Trên đây là giới-thiệu sơ-lược về địa-lý nhân-văn các thành phần họp thành khu-vực Đông-nam-Á. Chúng ta cũng đã nhận thấy đặc tính riêng của từng địa-phương với tính-chất chung của toàn thể khu-vực. Về nhân-số cũng như về thổ-sản thì Đông-Nam-Á cũng phong-phú có thể ví với Ấn-độ hay Trung-hoa, nhưng về tính đặc-thù của dân-tộc và văn-hóa thì Đông-Nam-Á lại khác với hai lục-địa trên. Địa-lý phân chia một cách tự-nhiên ấy đã ảnh-hưởng vào sự phát triển hay sự bảo-tồn của một số lớn chủng-tộc tính sai biệt khác nhau, cùng ngôn-ngữ và tín-ngưỡng, tổ-chức xã-hội chính-trị khác nhau. Nhưng trong sự khác nhau ấy vẫn ngấm-ngầm có một đồng-nhất tính của toàn-khối. Đồng nhất tính về khí-hậu thời-tiết gió mùa, đồng-nhất tính về cơ-sở kinh-tế nông-nghiệp lúa gạo của mô-thức văn-hóa thảo-mộc (Civilisation du végétal) đồng-nhất tính về nhân-văn cộng-đồng ở tổ-chức xã-thôn, làng xóm với tục-lệ chung, đồng-nhất tính về tinh-thần ở sự bảo-tồn những tín-ngưỡng truyền-thống cổ xưa căn-cứ vào tín-ngưỡng vật-linh nguyên-thủy với quan-niệm hợp-nhất đại vũ-trụ với tiểu vũ-trụ, vật với tâm. Tất cả những yếu-tố ấy hợp lại để đem cho khu vực Đông-Nam-Á một thực-tại riêng biệt không phân về địa-lý văn-hóa ngõ hầu duy trì trong thế-giới hiện-đại sự độc-lập chính-trị kinh-tế nó đã ý-thức và nỗ-lực bảo vệ trải qua lịch-sử ngàn năm, đồng thời phát-triển đặc-tính văn-hóa theo tinh-thần « đồng qui thù đồ » Bhinneka Tunggal Jka (Unité dans la diversité) (Sutasoma – thi-sĩ Java) mà góp phần xây-dựng để cống-hiến vào hương-hỏa chung của văn-minh thế-giới
Đối với cái sứ-mệnh lịch-sử vĩ-đại, thử hỏi dân-tộc Việt-Nam cùng với các dân-tộc khác trong khối Đông-Nam-Á này trước kia, đã thực hiện được gì và hiện nay đang và sẽ tìm hướng vào con đường nào để tiến-triển.
Nhìn về quá khứ, lịch-sử Đông-Nam-Á chúng ta có thể nhận thấy ba thời-kỳ là thời-kỳ chưa chịu ảnh-hưởng của hai khu vực Hoa-Ấn, thời kỳ tiếp-thu văn-hóa Ấn-Hoa và thời-kỳ xúc-tiếp ảnh-hưởng Âu-Tây.
Cổ-sử Văn-hóa bản-sứ
Đông-Nam-Á không phải là đất man-di như sách Tàu thường nói đến trước khi có sự tiếp-xúc với văn-hóa Trung-hoa hay Ấn-độ. Nhân-loại Đông-Nam-Á trước khi gặp Trung-hoa, Ấn-độ đã sống có tổ-chức đoàn-thể khá cao, sẵn-sàng biến-hóa các tài-liệu ngoại-lai thành văn-hóa của mình.Nó đã sáng-tạo ra tháp Borabudur ở Java Đế-thiên Đế-thích (Angkor) ở Cao-miên, chùa Pagan ở Miến-điện, hay Đình Lý-bát-Đế ở Bắc-Việt sản phẩm kiến-trúc không hẳn là mô-phỏng hoàn-toàn mà là sản-phẩm hòa hợp tài khéo riêng của dân-tộc với tài-liệu mượn ở ngoài. Những khai quật khảo-cổ ở Đông-Nam-Á đã khiến nhà địa-lý nhân-văn Pháp Robequain tự hỏi không biết Nam-dương quần-đảo có phải là một trong các nơi chôn nhau cắt rốn của nhân-loại (un des berceaux de l’humanité) không ? Người tiền-sử Java cũng đồng thời với người tiền-sử Bắc-kinh. Đủ tỏ rằng loài người xuất-hiện ở Đông-Nam-Á rất sớm. Kể từ có di-tích nhân-loại đầu-tiên ấy cho đến thời-kỳ Tân-thạch-hệ Néolithique và Thanh-Đồng (Bronze) trải qua hàng ngàn năm đã từng có nhiều làn sóng di-dân từ ngoài biển tràn vào lục-địa Á-châu. Bộ-tộc Úc-châu, bộ-tộc Mã-lai, bộ-tộc Bắc-sơn Hòa-bình đều đã có mặt ở khắp cõi Đông-Nam-Á trên hải-đảo cũng như miền Nam lục-địa Trung-hoa Ấn-độ. Những bộ tộc Mã-lai, mệnh danh là Anh-đô-nê-điêng vào khoảng 2500 đến 1500 trước T.C. chính là tiên-tổ các dân Miến, Xiêm, Việt, Mã-lai, Phi ngày nay. Một vài thế-kỷ trước kỷ-nguyên Thiên-Chúa người ta thấy sự thịnh-vượng của văn-hóa Đông-sơn Hồng-hà, với trống đồng Thanh-hóa lan-tràn sang Lào, Miến-điện và Nam-dương, vì trống-đồng ấy là di-tích đặc biệt của Văn-hóa Đông-sơn. Trên mặt trống người ta thấy phản-chiếu tất cả đời sống sinh-hoạt của bộ-tộc sơ-thủy : nền bà giã gạo bằng chầy, chiến-sĩ đội-lốt chim nhẩy múa theo điệu sáo khèn với trống để làm lễ mừng việc sinh hay đưa vong-hồn người chết.
Thời-kỳ Thanh-đồng là thời mà truyền-thống Việt-Nam lấy làm triều-đại đầu tiên Hồng-Bàng trước khi bị Hán-tộc thôn-tính. Vua Hùng-Vương, cai trị với tướng-văn Lạc-hầu, tướng võ Lạc-tướng trong một xã-hội nông-nghiệp tổ-chức thành làng : Có đình, có miếu sau lũy tre xanh chẳng khác gì cái làng Mã-lai ở Nam-dương dưới ngòi bút Vlekke mà Lean Bruhat đã trích-dẫn trong « Lịch sử Anh-đô-nê-di » như sau :
« Nhìn đàng xa cái làng hiện ra như một mảnh rừng ở giữa cánh đồng lúa. Nhà cửa rải-rác trong vườn và bụi cây. Mỗi nhà với một vựa thóc được bao bọc bằng một hàng rào và một hàng rào cây nữa bao bọc lấy tất cả làng. Cửa sơ-sài mở ra đường xóm và đường cái. Theo nghĩa rộng thì làng gồm cả ruộng đất ao cá, rừng lân-cận và đất hoang thuộc sở-hữu của làng ». [1]
Đấy cũng là hình-ảnh một làng Việt-Nam hiện thời mà nguyên-lai xuất tự tổ-chức Lang thời-cổ xưa vậy. Nhân-dân Việt thời ấy đã biết cầy cấy, đào mương dẫn thủy, đắp đê ngăn lụt để cấy hai mùa thóc. Tín-ngưỡng nông-nghiệp về thần Đất và thần lúa gây nên tục hội đầu Xuân trai gái hát giao duyên đối đáp ngày nay hãy còn.
Pierre Gourou, tác-giả quyển L’Asie – (éd. Hachette) có nhận-xét chung về sắc thái nhân-văn riêng biệt của Đông-Nam-Á trước khi chịu ảnh-hưởng Ấn-độ Trung-hoa như sau :
« Có nhiều nét nhân-văn đặc-biệt cho tất cả Đông-Nam-Á. Ở đây người ta thấy di-tích của một nền văn-minh Đông-Nam-Á hay Hải-đảo.
« Trước hết là nhà cửa cao cẳng. Ngoài biên-giới Đông-Nam-Á ít thấy có kiểu nhà như thế. Một nét đặc-biệt nữa là cách chế-tạo cá tôm thành bột hay nước mắm sau khi đã ngấu rất được nhân-dân Đông-Nam-Á thưởng-thức mà dân Á-Châu khác không dùng.
« Một di-tích của văn-hóa tiền-sử thuộc về tính-chất hải-đảo là tục ăn trầu, rất phổ-thông ở dân Việt mà dân Tàu không biết, cho phép ta xác-định giới hạn của những kỷ-niệm hải-đảo còn rất mạnh. Tục ấy đi đôi với tục nhuộm răng. Tục nhai trầu lan khắp miền duyên-hải phía Nam Á-châu, từ Việt-Nam đến Ấn-độ ». Trang 290
« Báo Le Temps ngày 5-3-1927 sau khi giới-thiệu công-trình khảo-cổ của Cô Colani ở Bắc-Việt có kết-luận về địa-lý tiền-sử miền ấy như sau :
« Người ta thấy di-tích của hai nền văn-hóa :
« 1. Văn-hóa Hòa-bình Đông-sơn do dân đẽo-đá Hòa-bình và dân mài đá Bắc-sơn đại-diện, cho tới nay chỉ đã gặp thấy ở vùng lân-cận Trung-Châu. Những dân ấy đã định-cư ở hai miền trên và đã trải qua nhiều thế-hệ kế-tiếp. Các ông Evans và Van Stein Callenfels đã lại thấy văn-hóa ấy ở đất Pinang tại bán đảo Malacca, và tại đảo Java. Vậy thì đấy là một nền văn-hóa trọng-đại trước đây không ai biết đã được công-trình của Cô Colani và trước đây của ông Mausuy khám-phá.
« 2. Văn-hóa tân-thạch-hệ. Người ta thấy một số di-tích ở miền biên-giới châu-thổ Bắc-Việt. Không có gì chứng thực rằng ở đây đã từng có cơ-sở lâu dài, Cô Colani thấy những di-tích ấy trong ba hang-động, mỗi hang-động thuộc địa-phận một tỉnh khác nhau và lân-cận biên-giới Bắc-Việt. Công-cụ đặc-biệt thời tân-thạch-hệ ở Đông-Nam-Á là cái rìu có mộng tra cán Ông Hein-Geldern đã phát ra lược-đồ khu-vực bành-trướng rộng lớn của văn-hóa này, người ta thấy ở bờ sông Hằng (Gange) tại Đài-loan, ở miền Nam dẫy núi Hi-mã-lạp-sơn và ở tại bán-đảo Malacca. Văn-hóa sơ-thủy nhất của hai nền văn-minh ấy đều gặp thấy ở bên trong tỉnh Hòa-bình, trình-độ tiến-bộ nhất ở tại Ban-Mou trong tỉnh Sơn-la.
« Như thế đủ thấy cả hai nền văn-hóa thời tân-thạch-hệ với thời Thanh-đồng đều là cơ-sở chung của khu vực Đông-Nam-Á này vậy. Cho nên bước vào kỷ-nguyên Thiên-Chúa, như Claude A. Buss đã kết-luận tổng quát nhân-dân Anh-đô-nê-di đã biết cày ruộng đắp bờ dẫn-thủy nhập-điền, thuần hóa trâu bò, vui trò chơi gà chọi, lợn hay trâu chọi và bắt đầu dùng kim-khí. Họ khéo nghề đẽo gỗ, dệt vải và làm đồ gốm. Họ là thủy-thủ đi biển, có hiểu ít nhiều về thiên-văn. Họ sinh-sống trong các nhà bằng gỗ và làm quần áo bằng sợi cây. Họ tín-ngưỡng vật-linh và thờ tổ-tiên. Họ công-nhận cho phụ-nữ một địa-vị ưu-tú trong gia-đình, và ngăn rào nhà họ và làng họ, Dần-dần họ phát triển một bộ luật-lệ xã-hội ». [2]
Sự tiếp xúc với văn hóa Ấn-độ Trung-hoa
Trên lục-địa Á-Đông, ở Trung-hoa hay Ấn-độ kể từ cổ thời Thiên-chúa 2.000 – 1.500 năm, đã xuất-hiện trào-lưu di dân từ trung-bộ A-tế-A, phía Tây-Bắc đi sang hướng Đông-Nam. Cho nên rất sớm chúng ta đã thấy ở Trung-Hoa văn-hóa Tây-Chu đột-nhập vào trung-nguyên Hồ-Nam và dần dần tràn xuống miền Nam sông Dương-tử để đồng hóa với văn-hóa Sở-Việt, rồi đi thẳng xuống khu-vực Đông-Nam-Á. Ở Ấn-độ, còn sớm hơn nữa văn-hóa Veda của dân Aryen cũng từ Tây-Bắc đột-nhập vào lưu-vực Ấn-độ hà, rồi đi xuống lưu vực sông Hằng mà đồng-hóa với văn-hóa bản-xứ của dân Dravidien đề rồi lan-tràn ra miền hải-đảo và bán-đảo Đông-Nam-ÁChắc-chắn rằng văn-hóa Ấn-độ đã du nhập vào Đông-Nam-Á sớm hơn văn-hóa Trung-Hoa du nhập vào Bắc-Việt, vì từ thế-kỷ III Tr. T.C. vua A-dục (Acoka) là một ông vua mộ Phật đã gởi sứ-giả và giáo-sĩ Phật-giáo sang-xứ Suvarnabhumi : (Đất vàng) có lẽ là xứ Miến-điện. Và Kinh Jatakas chứa đầy những truyện thủy-thủ vượt bể bằng thuyền buồm dưới sự hộ-vệ tinh-thần của Phật Định-Quang. Chính ở ngoài lưu vực sông Hằng mà các thủy-thủ Ấn đã đi tìm vàng, gia-vị, trầm-hương và dầu-thơm để cung-cấp cho Âu-Tây đang tiêu-thụ.
