giầu ý-nghĩa tượng-trưng như bài thơ của cụ Phan đã tặng Cụ Mai trong ngục-thất.

Phiêu bồng ngã bối các tha hương

Tân khổ thiên quân phận ngoại thường

Tính mệnh kỷ hồi tần tử địa

Tu mi tam đệ nhập linh đường

Kinh nhân sự nghiệp Thiên đào trú

Bất thế phong vân Đế chủ trương

Giả sử tiền đồ tận di thản

Anh-hùng hào-kiệt đã dung thường

Phiên dịch :

Lênh-đênh đất khách bác cùng tôi

Riêng bác cay chua nếm đủ mùi

Tính-mạng bao phen gần chết hụt

Nam nhi ba lượt bị giam rồi !

« Trời » toan đại-dụng nên rèn chí.

« Chúa » giúp thành công ắt có hồi

Nếu phải đường đời bằng phẳng cả

Anh-hùng hào-kiệt có hơn ai.

Ngày nay khu-vực Đông-Nam-Á thực đã là trung-tâm gập-gỡ của các đại trào-lưu văn-hóa của thế-giới, Bà-la-môn, Phật, Khổng, Lão, Thiên-Chúa, Hồi và Khoa-học. Việt-Nam đã chứng-minh bằng thực-sự trên Bán đảo Ấn-độ Chi-na cái khả-năng thích-ứng điều-hòa của văn-hóa dân-tộc trên cơ-bản Tam-giáo, không những còn là bài học cho hiện-tại của Đông-Nam-Á mà thôi mà là cho cả thế-giới nữa. Bởi vì muốn hợp-hóa Đông-Tây như hiện nay U.N.E.S.C.O đang đặt thành vấn-đề xét cứu, theo tinh-thần văn-hóa dân-tộc Việt-Nam, người ta phải tự coi như đứng lên trên Đông-Tây, không phân-biệt Đông-Tây nữa, chỉ có Người với Người thì sự hợp-hóa hay dung-hòa mới có thêm được khả-năng sáng-tạo vậy.

[1] Do Claud A. Buss trích dẫn trong « Southeast Asia and the World Today » Van Nostrand Ed.

[2] Triết-học bình-dân, Croyances et pratiques religieuses des Vietnamiens, Leopold Cardière E.F.E.O. Paris.

tusachtiengviet.com Đánh máy : Thanhbanhuu, doraemin, ThaoPham, Quach trang, Thanhbanhuu, quynhchau, seira.tran, mocklov Kiểm tra chính tả : Mạc Tú Anh, Vũ Thị Diễm Tuyết, Trần Trung Hiếu, Lê Mỹ Hương
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.