Chúng ta hãy để bác Tom trong tay kẻ làm cho bác khổ nhục, để theo dõi câu chuyện của hai vợ chồng George và Eliza. Ta đã biết, họ đang ở trong trang trại gần bên đường, được những người tử tế giúp đỡ. Còn thằng Loker, ta đã biết nó, khi nó rên rỉ và giãy giụa trên một cái giường sạch sẽ, được bàn tay hiền từ của mẹ Dorcas chăm sóc, thằng Loker bây giờ dễ bảo như một con trâu đang ốm.
Ta hãy tưởng tượng một người đàn bà cao, đáng kính và khắc khổ, đầu trùm một cái khăn của người Quaker, mỏng và trắng nõn; mái tóc bạc, có đường ngôi; một cái trán rộng, ngời sáng; mắt bà màu xám, suy nghĩ. Bà choàng một cái khăn mỏng trắng tinh, hai đầu vắt chéo nhau trước ngực; chiếc váy bà mặc bằng lụa nâu, mỗi lần bà đi ngang qua buồng, lại khe khẽ sột soạt. Loker tung mạnh chăn ra: "Đồ quỷ!" Bà Dorcas lặng lẽ xếp chăn gọn lại nói:
– Mẹ đã bảo con không được nói những câu ấy.
– Con không được nói nữa, khi con nhịn được, mẹ ạ. Nhưng bức quá thì chịu thế nào được mà không chửi rủa!
Bà Dorcas nhấc cái chăn phủ ra, vuốt chăn cho thật phẳng, bà quấn chăn rất chặt, người ốm bị bó như một con nhộng. Bà vừa làm vừa dịu dàng nói:
– Mẹ mong con từ nay đừng chửi rủa, đừng văng tục, rồi con suy nghĩ về cách ăn ở của con.
Loker phát cáu:
– Kệ mẹ nó cách ăn ở, con đếch cần...!
Rồi nó lại tung chăn ra; cái giường bừa bộn một cách kinh khủng. Nó quàu quạu hỏi:
– Cái người đàn ông và cái người đàn bà ấy cũng ở đây, phải không mẹ?
– Phải.
– Họ nên qua cái hồ... càng sớm càng tốt.
Bà Dorcas đang bận đan, đáp:
– Chắc là hai người sẽ đi đường ấy.
– Phải cẩn thận. chúng con có người liên lạc ở vùng Sandusky. Họ kiểm soát tàu bè cho chúng con. Bây giờ, con chả ngại gì mà không nói. Con mong hai người ấy đi thoát được, để cho thằng Marks bị một mẻ, cái thằng chó chết trời đánh thánh vật ấy.
– Kìa, Loker!
– Mẹ ạ, mẹ cứ bó chặt con thế này thì con nổ vỡ tung ra mất! Còn người đàn bà... Mẹ bảo chị ta cải trang thế nào cho người ta không nhận ra được. Ở Sandusky đã dán yết thị về chị ấy đấy.
Bà Dorcas vẫn trả lời bằng cái giọng bình thản rất đặc biệt:
– Người ta sẽ chuẩn bị chu đáo.
Lúc này là lúc chúng ta vĩnh biệt Loker, vậy cũng nên biết thêm rằng, sau ba tuần lễ ở nhà những người Quaker, chữa khỏi chứng thấp khớp và nhiều bệnh khác, nó dậy được và trở nên biết điểu hơn, khôn ngoan hơn chút ít. Nó bỏ nghề săn bắt nô lệ, đến ở một vùng khác, sống bằng nghề đánh bẫy gấu, chó sói và các thú vật khác trong rừng. Nó bẫy rất giỏi, nổi tiếng quanh vùng. Nó nói đến người Quaker với giọng kính yêu: "Những người rất tốt - Nó thường nói vậy. - Họ muốn cho mình theo đạo, nhưng không được. Nhưng phải biết nhé, họ săn sóc người ốm như thế nào... chẳng ai nấu canh, làm thức ăn khéo như họ."
Nhờ Loker, nhóm nô lệ chạy trốn biết được họ sẽ bị lùng bắt tại Sandusky; họ chia làm hai tốp: Jim và mẹ đi trước; một vài ngày sau, George, Eliza và thằng bé Harry sẽ đi xe ngựa đến một gia đình đáng tin cậy ở Sandusky, trước khi sang hồ.
Đêm đã khuya lắm; sao Mai, ngôi sao của tự do, đã mọc. Tự do, cái tiếng kì diệu... Phải chăng đó chỉ là một tiếng tu từ? Hỡi những người bạn Mĩ, tại sao trái tim các bạn đập nhanh hơn, mỗi khi các bạn nghe thấy hai tiếng "tự do", vì tự do mà cha các bạn đã phải đổ máu, và các bà mẹ can đảm của các bạn đã đưa những đứa con ngoan nhất, đáng quý nhất của mình đến chỗ chết; cái mà một quốc gia yêu quý, đối với cá nhân không phải là yêu quý hay sao. Tự do của một quốc gia là gì, nếu không phải là tự do của mỗi cá nhân? Tự do là gì đối với người thanh niên đang khoanh tay trước ngực kia, người có đôi chút máu châu Phi trên gò má, có ánh lửa châu Phi trong con mắt? Tự do là gì đối với George? Đối với ông cha các bạn, tự do, đó là quyền của mỗi nước độc lập; đối với George, đó là quyền được làm người, và không phải là con vật; quyền được gọi người phụ nữ mà anh yêu, là vợ mình, được che chở người ấy chống lại mọi bạo lực bất hợp pháp; quyền được che chở và dạy dỗ con mình; quyền được có một gia đình, một tôn giáo, có nhân phẩm mà không bị một người khác xâm phạm.