Sự giao-dịch với thế-giới La-Mã càng ngày càng thịnh, điều ấy đã được chứng-minh bằng di tích đồng tiền của triều-đại Antooain và Marc-Aurele tại Óc-eo gần bờ biển miền Tây Việt-Nam. Sử ký Tầu có chép một phái-bộ sứ thần của vua Marc-Aurèle tới Trung-Hoa qua Bắc-Việt. Địa-lý học của Ptoléméc còn ghi tên đất Chersonèse d’Or để chỉ vào bán-đảo Mã-lai.
Trong sự thịnh-vuợng ấy nẩy nở những quốc-gia đầu tiên trên đường giao-thông ở Đông-Nam-Á. Đầu kỷ-nguyên có triều-đại Phù-Nam xuất-hiện ở Châu-thổ sông Mékong do một cuộc hôn-phối giữa một người Bà-la-môn với một công-chúa bản-xứ, rồi đến triều-đại Lâm-Ấp tại kinh-đô Huế bây giờ là nước Chàm sau này. Các dân-tộc bản-xứ này cũng như dân Việt trước thời-kỳ đô-hộ của Hán-tộc, đã có một trình-độ văn-hóa để tổ chức đời sống kinh-tế và xã-hội của họ. Họ cầy ruộng trồng lúa ở các thửa có dẫn thủy, biết thuần-hóa trâu bò. Họ lại có tài thủy-thủ biết chế tạo thanh-đồng, sắt và vàng. Họ thờ phụng tổ-tiên và thần-xã bàn thờ đặt ở trên đồi cao phảng-phất tín-ngưỡng căn-bản của Ấn-độ trước thời du-nhập của dân Aryen với văn-hóa Veda. Văn-hóa Ấn-độ thực ra lan xuống Đông-Nam-Á không theo cách đế-quốc thực dân mà là một sự truyền-bá êm-đềm do tay các nhà sư hay Bà-la-môn Phật-giáo với Bà-la-môn giáo tuy ở Ấn-độ cạnh-tranh xung-đột mà khi truyền sang cõi Đông-Nam-Á như trên bán đảo Đông-dương, ở đất Chàm thì cả hai đều phát-triển bên cạnh nhau. Đủ tỏ các tôn-giáo ấy, khi du-nhập vào các xã-hội khác đã có biến-hóa thích-ứng với tín-ngưỡng bản-xứ cho nên mới nẩy nở phong phú như chúng ta thấy. Đấy là manh-nha tinh-thần điều-hòa hợp-hóa là bản-sắc của văn-hóa Đông-Nam-Á rồi vậy.
Phù-Nam
Nước Phù-Nam phát-triển với cuộc thông thương quốc-tế, chẳng bao lâu trở nên một thế-lực chính-trị hùng cường đầu tiên ở Vịnh Tiêm-la, vì là độ đường trên con đường giao-dịch giữa Trung-Hoa và Ấn-độ, thế-lực thủy-quân của Phù-Nam mà kinh-đô đóng ở Prei Veng bây giờ, hải cảng là Oc-eo tiếp-nhận thương-thuyền của Trung-Hoa, Ấn-Độ và La-Mã dưới triều-đại Fan Che-man đã chinh-phục cả lưu-vực sông Menam và phía Bắc bán-đảo Mã-lai. Vào thế-kỷ III, nước Phù-Nam đặt liên-lạc ngoại-giao với nước Ngô ở Nam-Kinh bên Tầu. Phái-bộ ngoại-giao Tầu còn ghi lại ở sử sách rằng :« Ở Phù-Nam có những thành-thị có tường bao-bọc, có đền đài và nhà cửa để ở. Nhân-dân đen và xấu, tóc xoăn, đi chân không. Tính-tình giản-dị và không ăn cắp trộm bao giờ. Họ làm ruộng, gieo một năm gặt ba năm. Họ thích khắc trạm đồ trang sức. Đồ dùng của họ để ăn đều bằng bạc. Họ đóng thuế bằng vàng, bạc, trân châu, dầu thơm. Họ có sách vở, và có kho tàng chứa sách và đồ vật quí. Chữ viết của họ giống với chữ viết của rợ Hồ ở Trung-bộ A-tế-A ».
Dưới triều-đại Jayavarman khoảng thế-kỷ thứ V thứ VI là thời cực thịnh của thế-lực Phù-Nam. Người ta thấy phát-triền đồng-thời cả ba tín-ngưỡng Si-va, Vich-nou và Phật tiểu-thừa. « Nhân dân buôn bán đồ vàng bạc và tơ lụa. Họ đúc vòng, xuyến bằng vàng, và bát đĩa bằng bạc. Các ông lớn mặc đồ gấm-vóc, kẻ nghèo khoác một mảnh vải. Nhà vua ở trên lầu, đi ra cưỡi voi, cùng với Phi-tần và quần-thần. Dân quê không đào giếng, mà có một bể nước chung. Để tiêu-khiển, họ xem chọi gà, lợn. Họ không có nhà tù ».
Nhưng rồi thế-lực Phù-Nam không chống-đối nổi với thế-lực Khmer chiến-sĩ hung-tợn đang bành trướng ở trên bờ Mékong phía trên. Đến thế-kỷ thứ VII thì Phù-Nam sau năm trăm năm hùng cường ở Đông-Nam-Á đã bị thế-lực Khmer tiêu-diệt.
Champa
Phía Đông nước Phù-Nam là nước Champa, hay Chàm, Hời, mà kinh đô khởi-thủy đặt ở Lâm Ấp tức Huế bây giờ. Về sau người Tầu gọi là Chiêm-thành.Khi bắt đầu lịch-sử Chiêm-Thành, vào thế-kỷ thứ III sau Thiên-Chúa thì nhóm người Chàm đã Ấn-độ hóa rồi. Giòng-dõi Chàm là con cháu của thần-linh Civa một thần-linh của dân-tộc Dravidien miền Nam Ấn-độ đẻ ra tôn-giáo Civa. Tên vua của họ như Gangaraja (415) hay Indravarman III (959) đủ nhắc nhở đến quê-hương Ấn-độ. Tôn giáo chính-thống của họ là thờ-phụng Civa, mà đền thờ chính dựng ở Mi-sơn (Quảng-Nam bây giờ). Đền thờ Linga tối cổ dựng vào khoảng 400 tại Mi-Sơn. Còn một đền thờ chinh nữa của dân Chàm là Po-Nagar ở Nha-Trang thờ Dương-khí của Civa. Nhưng đồng-thời Phật-giáo cũng thịnh-hành. Vua Indravarman II cũng mang tên hiệu là Parama-buddhaloka, có thiết dựng năm 875 ở Đông-dương (Quảng-Nam) một ngôi chùa Phật-giáo thờ đức Phật Thế-tự-tại-vương, Quan-Âm Bồ-tát (Avalokicvara).
Về địa-lý, thì Chiêm-Thành gồm có bốn tỉnh lớn đều mang tên Ấn-độ là : phía Bắc Amarâvati (Quảng-Nam) mà kinh-đô đầu tiên là Indrapura, Trà-Kiệu. Ở giữa là tỉnh Vijaya (Bình-định) kinh-đô là Cha-bàu. Ở phía Nam là tỉnh Kanthara (Khánh-hòa, Nha-trang) và Panduranga mà đô-thị là Kajupura (Phan-rang và Bình-thuận). Ở thời Trung-cổ có hai họ chính phân-chia thế-lực Chiêm-thành ; phía Bắc ở Quảng-Nam có họ « Cây Cau ». Danh-từ Phạn-ngữ (Sanscrit) là Narikela và Kramukavamca.
Đất đai Chiêm-Thành nghèo-nàn, nhưng kéo lại ở chỗ là đầu mối giao-thông đường biển của Á-Đông. Do đấy mà một thời thịnh-vượng. Dân thủy-thủ làm giầu bằng thương-mại và giặc cướp. Từ thế-kỷ VII đến X họ kiểm-soát thị-trường gia-vị giữa Nam-dương và Tầu, và thương-hải tơ-lụa giữa Tầu và Ba-tư. Họ xuất cảng sang Tầu và Ba-tư ngà voi trầm hương.
Chiêm-Thành dưới triều-đại Phạm-Văn, một người Tầu phiêu-bạt đã dùng lực-lượng Chàm chống nhau với Hán-tộc vào thế-kỷ thứ II để chiếm lại quận Nhật-Nam (Thừa-thiên, Quảng-trị, Quảng-bình) rồi đến 605 mới bị quân-đội Tùy Dương-Đế đánh lấy lại. Dưới triều-đại Jaya Indravarma I vào 960 mới triều-cống nhà Tống bên Tầu để liên-kết ngoại giao trước một thế-lực mới của người Việt dựng nên ở Bắc-Việt độc-lập với Tầu, và trải qua Đinh, Lý, Trần, Lê liên-tiếp có cuộc chiến-tranh giữa Chiêm-Thành và Việt-Nam, một mặt, và một mặt khác Chiêm-Thành với một thế-lực cũng mới mọc ở phía Tây là thế-lực Khmer.
Chiêm-Thành bị hai thế-lực trên và, một thế-lực thứ ba mới mọc ở Đông-Nam vào cướp phá Po-Nagar năm 784 đến 787. Kết cục Chiêm-Thành đã bị tiêu-diệt bởi sức Nam-tiến của dân Việt.
Thế lực Mã-Lai và quần-đảo
Đồng-thời với Chiêm-Thành, thì ở bán-đảo Mã-lai cũng xuất-hiện những bang-quốc nhờ các đường giao-thông trên bộ môi-giới giữa vịnh Bengale và vịnh Xiêm-la. Trong các bang-quốc thịnh-vuợng có Langkasuka mà sử-sách Tầu có ghi nhận những liên-lạc ngoại-giao vào năm 515. Người ta nhận thấy đồng-thời có ba tín-ngưỡng bên cạnh nhau là Bà-la-môn giáo, Phật-giáo và Đạo giáo.Rồi thế-lực di-chuyển sang hải đảo Java và Sumatra, vì lợi thế cho sự thông-thương đường biền qua eo-biển La Sonde, và Malacca. Vào thế kỷ VII-VIII, nước Tầu nhà Đường đã gởi một phái-đoàn thương mại xuống miền Nam-dương. Đế-quốc Ba-tư ở Bagdad cũng mới thành-lập sự buôn bán tơ lụa với Tầu cùng phát-triển hơn lên qua Trung-bộ A-tế-A, và thương-mại gia-vị cũng phồn thịnh với các hải-cảng Nam-dương. Kỹ-thuật hàng-hải cùng tiến-bộ với dân Arabes cho nên từ eo biển Ba-tư qua La Sonde và Malacca đến Quảng-Đông, sự giao-dịch thông-thương trên biển trở nên sầm-uất vào thế-kỷ thứ VIII sau Thiên-Chúa. Chính vì những điều-kiện kinh-tế quốc-tế thịnh-vượng ấy mà thế-lực Crivijaya, bành-trướng trên bờ biển Đông-Nam đảo Sumatra chung quanh đô-thị Palembang. Thuyền-buồm theo gió mùa từ biển Trung-Hoa chạy tới. Nhà sư Tầu Nghĩa-Tĩnh qua Ấn-độ tìm sách Phật, khi qua tới Palembang có tả không-khí mộ Phật ở đấy vào năm 671 rằng : « Ở đấy có hơn một ngàn Sư Phật-giáo đem hết tinh-thần vào sự nghiên-cứu và hành-thiện. Họ nghiên-cứu tất cả vấn-đề cũng như ở Ấn-độ vậy ».
