Vực Thẳm Thời Gian

Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Khi Bradley bắt đầu phiên gác vào lúc nửa đêm ngày 14 tháng Chín, tâm trí anh phần lớn chìm đắm trong niềm vui mừng vì đêm sắp trôi qua mà không xảy ra tai hoạ nghiêm trọng nào, và ngày mai chắc chắn sẽ đưa tất cả bọn họ trở về Pháo đài Dinosaur một cách an toàn. Sự phấn chấn trong tâm trạng anh lại đượm buồn bởi ký ức về hai thành viên trong đoàn đã nằm lại ở vùng hoang dã tàn khốc đó, những người sẽ chẳng bao giờ còn có ngày trở về quê hương.

Không một điềm báo trước về tai họa sắp tới phủ bóng lên những mong đợi của anh cho ngày hôm sau, bởi Bradley là một con người luôn cẩn trọng trước mọi hiểm nguy tiềm ẩn nhưng không bao giờ để những linh cảm u ám đè nặng tâm hồn. Khi hiểm họa rình rập, anh luôn sẵn sàng; nhưng anh không hề chuốc lấy tai ương, và vì thế, khi vào khoảng một giờ sáng ngày mười lăm, anh nghe thấy tiếng đập cánh ảm đạm của những chiếc cánh khổng lồ ở phía trên, anh không hề ngạc nhiên hay sợ hãi mà điềm tĩnh chuẩn bị cho một cuộc tấn công mà anh biết hoàn toàn có thể xảy ra.

Âm thanh dường như phát ra từ phía nam, và ngay sau đó, thấp thoáng trên ngọn cây theo hướng ấy, người đàn ông nhận ra một hình thù mờ ảo, tối tăm đang lượn lờ chầm chậm. Bradley là một người dũng cảm, thế nhưng cảm giác ghê tởm trào dâng trước hình dáng và âm thanh u ám, kỳ dị ấy lại mãnh liệt đến mức anh cảm thấy rõ từng chiếc gai ốc nổi lên trên khắp cơ thể, và anh phải rất kìm nẻ mới cưỡng lại được bản năng muốn nổ súng vào kẻ đột nhập ban đêm ấy. Tốt hơn biết mấy, giá như anh chịu nhượng bộ trước tiếng gọi giục giã từ tiềm thức; nhưng sự ám ảnh gần như cuồng tín muốn tiết kiệm đạn dược lại trở thành nguyên nhân dẫn đến tai họa của anh lúc này, bởi trong lúc sự chú ý của anh dồn vào sinh vật đang lượn lờ trước mặt và tai anh ngập tràn tiếng vỗ cánh của nó, thì từ màn đêm đen thẳm phía sau, một hình thù kỳ quái và ma quái khác đã lặng lẽ lao xuống. Với đôi cánh khổng lồ khép hờ cho cú bổ nhào và chiếc áo choàng trắng bay phấp phới phía sau, bóng ma ấy lao thẳng xuống người lính Anh.

Lực va chạm mạnh đến mức khi sinh vật ấy đập vào giữa hai bả vai Bradley, anh gần như chết trân. Khẩu súng trường bay khỏi tay anh; anh cảm thấy nhữngh móng vuốt sắc như dao của một lực lượng vô cùng mạnh mẽ tóm lấy dưới nách và nhấc bổng anh lên khỏi mặt đất; và rồi sinh vật ấy lao vút lên cùng anh, nhanh đến mức chiếc mũ trên đầu anh bị luồng gió thổi bay đi khi anh bị cuốn nhanh lên bầu trời tối đen như mực, và tiếng kêu cảnh báo đồng đội bị nghẹn lại trong lồng ngực.

Sinh vật lập tức quay đầu về hướng đông và ngay lập tức được gia nhập bởi đồng bọn của nó, kẻ lượn vòng quanh họ một lần rồi nhập vào phía sau họ. Bradley lúc này nhận ra chiến thuật mà cặp đôi này đã sử dụng để bắt giữ mình và ngay lập tức kết luận rằng anh đang nằm trong tay những sinh vật có tư duy, có họ hàng gần gũi với loài người nếu không muốn nói là chính con người.

