MỘT THẦY PHÙ THỦY
KHÔNG LẤY GÌ LÀM
CAO TAY LẮM
Có lẽ từ sáng đến giờ sư già đã tụng được đến mấy khóa kinh rồi. Họ hàng con cháu nhà ông Cửu thì đông, nên ngày lập đàn giải kết, người ta phải dựng thêm ra ngoài sân một cái rạp để che mưa nắng.
Bốn bộ phản được kê liền nhau. Trên mỗi bộ, một khay ấm chén, một chiếc điếu hút thuốc lào và một cơi trầu lúc nào cũng đầy ăm ắp.
Khách khứa ra vào tấp nập, những bà già thì vào trong nhà lễ Phật, các cô con gái thì xúm vào trong bếp để thổi xôi nấu chè, sửa soạn bữa cơm chay buổi tối.
Chỉ có các ông thì hầu như quên hẳn ý nghĩa chính của buổi làm chay này. Các ông nhắc lại qua loa một vài kỷ niệm của người đã khuất, rồi uống nước hút thuốc và mang những việc riêng ra bàn cãi. Các ông coi như sự có mặt của mình ở đây cũng giống như những cuộc ngồi chơi mát ở hàng nước ngoài cửa đình hay trong một ngày hội đầu năm không hơn không kém.
Trong khi ấy, sư già vẫn tụng niệm. Tiếng mõ có lúc lại gõ dồn, làm cho mấy cụ già thông thạo lắng tai nghe rồi lẩm bẩm:
- A, còn có hai khóa nữa thì lễ tất.
Ngoài những họ hàng thân thích của cụ Cửu Lan, bạn bè cụ đến thăm cũng đông. Phần nhiều là những người ở xa, trong dịp cụ ra đồng hơi hấp tấp vội vàng, người ta không kịp đến để làm tròn nhiệm vụ cho đúng câu “nghĩa tử là nghĩa tận”.
Đến với một mục đích khác, có lẽ chỉ có Ba Hùy và Kỳ Phát. Hai người đến hơi muộn, khi sư già đã sắp xong khóa lễ, nên không kịp thụ lộc buổi trưa. Khách khứa đã về gần vãn, nhưng gia chủ nhất định giữ bọn Kỳ Phát ở lại chơi, dùng bữa cơm chay buổi chiều và không có công việc gì bận rộn thì ở lại đêm xem đánh đồng thiếp!
Ông Hai chép miệng và nói nho nhỏ, như để phân bua chủ nghĩa duy vật của mình:
- Tôi thì chẳng tin gì hết, nhưng cũng làm để chiều ý chú Ba. Cứ nghe mồm ông Đồng Hét nói thì ghê gớm lắm, ông cam đoan rằng nếu phụ được ông cụ lên thì chắc chắn hung phạm là ai sẽ biết rõ được tên tuổi.
Một lát, ông lại tiếp:
- Vả lại, tốn kém về nhiều, chứ thêm một đàn tràng kiền cúng của ông Đồng Hét cũng chả đáng bao nhiêu, mà hà tiện thì họ hàng lại nói ra nói vào là không hết lòng hết dạ...
Ba Hùy gật đầu:
- Ông nghĩ như vậy thực chí phải. Dù thế nào mình cũng phải giữ cho hết nhẽ...
Ông con thứ ba của cụ Cửu thì có vẻ tin tưởng. Ông săn sóc lễ phẩm một cách rất cẩn thận, luôn luôn lại hỏi ông Đồng Hét:
- Ông xem liệu còn thiếu thứ gì thì cứ bảo mua cho đủ, kẻo rồi lễ bạc khó cầu, nhỡ mà phụ đồng không lên thì uổng cả!
Rồi ông lại lo lắng hỏi lại:
- Thế nào, ông Đồng, liệu có kết quả gì không?
Ông Đồng Hét đương đọc dở lá sớ mà ông nắn nót viết từ buổi trưa, ngừng lại nhìn ông Ba qua cặp kính trắng:
- Lạy thánh mớ bái, tôi cũng mong có kết quả lắm, nhưng chỉ e tín chủ lòng không thành thì đồng không lên, tôi có tài giỏi cũng không làm sao được!
Điều ông Đồng Hét lo lắng ấy thực sự cũng không phải xa xôi quá, vì trong buổi phụ đồng ấy, từ thầy phù thủy đến gia chủ, đều đã phải khó nhọc biết bao nhiêu!