Với sự thịnh-vuợng của Crivijaya, họ Jayanâca vào cuối thế-kỷ thứ VII bắt đầu đi chinh-phục xứ Malaya và phía Tây đảo Java, để nắm trọn quyền kiểm soát hai con đường thông-thương hàng-hải giữa Ấn-độ và Trung-Hoa thời ấy là eo-biển Malacca và La Sonde, củng cố uy-thế hàng-hải cho đế-quốc trong sáu thế-kỷ. Sau những cuộc chiến-thắng, để khải-hoàn vua Jayanâca của đế-quốc Crivijaya năm 684 đã thiết-dựng một công-viên phía Tây Palembang, và khắc bia kỷ-niệm tỏ ý cầu chúc cho giá-trị của sự-nghiệp này cùng tất cả sự-nghiệp thiện khác tràn ngập ra khắp chúng-sinh mở cho chúng con đường khải-ngộ. Đế-quốc tiếp-tục phát triển, nối liên-lạc ngoại-giao với Trung-Hoa, và bành-trướng cả sang bán-đảo Mã-lai để thiết-dựng ở Ligor một ngôi chùa Phật Đại-thừa. Sự phát-triển Đại-thừa Phật-giáo là một sự-kiện lịch-sử tinh-thần trọng-đại nhất của thời thịnh-vượng ấy. Đại-học Phật-giáo Nalanda ở xứ Bengale khích-khởi lên sự nẩy-nở trung-tâm Phật-học khắp cõi Đông-Nam-Á. Nhưng Phật-giáo ở đây có khuynh-hướng hòa-hợp với Ấn-độ giáo và tín-ngưỡng tổ-tiên truyền-thống của nhân-dân bản-xứ, bằng chứng là Phật-giáo đặc biệt chú-trọng vào vấn-đề siêu-sinh tịnh-độ hay chiêu-hồn người chết. Chính cái khuynh-hướng dung-hòa hợp hóa với các tín ngưỡng địa-phương ấy đã khởi hứng ra những tác-phẩm nghệ-thuật của Java như tác-phẩm Boro-boudour chẳng hạn. Tháp Boroboudour đã xây-dựng vào năm 772 hiện là một biểu-thị nghệ-thuật tối-cao của thiên tài Anh-đô-nê-di khéo thích-ứng với hoàn cảnh và truyền-thống của mình những kiểu-mẫu văn-hóa Ấn-độ.
Ngôi tháp vĩ-đại này bằng đá có bực chạy vòng quanh một ngọn núi thiên-nhiên, thực ra không phải một đền thờ chính-thức mà chỉ là tượng-trưng trái núi vũ-trụ nổi hiện tại trung-tâm thế-giới và trình-bầy ra qua hàng ngàn nét trạm khắc tất cả Vũ-trụ Đại-Thừa. Nó là kiểu mẫu một ngôi « Vua-Thế-giới » (Cakravartin). Pho-tượng đứng ở trên đỉnh vừa tượng trưng cho Mahadeva : Thượng-đế lẫn Cailendra « Núi vua » là nguyên-lý quân-chủ của triều-đại ; danh hiệu « Núi vua » cũng chính là danh-hiệu xưa kia của các triều-đại ở Phù-Nam.
Đế-quốc Crivijaya tiếp-tục nắm giữ địa-vị bá-chủ trên biển, kiểm-soát các eo-biển Đông-nam-Á cho đến eo đất Kra trên bán-đảo Mã-lai. Nhà địa-lý Ba-tư Abù Zayd Hasan viết vào năm 916 rằng :
« Đô-thị Za-ba (Java) đối-diện với Trung-hoa. Hai bên xa cách nhau độ một tháng đường biển, và ngắn hơn nữa nếu gặp gió thuận. Vua xứ ấy tự xưng là Maharaja, vừa là chúa-tể một số lớn hải-đảo rải-rác trong khoảng rộng hơn 6 ngàn cây số. Chính từ hải-cảng ấy mà thuyền bè qua lại với vịnh Aman. Nhà vua Maharaja ở trên một cái đảo phì-nhiêu. Tiếng gà gáy buổi rạng-đông thì có tiếng đáp lại khắp cả một miền hàng trăm dặm vì làng mạc liên-tiếp như không bao giờ hết cả ».
Thế lực Java
Triều-đại Cailendra của đế-quốc Crivijaya ở Sumatra, từ thế-kỷ thứ VIII đã dồn triều-đại thờ Civa của Saujaya xuống đảo Java ở gần Malang. Ở đây dần-dần với sự suy nhược của thế-lực Sumatra, một thế-lực Mataram bắt đầu nẩy nở. Lịch-sử ngoại-giao nhà Đường bên Tàu còn ghi chú về tình-hình quốc-gia Mataram mới phục-hưng ở Java như sau :« Họ làm thành quách bằng gỗ lợp lá gồi. Họ có giường nằm bằng ngà và chiếu bằng tre. Xứ này sản-xuất đồi mồi, vàng, bạc, sừng tê-giác và ngà… Họ có chữ viết và biết thiên-văn… »
Thành-tích văn-hóa quốc-gia Mataram là 156 ngôi đền Prambanan xếp chung quanh sáu điện thờ chính mà điện thờ Civa một thần-linh Ấn-độ giáo bao trùm tất cả với những sự-tích Ramayana (Tập trường-ca anh-hùng Nam-tiến của Ấn-độ xưa) khắc lên tường.
Toàn-thể hợp thành một lăng-tẩm có di-tích của nhà vua và danh-thần, mỗi vị phối với một ngôi thần-linh trong hàng chư-vị Bà-la-môn. Quá-trình dung-hòa tín-ngưỡng ở đây đưa đến một sự thờ-phụng Civa của Bà-la-môn giáo với Phật, mà sự thực tục thờ-phụng Civa-Bouddha chỉ là tục thờ-phụng tổ-tiên cố-hữu dưới hình-thức phù-chú thần-bí ma-thuật. Căn-cứ vào văn bia người ta nhận thấy các giáo-phái chính phổ-thông trong nhân-dân Java thời này là tín-đồ Civa, tín-đồ Phật và đạo-sĩ khổ-hạnh cũng như người ta đã thấy cùng một khuynh-hướng tín-ngưỡng dung-hòa ấy ở Cam-bốt bấy giờ.
Triều-đại oanh-liệt cuối cùng của Java là Mojopahit do họ Vijaya đã khéo xử-dụng thế-lực quân Nguyên xuống chinh-phục hải-đảo làm chính thế-lực của mình để dẹp một cuộc nội loạn đồng-thời thống-nhất Java, bành-trướng bá-chủ ra khắp quần đảo Nam-dương đến bán-đảo Mã-lai, từ thế-kỷ XIII đến XIV. Thế-lực hàng-hải Mojopahit bấy giờ còn rộng lớn hơn cả Anh-đô-nê-di hiện nay,liên-lạc thông-thương với nhà Minh bên Tàu và thế-giới Hồi-giáo, Ấn-độ, Ba-tư. Tinh-thần văn-hóa rực rỡ của Java thời ấy đã phản-chiếu vào thi-phẩm trứ danh « Sutasoma » của Tantular với khẩu-hiệu : « Bhinneka Tunggal Ika », (Đồng nhất trong sai biệt) đáng đại-diện cho tinh-thần văn-hóa chung tất cả khu-vực Đông-nam-Á.
Rồi đến sự du-nhập của Hồi giáo, sau khi bá-chủ cả Ấn-độ lẫn Ba-tư đã tràn xuống Nam-dương dần-dần thay thế cho Bà-la-môn giáo và Phật-giáo. Nhưng Hồi-giáo ở đây không phá-hủy những cái đã có từ trước đi. Theo lịch-trình tiến-hóa của Đông-nam-Á, Hồi-giáo ở đây đã bao trùm lấy các tín-ngưỡng khác mà không tiêu-diệt, đồng-hóa các hình-thức lễ-nghi tập-tục vật-linh. Phật-giáo, và Ấn-độ giáo. Ở Java người ta chứng-kiến những giáo-đường Hồi-giáo kiến-trúc theo kiểu Ấn độ và những ngôi mộ Hồi-Hồi điêu-khắc đề-tài Ấn-độ. Văn-hóa truyền-thống đã thấm-nhuần thâm-sâu vào tâm-hồn nhân-dân bản xứ, khiến cho Hồi-giáo ở đây mất tính cách cuồng-tín như ở các xứ Ả-rập đã sản-xuất ra nó vậy.
Người Java vẫn thường tự-hào có một quá khứ vẻ-vang rực-rỡ và văn-hóa Java cũng đã tràn-lan đến Phi-luật-tân, Đài-loan, miền Nam Việt-Nam, Cam-bốt và bán-đảo Mã-lai. Con đường vòng-cung theo các quần đảo là con đường phát-triển của nền văn-hóa ấy và sự giao-dịch thời ấy giữa Java và Trung-hoa. Ấn-độ phần nhiều có thuyền-bè thông-thương. Tuy rằng các triều-đại vua chúa Java mang nặng ảnh-hưởng của Ấn-độ, từ việc đặt tên hiệu cho đến niên-kỷ. Nhưng văn-hóa Java vẫn cố giữ một màu sắc riêng biệt do sự tổng-hợp Bà-la-môn và Phật với đặc-tính truyền-thống của dân tộc, và sau này khi Hồi-giáo có tiếng là thiên-tín cực-đoan mà cũng gọt bớt sắc cạnh để đồng-hòa với tinh-thần địa-phương.
Người ta bảo rằng Java là tiêu-biểu cho toàn thể Nam-dương, điều đó không ngoa. Nếp sống của dân chúng ở đây đồng theo một nhịp cho nên dân-tộc Java được coi như một khối bất phân. Người Java cũng như nông-dân Bắc-Việt rất tha thiết với đất-tổ quê-cha. Đấy là ý-thức căn-bản vô cùng vững mạnh tạo nên mối giây liên-lạc truyền-thống là lý-do tất-yếu của tinh-thần đoàn-kết. Tính chất quần-cư, ảnh-hưởng của những dân-tộc từ lục-địa miền Bắc đem đến và thấm-nhuần sâu xa vào đây giúp cho hình ảnh của đồng quê Java trở nên một hình-ảnh rõ-rệt có tổ-chức. Tại các làng mạc nhà cửa của nông-dân rất sơ-sài, tường bằng lá hay bằng gỗ gồm có một gian kê một chiếc giường. Nền nhà là đất nện phẳng, trong góc có bếp đun bằng mấy hòn đá làm đầu rau. Nhà nào cũng có một khung-cửi để dệt những chiếc Sarong, thừa để bán. Ngoài lúa người ta còn trồng thêm ngô, và nhà nào cũng có một vườn rau nhỏ, trồng dừa, chuối, chăn nuôi một ít súc-vật. Mỗi nhà trung-bình chỉ có độ hai mẫu tây đất và ruộng, nếu ai có hơn thế là được coi như giàu. Khi mùa gặt đến nhà nọ sẽ đến làm giúp nhà kia, có khi nhiều nhà cùng đến giúp một lượt và sau cứ tuần-tự mà chủ-nhân phải làm trả lại. Dân quê có vẻ nghèo, ít khi dám ăn thịt và trứng vì những thứ ấy còn để bán lấy tiền. Nhờ trời năm nào có nhiều mưa thì được mùa, và sự lo-lắng thường xuyên của nông-dân phần lớn là vấn-đề nước để cày cấy.
Sống trong hoàn-cảnh như thế nên dân Java rất quí ruộng đất, và sửa sang rất tỉ-mỉ. Họ rất chất-phác như dân quê các nơi khác ít suy-nghĩ xa xôi, mọi việc đều nhờ trời. Họ chỉ mong an-cư lạc-nghiệp trong làng xóm với đồng ruộng để thờ phụng thần-linh qua các nghi-thức pha trộn của các tôn-giáo. Cho nên phần đông dân Java theo đạo Hồi nhưng vẫn thờ các thần-linh khác mà không sợ trái với giáo-lý thánh Kinh Co-ran. Thí-dụ họ tin rằng vị thần trông nom về đồng ruộng là nữ thần Devi-Chri vợ của thần Vichuou, nên dân Nam-dương đã thiết-lập những am-thờ để phụng-sự. Trước khi làm ruộng và sắp đến ngày gặt, họ mang hoa quả ra cúng vị-thần ấy để cầu phong-đăng hỏa-cốc, và xin phép gặt lúa.
Cổ tục Java vẫn được dân chúng nhất là nông-dân tin thờ triệt-để, từ việc đẽo cái cày cũng phải theo đúng nếp cũ. Quanh bờ ruộng họ cắm hàng sáo, khi gió thổi tiếng sáo cất lên, dùng để xua đuổi các tà-thần để các ác-thần này không xâm-phạm đến nữ-thần Devi-Chri.