Kinh nghiệm quá khứ gợi ý rằng đôi cánh lớn kia là một phần của cỗ máy khéo léo nào đó, bởi những hạn chế của tâm trí con người — vốn luôn miễn cưỡng chấp nhận bất cứ điều gì vượt quá tầm kinh nghiệm nhỏ bé của bản thân — không cho phép anh ôm ấp ý nghĩ rằng những sinh vật này có thể tự nhiên có cánh mà đồng thời lại có nguồn gốc từ loài người. Từ vị trí của mình, Bradley không thể nhìn thấy đôi cánh của kẻ bắt giữ, cũng như trong bóng tối, anh không thể quan sát kỹ đôi cánh của sinh vật thứ hai khi nó lượn trước mặt anh. Anh lắng nghe tiếng thở phì phì của động cơ hoặc một âm thanh mách nước nào đó để chứng minh lý thuyết của mình là đúng. Tuy nhiên, anh chẳng nhận được gì ngoài tiếng vỗ cánh liên hồi.

Chẳng mấy chốc, ở phía trước và xa bên dưới, anh nhìn thấy làn nước của biển nội địa, và chỉ một khoảnh khắc sau, anh được mang bay qua vùng nước đó. Rồi kẻ bắt giữ đã làm một hành động chứng minh không còn nghi ngờ gì nữa với Bradley rằng anh đang nằm trong tay những con người đã chế ạo ra một kế hoạch gần như hoàn hảo để mô phỏng một cách cơ học đôi cánh của loài chim — sinh vật đó cất tiếng nói với đồng bọn và bằng một thứ tiếng mà Bradley phần nào hiểu được, vì anh nhận ra những từ ngữ mà anh đã học được từ các bộ tộc hoang dã ở Caspak. Từ điều này, anh phán đoán rằng họ là con người, và là con người thì anh biết họ không thể có đôi cánh tự nhiên — bởi làm gì có ai từng thấy một con người nào được trang bị như vậy! Do đó, đôi cánh của họ chắc chắn là máy móc. Bradley đã suy luận như vậy — hầu hết chúng ta cũng suy luận như vậy; không phải dựa trên những gì có thể xảy ra, mà dựa trên những gì đã nằm trong tầm trải nghiệm của chúng ta.

Những gì anh nghe họ nói ngụ ý rằng sau khi đi được nửa quãng đường, gánh nặng giờ đây sẽ được chuyển từ người này sang người kia. Bradley tự hỏi việc trao đổi đó sẽ được thực hiện như thế nào. Anh biết rằng những chiếc cánh khổng lồ kia sẽ không cho phép các sinh vật đến gần nhau đủ để thực hiện việc chuyển đổi theo cách này; nhưng anh sớm phát hiện ra rằng chúng có những phương tiện khác để làm điều đó.

Anh cảm thấy sinh vật mang mình bay lên cao hơn, và ở bên dưới, anh thoáng thấy bóng dáng thứ hai mặc áo choàng trắng; rồi sinh vật ở phía trên phát ra một tiếng gọi trầm, có tiếng trả lời vọng lên từ bên dưới, và ngay lập tức Bradley cảm thấy những chiếc móng vuốt đang bấu víu buông lỏng ra; vừa thở hổn hển, anh vừa lao cắm đầu xuống không gian vô định.

Trong một khoảnh khắc kinh hoàng đầy rợn ngợp, Bradley rơi xuống; rồi một thứ gì đó bổ nhào đến từ phía sau, một đôi móng vuốt khác tóm lấy anh dưới nách, cú lao xuống của anh bị chặn lại, chỉ cách mặt biển chừng một trăm bộ, và anh lại được kéo bốc ngược lên cao. Như một con diều hâu lao xuống chộp một chú chim sơn ca đang bay, con chim người vĩ đại này lao xuống bắt Bradley. Đó là một trải nghiệm đau đớn tột cùng, nhưng nhanh chóng trôi qua, và một lần nữa người tù nhân lại được chở nhanh về hướng đông tới một số phận mà anh thậm chí không thể đoán trước.

