MỘT CUỘC ĐUỔI BẮT
THỦ PHẠM GAY GO
Ba Hùy thấy thời gian sao đi chậm thế! Ông gắt inh lên khi đã xuống đò, mà con thuyền hãy còn lững lờ đợi khách cho đông rồi mới nhổ sào.
Ông luôn miệng giục:
- Thế nào, nhà lái? Ông có định đi hay không thì bảo?
Ông lái thuyền, quen tính kiên nhẫn như bọn người chuyên sống trên mặt nước bềnh bồng, chậm rãi trả lời:
- Ông tính, hai ba ngày ở đây để đợi số thứ tự mà đi, lại không muốn đi, thì có lẽ dễ chỉ muốn nhịn đói?
Ba Hùy ngắt lời:
- Nhưng nào tôi có thấy ông động dạng một chút nào tỏ ra dấu hiệu là đã đi đâu?
Ông lái cười:
- Ông tính, hễ đến giờ đi thì là đi "tủ suýt" thôi, chứ còn cần gì phải "động dạng" làm gì cho nó lôi thôi kia chứ! Ông khách chắc có việc vội đi, nhưng xin ông cứ yên chí, đi sông nước, con nhà thuyền chúng tôi cần nhất là gió và nước! Ông thử nghĩ mà xem, bây giờ nhổ sào sớm, chiều nước xuôi chưa có, gió cũng không, cứ ưỡn ngực ra để chèo, mỏi tay mà cũng không tiến hơn được bao nhiêu. Trái lại, ta cứ yên chí ở đây, nghỉ ngơi, hút thuốc, uống nước cho đàng hoàng, rồi tới khi có nước, có gió, mình giương buồm, chạy thẳng một lèo, lại hứng chí chèo thêm dăm ba mái nữa thì có gọi là "nhanh hơn ô tô".
Nói xong, ông lái nằm khểnh xuống khoang thuyền, dậm chân mà hát mấy câu sa mạc! Ba Hùy không làm sao được, đành thở dài, liếc nhìn Kỳ Phát rồi chép miệng:
- Ông lái với ông Kỳ thực là những người Việt Nam thuần túy! Tôi cứ sống thế này trong ít lâu nữa thì cứ gọi là phát điên lên mất!
Kỳ Phát lắc đầu:
- Tôi đã nói với ông nhiều lần lắm rồi mà ông cứ nhất định không chịu hiểu! Ông không rõ, chú tôi, vội một cách vô ích thì tôi vẫn cho là chẳng nên vội làm gì.
Ba Hùy không cáu kỉnh với ông lái đò được, đành cáu kỉnh với Kỳ Phát vậy:
- Ông muốn ngụy biện thì ngụy biện, còn tôi thì vẫn nhất quyết rằng trong lúc này, ông còn rung đùi, ngâm thơ và bồi những bức cổ thi, cổ họa được, thì cũng vẫn không hợp thời một chút nào!
Kỳ Phát cười, ghé nằm xuống sạp thuyền:
- Tôi nhân lúc nằm đợi ở đây, kể cho ông nghe cái duyên cớ bồi những bức cổ thi ấy. Nguyên là vì từ lúc ông đi rồi, tôi buồn quá, nằm ngâm nga chơi, chợt thấy có tiếng người hỏi, "Ông Ba Hùy đây à? Sao hôm nay lại đột hứng mà cao ngâm cả Hoàng Hạc Lâu phú thế kia?" Vừa nói câu này, người ở ngoài đường vừa vén bức mành cửa sổ, ngó cổ nhìn vào, khi nhận ra tôi thì lại xin lỗi, "Ông tha lỗi, tôi chợt đi qua, lại cứ ngỡ là ông Ba Hùy!" Nhưng tôi cũng đã nhận ra người ngó cổ nhìn vào đó, chính là ông Bá Hoan.
Ba Hùy giật mình, hỏi lại:
- Ông Bá Hoan! Nhưng ông Bá sang bên nhà chúng mình làm gì nhỉ?