Bán-đảo Đông-dương với sự gặp-gỡ của hai nền văn-hóa Ấn-Hoa
Như chúng ta thấy vào những thế-kỷ trước sau kỷ-nguyên Thiên-chúa các nền văn-hóa phương Bắc ở lục-địa Trung-hoa và Ấn-độ là văn-hóa Khổng-giáo hay văn-hóa Veda đã đồng-hóa xong với văn-hóa Bách-việt phương Nam Trung-hoa hay văn hóa Dravidien phương Nam Ấn-độ, và tiếp-tục tràn xuống Đông-nam-Á, một mặt theo đường biển, một mặt theo đường bộ mà bán-đảo Đông-dương chính là nơi hai trào-lưu đụng-độ, gặp-gỡ giao tranh trong cuộc giao-thiệp giữa dân Việt với dân Chàm, khi hòa khi chiến, kết-quả là sự hoàn-thành cuộc Nam tiến của Việt-nam.Nhưng cuộc Nam-tiến của dân-tộc Việt-Nam không phải lẻ-loi hay có trước cuộc Nam tiến toàn-thể của các dân-tộc Á-Châu từ trong lục-địa đi xuống miền Nam, xô tới các Châu-thổ miền phì-nhiêu của các dòng sông để làm cơ-sở cho các dân-tộc : đấy là vận-mệnh của dân-tộc Khmers Birman, Thái v.v…
Sự xô-đẩy đầu tiên về phương Nam ấy là của đoàn-thể Khmers nó đã tiêu-diệt nước Chân-lạp và Phù-nam ở Nam-Việt này vậy. Rồi đến thế-kỷ thứ IX dân-tộc Miến hay Birman theo giòng Irrwaddy đi xuống Trung-châu : Mandalay, Ava, Pagan, Prome, Pegu, Rangoon.
Thế-kỷ thứ X, Việt-tộc giải-phóng khỏi ách đô-hộ của Tàu dần-dần men theo duyên-hải xuống trung-châu Đồng-nai. Thế kỷ thứ XIII cuộc di-dân Thái tộc từ nội-địa phía Tây-nam Trung-Hoa đi xuống bán-đảo Ấn-độ Chi-na, trở nên dân-tộc Siam, Lào ngày nay.
Trước hết là cuộc Nam-tiến của dân-tộc Cao-miên hay Khmer. Sào-huyệt của nhóm này ở Trung-nguyên giữa dòng sông Meman và Mékông.
Khoảng thế-kỷ thứ VI triều đại Khmer là Bhavarman bắt đầu chinh-phục đất Phù-Nam. Đến triều-đại Jayavarman, thế-kỷ VII chinh-phục đất Lào đến tận Vân-Nam. Những tài-liệu tiếng Sanscrit và Khmer cho biết về thời-đại này, dân-tộc Khmer có một tổ-chức cai-trị chặt chẽ với một hệ-thống quan-liêu hùng hậu. Đời sống tôn-giáo là thờ-phụng thần Vishnu-Civa, tượng trưng sự phối-hợp hai nguyên-lý sáng tạo vũ-trụ, ở hình-thức Linga coi như Quốc-giáo. Các đại anh-hùng-ca Ấn-Độ Ramayanna và Mahabharata lấy làm cơ-sở văn-học nghệ-thuật. Vào thế-kỷ VIII thì Cambodge chia làm hai quốc-gia, Thủy-chân-Lạp và Lục Chân-lạp. Thời-kỳ này bị thế-lực Java chi-phối cho nên một di-tích chứng-minh ở tại Siemriap lần đầu tiên hiện-diện của pho-tượng Quan-âm Bồ-tát là thần-linh của tinh-thần Phật-giáo Đại-thừa (Mahayana). Đầu thế-kỷ thứ IX một vị vua trị vì Java tới kinh-đô Indrapura ấy là vua Jayavarman II – Sự thờ phụng « Thượng-đế-Vua » được thi-hành trong một điện thờ trên đỉnh núi thiên-nhiên hay giả-tạo, ở tại trung-tâm Kinh-đô và coi như trục của thế-giới : ở đấy có sự thông-cảm giữa Thượng-đế và nhà vua. Cái quan-niệm đền thờ là núi còn cổ xưa hơn tục thờ thần Civa (thần sáng hóa của Ấn-độ giáo). Người ta thấy tín-ngưỡng ấy ở tất cả văn-hóa nguyên-thủy cổ-sơ của Á-Châu từ Mesopotamie đến Ấn-độ và từ Đông-Nam Á-Châu đến Trung-Hoa. Nước Phù-Nam có ngọn đồi linh là Ba Phnom, ở Java họ Cailendra và Vua-Núi. Đối với vua Khmer, sự thờ phụng ấy cũng có một ý-nghĩa chung với thần-thoại Bạch-Tượng của các vua Phật-giáo Tiểu-thừa. Trải qua hàng thế-kỷ, nhiệm vụ của mỗi vua là dựng lên một ngôi Điện-Núi để bảo-vệ tượng-trưng Linga chứa đựng cái « Ngã tinh-linh » của mình. Vua là Thượng-Đế mà ngôi-đền ấy được cung-dâng ngay khi còn sống. Đấy là lăng-tẩm của ông ta khi chết đi. Do tục ấy mà nẩy-nở rất nhiều điện thờ mà dân Cam-bốt lấy làm hãnh-diện.
Sau Jayavaman II thì đến họ Indravarman I (877-89) là người thống-nhất Cam-bốt, mà uy-thế lan từ Châu-Đốc đến Tây Bắc Ubon. Yacovarman I (889-900) dựng ngôi đền Angkor lấy làm kinh-đô nước Cambodge trong vòng hai thế-kỷ.
Angkor ngày nay vẫn là một trong một số ít kỳ-quan nghệ-thuật của thế-giới. Qua những văn-bia chúng ta có thế biết đại-khái tinh-thần văn-hóa của cấp lãnh-đạo dân-tộc Khmers như Coedes, trường Viễn-Đông bác-cổ đã diễn giải :
« Nhà vua hiện như một thần-linh ở trần-thế. Ngự trị đối với y là ăn ngôi báu cũng như người quan cai-trị ăn tỉnh-thành của mình. Nguồn-gốc của tất cả quyền-thế, nhà vua bảo vệ luật-pháp và trật-tự, hộ-vệ tôn-giáo, bảo-vệ lãnh-thổ, phân phát đất đai cho nông dân cầy cấy, dưới vua, quyền hành tập trung vào tay quí tộc, vương-hầu cùng huyết-thống và các họ giáo-sĩ tập-truyền theo mẫu-hệ. Các hàng quí-tộc lấy nhau trong họ, lập thành một giai-cấp riêng-biệt tuy cũng là người như mọi người dân khác. Các cấp-trật lập-thành một tổ-chức hành-chánh đông-đúc.
« Cũng như ở các nước khác trong Đông-Nam-Á, Tôn-giáo đặc-biệt về cái tinh-thần dung-hòa tổng-hợp. Đạo Civa, đạo Phật, đạo Vishnou sống chung cạnh nhau, có lúc đạo này ưu-thế có lúc đạo kia, tùy theo sở thích của nhà vua. Sự hợp-hóa ấy biểu-thị ra nghệ-thuật và văn-chương giải-thích cơ-cấu của xã-hội là ở Ấn độ thì đạo Bà-la-môn liên-kết với trật-tự xã-hội, ở đây chỉ là một tôn-giáo của triều-đình, không ảnh-hưởng đến đại-chúng, vẫn trung-thành với tín-ngưỡng tổ tiên và chư-vị thần-linh. Nhưng rồi chính những tín-ngưỡng truyền-thống ấy thấm-nhuần vào văn-hóa quí-tộc. Các ngôi điện-đài chứng minh sự hỗn-hợp thân-mật giữa tín-ngưỡng tổ-tiên và tư-tưởng từ Ấn-độ sang. Các ngôi đền-đài ấy do các vua chúa dựng lên để phụng sự chính tôn-giáo của mình và để thờ chính tổ-tiên mình nữa : tượng thần Civa, Vishuou, Harihara, Lakshmi, Parvati, Bồ-tát ở trong các điện-đài ấy biểu-thị phần lớn các vua chúa dưới sắc thái thần-linh mà khi chết đi linh-hồn họ sát nhập vào.
« Nghệ-thuật Khmer đến chỗ tuyệt-đích với kiểu tượng-trưng của đền Bayon, giữa Ankor Thom.
« Ở bàn thờ chính giữa có một pho-tượng vĩ-đại bằng đá hình-dung đức Boudharaja, tương-đương của Phật-giáo với ngôi « Thượng-đế-vua » của đạo Civa, và là hình-ảnh điển-thánh phong-thần của vua khai sáng. Một vòm vàng bao trùm, chung quanh có năm chục vòm nhỏ chồng-chất lên nhau thành một khối hỗn-độn đáng chú-ý. Tất cả đều có bốn mặt tượng bồ-tát Quan-Âm khổng-lồ với nụ cười thần-bí, biểu-thị quyền-thế nhà vua che chở bốn phương của lãnh-vực. Từ đền Bayon chạy ra năm con đường lát đá đến năm cửa vĩ-đại : Những đường ấy, bao-lơn hình rắn thần Nagas là để tượng-trưng cho cái cầu vồng ma-thuật nối địa-giới với thiên-đường. Tuy-nhiên nét đáng chú-ý nhất là những cảnh sinh-hoạt thân-mật trong gia đình mà lưỡi đục của nhà điêu-khắc đã pha trộn với những sự-tích anh-hùng ca lịch-sử, trên tường đá tại hành lang : chỗ này cảnh đi câu đồi-mồi, chỗ kia một chàng đi săn dương cung để bắn vào con trâu, chỗ khác đám đông người xúm quanh một cảnh chọi gà, trạm trổ rất hiện thực ».
Vương-quốc ấy thịnh-vượng suốt thời Trung-cổ, từng trao đổi sứ-thần với nhà Nguyên bên Tầu, Chinh-Đông với Chiêm-thành, Chinh-Tây với Xiêm-la. Nhưng tiền xây cất đền đài với chiến-tranh làm kiệt-quệ tài sản, làm nhân-dân chán-nản, đã là nguyên-nhân suy-nhược của Vương-quốc Khmer. Một yếu-tố mạnh nhất làm cho triều-đại Khmer yếu-hèn lại là Phật-giáo Tiểu-thừa ở đây đóng vai như Hồi-giáo ở Java. Phật-giáo Tiểu-thừa phát-triển ở Ceylan vào thế-kỷ XII đã ăn sâu tại Miến-điện, tràn vào lưu-vực Menam và Mékong. Ngay cuối thế-kỷ XII đã có một Hoàng-tử Khmer sang học Phật ở Tích-lan. Một thế-kỷ sau, mỗi một làng Khmer đều có một ngôi chùa hay một ngôi tháp của nó, mỗi người ai nấy tìm giải-thoát cho mình.
Phía tây, Xiêm-la vào đánh chiếm lấy đất Bat-tambang, Stung-Treng ; Phía Đông, hết Chàm vào đánh lại đến Việt-Nam, khi Việt-Nam xuống tới Đồng-nai. Và tới đầu thế-kỷ XIX thì Cam-bốt thừa-nhận cả sự bảo-hộ của triều-đình Huế lẫn triều-đình BangKok.
Sự bành trướng của giống Thái
Chủng-tộc Thái bao-hàm một khu-vực rộng lớn trong lục-địa Á-Châu, từ Brahmapoutre đến bể Trung-Hoa và từ Cao-nguyên sông Dương-tử đến Vịnh Xiêm-la. Họ phát-tích từ Tây-Nam nước Tầu. Dựng nên một quốc-gia Nam-chiếu rất hùng-mạnh, đóng đô ở Đại-lý đất Vân-Nam, và đến thế-kỷ thứ VIII tràn xuống miền Nam vào trung-châu Hồng-Hà (Bắc-Việt) và trung-châu sông Irrawaddy Miến-Điện, trung-châu sông Menam nước Siam. Các nhóm thái-tộc thiết-lập giữa giống Khmers, giống Môn và giống Birman. Vào thế-kỷ XIII nhiều quốc-gia Thái đã nẩy-nở lấn cả thế-lực Khmer lẫn Birman, là bang quốc Lào, Shan và Siam.Khi quân Nam-chiếu tràn vào lưu vực sông Irrawaddy ở đất Miến-điện, mục đích để liên-kết với Tây-tạng và Đồng-Minh của chúng, thì chúng chiếm phá kinh-đô Pyu, một quốc-gia Phật-giáo cực-thịnh đầu-tiên của xứ Miến-điện. Theo sử-ký nhà Đường thì :
« Vòng thành kinh-đô Pyu dài một trăm dặm, xây bằng gạch men xanh, có hào, và mười hai cổng thành có tròi gác ở các góc. Nhân dân gồm hàng mấy vạn gia-đình, nhà cửa lợp bằng chì và thiếc. Có hơn một trăm ngôi chùa Phật, trang-sức bằng vàng bạc và họa-phẩm sặc-sỡ, dải thảm thêu. Thanh niên ở chùa đến năm hai mươi tuổi, học kinh Phật xong rồi mới vào đời. Nhân-dân ham yêu sự sống và sợ sát-sinh. Họ không có dùng đến dụng-cụ hình-phạt như cùm xích chi hết. Chỉ có tội giết người là phạt tử-hình. Họ không dùng mỡ, dầu mà chỉ có nến sáp ong thơm. Họ dùng tiền bằng bạc hình vành nửa mặt trăng. Họ buôn bán với các nước lân-cận và cung-cấp hàng vải trắng và chum vại bằng đất sét nung. Họ có một thứ âm-nhạc đặc-biệt và vũ-điệu rất tinh-vi đã khởi hứng cho một bài thơ của Bạch-Cư-Dị ».