Ngay sau cuộc trao đổi giữa không trung ấy, Bradley nhận ra bóng dáng mờ ảo của một hòn đảo lớn ở phía trước, và không lâu sau, anh nhận ra đây chắc chắn là điểm đến dự định của những kẻ bắt giữ mình. Anh đã không đoán sai. Ba phần tư giờ kể từ lúc bị bắt, những kẻ bắt giữ đã hạ cánh nhẹ nhàng xuống thành phố kỳ lạ nhất mà mắt người từng đặt chân đến. Bradley chỉ kịp thoáng nhìn thấy khung cảnh xung quanh trước khi bị tước đoạt đưa thẳng vào bên trong một tòa nhà; nhưng trong cái nhìn chớp nhoáng ấy, anh thấy những đống đá, gỗ và bùn kỳ lạ được tạo hình thành những công trình với đủ mọi kích thước và hình thù tưởng tượng được, đôi khi chồng chất lên nhau cao ngút, đôi khi đứng độc lập trong một khoảng sân trống, nhưng thường thì chúng chen chúc và nhồi nhét vào nhau đến mức không có lấy một con phố hay con hẻm nào giữa chúng, ngoài một vài lối đi vừa bắt đầu đã vội kết thúc. Những ô cửa chính dường như nằm trên mái nhà, và chính qua một trong những ô cửa này mà Bradley được dẫn vào không gian tối tăm của một căn phòng trần thấp. Tại đây, anh bị đẩy thô bạo vào một góc nơi anh vấp phải một tấm thảm dày, và những kẻ bắt giữ đã để mặc anh ở đó. Anh nghe thấy tiếng chúng di chuyển trong bóng tối một lát, và vài lần anh thấy đôi mắt to lớn, phát sáng của chúng rực lên trong đêm tối. Cuối cùng, những thứ đó biến mất và sự im lặng ngự trị, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng thở của sinh vật, cho thấy với người lính Anh rằng chúng đang ngủ đâu đó trong cùng một căn phòng.

Lúc này rõ ràng là tấm thảm trên sàn được dùng để ngủ và cái cúi đẩy thô bạo vừa rồi chính là lời mời gọi thô lỗ hãy nghỉ ngơi đi. Sau khi kiểm tra lại bản thân và thấy mình vẫn còn súng lục, đạn dược, vài bao diêm, một ít thuốc lá, một bình đựng nước và một lưỡi dao cạo, Bradley thoải mái ngả lưng trên tấm thảm và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ, thừa hiểu rằng việc cố gắng trốn chạy trong bóng tối mà không hiểu rõ địa hình sẽ chỉ chuốc lấy thất bại chắc chắn.

Khi tỉnh dậy, trời đã sáng rõ, và cảnh tượng đập vào mắt khiến anh phải dụi mắt hết lần này đến lần khác để chắc chắn rằng mình thực sự tỉnh và không hề mơ mộng. Một luồng ánh sáng ban mai rọi qua ô cửa mở trên trần căn phòng rộng chừng ba mươi thước vuông, hoặc xấp xỉ vuông, với hình thù không đều, một bên uốn cong ra ngoài, một bên bị lõm vào bởi thứ có thể là góc của một tòa nhà khác đâm vào, một bên khác có hốc với ba cạnh của hình bát giác, trong khi cạnh thứ tư có đường lượn sóng. Hai ô cửa sổ đón thêm ánh sáng ban mai, trong khi hai cánh cửa rõ ràng dẫn lối sang các phòng khác. Các bức tường được ốp một phần bằng những dải gỗ mỏng, được lắp ráp và hoàn thiện tinh xảo, một phần được trát vữa và phần còn lại được bọc bằng một loại vải dệt mịn. Hình vẽ loài bò sát và thú vật được vẽ không theo một chủ đề thống nhất nào rải rác khắp các bức tường. Một nét nổi bật trong cách trang trí là một số cột áp tường được gắn vào các bức tường với khoảng cách không đều, đỉnh của mỗi cột nâng đỡ một hộp sọ người mà phần đỉnh sọ chạm đến trần nhà, như thể trần nhà được chống đỡ bởi những lời nhắc nhở ảm đety về những người thân đã khuất hoặc về một nghi lễ bộ lạc rùng rợn nào đó — Bradley không khỏi tự hỏi là cái nào.

Tuy nhiên, không phải những thứ này làm anh ngạc nhiên nhất — không, chính là hình dáng của hai sinh vật đã bắt anh và đưa anh đến đây. Ở một đầu phòng, một chiếc cột chắc chắn đường kính khoảng hai inch chạy ngang từ tường này sang tường kia cách sàn nhà chừng sáu hoặc bảy thước, hai đầu được gắn chắc chắn vào hai chiếc cột áp tường. Treo mình bằng đầu gối trên thanh xà đó, đầu chúc xuống dưới và cơ thể cuộn tròn trong đôi cánh khổng lồ, những sinh vật của đêm hôm trước đang ngủ — chúng treo mình như hai con dơi khổng lồ, gớm ghiếc, đang say ngủ.