Kỳ Phát mỉm cười, kể tiếp:
- Ông ấy không định vào, nhưng vì sau tôi mời, ông Bá mới vào. Chúng tôi bình phẩm về thơ văn cổ, hết Đỗ Phủ đến Lý Bạch, xem chừng tương đắc lắm...
Ba Hùy ngắt lời hỏi:
- Ông Bá có hỏi gì về lai lịch của ông không?
Kỳ Phát gật đầu:
- Có, ông ấy hỏi thăm, tôi kể lại, trước ở Hà Nội có mở cửa hàng sách, sau vì tản cư nên mất hết. Vì nghề buôn sách, tôi sinh thói quen ưa đọc sách và thích văn chương.
Ba Hùy mỉm cười bảo:
- Ông nói trá đi như thế mà sự thực cũng có lý đấy. Ngay như tôi, nghề chính là "tông đơ, dao kéo", vậy mà chỉ có ngồi làm ở trước cửa nhà ông Cao, có ông lại chơi luôn và hay tò mò điều tra các vụ án lớn, tôi thỉnh thoảng được nghe ông Cao kể lại chuyện, và tự nhiên cũng thấy say mê và mong muốn trở thành thám tử...
Kỳ Phát vỗ vai Ba Hùy, nói đùa:
- Thì bây giờ mộng lớn của ông đã thành, ông rõ ràng là một thám tử có tài...
Ba Hùy cau mặt:
- Ông lại giễu cợt, thám từ có tài như tôi mà mấy vụ án mạng xảy ra liên tiếp vẫn chưa điều tra ra đâu vào đâu cả, thì cũng không có gì là đáng tự hào!
Kỳ Phát mỉm cười:
- Trong nước ta, người này hay người khác tự nhận là thám tử, thảy đều là vì lòng tự ái quá mà không biết đánh giá cho đúng tài nghề của mình. Chính tôi, thực từ xưa đến nay cũng có dám tự hào như ai làm thám tử đâu? Nhưng hãy để tôi kể nốt ông nghe đã. Ông Bá Hoan nói chuyện văn chương với tôi trong giây lát đã tỏ ra rất là tương đắc, cuối cùng, nhân thấy tôi nói có ý ước mong được người chữ tốt viết cho mấy bài cổ thi theo bốn lối chữ chân, thảo, triện, lệ để treo chơi, thì ông Bá nói ngay, "Chữ tôi viết thì không được đẹp cho lắm, nhưng nếu ông thích thì hôm nào gặp dịp ông anh tôi vui vẻ, tôi sẽ nói xin viết tặng ông. Tuy lâu không hay cầm đến bút, nhưng ông Xứ gân tay vẫn còn già dặn, thời nay rất hiếm có." Tôi trả lời, "Nếu được ông Xứ viết cho thì quý hóa biết chừng nào! Vậy để lát nữa tôi sang hầu chuyện ông Xứ, và..." Không để tôi nói hết câu, ông Bá gạt ngay đi mà bảo rằng, "Không được, ông xa lạ mới tản cư đến đây nên không biết, chứ không anh tôi trái tính trái nết lắm, thường hay gắt gỏng, cáu kỉnh một cách bất thường, nhất là đối với những người lạ. Bởi vậy cho nên tôi phải nhằm lúc sau bữa cơm, uống chén rượu nhỏ có ngâm thuốc xong, ông anh tôi vui vẻ, ôn tồn... Ông hãy mài mực kiếm giấy sẵn đi, rồi khoảng mười giờ, ông sẽ sang, rồi tôi mang giấy bút vào cho ông anh tôi viết, khoảng nửa giờ là xong, chóng lắm. Ông ngồi chơi chờ mà lấy."
Ba Hùy hỏi:
- Thế bốn bức cổ thi ấy, chính là chữ ông Xứ Trực?
Kỳ Phát gật đầu:
- Có phải là chữ một người khoa mục nổi danh ấy, tôi mới quý mà bồi treo, chứ kẻ tầm thường khác viết thì tôi đã chẳng màng tới.