Tất cả những ý nghĩ ấy dồn dập đến và nung nấu trái tim George. Tay ôm lấy đầu, anh suy nghĩ, anh nhìn vợ anh đang thử bộ quần áo đàn ông chị sẽ bận để cải trang, hôm đi trên con đường đến tự do. Chị đứng trước gương, xóa mớ tóc đen và dài xuống, chị cầm mớ tóc lên, nói đùa:
– Giờ đã điểm. Cắt đi, tiếc quá, anh nhỉ!
George mỉm cười buồn bã, không trả lời.
– Eliza quay lại chiếc gương; kéo lấp la lấp loáng, từng món tóc đen rơi xuống, chị nói:
– Thôi, thế là đủ rồi. Đây, túm cuối cùng.
Chị cầm một cái bàn chải, quay lại với chồng vừa cười vừa đỏ mặt hỏi:
– Trông em có điển trai không?
Em thì lúc nào trông cũng đẹp.
– Tại sao anh buồn thế? - Eliza lo lắng hỏi; chị quỳ xuống bên chồng, đặt tay vào tay chồng: - Họ bảo chỉ hai mươi bốn giờ nữa là đã sang đến Canada. Một ngày, một đêm trên hồ, thế là... thế là...
George kéo vợ lại gần, nói:
– Em Eliza! Số phận anh sắp sửa quyết định. Được gần tự do, như là đã trông thấy tự do rồi... rồi mất tất cả... không sao sống nổi.
– Anh đừng sợ. Nếu Chúa không định cứu chúng mình thì sao Chúa để cho mình đến được tận đây?
Anh ôm chặt lấy vợ, nói:
– Cầu Chúa phù hộ cho em. Em tin là những năm đau khổ dài đằng đẵng sẽ chấm dứt ư? Chúng ta sẽ được tự do ư?
Eliza nhìn trời, mắt lóng lánh mấy giọt lệ hi vọng và náo nức, đáp:
– Em tin lắm. Em thấy thế. Ngay ngày hôm nay, sẽ chấm dứt cuộc đời nô lệ của chúng mình.
George đứng dậy:
– Anh muốn tin em. Thôi, ta đi... Thật quả trông em xinh trai quá. Em đội mũ cát két vào. Thế, hơi nghiêng thêm một tí. Chưa bao giờ em xinh như lúc này. Xe đến rồi đấy. Không biết bà Smyth đã cải trang cho Harry xong chưa.
Cửa mở, một người đàn bà đứng tuổi, trông đáng kính mến, bước vào, tay dắt Harry mặc giả một đứa bé gái. Eliza xoay thằng bé một vòng, reo lên:
– Con bé mới xinh làm sao! Gọi nó là Harriet nhé; trông nó mới ngoan chưa!
Thằng bé rất nghiêm trang nhìn mẹ trong bộ quần áo lạ lùng. Nó im lặng thở dài và ngắm mẹ qua những bím tóc buông xõa xuống. Eliza giơ tay đón nó:
– Con không nhận ra mẹ ư?
Thằng bé e lệ túm lấy áo bà Smyth. Bà bảo chị Eliza:
– Thằng bé không được đi cùng với chị, sao chị lại cứ nựng nó?
– Tôi biết là sai, nhưng thấy nó quay mặt đi, tôi không chịu nổi... Nào! Áo khoác của em đâu, anh? Đây rồi... Đàn ông mặc áo khoác thế nào, anh nhỉ?
– Thế này này. - George vừa đáp vừa khoác áo lên vai mình.
Eliza bắt chước làm như chồng, hỏi thêm:
– Em có phải bước đi mạnh mẽ, bước bước dài và lấy vẻ nhanh nhẹn, hoạt bát không anh?
– Chẳng cần làm quá, em ạ. Những thanh niên khiêm tốn, đôi khi cũng gặp; anh nghĩ em đóng cái vai ấy dễ hơn.
– Còn đôi găng tay này nữa! Đeo vào em chẳng thấy bàn tay đâu cả.
– Ấy, em chớ tháo ra đấy nhé, bàn tay em nhỏ nhắn thế, có thể lộ đấy... bà Smyth, bà nhớ phải theo chúng tôi nhé; bà đừng quên bà là cô của cháu bé.
Bà Smyth nói:
– Tôi thấy nói tất cả thuyền trưởng đều được báo tin sẽ có một người đàn ông, một người đàn bà và một đứa bé sẽ lên tàu của họ.