Khi Bradley trân trân nhìn chúng trong sự kinh ngạc tột độ, anh nhận thấy rõ ràng rằng mọi sự thông thái, mọi kiến thức tích lũy qua nhiều năm quan sát và kinh nghiệm của anh đều trở nên vô nghĩa trước bằng chứng hiển hiện đang phơi bày rõ mồn một trước mắt anh — đôi cánh của những sinh vật này không phải là thiết bị cơ học mà là những bộ phận cơ thể tự nhiên, mọc ra từ xương bả vai của chúng, giống như tay và chân vậy. Anh cũng thấy rằng ngoại trừ đôi cánh, cặp đôi này có nét giống con người một cách mạnh mẽ, dù được tạo hình theo một khuôn mẫu hết sức quái dị.

Khi anh ngồi ngắm chúng, một trong hai sinh vật bỗng tỉnh giấc, dang rộng đôi cánh để giải phóng đôi tay vốn đang khoanh trước ngực, đặt bàn tay xuống sàn, thả chân xuống và đứng thẳng dậy. Thoáng chốc, nó từ từ vươn đôi cánh vĩ đại, chớp chớp đôi mắt to tròn một cách trang nghiêm. Rồi ánh mắt nó rơi vào người Bradley. Đôi môi mỏng mím chặt lại chống vào hàm răng vàng trong một điệu bộ nhăn nhó không gì khác ngoài vẻ gớm ghiếc. Nó không thể được gọi là một nụ cười, và biểu hiện cảm xúc gì đằng sau đó khiến người lính Anh chịu thua không đoán nổi. Không một biểu cảm nào thay đổi ánh nhìn kiên định của đôi mắt to tròn ấy; chẳng có chút màu sắc nào trên đôi gò má nhợt nhạt, lõm sâu. Một cái đầu lâu thè lưỡi nhăn nhó như thể một kẻ đã chết từ lâu đang nhấc cái hộp sọ bọc da thuộc của mình lên từ một ngôi mộ cổ.

Sinh vật này cao xấp xỉ một người đàn ông bình thường nhưng trông có vẻ cao hơn hẳn nhờ các khớp ở đôi cánh dài nhô cao hơn hẳn một thước so với cái đầu trọc lóc của nó. Đôi tay trần dài và gân guốc, kết thúc bằng những bàn tay xương xíu với những ngón tay như móng vuốt — mang đậm nét gợi nhớ đến móng vuốt loài mãnh thú. Chiếc áo choàng trắng hé mở ở phía trước, để lộ đôi chân gầy guộc và sự thật rằng sinh vật này chỉ mặc độc nhất một mảnh y phục làm bằng vải dệt mịn. Từ đỉnh đầu cho đến bàn chân, các phần cơ thể lộ ra hoàn toàn không có lấy một sợi lông, và khi nhận ra điều này, Bradley cũng đồng thời nhận thấy nguyên nhân tạo nên phần lớn vẻ vô cảm trên khuôn mặt sinh vật đó — nó không hề có lông mày hay lông mi. Tai nhỏ và áp sát vào hộp sọ vốn tròn một cách đáng chú ý, mặc dù khuôn mặt lại khá phẳng. Sinh vật có đôi bàn chân nhỏ nhắn, vòm cong đẹp đẽ và đầy đặn, nhưng lại lạc lõng với mọi đặc điểm thể chất khác đến mức trông thật nực cười.

Sau khi nhìn chăm chú Bradley một lát, sinh vật liền tiến lại gần anh. "Từ đâu đến?" nó hỏi.

"England," Bradley đáp gọn lỏn.

"England ở đâu và là gì?" kẻ thẩm vấn tiếp lời.

"Đó là một đất nước ở rất xa nơi này," người lính Anh trả lời.

"Người của ngươi thuộc phe cor-sva-jo hay cos-ata-lu?"

"Tôi không hiểu anh đang nói gì," Bradley nói; "và giờ thì đến lượt anh trả lời vài câu hỏi đây. Các anh là ai? Đây là xứ sở nào? Tại sao các anh lại bắt tôi đến đây?"

Lại một điệu bộ nhăn nhó như từ cõi chết vọng về. "Chúng ta là Wieroos — Luata là cha của chúng ta. Caspak thuộc về chúng ta. Vùng đất này của chúng ta gọi là Oo-oh. Chúng tôi đưa ngươi đến đây để (nghĩa đen là) Kẻ Nói Thay Luata ngắm nhìn và thẩm vấn. Ngài muốn biết ngươi từ đâu đến và để làm gì; nhưng chủ yếu là xem ngươi có phải là cos-ata-lu hay không."