Kỳ Phát vừa kể tới đây thì lái đò lên tiếng gọi các khách trên bờ hãy xuống cả để nhổ sào, rồi từ lúc thuyền chạy, Kỳ Phát bắt đầu nằm ngủ, Ba Hùy đã lay gọi mấy lần toan hỏi chuyện, nhưng Kỳ Phát nhất định nằm nguyên, không động cựa.
*
Đúng như lời ông lái nói trước, thuyền tới bến Khuất vừa lúc nửa đêm. Cũng như nhiều hành khách khác, Kỳ Phát và Ba Hùy đều nhân lúc đêm sáng trời đi luôn tới Gián, rồi rẽ vào chợ Me.
Khi tới Viến thì trời vừa sáng rõ. Kỳ Phát kiếm một hàng cơm vào nghỉ và dặn nhà hàng sửa soạn cho ăn một bữa cơm sáng vào lúc mười giờ. Có chỗ nghỉ ngơi, Kỳ Phát lại nằm ngủ, mặc kệ cho Ba Hùy sốt ruột lăng xăng chạy quanh hết chỗ này chỗ khác.
Tới lúc, Ba Hùy trở về, đập vai Kỳ Phát, gọi bảo:
- Muộn lắm rồi, ông dậy đi thôi chứ?
Kỳ Phát choàng mở mắt, hỏi:
- Đã có kết quả gì chưa, ông Ba?
Ba Hùy thở dài:
- Tôi sốt ruột thì cũng loăng quăng, hỏi dò thăm dư luận, chưa có kết quả xác thực gì.
Kỳ Phát lắc đầu:
- Không, tôi hỏi ông là muốn hỏi bữa cơm tôi dặn nhà hàng làm đã có kết quả gì chưa, vì tôi đã thấy kiến bò bụng rồi, ông ạ.
Ba Hùy biết Kỳ Phát vẫn chưa tha, còn giễu mình nên quay ngoắt trở ra, vừa lúc bà chủ hàng cơm dọn xong mâm chạy vào mời hai người ra dùng bữa.
Kỳ Phát ăn có vẻ ngon lành lắm. Chàng gật gù bảo Ba Hùy:
- Các cụ dạy đúng thực, ông Ba ạ. "Thực vi tiên", trong công việc, cái ăn bao giờ cũng phải cho đi đầu, thì mới thực là "hợp lý hóa".
Ba Hùy không nói năng gì, chểnh mảng ăn vài lưng cơm rồi đứng dậy, uống nước, chờ cho Kỳ Phát khề khà ăn xong, rồi mới hỏi:
- Có lẽ bây giờ ăn uống no nê rồi, ông lại nghĩ đến... nghỉ trưa chứ?
Kỳ Phát bật cười:
- Đấy, ông lại nóng nảy rồi. Không, ông Ba ạ, ăn rồi thì phải làm chứ? Chỉ sợ rằng, đến lúc làm thì ông lại luống cuống sợ hãi, lùi bước trước sự nguy hiểm thôi. Ông Cao hẳn đã từng nói cho ông biết, ở Kỳ Phát có hai người: Kỳ Phát lúc tĩnh và Kỳ Phát lúc động. Kỳ Phát lúc tĩnh vừa mới qua xong, bây giờ tới Kỳ Phát lúc động, vậy ông hãy bắt đầu sửa soạn hoạt động đi!
Ba Hùy xoa tay, sung sướng:
- Ông cứ yên chí, ở Ba Hùy thì chỉ có một người là Ba Hùy lúc động, và... rất động là đằng khác!
Thế là một lát sau, Kỳ Phát cùng Ba Hùy thẳng đường đến chùa Uy Đức. Đây là một ngôi cổ tự rộng rãi khang trang, đủ biết số tiền thu hoạch được về hương đèn hàng năm không phải là nhỏ vậy. Kỳ Phát và Ba Hùy vào tới nhà hậu, gặp được ngay sư ông đương ngồi tham thiền nhập định. Chú tiểu thấy có khách lạ vội vào bạch. Sư ông vui vẻ đứng dậy tiếp khách, mời ngồi, pha trà uống rồi hỏi tới chùa vãn cảnh hay có việc gì.