Sau khi vương-quốc Pyu bị Nam-chiếu tiêu-diệt, thì bộ-tộc Môn và Birman kế-tiếp dựng nên Vương-quốc Pagan mà di-tích đền chùa Phật-giáo còn nổi tiếng thế-giới ngày nay cũng như cổ-tích Angkor vậy. Từ biên-giới Hoa-Tạng đi xuống, dân Birman học được thuật chiến tranh của Nam-chiếu, bắn nỏ cưỡi ngựa, trồng cấy dưới đồng và trên bậc đồi. Từ thế-kỷ VII họ đã thu-nhận được của Bắc Ấn, Phật-giáo Đại-thừa. Phật-giáo sang đây đã trà-trộn với phù-chú ma-thuật. Pagan do nhà vua họ Pynbya cho xây dựng vào năm 849. Đấy là trung-tâm của Vương-quốc triều Anawrahta (1044-77), Nhà vua này đã có công mở rộng Birmanie từ Bhamo đến cửa bể Martaban và từ bờ biển Arakan xuống Bắc bán-đảo Mã-lai, đem lại một nền kinh-tế phong-phú về nông-nghiệp cho xứ-sở. Nhưng sự-nghiệp trọng-yếu đối với một dân-tộc sùng tín là việc du-nhập Phật-giáo tiểu-thừa thay cho Đại Thừa. Chính nhà vua từ Đại-thừa cũng chuyển sang Tiểu-thừa. Sự-kiện này đem lại sự hợp-tác với bộ-tộc Mon mà văn-hóa cao hơn dân Birman bấy giờ vì vị-trí của chúng cho chúng luôn luôn xúc-tiếp với miền Nam Ấn-độ. Trung-Tâm của Mon ở tại Thaton, cửa sông Sittang. Họ chiếm cứ cả đất Siêm ngày nay là hạ lưu sông Menam, đặt kinh-đô của quốc-gia tại Dvaravati. Nhưng Phật giáo đem từ Thaton vào mãi Miến-điện bấy giờ cũng do miền Nam Ấn Conjeveram truyền sang, vốn trà trộn cả Đại-thừa với phù-chú, đồng thời có cả tín-ngưỡng cổ-xưa về thờ thần Nat với Naga. Chùa Shwezigon dựng vào năm 1059 có cả bàn thờ ba-mươi bẩy thần Nát mà sự thờ cúng là tục Miến-điện của tín-ngưỡng vật-linh phổ-thông khắp cả Đông-Nam-Á.
Sau Phật-giáo Thaton đến Phật-giáo Tích-lan. Và các nhà cải-cách tôn-giáo Miến-điện bấy giờ đã biến Phật-giáo này thành một tôn-giáo thực đại-chúng chứ không còn của quí-tộc thiểu-số nữa. Từ Miến-điện, Phật-giáo này truyền sang Siam, Cambodge và Laos và ở đâu nó cũng cảm-động đến đại-chúng một cách thâm-trầm. Hiện-tượng này thật trọng-đại vì nhờ tinh-thần dân-chủ của Phật-giáo này mà Hồi-giáo không thâm-nhập vào được khu-vực trên đây như là nó đã ảnh-hưởng vào bán-đảo Mã-lai và quần-đảo Nam-dương vì ở đây đạo Bà-la-môn cũng như Phật-giáo Đại-thừa chỉ ảnh-hưởng vào triều-đình mà thôi.
Nhưng rồi các vua của Pagan về sau quá ươn hèn, cùng với nhân-dân quá mơ tưởng cảnh trời siêu-nhiên, nên quân Nguyên đã tràn vào kinh-đô Pagan năm 1277. Từ đấy về sau thế-lực Pagan lụn bại, phải chờ đến thế-kỷ XV, XVI mới lại phục hưng và thống-nhất Miến-điện cận-đại.
Thái-tộc với sự thành lập các quốc gia Siam và Lào
Sau khi quân Nam-Chiếu nổi lên quấy phá Bắc-Việt và Bắc-Miến, định dựng nên một đế-quốc Thái gồm Vân-Nam, Bắc-Miến, Xiêm, Lào và phía Tây Bắc-Việt thì bị nhà Đường đem đại quân xuống đánh bại. Sự tan tác của Nam-Chiếu càng làm cho cuộc Nan-tiến của dân Thái mạnh thêm. Sau một thời-gian, ý-thức dân-tộc Thái bị phát xuất với Nùng-trí-Cao khi họ Nùng ngự-trị miền núi non Hoa-Nam và đóng-đô ở Đại-lý (Vân-Nam) để tam phân đỉnh-túc với nhà Tống bên Tàu và nhà Lý bên Việt-Nam. Chiến-tranh tiếp diễn, ý-đồ của họ Nùng lại thất-bại. Bị Trung-hoa dồn ép, Thái-tộc chuyển dịch xuống miền Nam. Cũng thời đó, Hồi-giáo từ Nội-Mông Tân-Cương tràn vào Cam-Túc xuống tận Vân-Nam, gây thêm khó-khăn cho dân-tộc Thái trong sự cạnh-tranh phạm-vi ảnh-hưởng. Đó là lý-do tất-nhiên của cuộc di-cư tuần tự này theo với sự đổi thay tình-trạng ở nguyên-quán của họ. Sau đó các bộ-tộc khác ở Trung-hoa và Tây-tạng cũng tiếp-tục đi xuống miền Nam. Khi người Pháp chiếm Bắc-Việt và người Anh chiếm Miến-điện, các bộ-lạc Mèo, Mán, Lolo v.v… vẫn còn đang lẻ tẻ di-chuyển xuống.Các nhóm Thái bèn dựng cơ-sở giữa người Khmer, người Mon và người Birman. Đến thế-kỷ XIII cuộc đảo lộn xã-hội gây nên bởi những chiến tranh của quân Nguyên làm nẩy nở các quốc-gia Thái lấn vào các đế-quốc cũ của dân-tộc Khmer, hay Birman đang suy tàn. Trong các nhóm Thái định-cư chỉ có nhóm Thái ở Siam gặp được điều-kiện thuận-tiện là lưu-vực Menam phì-nhiêu, mở cửa thông ra bể, có những yếu-tố cho sự thịnh-vượng. Nhóm Thái ở Lào lại bị giam vào những thung-lũng khô-khan và núi-non hiểm-trở.
Vào giữa thế-kỷ XIII, hai lãnh-tụ Thái đánh đuổi quan cai-trị Khmer ở đô thị Sukhothai trên thượng-lưu sông Menam và dựng ở đấy kinh-đô của một vương-quốc. Vị-trí địa-lý của Sukhothai, trung-tâm ảnh-hưởng của văn-hóa Khmer, Mon và Birman đã là nơi phát-tích của văn-hóa Siêm-la hay Thái-lan. Ở đấy dân Siam đã đồng-hóa được truyền-thống tôn-giáo chính-trị nghệ-thuật của các nước láng-giềng và thích-ứng tài riêng, đồng thời bảo-thủ lấy cơ-cấu tổ-chức xã-hội của mình giống với xã-hội Mongol : một quí-tộc quân-nhân là người giống Thái thống-trị đại chúng nhân-dân và nô-lệ là dân bản-xứ. Dân Siam đã học được lối viết của dân Khmer. Vua Siam bây giờ là Rama Khamhèng (1280-1318) mở rộng biên-giới lãnh-vực của Sukhothai đến Luang-Prabang, Pegu trên đất Miến-điện và Ligor trên bán-đảo Mã-lai. Một bài bia năm 1292 ghi công trạng vua Khamhèng như sau :
« Sinh thời vua Rama Khamhèng, đô thị Sukhôthai rất thịnh-vượng. Dưới sông có cá, trên ruộng có lúa, vua không đánh thuế thần-dân. Dọc đường nhân-dân lũ lượt qua lại, đánh bò đi bán, cưỡi ngựa đi mua. Kẻ muốn buôn bán voi hay ngựa cứ việc làm. Kẻ muốn buôn bán vàng bạc cũng cứ việc làm.
« Nếu có một người dân, một ông quan, một ông tướng bệnh đau, chết hay mất thì nhà của ông cha y, quần áo, voi, gia đình, vựa lúa, nô tì, vườn cau và trầu đều giao lại đầy đủ cho con cái y. Nếu người dân, các quan, hay các tướng bất-hòa với nhau, nhà vua cho điều-tra thật sự và giải-quyết một cách hết sức công-bình. Vua không vào bè với kẻ ăn cắp hay kẻ giấu diếm. Vua thấy gạo của người không tham, thấy của cải của người không tị.
« Kẻ nào cưỡi voi đến tìm nhà vua để xin che chở, vua giúp đỡ liền. Người ngoại-quốc không có voi, ngựa, nô tì, vợ, bạc, vàng nhà vua ban cho, và mời ở lại tự coi như ở chính tại nước mình. Nếu bắt được chiến-sĩ hay tù-binh đối phương với vua, vua không giết, không đánh đập. Bên cạnh cổng thành có treo một quả chuông : nếu một người dân trong nước có điều gì khiếu nại hay điều gì thương-tổn đến tinh-thần, và muốn tỏ bầy cùng vua thì không khó khăn chi cả, chỉ phải đánh chuông lên. Mỗi khi vua Rama Khamhèng nghe thấy tiếng gọi, vua bèn hỏi han người khiếu-nại về sự tình và xét-xử rất công-minh. »
Trong khi vua Rama Khamhèng thiết dựng thế-lực Siam-la ở trung-bộ bán-đảo Ấn-độ Chi-na thì một tướng Lào lập nên một nước Lan-Na, kinh-đô đặt ở Chieng-Mai (1296) tại phía Bắc Siam-la, và hai nước kết-giao thành một đồng-minh các tướng Thái.
Vua nối nghiệp Rama Khamhèng là Lư Thai, một ông vua bác học « trị vì với mười điều giáo-lý của nhà vua. Vua biết thương tất cả thần dân, vua tha thứ tất cả những kẻ không tốt với mình. Lý do nhà vua thúc-ước tâm-trí của mình, và không nổi giận dù có khi đáng giận, ấy là nhà vua muốn thành một đức Phật và dẫn giắt tất cả chúng-sinh vượt qua bể trầm-luân ».
Từ một giòng-dõi chiến-sĩ Nam-Chiếu trở nên một đức Bồ-tát từ-bi, phải chăng hoàn-cảnh địa-lý khí-hậu nhiệt-đới đã chuyển hướng tất cả nhuệ khí vũ-dũng vào bên trong thành lòng nhân-từ thụ-động như thế ? Bởi vậy mà sứ mệnh xây-dựng nước Siêm-la cận-đại tân-tiến phải vào tay họ Ramadhipati, thiên-đô xuống gần đầu mối giao-thông với bên ngoài là Ayuthya và Bangkok, mở ra một kỷ-nguyên mới cho lịch-sử nước Siam, bằng sự phục-hưng phong-tục Thái cố-hữu của thời Nam-Chiếu, dung-hòa với Luật-pháp trong Kinh Manu của Bà-la-môn giáo, và sáng-lập ra Hiến-Pháp Siêm-la được dùng mãi đến triều Chulalongkorn gần đây (1910).
Văn-hóa Siam không tinh-tế bằng văn-hóa Khmer. Kinh-đô lịch-sử Ayuthia kém xa kinh-đô Angkor về nghệ-thuật. Nhưng dân-tộc Siam-Thái là một dân-tộc có khả-năng đặc biệt. Họ đến đâu là học hỏi ngay chính kẻ họ đánh bại. Họ cũng mang lại cho bản-xứ một hình-thức văn-hóa mới, ấy là Phật-giáo Tiểu-thừa của Tích-lan mà họ đã tin tưởng một cách nhiệt-thành khi mới xúc tiếp với Miến-Điện. Chúng ta đã thấy ông vua cuối cùng của Sukhothai là Lu-Thai mộ-đạo Phật đến cho đi mời ở Tích-lan một nhà sư tiểu-thừa danh tiếng để cùng chủ-tọa một hội-nghị Phật-giáo và tự-nguyện cắt tóc làm sư. Tiếng Pali trở nên tiếng bác-học của Siam, và tăng-già Siam đã như là một chi-nhánh của Tăng-già Tích-lan. Từ nước Siam, Phật-giáo Tiểu-thừa truyền-bá sang Cam-bốt và thay thế cho tín-ngưỡng Ấn-độ và Phật-giáo Đại-Thừa thời Angkor.
Vạn Tượng
Phía Đông-Bắc nước Siam, đồng thời với kinh-đô Ayuthia có một nước Lào xuất-hiện ở kinh-đô Vạn-Tượng. Sự thống-nhất quốc-gia của Lào, dựa vào sông Mékong là một lịch-trình chậm chạp, vì địa-thế không thuận-tiện : một con sông lớn có nhiều thác không tiện giao thông, một hàng cao nguyên dứt đoạn vì núi và suối, khiến cho địa-thế phân chia làm nhiều khu cách biệt độc-lập.Vào thế-kỷ XIV, kinh-đô Sukhothai bị kinh-đô Ayuthia kiêm-tính, nhân cơ-hội Fa-Ngum một ông vua Lào dựng nên thống-nhất quốc-gia, lên ngôi ở Luang-Prabang, làm vua nước Vạn-tượng. Ông vua này từng du-học ở Angkor, bèn mời một phái đoàn nhà sư và thợ Khmer sang Lào. Đấy là bắt đầu nền văn-hóa Khmer và Phật giáo Pali Tiểu-Thừa lan tràn vào cao-nguyên Mé-kông vậy.