Ông Đồng Hét bắt đầu nổi trống từ khoảng sáu giờ chiều. Ông còn làm lễ thổ thần, lễ tiền chủ rồi cúng chúng sinh, mãi mãi, ông mới bắt đầu xin âm dương rồi chọn người ngồi đồng cụ Cừu.
Kỳ thủy, ông còn khó tính, chọn lọc con đồng phải là người trong họ hàng, mà lại phải là người biết Hán học ít nhiều, lấy cớ rằng vì người đã khuất là một vị khoa cử xuất thân, con đồng không thể lấy người vô học! Nhưng hết người này đến người khác, ông Đồng Hét đã tha hồ hò hét mãi, hết sai quan lại sai tướng, vậy mà đồng vẫn không lên.
Trong bọn người đứng xem, đã có kẻ thì thào:
- Đúng rồi, thôi đích là gia chủ tâm không thành, hoặc là lễ chưa được hậu.
Họ đều đã đoán sai cả. Cuối cùng, ông Đồng Hét mới khám phá ra cái cớ mà suýt nữa ông bị mang tiếng là chẳng cao tay cho lắm. Nguyên vì trước khi con đồng vào ngồi và trùm lên đầu chiếc khăn đỏ, ông Đồng Hét đều có dặn:
- Điều này phải nhớ chôn sâu vào trong ruột nhé: lúc ngồi thì phải tâm tâm, niệm niệm vào việc, mà trong khi trùm khăn, nghe tôi phụ đồng bất cứ là nghe thấy gì cũng phải nhắm nguyên mắt, không được mở choàng ra mới được.
Tuy ông dặn thế, nhưng ông Đồng Hét lại thét to quá, nên mỗi khi ông rung mạnh hồi trống, ra hiệu cho tên học trò gõ thanh la nhẹ bớt tay đi để cho ông thét, ra lệnh cho thần binh thần tướng phải, “Mau! Mau! Cấp cấp như luật linh!”, thì không một ai là có đủ can đảm, bình tĩnh không giật mình và mở choàng mắt ra. Thôi, thế là lại công toi, đồng chưa giáng đã thăng, và dù ông Đồng có cố gắng đọc mấy lượt thần chú nữa và bắt quyết không ngừng tay, con đồng vẫn cứ tỉnh như sáo sậu!
Tức tối quá, ông Đồng Hét đã định cho triệt lễ để đến đêm sau sẽ lại phụ, thì ông Ba Hùy lúc này ở đâu đã đến bên cạnh ông Đồng, nho nhỏ bảo:
- Này, ông Đồng ạ, hay là ông để tôi thử ngồi một lúc xem sao?
Ông Đồng Hét quay nhìn ông Ba Hùy bằng một con mắt hoài nghi:
- Thôi, có lẽ hôm nay hãy cứ đánh triệt lễ đi xem sao đã, chứ cứ phụ mãi mà không có lấy được một ai chịu nghe lời tôi căn dặn thì dù có chiêng trống đến suốt sáng cũng chỉ ốm xác mà thôi.
Ông Ba Hùy lắc đầu:
- Có phải tại mấy người kia, chốc lại cứ mở choàng mắt ra, không chịu nhắm y nguyên nên đồng không lên chứ gì?
Ông Đồng Hét gật đầu:
- Đúng thế, và tôi chỉ sợ ông cũng không hơn gì họ mà thôi!
Ông Ba Hùy quay về phía Kỳ Phát như để phân bua:
- Có ông đây biết, tôi nhờ giời được cái cũng khá cứng bóng vía!
Kỳ Phát nói tức khí thêm một câu để cho ông Đồng quyết định hẳn:
- Tôi chỉ sợ ông Ba đây cứng bóng vía quá, đến nỗi dù ông có cao tay đến đâu cũng không phụ lên được. Còn điều ông Ba có đủ can đảm, dù có thấy ngay quỷ sứ hiện hình ở bên cạnh, ông ấy cũng vẫn có thể cứ bình tĩnh như thường!
Bị nói tức, ông Đồng Hét vốn là người hiếu thắng, nhất quyết không chịu.
- Được rồi, đã thế thì dù hôm nay tôi có phải kiền cúng, chiêng trống suốt đêm tôi cũng nhất định phụ đồng cho đến sáng!
Một lát sau, Ba Hùy đã khăn áo chỉnh tề, ngồi vào trước ban thờ, trùm mảnh vải đỏ lên đầu. Ông Đồng Hét đã bắt đầu đọc nhiều bài phụ và hét nhiều câu sai quan tướng âm binh...