Kỳ Phát cung kính cho sư ông hay mình chính là một nhà báo, nghe tin thấy nhà chùa có xảy ra sự chẳng lành nên lại hỏi thăm tin tức. Sư ông nghe nói, tỏ ý vồn vã vô cùng, lập tức dẫn Kỳ Phát và Ba Hùy ra vườn sau, rồi nói rằng:
- Nhà chùa được các ngài tới thăm, rất lấy làm hân hạnh, riêng mong rằng việc này đăng rõ ràng lên báo chương, may ra mà có ai mách tìm được hung phạm thì thực là một sự đáng mừng.
Chắp tay trước ngực rồi ngẩng lên như cầu Phật tổ chứng minh cho câu mình nói, sư ông tiếp:
- Vẫn hay rằng hung phạm đã phạm đến điều răn cấm lớn nhất là việc sát nhân, nhưng nếu nay bần tăng lại cầu xin cho hung thủ bị trừng phạt thì cũng lại phạm vào điều Phật dạy chẳng nên. Nhưng bần tăng cầu mong cho kẻ sát nhân bị sa lưới pháp luật chỉ là vì kẻ ấy còn ở ngoài vòng thì tất nhiên sẽ còn có thể giết hại được nhiều nữa, vì lòng tham tiền của...
Kỳ Phát ngắt lời:
- Chúng tôi nghe nói, hình như sư cụ bị sát hại đây có dắt trong người một số vàng?
Sư ông gật đầu:
- Người ta nói đúng, chúng tôi vốn biết sư cụ chúng tôi có giữ ở trong người một số vàng chừng non năm lạng, toàn là bằng vàng lá Kim Thành.
Thấy Ba Hùy lộ vẻ ngạc nhiên, sư ông tiếp luôn:
- Sở dĩ nhà chùa phải giữ vàng trong mình, vì tuy là một cấm kỵ của những kẻ đã quy y, khốn nhưng hai ông còn lạ gì trong thời tao loạn này, sự tàn phá, hỏa hoạn trong chiến tranh gây nên rất là bất thường, số tiền kia là của thập phương cúng để dành tích lại, hy vọng rằng sẽ có đủ để trùng tu lại tam quan và phương trượng...
Ngừng lại một lát, sư ông lại thở dài mà tiếp:
- Không ngờ rằng "hoàng kim hắc thế tâm", kẻ gian biết rõ được điều này nên đã đang tâm hạ sát sư cụ chúng tôi, một kẻ chân tu suốt đời chịu khổ hạnh làm tôi con nhà Phật...
Ba Hùy hỏi:
- Sư ông vừa nói, có kẻ biết rằng sư cụ có giữ vàng, vậy chẳng lẽ việc có vàng để trong người sư cụ lại không giữ kín đáo mà lộ ra cho mọi người cùng biết?
Sư ông đáp:
- Điều ấy sư cụ tôi cũng không lưu tâm cho lắm, có lẽ người nghĩ ai ai cũng chân phương như mình. Hơn nữa, số vàng ấy lại là của chung của nhà chùa.
Sau đó, sư ông dẫn Kỳ Phát và Ba Hùy ra chỗ góc vườn sau, nơi có xây các ngôi tháp, mộ của các vị sư đã viên tịch từ trước, chỉ vào một đám đất đã giẫy sạch cỏ mà nói rằng:
- Sư cụ chúng tôi bị hại chính ở chỗ này, sau khi đàn chay vừa lễ tất. Hung phạm đã dùng dây thừng thắt cổ sư cụ tôi, sau có lẽ vì thấy chưa chết nên đâm thêm ba, bốn nhát dao, máu chảy thành vũng trên mặt đất. Chúng tôi đã phải cho giẫy đám cỏ đi.