Con vua Fa-Ngum nối ngôi cha, tự xưng là « Tướng lãnh ba trăm ngàn dân Thái », nhưng kỳ thực giữa các tiểu-vương vẫn có sự cạnh-tranh khiến cho nước Lào không bao giờ thực hiện được một chủ quyền thống-nhất mạnh-mẽ. Vả lại lịch-sử Lào lại luôn luôn phải chiến-tranh chống đỡ, một mặt với Việt-Nam (1479), một mặt với Siam-la và Miến-điện. Còn trong nước thì ba tiểu-bang nội-chiến với nhau là Luang-Prabang, Vien-tiane, Champassak cho đến khi tiểu-bang Champassaak bị sát-nhập vào Siam, Vientiane bị tàn phá và Luang-Prabang xin sự che chở của Việt-Nam.
Cuộc Nam-tiến của Việt-Nam
Lịch sử Nam-tiến của dân-tộc Việt nằm ở trong định mệnh chung của toàn thể lưu-dân di-chuyển từ lục-địa xuống bờ biển Đông-Nam trước sự dồn ép của các thế-lực phương Bắc. Đây là lịch-sử của một dân-tộc hơn là một lãnh-thổ. Một dân-tộc thì cái điểm trọng-đại tiên-quyết là ý-chí chung sống của nó, ý muốn sinh-tử cộng-tồn trước hết, trải qua không gian thời gian biểu-thị ra ở việc làm, ở sự-nghiệp, ở người, ở vật, đấy là văn-hóa của một dân-tộc vậy. Trước khi tiếp-xúc với văn-hóa Ấn-độ Veda và văn-hóa Tàu Khổng-Nho, thì xã-hội Việt-Nam ở đất Giao-Châu tức lưu-vực Hồng-Hà, theo các cổ-học sử-gia kết-luận, đã có tổ-chức riêng về đời sống tập-thể khác với Tàu, với Ấn. Sách « Giao-Châu ngoại-vực ký » chép rằng :« Đời xưa, khi nước Giao-Chỉ chưa chia ra thành quận huyện, thì lãnh-thổ chia ra những cánh đồng gọi là « lạc điền » ; trong những cánh đồng đó, nước lên xuống theo thủy-triều, dân cư cày bừa những ruộng ấy để sinh nhai, cho nên người ta gọi những dân đó là dân Lạc. Các Lạc-tướng và Lạc-hầu cai trị các quận huyện. Ở các huyện có Lạc tướng. Dưới đời Hán, mỗi Lạc-tướng lĩnh một cái ấn đồng có giây chằng màu lục ». Và giáo-sư Maspero, căn-cứ vào đoạn văn ấy, so sánh những chế-độ của dân man-rợ hiện ở phía Nam nước Trung-hoa để kết-luận về cái xã-hội Việt-Nam trước khi chịu ảnh-hưởng văn-hóa Tàu.
« Xã-hội đó có tính-cách phân đẳng-cấp và phong-kiến, giống như dân Thái và Mường ở miền Đà-giang và những miền núi giáp-giới Bắc-bộ Ai-lao.
« Người Lạc bình-dân không hay di-chuyển, và thành-lập ra từng đoàn-thể nhỏ gồm một vài làng đặt dưới quyền cai-trị của những Lạc-tướng thuộc về thế-tộc. Những Lạc-tướng giữ quyền về tôn-giáo, dân-chính và binh-bị. Cũng như các Chao-din người Thái bây giờ ở thượng-lưu sông Đà, những Lạc-hầu chia cho các Lạc-tướng là họ hàng con cháu họ, những làng mạc đó, tức là những kế thừa thái-ấp nhỏ. Những Lạc-hầu nào mà có đất-đai to gần bằng một huyện đời nhà Hán phải phụ thuộc Lạc-vương.
« Tương-đối ra về phương-diện vật-chất thì cũng khá tiến-bộ. Dân ở Bắc-bộ Việt-Nam xưa kia cầy ruộng không dùng cầy và trâu, mà dùng toàn cuốc làm bằng đá mài. Có khi họ đã biết cấy một năm hai mùa và nếu thực ra họ đã biết lợi dụng được mực nước sông lên xuống để cho nước vào ruộng, thì họ cũng đã là những nhà làm ruộng giỏi. Còn về binh khí, họ có những cung lớn độ vài thước cao để dùng bắn mũi tên tẩm thuốc độc. Phải thề và dấu kín cách chế thuốc độc bí mật. Họ cũng biết đúc đồng để làm đầu mũi tên, cách chế tạo nói trên phải theo một lễ-nghi có tính-cách tôn-giáo. Muốn làm đầu tên thì phải đúc lại những đồ bằng đồng. Các cụ già gõ đồ đồng để xem tiếng, và chỉ nhận những đồ đồng nào có tiếng thích-hợp thôi.
« Họ hay ưa vẽ lên mình, bím tóc ra đàng sau gáy và chít khăn, cũng như bây giờ con cháu họ hãy còn theo. Cái tục ăn trầu cũng thấy nhiều người theo ; cả tục ruộm răng nữa mà người Tầu cho là kết-quả tự-nhiên của tục ăn trầu mà ra.
« Ta không biết mấy về tôn-giáo và phong-tục đời đó. Cũng như các dân-tộc ở về phía Đông-Nam Á-Châu, tôn-giáo của dân Việt đời xưa có tính-cách nông-nghiệp ; một đại-hội về mùa xuân, mà trai gái được tự-do vui đùa, đánh dấu ngày tân-xuân cho phép làm những công việc đồng áng đầu tiên, và có những tiểu-lễ mà các văn-sĩ Tầu đã ghi được ở thế kỷ XI rất tỉ mỉ. Hội đó vẫn còn tồn-tại ở xã-hội Thái trên thượng-du và hiện còn lại ít nhiều di-tích dưới đồng bằng.
« Lễ ăn hỏi phải có tặng-phẩm như trầu cau, tục này người Thái vẫn còn theo. Những nhà chức trách Tầu ở thế-kỷ thứ III không làm cách nào trừ hết được cái tục anh em chồng lấy chị em dâu, còn tồn-tại ở phía Tây Bắc-bộ Việt-Nam bây giờ. ». [3]
Đấy là một xã-hội có cá-tính riêng biệt khác với xã-hội Tầu, nhất là theo quan-niệm Chu-lễ của Khổng-Nho, là một xã-hội phụ-hệ, quyền ưu-thế của phái Nam thuộc người cha còn ở xã-hội Lạc-Việt vẫn là xã-hội mẫu-hệ quyền ưu-thế của phụ-nữ thuộc về giòng mẹ. Việc hai vị liệt-nữ họ Trưng đứng lên phất cờ khởi-nghĩa đầu tiên đủ chứng-minh địa-vị ưu-tú của phụ-nữ trong xã-hội Lạc-Việt.
Và xã-hội chất phác ấy, tín-ngưỡng vật-linh, tôn-giáo nông-nghiệp đã phải va chạm với thế-lực hùng-mạnh từ phương Bắc xuống, đế-quốc nhà Tần hay đế-quốc nhà Hán.
Rồi trải qua ngót ngàn năm Lạc-Việt đã bị Bắc thuộc. Quyền đô-hộ lúc đầu còn rộng rãi, về sau ngày càng chặt chẽ, muốn sát nhập Việt-Nam vào bản-đồ Trung Quốc, trái hẳn với nguyện-vọng thâm-thiết của nhân-dân, thường bộc-phát ra những cuộc quật-khởi tuyệt-vọng vì quả bất dịch chúng, đủ tỏ rằng nhân-dân Lạc-Việt chịu đựng sự đô-hộ của Tầu một cách bất-đắc-dĩ. Ngay từ đầu sự bất-bình ấy đã đẩy một số dân Lạc-Việt miền gần biển bỏ đi ra ngoài biển, theo chiều gió mà di-cư xuống các hải-đảo ở Đông-Nam-Á. Bác sĩ W.F. Stutterheim trong một khảo-cứu gửi tự Nam-dương cho tạp-chí Indochinoise tháng 6-1928 có xác-nhận rằng :
« Vào khoảng kỷ-nguyên trước T.C. dân miền mà ngày nay gọi là Ấn-Độ Chi-na một phần đã lan-tràn sang quần-đảo Đông-Ấn, mở ra một thời kỳ mới trong lịch-sử hải-đảo này. Dân mới đến đã mang vào kỹ-thuật dẫn-thủy của họ áp-dụng vào việc trồng lúa ; kỹ-thuật này đã thông-dụng ở tại xứ-sở nguyên-quán của họ. Họ còn thiết-dựng một chính-phủ nông-dân với một chế-độ xã-hội giống hệt với chế-độ họ vốn đã có từ trước. »
Lại cũng có kẻ không muốn hợp tác với chế-độ đô-hộ của Tầu, bỏ lên rừng núi để tìm cách cầm cự trường-kỳ, cho nên từ hai bà Trưng cho đến Ngô-Quyền đã có nhiều cuộc quật-khởi thất-bại.
Phần lớn ở lại Trung-châu, tìm học-hỏi thêm ở văn-hóa Trung-hoa, thâu hóa của Tàu để pha trộn với của mình, không quên mục-đích tối cao là giải-phóng khỏi ách đô-hộ ngoại-lai. Ông Aurousseau, trường Viễn-Đông Bác-Cổ viết rằng :
« Phong tục xã-hội phong-kiến Việt-Nam đã bị chính-sách Tàu biến đổi một cách sâu-xa. Phương-pháp cai-trị ấy để lại cho Việt-Nam lòng ham-chuộng và nhu-cầu về chế-độ bền vững. Chính trong trật-tự xã-hội mới sáng-tạo ấy mà về sau nước này tìm thấy được sức mạnh để đánh đuổi các ông thày đã dạy bảo nó ». [4]
Sự thực cái ý-chí chung sống độc-lập, có chủ quyền chính-trị quốc-gia của dân Lạc-Việt không bao giờ từ chối cái hay cái đẹp của người, cái chính nghĩa vương-đạo ở văn-hóa Trung-Hoa cũng như ở các văn-hóa khác đã đến với nó. Nhưng nó chống đối đến cùng những tham-vọng đế-quốc thực-dân bất chính của Tàu qua các triều-đại Hán, Đường, Nguyên, Tống, Minh, Thanh. Bởi thế mà người Việt xưng-tụng văn-hóa Trung-Hoa, nhưng đồng-thời không quên ý-chí độc-lập của mình mà đứng lên chống đối âm-mưu chính-trị muốn chi-phối và sát-nhập Bắc-Việt vào bản đồ Trung-quốc.
Lịch sử chứng-minh có hai đặc-tính căn-bản khác nhau trong lịch-trình truyền-bá văn-hóa của Trung-hoa và Ấn-độ vào khu-vực Đông-nam-Á. Sự truyền-bá của Ấn-độ thì luôn luôn êm đềm, còn sự truyền-bá của Trung-hoa thường đi đôi với võ-lực. Và sự thực văn-hóa Ấn-độ đã thâm-nhập vào cả hai mặt Đông-Bắc hay Tây-Nam dẫy núi Hoành-sơn phân đôi bán-đảo Ấn-Độ Chi-na, trước khi văn-hóa Tây-chu vượt khỏi lưu-vực Hoàng-Hà Dương-tử tràn xuống phía Nam dẫy núi Ngũ-Lĩnh là biên-giới thiên-nhiên ngăn Phiên-Ngung, Giao-Châu với lục địa Trung-hoa.
Ngay từ thời Sĩ-Nhiếp đầu kỷ-nguyên Thiên-Chúa, theo như lời trong bức thư của Viên-Huy (207) từ Giao-Châu gửi về Tàu nói :
« Anh em Sĩ-Nhiếp đều chia ra các quận, mỗi người hùng-trưởng một châu, rộng đến vạn dậm, uy-nghiêm tôn kính không có ai hơn. Khi ra vào chuông khánh vang lừng đủ mọi nghi-vệ thổi sáo, đánh trống. Xe ngựa đầy đường. Những người Hồ đi theo hai bên xe đốt hương thường thường có đến vài mươi… ». [5]
Đấy là phong-tục tôn-giáo chính-trị giống như ở xã-hội Ấn-độ với tôn-giáo Bà-la-môn thời xưa. Đủ tỏ ảnh-hưởng văn-hóa Ấn-Độ hay Dravidien đã sẵn có ở Giao-Châu rồi trước khi xúc-tiếp với Trung-Hoa. Khảo-cứu về sự bành-trướng của Phật-giáo Ấn-độ ra ngoài đất Ấn, Bác-sĩ Migot gần đây cũng kết-luận như Trần-văn-Giáp rằng :
« Theo dư-luận điển-hình thì chính Trung-Hoa đã tiếp-thụ Phật-giáo ở Ấn-độ rồi đem sang Trung-Việt Bắc-Việt. Điều ấy chỉ có một phần đúng và những sự liên-lạc chiến-tranh hay ôn-hòa vô kể giữa hai nước chắc hẳn đã có kết quả đem cho người Việt tôn-giáo của kẻ chiến-thắng là Phật-giáo Đại-Thừa. Nhưng những khảo-cứu mới đây đã chứng tỏ rằng đấy không phải con đường độc-nhất. Người ta chú-ý đến con đường bể truyền thẳng từ Ấn-Độ sang.