Ba Hùy giữ đúng lời hứa, tha hồ cho ông Đồng hò hét dữ dội đến đâu cũng vẫn bình thản nhắm nghiền cặp mắt.
Chẳng biết có phải Ba Hùy là người không nhất tâm thành kính, mà mặc dầu ông Đồng đã hết sức cố gắng, con đồng vẫn chẳng thấy đảo một chút nào!
Không ngần ngại, ông Đồng Hét vớ lấy chai rượu cúng để ở góc ban thờ. Trong mọi thứ lễ vật, ông Đồng bao giờ cũng để ý đến chai rượu này trước hết. Ông cẩn thận đến nỗi gia chủ mua rượu về, bao giờ ông cũng nếm trước xem rượu có thực ngon. Theo lời ông thì những âm binh của ông lại thảy đều rất khó tính, cúng rượu không ngon là không thể nào yên được với các ngài.
Ông Đồng để ý đến rượu cẩn thận như vậy cũng là có lý, vì trong buổi phụ đồng, người ta thường thấy ông Đồng chuốc nhiều tuần rượu, đến tuần nào thì ông cũng tự “hưởng lộc” luôn ngay. Chính bởi vậy cho nên buổi phụ đồng càng kéo dài bao nhiêu thì ông Đồng lại càng hét to lên bấy nhiêu, vì số rượu uống vào cũng mỗi lúc một thêm nhiều.
Trái với mọi khi, lần này mấy tuần rượu ông Đồng đều không thụ lộc một mình, mà lần nào ông cũng chia ra cho con đồng cùng hưởng với ông nữa. Ông Đồng Hét quả có sáng kiến rất hay: sau mấy chén rượu lộc, ông Ba Hùy không cứng đờ như tượng gỗ nữa. Ông Ba Hùy bắt đầu đảo... đảo...
Chú bé học trò ông Đồng thấy thế lại càng gióng chiêng gõ trống thêm to, yên chí rằng ông Đồng cũng theo đà mà hét càng thêm lớn tiếng. Nhưng chú bé đã nhầm. Khác hẳn với mọi lần, đã qua ba tuần rượu rồi mà ông Đồng Hét lại mỗi lúc một thêm nhỏ bớt.
Trong khi ấy, ông Ba Hùy cũng thấy đảo chầm chậm bớt đi, để rồi cuối cùng thì ngã vật xuống chiếu, không cựa quậy gì nữa. Mọi người đứng xung quanh đều lộ vẻ vui mừng vì tưởng rằng như vậy cuộc phụ đồng đã có kết quả. Riêng có chú bé học trò ông Đồng là biết có sự lạ đã xảy ra: chú biết con đồng không bao giờ lại nằm co và giật giật chân tay như vậy...
Chú lo lắng lẩm bẩm:
- Chết chửa, hay là đồng bị “khê”?
Khê đồng! Trong bọn người đứng xem cũng đã có một vài người xì xào lo lắng. Khê đồng! Nhưng tại sao mà chính ông Đồng Hét lại không hề tỏ vẻ gì là sợ sệt cả, trái lại, ông phù phép không thấy có vẻ gì là hăng hái nữa. Không những vậy, ông lại như người ngái ngủ, trước còn đứng hô thần hô tướng, sau thì ngồi xuống mà bắt quyết, và cuối cùng thì... nằm xuống ngủ còng queo!
Từ gia chủ cho đến những người xem thảy đều hoảng hốt sợ hãi. Con đồng bị khê đã đành, nhưng còn ông Đồng chẳng lẽ cũng lại bị thánh vật hay là quỷ ám. Nhưng dù sao thì cũng phải tìm cách cứu chữa cho cả hai người. Họ hỏi chú bé đánh chiêng trống, nhưng khốn nạn, cao tay phù pháp như sư phụ chú còn nằm chết ngất ở kia, thì mới võ vẽ học hành như chú còn làm trò gì được!
Đúng lúc mọi người còn đương hoảng hốt, chưa biết hành động cách nào thì một người đã rẽ đám đông vào trong. Gia chủ đã nhận ra đó là Kỳ Phát, người khách đi cùng ông Ba Hùy, đến chơi từ lúc sớm.
Hình như Kỳ Phát từ khoảng tám, chín giờ tối đã bỏ đi chơi đâu và lúc ấy mới chợt vừa về. Chàng thấy mọi người tỏ ý bối rối, chỉ bàn tán xôn xao mà chẳng biết xoay xở cách nào thì vội rẽ đám đông bước vào.