Kỳ Phát hỏi lại:
- Lễ tất, hắn cũng đã phải khuya lắm, vậy lúc ấy sư cụ còn ra ngoài vườn sau này làm gì? Trong chùa có ai nghe thấy tiếng sư cụ lúc bị nạn kêu gọi gì không?
Sư ông lắc đầu:
- Không, đó mới là điều lạ, và bần tăng cũng không hiểu vì đâu mà kẻ gian lại biết được chỗ sư cụ chúng tôi giấu vàng, bởi người đã cẩn thận khâu một túi con rất kín đáo mãi tận trên ngực.
Kỳ Phát cảm ơn sư ông, rồi xin phép cùng Ba Hùy đi xem xét khắp chỗ trong chùa, cuối cùng mới hỏi Ba Hùy rằng:
- Ông đã có ý kiến gì chưa?
Ba Hùy gật đầu:
- Tôi nhận thấy một điều: ngoài chỗ cỏ giẫy trong vườn, không hề thấy chỗ nào cỏ bị giầy xéo nhiều khác thường, do đó tôi đoán sư cụ bị giết ngay tại chỗ ấy, chứ không phải bị giết từ nơi khác đưa đến. Điều thứ hai, hung phạm biết được đích xác chỗ giấu vàng mà tìm lấy ngay, tất nhiên phải là một người quen thuộc ở trong chùa.
Kỳ Phát vỗ vai Ba Hùy, bảo:
- Ông khá lắm! Những nhận xét ấy rất đúng. Theo cách loại trừ, chúng ta có thể tìm ra được kẻ đâm sư cụ một cách không khó khăn gì. Nhưng hết thảy mọi phương pháp ấy đều chậm chạp cả, chúng ta còn cần phải về gấp.
Ba Hùy hỏi lại:
- Nếu đã bắt được "nó" rồi thì là xong việc, chúng ta còn cần gì phải vội đi đâu nữa... Hay là theo ý ông, không phải là "nó" đã nhúng tay vào vụ này?
Kỳ Phát lắc đầu:
- Có tài siết một sợi dây thừng gọn gàng như thế, không phải "nó" thì còn ai vào đây nữa. Nhưng chúng ta vội lắm, không có thời giờ mà cắt nghĩa lâu dài trong lúc này. Vậy bây giờ, ông hãy nhớ kỹ, theo đúng lời tôi dặn: ông sẽ nấp ở phía cửa sau chùa này, rồi hễ thấy có người đàn ông lực lưỡng và đi khập khiễng thì phải cố bắt cho bằng được. Kẻ đâm sư cụ đó, tôi đã biết rõ, nhưng nếu đợi tìm ra chứng cớ thì lâu, tôi muốn dùng một cách "bá đạo" lừa cho hắn tự thú tội để giản tiện cho công việc chúng mình. Ông nên coi chừng kẻo mà "chó cùng rứt giậu", hắn có thể làm hung... Nhưng thế nào tôi cũng ra cứu tiếp ông luôn.
Dặn dò đâu đấy xong xuôi, một mình Kỳ Phát trở vào trong phương trượng, thấy mấy chú tiểu đương sửa soạn cơm nước thì bảo ngay rằng:
- Ấy chết, quên, tôi chưa thưa với sư ông rằng, chỉ có một mình tôi ở lại dùng bữa cơm này thôi, nếu đã làm cơm cả hai người thì lại thừa một suất.
Chú tiểu vội hỏi:
- Vậy còn một ông nữa lại đi đâu?
Kỳ Phát thản nhiên đáp:
- Ông bạn tôi hiện phải về đồn Me để xin công an đến bắt thủ phạm đã sát hại sư cụ. Ông ấy chính là nhân viên điều tra đấy, hình như đã tìm ra thủ phạm và chỉ còn cần gọi người đến bắt đi thôi...