« Giữa thế-kỷ thứ III và thứ VI kỷ-nguyên T.C. ở Việt Nam là thời-toàn thịnh của Phật-giáo Ấn do các nhà sư hay giáo-sĩ Ấn, Nguyệt-Thị, Khương Cư, đem tới, và danh-tiếng của Phật-giáo Việt-Nam đã lớn rộng đến nỗi học-giả Tần Mậu-Bác (170) muốn học Phật phải sang đất Giao-Châu. Sự du-nhập ấy là do đường bể và có nhiều giáo-đồ tiếp-tục theo con đường ấy, rất được tín-đồ Việt-Nam hoan-nghênh. Các nhà du-lịch cũng như lái buôn cũng có công giúp vào sự du-nhập hòa-bình ấy. Không phải chỉ các người bình-dân mà các học-giả cũng nhiều đã tìm dịch kinh sách Ấn-Độ.
« Vào năm 580 bắt đầu cuộc du-nhập Phật-giáo lần thứ hai, lần này do từ bên Tàu sang dưới ảnh hưởng của Ti-ni-da-lưu-chi (Vinitaruci), Ông này là một người Bà-la-môn ở miền Nam Ấn, từng tập-luyện khoa Thiền-học ở các chùa bên Tầu. Ngành Thiền-tông là một tông-phái quan-trọng của Đại-Thừa Phật-giáo. Ông ta được cả một lớp tổ-thiền kế tiếp.
« Thế-kỷ thứ IX, một thế-kỷ rực rỡ của Phật-giáo thì ở Việt-Nam có nhiều bậc sư trứ-danh đến truyền-bá một khoa Thiền thuần-túy hơn trước và gần với giáo-lý của vị Tổ sáng-lập là Bồ-đề Đạt-Ma.
« Đến năm 969, vua khai-sáng triều-đại Việt-Nam độc-lập là họ Đinh đã tổ-chức hệ-thống giáo-phẩm mà lãnh-tụ là một nhà sư Phật-giáo và đấy là bắt đầu một thời-đại rất thịnh-vượng của Phật-giáo Việt-Nam. Dưới triều-đại nhà Lê, Trần, chùa-chiền và tăng-già mọc lên khắp nước, Phật-giáo lan rộng nhờ sự ấn-loát kinh-sách Đại-thừa đem ở Tầu sang. Phật-giáo không còn là một tôn-giáo riêng của bình-dân và có nhiều tài-liệu chứng minh tôn-giáo được ưu-đãi vì sự bảo-hộ nâng-đỡ của chính-quyền. Ảnh hưởng ưu-thắng ấy tồn-tại trong khoảng năm trăm năm. Vào thế-kỷ XV thì một sự đối-lập xuất-hiện chống với Phật-giáo ấy là Khổng-giáo do giai-cấp Nho-sĩ đại-diện, và sự đối-lập ấy rất rõ rệt trong thời Việt-Nam bị nhà Minh đô-hộ. Sau đấy Phật-giáo cũng còn thịnh ở thế-kỷ XVI nhưng triều-đình bấy giờ không nâng đỡ Phật-giáo để bênh vực giai-cấp quí-tộc, trí-thức Khổng Nho hay Đạo-sĩ ». [6]
Một điều đáng chú-ý là trong thời kỳ đô-hộ, nhà thống-trị hẳn phải thống-trị cả tinh-thần lẫn vật-chất bằng cách giáo-hóa tinh-thần văn-hóa Khổng-giáo của mình cho nhân-dân. Tại sao Phật-giáo lại nẩy nở, phát-triển mạnh và liên tiếp, thậm chí có nhà sư Việt danh-tiếng bên Tầu như Nhật-Nam tăng hay Duy-Giám Pháp-sư, giảng kinh trong cung vua nhà Đường ? Vấn-đề này René Grousset tác-giả lịch-sử Á-Đông đã trả lời rất chính xác : « Trong thời gian dài ấy, nước Việt bị Tầu-hóa rất thâm sâu, nhận kinh-sách và chữ viết Tầu, Phật giáo Tầu và luân-lý Khổng. Nhưng việc Tầu-hóa ấy là việc của giới trí-thức. Quốc dân bảo vệ tiếng-nói giao-chỉ của mình, truyền-thống và phần lớn phong-tục của nó, thành-thử có sự thấm-nhuần mà không có sự vong-bản, mất dân-tộc tính. » [7]
Thực cũng mỉa mai, giới trí-thức thời bình thì phản dân-tộc để tranh nhau địa-vị, thời biến thì bỏ dân tộc mà chạy lấy thân. Cho nên các nhà vua khai-sáng là những người cảm-thông sâu-xa với nguyện-vọng dân-tộc, vì dân-tộc mà tranh-đấu, vì dân-tộc mà hy sinh, việc đầu tiên là phục hưng lại văn-hóa dân-tộc, như Đinh-tiên-Hoàng, khi dành độc-lập rồi liền phục-hưng ngay Phật-giáo và Đạo-giáo đi đôi với Khổng-giáo lấy tinh-thần Tam-giáo làm Quốc-học. Vì tinh-thần Tam-giáo là tinh-thần tổng-hợp không độc-tôn Khổng-giáo như ở bên Tầu, đấy chính là tinh-thần văn-hóa dân-tộc vậy. Nay muốn biết cái tinh-thần của văn-hóa chế-độ Lý Trần thế nào, như Nguyễn-trọng-Thuật đã viết ở Nam-Phong số 167, nên đọc những lời chỉ dụ của hai vua nhà Trần như sau này. Đời Minh-tôn hoàng-đế, các quan triều là Lê-bá-Quát, Phạm-sư-Mạnh, muốn thay đổi chế-độ theo Tàu. Ngài nói : « Nam Bắc khác nhau, quốc gia đã tự có hiến-chương riêng rồi 國家自有成憲南北各異 »
Đời Nghệ-tôn Hoàng-đế, Ngài thường nói : « Tiền triều ta lập quốc đã tự có pháp-độ riêng chứ không theo của nhà Tống. Bởi vì Nam Bắc đều tự-chủ lấy nước mình, không nên phóng chép của nhau. Duy từ niên-hiệu Đại-trị (1358-69) nhân bọn thư-sinh chấp-chính, họ không hiểu cái ý sâu lập-pháp của tổ-tôn, bèn đem cả phép cũ mà đổi dựa theo như tục Tầu, như là những việc về y-phục ca-nhạc, còn nhiều việc khác nữa. Vậy từ nay việc chính-trị buổi đầu nhất-thiết phải tuân theo về điển-lệ năm Khai-Thái (1324-1329). Coi đó thì biết văn-hoá Lý, Trần khác với của Tống, mà cái sự-nghiệp Lý Trần không phải ngẫu-nhiên đâu ». [8]
Như thế đủ chứng-minh rằng các nhà khai-quốc Việt-Nam thường ý-thức cái nguyện-vọng của nhân-dân, cái động-cơ thúc-đẩy dân Việt-Nam muốn làm Việt-Nam, tức là cái ý-chí độc-lập, tự-do vậy. Điều ấy, trí-thức Việt-Nam hiện nay có người không nhận, hay không biết, nhưng học-giả Pháp đã sớm nhận-thức, cho nên ông Demieville, năm 1924 đã viết :
« Ngay buổi đầu những triều-đại dân-tộc của Việt-Nam đề cao Đạo-giáo và nhất là Phật-giáo. Khi vua Đinh-tiên-Hoàng năm 971 dựng hệ-thống cấp-trật quan-chức, ông đặt giáo-phẩm của Đạo-giáo hay Phật-giáo vào hàng cao bên cạnh quan văn và quan võ. Năm 1007 vua Long-Đĩnh nhà Tiền-Lê xin của nhà Tống một bộ kinh Phật cùng với chín sách cổ-điển của Nho giáo. Ảnh hưởng Phật-giáo càng mạnh dưới triều nhà Lý (1010-1225). Vua sáng lập Lý-thái-Tổ đã học Phật trong một ngôi chùa. Một khi lên ngôi, ông bèn kiến-tạo lại tất cả đền, chùa trong nước. Vua kế-nghiệp Lý-thái-Tôn sai sứ sang Tàu thỉnh kinh Phật và kinh Đạo và xây nên nhiều thư-viện để lưu-trữ. Cùng một chính-trị tôn-giáo dưới thời nhà Trần : người ta thấy Trần-nhân-Tôn nhường ngôi để làm sư (1293) và người kế-vị Trần-Anh-Tôn sau khi nhường ngôi, và trước-tác hai mươi quyển về Đại-tạng với chính máu của mình (1319) ». [9]
Các triết-lý tam-giáo ấy mà các triều-đại độc-lập lấy làm ý-thức dân-tộc ngay bước đầu mới thoát-ly khỏi ách đô-hộ của Tàu đã biểu-hiện rõ rệt sáng sủa vào tác-phẩm nghệ-thuật danh-tiếng Việt-Nam là Chùa Một-Cột mà ý-nghĩa tượng-trưng đã điều-hoà thích-ứng một cách thần-tình thuần-nhất ba phương-diện của văn-hoá Đông-Nam-Á.
- Vạn-hữu thần của Bà-la-môn.
- Tu, tề, trị, bình của Khổng-giáo.
- Từ-bi bác-ái của Phật bà Quan-Âm,
tất cả qui vào một mối : đứng trong hiện-thực mà vẫn siêu-nhiên, « ở bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn », thể-hiện đúng lý-tưởng của nhà thơ Java đã nói trên kia :
« Unité dans la diversité : Đồng-nhất trong sai biệt ». Chính cái tinh-thần điều-hoà thích-ứng của Chùa Một-Cột này thời cận-đại lại vẫn còn biểu-hiện ra ở tác-phẩm nghệ-thuật kiến-trúc của nhà thờ Phát-Diệm dung-hoà văn-hoá truyền-thống với văn-hóa Thiên Chúa.
Nhưng tất cả biểu-thị nghệ-thuật Việt-Nam không có gì đáng so sánh với nghệ thuật các nước Đông-nam-Á được, về phẩm cũng như về lượng. Bởi vì Việt-Nam nghèo-nàn, luôn luôn bị đe doạ ngoại-xâm, cho nên chưa từng có một giai-cấp thống-trị quí-tộc sa-sỉ quá độ, để cho phép có được những công cuộc xây-dựng vĩ-đại bằng mồ-hôi nước mắt của dân.
Nhưng tinh-thần văn-hoá còn biểu-thị ra cái ý-thức dân-tộc ở hành-vi của nhà Lý muốn đòi lại biên giới tự nhiên là dẫy Ngũ-lĩnh của Nhà Tống ở mặt Bắc, và đất Quảng-bình, Quảng-trị, Thừa-thiên ở mặt Nam đã mất cho Chàm thời đô-hộ.
Cái ý-thức dân-tộc ấy cũng lại diễn-tả ra ở hành-vi anh-dũng của nhà Trần, quân-dân nhất-trí một mình đánh đuổi quân Nguyên hung-dữ không cho đổ xuống miền Đông-Nam-Á. Cái tinh-thần Văn-hoá dân-tộc ấy lại biểu-thị ra cử-chỉ anh-hùng nhân-đạo của chúa Lam-Sơn.
Làm việc trọng vì nhân vì nghĩa, cốt sao cho được yên dân.
Cất quân hỏi tội, cứu đời, trước hết trừ loài tàn bạo.
Nước nhà Đại-Việt
Một nước Văn-minh
Cõi bờ sông núi phân chia
Phong-tục Bắc Nam sai khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần dựng nên tổ-quốc
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi chúa một phương.
Dù mạnh yếu có lúc không đều
Mà hào-kiệt chưa đời nào thiếu.
(Bình Ngô Đại-cáo)
Và công-thần Nguyễn-Trãi, quân-thần một dạ :
Thương người như thể thương thân…
…Của tuy tơ-tóc, nghĩa cân ngàn trùng
Của là muôn sự của chung
Sống không, thác lại tay không có gì ?
Ở sao cho có nhân nghì !
(Gia-huấn ca.)
Cái tinh-thần Văn-hoá dân-tộc ấy còn biểu-thị ở cử chỉ anh-hùng áo vải đánh đuổi quân Thanh :
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước biết bao công-trình.
(Ngọc-Hân)
Cũng như nó đã biểu-thị ở ý-chí thống-nhất Giang-sơn, đoàn-kết dân-tộc của Chúa Nguyễn Gia-Long thời cận-đại vậy.