George mỉm cười:
– Thế ạ? Được, nếu ta gặp những người ấy, ta sẽ báo cho họ biết.
Một cái xe ngựa đỗ ngoài cửa; cái gia đình dễ thương đã đón tiếp những người nô lệ bỏ trốn, xúm xít quanh họ để từ biệt. Chính Loker đã gợi ý cho người ta cải trang. Bà Smyth, một người phụ nữ đáng trọng từ Canada sang, nay trở về, cũng phải qua hồ, nhận đóng vai cô của thằng bé Harry. Để Harry quen với bà, người ta đã giao nó cho bà trông nom hai ngày. Nào nuông chiều, nào bánh, nào kẹo... bấy nhiêu thứ đã gắn bó chặt chẽ cậu cả với bà Smyth.
Xe dừng lại ở bến. Hai chàng thanh niên - hay ít ra hai người tự cho mình là hai chàng thanh niên - đi qua cầu. Eliza lịch sự khoác tay bà Smyth. George trông hành lí. Anh ở trong phòng thuyền trưởng để trả tiền tàu, thì nghe thấy hai người nói chuyện với nhau. Một người bảo:
– Mình đã nhìn kĩ tất cả mọi hành khách lên tàu, mình biết là bọn chúng nó không ở trên tàu này.
Đó là tiếng nói của viên kế toán trên tàu. Hắn nói với thằng Marks, vốn dai như đỉa đói, đã đến Sandusky để tìm mồi. Nó nói:
– Cậu khó mà phân biệt được con mụ ấy với một người da trắng. Còn thằng cha kia là một thằng lai, da cũng trắng, nó có một dấu nung sắt đỏ ở bàn tay.
Bàn tay của George chìa ra để lấy vé tàu, hơi run run. Nhưng anh không hề mất can đảm, anh quay lại lơ đãng nhìn kẻ vừa nói câu ấy, anh thong thả bước ra phía Eliza đang chờ anh.
Bà Smyth và Harry đã vào trong phòng khách dành riêng cho phụ nữ; các bà khách đi tàu trầm trồ khen "con bé" xinh xắn.
Khi chuông báo tàu rời bến, George hết sức sung sướng thấy thằng Marks xuống cầu rồi lên bến. Anh thở dài nhẹ nhõm; giữa con tàu và thằng Marks, có một khoảng cách không sao vượt nổi nữa.
Ngày hôm ấy đẹp lộng lẫy. Những lớp sóng xanh của hồ Erie nhấp nhô, phản chiếu ánh nắng, một làn gió nhẹ từ bờ thổi ra; con tàu kiêu hãnh rẽ sóng đi nhanh.
Trái tim con người chứa đựng cả một thế giới thầm kín. Ai đoán biết được tất cả những cái gì đang rực cháy trong lồng ngực George, trong lúc anh đang lặng lẽ dạo bước trên boong, cùng người bạn rụt rè e lệ? Niềm hạnh phúc không bờ bến gần quá, đẹp quá, êm dịu quá, khiến anh nghĩ khó lòng mà thực hiện được; lúc nào anh cũng lo sợ có ai cướp đi mất hi vọng của anh.
Con tàu vẫn tiến lên phía trước; giờ phút trôi qua; rồi người ta thấy bờ phía Canada, rõ mồn một, rất gần, cái bờ hồ mới kì diệu làm sao, bởi vì, chỉ mó vào đấy là pháp luật về chế độ nô lệ bị tiêu diệt, dù là pháp luật ấy bằng thứ tiếng của dân tộc nào, dù là của nước nào cưỡng bức cũng phải thi hành.
Đến gần thành phố Amsherstberg trên đất Canada, George nắm lấy cánh tay Eliza. Anh thở mạnh, mắt mờ đi vì nước mắt... Một hồi còi rúc lên, con tàu dừng lại. Cả nhà lên bờ; con tàu rời bến.
Bà Smyth dẫn họ đến một nơi tiếp đón những con người khốn khổ bỏ nước Mĩ trốn đi, thường ghé lại đây tìm chốn nương thân; nơi này do một người truyền giáo có lòng từ thiện lập ra.
Ai mô tả hết được hạnh phúc của ngày đầu được tự do? Được đi lại, được nói, được thở, được ra, vào không bị ai kiểm soát, không sợ nguy hiểm! Ai nói hết được niềm hạnh phúc lúc nghỉ ngơi của một người tự do, ở một nước có pháp luật đảm bảo những quyền mà Thượng đế đã ban cho loài người? Cái khuôn mặt trẻ thơ ngủ say, trăm ngàn lần trở nên yêu quý hơn vì trải qua bao nguy hiểm, bây giờ đối với người mẹ, mới quý báu ngần nào! Khi người ta vừa chiếm lại được cái hạnh phúc ấy, thì ngủ làm sao được? Họ chẳng có một tấc đất, chẳng có một mái nhà của mình; họ đã tiêu hết đồng tiền cuối cùng. Họ giống như những con chim trên trời, những bông hoa ngoài cánh đồng, thế nhưng họ sung sướng quá, không sao ngủ được.