Kỳ Phát đoán biết tuyên truyền như vậy, chẳng mấy chốc mà cái tin sắp có người về chùa xích tay hung phạm sẽ lan nhanh như thuốc pháo, và đúng như Kỳ Phát ước đoán, hung phạm hoảng sợ lập tức mắt trước mắt sau tìm phương kế đào tẩu ngay. Chính vì thế cho nên, sau đó, Kỳ Phát lập tức vào nhà hậu, thưa chuyện cùng sư ông rồi bảo gõ chuông, triệu tập hết thảy những người làm ở trong chùa lại.
Một lát sau, chừng hơn hai chục người, kể cả các sư bác, các chú tiểu, và những người làm vườn và canh điền, đều đã tề tựu trước sân chùa. Kỳ Phát hỏi sư ông:
- Xin người kiểm điểm xem có thiếu ai không?
Sư ông liếc nhìn qua một lượt, rồi hỏi một sư bác:
- Anh Hai Minh đâu nhỉ, hay là anh ấy ra đồng chưa về?
Sư bác cũng nhìn quanh rồi thưa:
- Không biết hắn còn bận dở việc gì? Lúc nãy, đã thấy hắn về rửa chân tay...
Kỳ Phát hỏi:
- Hai Minh có phải người lực lưỡng, rất khỏe mạnh và đi khập khiễng?
Sư ông ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao ông lại biết?
Kỳ Phát không trả lời, chỉ dặn:
- Mọi người hãy đợi trong chốc lát, tôi sẽ về cùng với hắn bây giờ.
Vừa nói, Kỳ Phát vừa quay ngoắt ra phía cổng sau.
Phía cổng sau, ông Ba Hùy đương một phen khổ sở với hung phạm. Theo đúng lời Kỳ Phát dặn, Ba Hùy lén nấp bên một bụi găng, và khi thấy hồi chuông trong chùa bắt đầu gióng lên, thì từ phía sau nhà oản, có một người lực lưỡng, vai đeo bị, tay chống gậy chạy ra cổng, có vẻ hoảng hốt lắm.
Người ấy đi khập khiễng một chân!
Không nghi ngờ gì nữa, Ba Hùy xông ra, quát:
- Đứng lại!
Người kia ngơ ngác nhìn, rồi lại cắm đầu chạy, làm cho Ba Hùy không dám chậm trễ, lập tức vụt đuổi theo. Vì người kia có tật ở chân nên chạy không được nhanh cho lắm, nhưng Ba Hùy lại phải cái không thuộc đường lối, nên khi người kia rẽ vào các ngõ hẻm thì Ba Hùy luống cuống, lại phải dừng lại mấy giây. Nhưng rồi Ba Hùy cũng vượt lên kịp và với tay, nắm được vai áo người kia. Song chỉ một cái huých tay, người lực lưỡng đã làm cho Ba Hùy ngã chúi, đâm đầu vào một gốc cây, sưng bươu chân. Cuộc rượt đuổi mỗi lúc càng thêm gay go, nhưng giữa hai người thì Ba Hùy tuy chạy lâu có mệt, nhưng tinh thần rất phấn khởi. Có lẽ ông biết danh dự thám tử của ông vô cùng quan hệ trong giờ phút này!
Người lực lưỡng chạy trước bỗng như trượt chân ngã. Ba Hùy mừng rỡ quá, hấp tấp vượt lên tóm bắt, song vừa tới kịp thì không ngờ người kia nhân lúc bất ý vụt đứng dậy và đẩy sấp Ba Hùy ngã xuống ao rau muống cạnh vệ đường. Nhưng Ba Hùy cũng với kịp địch nhân, tuy bị ngã nhưng vẫn kéo hắn được xuống theo. Thế là trong phút chốc, dưới ao đầy bùn lầy, hai người vật lộn rất là kịch liệt, có lẽ không kém gì những keo vật tranh "giải cốn" quyết định nhà vô địch tại các đình làng!
Lúc này, Kỳ Phát vừa theo tới kịp, cùng bọn sư ông, sư bác trong chùa. Kỳ Phát vội gọi lớn:
- Hai Minh, thôi, anh chịu hàng đi, cố chống cự cũng không thoát được đâu, mà chỉ thêm nặng tội!