Chàng cúi xuống, trước hết nghe ngực Ba Hùy, sau vạch miệng ra ngửi. Chàng cũng xem xét kỹ ông Đồng Hét và vành con ngươi ra xem đồng tử. Cuối cùng, Kỳ Phát lấy chai rượu cúng xuống, rót chỗ còn lại ra chén rồi nếm thử một chút. Chàng nhăn mặt lại và đứng dậy bảo mọi người rằng:
- Hai người này không làm sao đâu, cứ lấy khăn mặt, dấp nước lã rồi đắp lên trán cho họ, và sau đó để nguyên vài tiếng đồng hồ là họ sẽ tỉnh lại như thường!
Buổi đánh đồng thiếp đêm ấy thế là kết liễu bằng việc cả ông Đồng lẫn con đồng đều nằm thiếp đi như chết vậy! Khi mọi người đến xem đều đã về hết, hai anh em ông Ba, con cụ Cửu mới lo lắng mà hỏi Kỳ Phát rằng:
- Ông xem thế nào, có chắc chắn là ông Đồng Hét và Ba Hùy không làm sao không?
Kỳ Phát gật đầu:
- Điều ấy ông cứ tin chắc ở tôi. Nhiều lắm là họ bị mệt mất vài ngày, ăn cháo đỗ xanh vài bữa thì tỉnh hẳn.
Ông Hai thở dài chép miệng:
- Tôi chỉ lo nhà đương vận áo xám[*], mà hai ông ấy lại bị thần thánh hay ma quỷ vật chết thì thực là rầy rà to...
[*] Nhà đang có tang
Kỳ Phát cười:
- Ông cứ yên tâm, không ngại chi cả. Kể ra thì tôi chỉ nghĩ mà thương hại ông Ba Hùy, tự nhiên ở đâu đến giơ đầu chịu báng, chứ ông Đồng Hét thì tôi cho là đáng lắm. Ai bảo ông là một thầy phù thủy chẳng cao tay một tí nào lại cứ muốn trêu vào những con ma vô cùng... ma quái!
*
Kỳ Phát đoán cũng không sai mấy.
Khoảng năm giờ sáng hôm sau, Kỳ Phát thấy Ba Hùy cựa mình rồi ngồi dậy.
Chàng hỏi:
- Thế nào, ông Ba tỉnh hẳn rồi chứ?
Nghe giọng nói giễu cợt của Kỳ Phát, Ba Hùy càu nhàu bảo:
- Tỉnh rồi, mà ông nên nhớ tôi tỉnh đã lâu, nhưng muốn nằm nguyên để suy nghĩ.
Kỳ Phát cố nhịn cười:
- À, ra thế kia đấy, vậy mà tôi không biết. Nhưng bây giờ ông định thế nào, có lẽ chúng ta ở lại đây hôm nay nữa, để tối đến ông lại ngồi đồng thiếp?
Ba Hùy không nói nữa, đi rửa mặt rồi lùi lũi ra về, chẳng buồn đợi gia chủ dậy mà gửi một lời chào...
Kỳ Phát lẳng lặng theo sau, bỗng chốc phá lên cười:
- À, tôi nghĩ ra rồi, ông Ba Hùy ạ!
Ba Hùy hấp tấp hỏi:
- Ông cũng đã thấy rõ cái cớ làm sao tôi bị mê đi?
Kỳ Phát nghiêm giọng, gật đầu:
- Ông tưởng tôi ngu ngốc đến thế nào mà lại không hiểu biết điều tầm thường ấy?
Ba Hùy gật đầu:
- Từ lúc tôi tỉnh dậy, đợi cho trí minh mẫn trở lại, tôi cũng hiểu ra sự thực ngay, chỉ tức rằng không tìm được chứng cớ cụ thể để bắt thủ phạm...
Kỳ Phát hỏi lại:
- Thủ phạm nào, thủ phạm đã giết cụ Cửu hay là thủ phạm đã làm ông ngã quay đêm qua?
Không lưỡng lự, Ba Hùy đáp:
- Thủ phạm hai vụ ấy, chỉ là một người!
Kỳ Phát lắc đầu:
- Tôi không đồng ý ấy. Vì thủ phạm làm cho ông ngã quay đêm qua chỉ là chú cầy béo ở làng Văn Bối. Ai bảo ông đã đánh thịt chó vào uế tạp rồi lại còn ngồi đồng để cho thánh vật!
Biết Kỳ Phát trêu mình, Ba Hùy tức tối lui lủi bước mau, không nói thêm câu nào nữa.