Nhưng đặc-biệt và đáng cho thế-giới chú-ý là sự-kiện thay thế hẳn văn-hoá Chiêm-Thành trên bán-đảo Ấn-độ Chi-na ngày nay, khiến cho Reginald Le May tác-giả The culture of South-East-Asia, công-nhận rằng :
« Trên bản đồ Á-châu có một dẫy núi chạy dài xuống xương sống An-Nam ở Ấn-độ Chi-na và dẫy núi ấy đánh dấu biên-giới hay đường phân hai giữa văn-hoá Trung-Hoa và văn-hoá Ấn-độ. Tất cả cái gì ở về phía Bắc và phía Đông dẫy núi ấy về văn-hóa đều bắt gốc ở Trung-Hoa. Tất cả cái gì ở phía Tây và phía Nam đều bắt gốc ở Ấn-độ. Và hai bên không từng trộn lẫn hay xung-đột ». [10]
Sự thực có trộn lẫn và có xung-đột, cho nên mới có văn-hoá Việt-Nam trên đất xưa kia là lãnh-vực của văn-hoá Chàm và văn-hoá Phù-Nam và Khmer hay Thuỷ-Chân-Lạp. Chính-đấy là điểm sở-trường của văn-hóa Việt-Nam. Văn-hóa là kết quả sự điều-hoà thích-ứng của xã-hội nhân-loại với hoàn cảnh thiên-nhiên. Vì nhân-loại trong cuộc sống còn không phải hoàn-toàn thụ-động hoàn cảnh thiên-nhiên, cũng không phải hoàn-toàn chống đối, hoàn-toàn chủ-động với thiên-nhiên. Nó vừa phải thích-ứng, vừa phải điều-hoà, cho nên giữa hai thái-độ « Mạnh được yếu thua » « Khôn sống bống chết » dân-tộc Việt-Nam đã sớm ý-thức được một đường lối riêng biệt của mình, ấy là cái triết-lý ngụ ở câu cách-ngôn hết sức phổ-thông và bình-dân : « Khôn cũng chết mà dại cũng chết, biết thì sống ». Biết là biết điều-kiện lịch-sử (Trời thời) điều-kiện địa-lý khí-hậu (Đất lợi) và điều-kiện tâm-lý nhân-dân (Người hoà) mà nhà hiền-sĩ Việt-Nam trước sự tấn công của các thế-lực Âu-Tây vào Đông-Nam-Á đã dặn lại con cháu :
Trời thời Đất lợi lại Người hoà.
Khu-vực Đông-Nam-Á vốn là khu-vực gặp-gỡ của hai nền văn-hoá, mà chỗ gặp-gỡ mạnh-mẽ nhất là bán-đảo Ấn-độ Chi-na. Văn-hoá nào tồn-tại và sinh-trưởng được ở đấy tất phải có cái sức điều-hoà thích-ứng bền-bỉ dẻo-dai. Văn-hoá Ấn-độ thiên-trọng về tình-cảm, mơ-màng và siêu-thực. Những ngọn tháp Hời đứng cô-liêu trên đỉnh núi, xa với đô hội náo-nhiệt đua tranh, đủ chứng-minh sự thích-ứng điều-hoà với hoàn-cảnh địa-lý khí-hậu của người Chàm không thể lâu bền. Một giải đất eo-hẹp, ép vào một bên núi cao, một bên biển cả, không đủ làm cơ-sở cho một nền văn-hoá nông-nghiệp được, nếu có sự cạnh-tranh của một văn-hóa cũng nông-nghiệp như văn-hoá Việt-Nam, sẵn có cơ-sở trung-châu Hồng-hà, lại tiếp-thụ được của Trung-Hoa cái tinh thần thực-tiễn, lý-trí và nghị-lực. Xã-hội Việt-Nam cơ-bản là làng-mạc, lấy « đình trung điếm sở » làm mục-tiêu sinh-hoạt có tinh-thần xã-hội dân-chủ. Cho nên cùng một lễ nghi tôn-giáo nông-nghiệp mà Lễ-Động-Thổ ngày đầu năm để khởi sự làm ruộng đất, ở bên Tầu thì nhà vua ban đất cho chư-hầu về làm Lễ mà ở Việt-Nam thì tự nền anh bô-lão mỗi làng lấy đất làm Lễ lấy cho làng mình. Mỗi làng đều có cái đình làm đầu mối quan-hệ xã-hội ; quan-hệ tinh-thần và quan-hệ vật-chất ở cả một chỗ. « Sống ở làng sang ở nước » cái ý-thức quần-cư lạc-nghiệp quê cha đất tổ. « Sống về mồ về mả không sống về cả bát cơm », ấy là ý-thức muốn phát-triển tập-thể, đi đến đâu mang theo cả một cơ-sở để định-cư và có thể coi như những đồn-luỹ tiền phong của một nền Văn-hoá. Người Chàm thiên về siêu-thực cho nên các công-trình kiến-trúc chỉ là kết-quả một ý-thức có vẻ thụ-động, vì thế mà những sản-phẩm văn-hoá chỉ dùng để tô-điểm cái thiên-nhiên sẵn có sự hùng-vĩ cho thêm phần bí-ẩn. Những ngọn tháp Hời có đồ sộ nhưng kém ích-lợi cho nhân-sinh thực-tế. Đấy là ý-tưởng siêu thoát nhờ cái ảo-lực ma-thuật của thiên-nhiên ngụ trong tôn-giáo khiến người Chàm quan-niệm cuộc đời là phụ-thuộc hay quá tạm-bợ. Vậy từ hoàn-cảnh địa-lý khí-hậu, tính-tình, từ điều-kiện sinh-hoạt đến ý-thức, người Chàm đại-diện cho một vai trò không thích-ứng với hoàn-cảnh. Một xứ bờ biển cần phải xúc-tiếp cởi mở giao-thông, một dân-tộc nông-nghiệp thì cần phải có châu-thổ đồng điền, ấy là cái lý tất-nhiên. Trái với lý ấy thì sớm chầy sẽ bị đào-thải. Cho nên dân Việt đã nỗ-lực vượt khỏi miền Trung trên đường Nam tiến, không lấy đất Chàm làm mục-tiêu, mà chính là miền Đồng-Nai mới là lẽ sống của xã-hội nông-nghiệp.
Tây-phương không đường tới :
Bắc lộ khó nẻo qua
Đường Nam phương thấy đó chẳng xa,
Thì những sợ nhiều quân Đá-Vách.
(Nguyễn-cư-Trinh « Sãi-Vãi »)
Đáng lẽ dân-tộc Chàm phải sớm biết điều ấy, lấy Đồng-Nai Châu-thổ làm cơ-sở bảo-tồn trước khi đem quân tấn công Việt-Bắc. Họ đã làm trái hẳn. Nhưng nhà Nguyễn với tầng lớp sĩ-phu sáng suốt như Nguyễn-cư-Trinh đã biết, nên đã thành công.
Nhà địa-lý nhân-văn J. Sion viết :
« Cuộc bành-trướng của dân Việt-Nam là một đồng-hoá thật sự. Tính-cách đó giải-thích vì sao người Việt bành-trướng chậm, nhưng rất chắc chắn. Cao-miên và Lào đánh nhau chỉ đem quân cướp lấy tù đem về làm nô-lệ, lại có một giai-cấp quí-phái thống-trị dân đen, cho nên có cướp được đất cũng dễ mất ngay.
« Mục-đích của người Việt lại khác. Họ không cần bắt nô-lệ, họ làm lấy. Đối với họ thắng trận không phải là để có người làm, mà là để có đất cày ruộng.
« Nhiều khi chiến-tranh chỉ là để xác-nhận một tình-thế sẵn có. Dân Việt bành-trướng một cách ôn-hoà, sinh-cơ lập-nghiệp rồi binh mới tới sau. Trước khi Việt-Nam sát-nhập đất Nam-kỳ về mình, người Việt đã lập ở đó những tổ-chức ; những đám người di-cư đã xây-dựng làng xóm hay là tới ở chung với người Cao-miên rồi lần lần nắm quyền-hành.
« Cuộc bành-trướng thi-hành bằng cách đưa đến những đám người liên-tiếp, đủ các hạng người : dân cày không có ruộng, những người tù tội, những người trốn-tránh chế-độ, hay là những quân cướp muốn chuộc tội. Cũng có khi chính-phủ thu-thập những người đó rồi đưa xuống những miền mới chiếm, hay là lập những đồn-điền tận biên-thùy để phòng-bị lân-bang tới đánh. Những đám người đó có quan-lại cai-trị và lập-thành làng mạc.
« Cuộc bành-trướng của các đám bình-dân Việt đã là sức mạnh của Việt-Nam, cũng như ở Trung-Hoa. Cuộc di-dân đã biến-hoá đất Nam-kỳ thành một xứ hoàn-toàn Việt-Nam cũng như đất Bắc-kỳ. Ngay dưới mắt ta trong cảnh thái-bình, cuộc bành-trướng đó vẫn tiếp-tục khắp đất Cao-miên và đất Lào ». [11]
Cái sức Nam-tiến ấy cũng được ngọn bút của nhà bác-cổ học Aurousseau dẫn-chứng rất tinh-tường và kết-luận :
« Những yếu-tố, những sức mạnh có thể tiêu-diệt một quốc-gia mới thành-lập, đều vô hiệu-quả trước sức sống mãnh-liệt của người Việt-Nam.
« Dân-tộc Việt-Nam chiếm-đoạt các đồng-bằng Bắc-bộ ngay từ cuối thế-kỷ thứ ba trước Tây-lịch. Xã-hội Việt-Nam trở nên phồn-thịnh tại đó. Lần-lần các làn sóng người di-cư tiếp-tục tràn-lan mãi về phía Nam, để tới một điểm xa nhất trong cuộc bành-trướng mà người Bách-Việt khởi từ thế-kỷ thứ bốn trước Tây-lịch.
« Người Việt tới Trung-phần Trung-bộ ngay cuối thế-kỷ sau. Tới đây dân-tộc Chiêm-thành chặn họ lại một thời-kỳ khá lâu. Người Việt vẫn giữ được cái đà bành-trướng như một sức mạnh ầm-ỹ, và sau một cuộc tiến-triển, sau nhiều năm chinh-chiến, đã thắng được kẻ thù Chiêm-thành vào năm 1471 để tiến mãi về phía Nam, tới Qui-Nhơn cuối thế-kỷ thứ 15, tới Sông-Cầu 1611, Phan-Rang 1653, Phan-Thiết 1697, Sài-gòn 1698, Hà-tiên 1714. Cuối cùng trong nửa đầu thế-kỷ 18, người Việt thực-hành xong công-cuộc bành-trướng của dân-tộc, và chiếm trọn đất-đai Nam-bộ hiện-thời ». [12]
Và Đại-uý Gosselin trong L’Empire d’Annam có nhận-chân tính-cách thống-nhất của dân-tộc Việt-Nam như sau :
« Hết thảy các sử-gia có nhiệt-tâm tìm sự thật đều phải công-nhận rằng : Khi để chân lên đất Việt-Nam, người Pháp đã phải đụng-chạm với một dân-tộc thống-nhất, thống-nhất một cách không thể ai ngờ tới, từ các miền cao-nguyên thượng-du Bắc-Việt cho đến biên-giới Cao-Miên, thống-nhất về đủ các phương-diện nhân-chủng, cũng như chính-trị và xã-hội ».
Xem như thế thì dân-tộc Việt-Nam ngày nay với một lãnh-thổ chạy dài từ ải Nam-quan xuống mỏm Cà-mâu, với một dân-số trên hai mươi triệu, với một nền văn-hóa thuần-nhất, ngôn-ngữ thuần-nhất, đã là đại-biểu cuối cùng và duy-nhất của Việt-tộc. Cái vận-mệnh đặc-biệt ấy của dân-tộc Việt-Nam không phải là một sự ngẫu-nhiên. Cái sứ-mệnh lịch-sử của nó là một phần do giang-san, hay là điều-kiện khách-quan về kinh-tế địa-dư, chế-độ xã-hội, phong-tục, ngôn-ngữ tập-trung lại mà ngấm-ngầm ấn-định.
[1] Histoire de l’Indonésie, Pressse Universitaire de France, Jean Bruhat, p.15.
[2] South east Asie and the World To-day Van Nostrand Anvil books.
[3] BEFEO XVIII 3-1918.
[4] R. Grsusset trích dạy ở « Lịch-sử Á-Đông » tr.604.
[5] Theo Nguyễn-đăng-Chi trích dẫn ở V.N cổ văn-học.
[6] René Grousset Histoire de l’Etrême Orient.
[7] Bulletin Société des Etudes Indochinoises 1946 T. XXI.
[8] Điều đình cái án quốc học.
[9] P. Demieville B.E.F.E.O. XXIV 1924 tr 212-215.
[10] Tr. 25 ed. George Aelen and Unwin.
[11] Jules Sion, L’ Asie des moussons. Géographie Universelle.
[12] Trích Tạp-chí Viễn-Đông Bác-cổ.