Biết thế cùng, Hai Minh đành chịu lóp ngóp lên bờ cùng với nhà thám tử Ba Hùy, toàn thân đầy bùn như một người vừa đi tát ao và hôi mùi cá!
Bị dẫn về tới chùa, Hai Minh đành thú hết tội lỗi: đêm hôm lễ tất đàn chay, hắn có bổn phận pha nước rửa mặt cho sư cụ, nhưng pha xong nước rồi vẫn không thấy sư cụ vào nên hắn đi tìm. Khi ra tới vườn, Hai Minh thoáng trông thấy sư cụ bị một bóng đen vật ngã, không kịp kêu lên một tiếng. Hắn vội chạy đến nơi thì thấy sư cụ đã ngất đi, có một sợi dây thừng siết chặt ngang cuống họng. Hai Minh sờ ngực sư cụ xem còn hơi thở hay không, nhưng chợt thấy cồm cộm ở túi trên ngực. Hắn sực nhớ, biết trong túi đó sư cụ có để mấy lạng vàng, nên nhân có con dao găm giắt ngang lưng, theo đúng khẩu hiệu của địa phương, "mỗi người đều mang theo vũ khí", hắn đâm cho sư cụ thêm mấy nhát rồi móc lấy vàng. Hẳn đã toan vác thi thể sư cụ lẳng xuống giếng chùa, nhưng mới đi được có mấy bước, hắn thấy trong chùa như có nhiều người cũng đương nhốn nháo đi tìm sư cụ, nên hắn vội vã vất bỏ đó, đi rửa chân tay cho sạch máu rồi cũng hợp vào bọn đi tìm cho không ai nghi ngờ gì mình.
Sau khi đã giao hung phạm cho các nhà chức trách địa phương, Kỳ Phát kéo tay Ba Hùy mà bảo:
- Công việc của chúng ta ở đây đã kết thúc. Bây giờ cần phải trở về ngay để có thể may ra kịp thời ngăn được hai vụ án mạng khỏi xảy ra.
Ba Hùy không dám chậm trễ, và cũng đồng ý với Kỳ Phát là phải đi bộ mà về Hà Nam, chứ không thể đi thuyền để mà nhỡ việc. Dọc đường, Ba Hùy hỏi:
- Tuy tôi đoán biết hung phạm giết sư cụ chùa Uy Đức phải là người quen thuộc, nhưng tôi vẫn không hiểu tại sao mà ông lại có thể biết ngay hắn là người lực lưỡng và lại đi khập khiễng?
Kỳ Phát mỉm cười:
- Điều đó dễ hiểu lắm, nếu ông quen với mọi phương pháp dò tìm dấu vết trong các vụ điều tra. Tôi để ý thấy, từ chỗ sư cụ bị giết, có những vết chân hằn sâu xuống mặt đất một quãng, sau đó thì nông hơn. Đó là dấu vết cho ta biết hung phạm đã vác thi thể người chết một quãng rồi mới lại bỏ xuống. Xem kỹ hai vết chân thì ta thấy một vết nặng, một vết nhẹ, tỏ rõ đó là một người đi khập khiễng lệch mình.
Ba Hùy nhắc lại:
- Nhưng do điều nhận xét gì mà ông biết hung phạm là người lực lưỡng, to lớn?
Kỳ Phát gật đầu:
- Không có gì là khó khăn cả. Vậy ông không để ý nhìn bức hình chụp sư cụ chùa Uy Đức bày trên bàn thờ đó ư? Bức hình ấy cho chúng ta biết sư cụ rất to béo, phải cân được non bảy mươi cân, mà vác được một người to béo chừng ấy, tất phải là một người lực lưỡng...
Dứt lời, Kỳ Phát giục:
- Thôi bây giờ thì ông không nên hỏi han lôi thôi thêm gì nữa. Chúng ta cần phải về cho kịp, vì thời hạn đến nơi rồi. Chúng ta về có kịp thì mới ngăn cản được hai ông già "tới số" khỏi về chầu tiên tổ!