“Và nếu ta không phải là cos — dù cái quái gì mà anh gọi là con thú khỉ gió đó đi chăng nữa — thì sao nào?”

Gã Wieroo nhướng đôi cánh lên trong một cái nhún vai rất giống con người và khua những chiếc móng vuốt xương xíu về phía những chiếc hộp sọ người đang chống đỡ trần nhà. Cử chỉ của hắn vô cùng biểu cảm; nhưng hắn còn tô điểm thêm bằng lời nhận xét: "Và rất có thể là nếu ngươi đúng là thế."

"Ta đói rồi," Bradley cụt lủn.

Gã Wieroo ra hiệu về phía một trong những cánh cửa rồi đẩy mở tung ra, cho phép Bradley bước ra một mái nhà khác nằm ở độ cao thấp hơn mái nhà mà họ đã hạ cánh hồi sáng sớm. Ban ngày, thành phố trông còn kỳ lạ hơn cả dưới ánh trăng, dù đỡ có vẻ quái dị và phi thực tế hơn. Những ngôi nhà đủ mọi hình thù và kích thước chồng chất lên nhau như thể một đứa trẻ đang xếp những khối gỗ đủ hình dáng và màu sắc. Giờ đây anh mới nhận ra rằng có những thứ có thể gọi là đường phố hoặc hẻm xóm, nhưng chúng chạy ngoằn ngoèo đến khó hiểu, chẳng bao giờ đi đến đâu, toàn kết thúc ở một bức tường cụt nơi một gã Wieroo nào đó đã cất nhà chắn ngang lối đi.

Trên mỗi ngôi nhà đều có một chiếc cột mảnh mai đỡ lấy một hộp sọ người. Đôi khi những chiếc cột nằm ở một góc mái, đôi khi ở góc khác, hoặc cũng có khi chúng mọc lên từ chính giữa hoặc gần tâm nhà, và chiều cao của các cột rất khác nhau, từ chiều cao của một người cho đến những chiếc cột vươn cao tận hai mươi thước trên mái nhà của chúng. Các hộp sọ thông thường đều được sơn màu — xanh dương hoặc trắng, hoặc kết hợp cả hai màu. Ấn tượng nhất là những cái đầu lâu được sơn màu xanh dương với hàm răng trắng tinh và hốc mắt viền trắng.

Vẫn còn những chiếc hộp sọ khác — hàng ngàn cái — hàng chục, hàng trăm ngàn cái. Chúng viền quanh mái hiên của mọi ngôi nhà, chúng được gắn vào lớp vữa trên những bức tường bên ngoài và cách chỗ Bradley đang đứng không xa là một tòa tháp tròn được xây hoàn toàn bằng hộp sọ người. Và thành phố trải dài về mọi hướng xa tận tầm mắt người lính Anh.

Xung quanh anh, những Wieroos đang di chuyển trên các mái nhà hoặc vỗ cánh bay lượn trên không trung. Âm thanh sầu thảm của đôi cánh vỗ lên xuống như một khúc điệu buồn trang nghiêm. Hầu hết bọn chúng đều mặc đồ trắng tinh như những kẻ bắt giữ anh; nhưng số khác lại có các dấu hiệu màu đỏ, xanh dương hoặc vàng vắt chéo phía trước áo choàng.

Người dẫn đường chỉ tay về phía một cánh cửa ở con hẻm bên dưới họ. "Hãy đến đó mà ăn," hắn ra lệnh, "rồi quay lại đây. Ngươi không thể trốn thoát đâu. Nếu có ai hỏi, hãy nói rằng ngươi thuộc về Fosh-bal-soj. Lối đi đằng kia." Và lần này hắn chỉ tay lên đỉnh một chiếc thang đang nhô lên khỏi mái hiên ngôi nhà gần đó. Rồi hắn quay người bước trở lại vào nhà.

Bradley nhìn xung quanh. Không, anh không thể trốn thoát — điều đó có vẻ rành rành ra đấy. Thành phố có vẻ vô tận, và vượt ra ngoài thành phố, nếu không phải là một vùng hoang dã đầy rẫy thú dữ thì chính là vùng biển nội địa rộng lớn nhung nhúc những quái vật ghê rởm. Thảo nào kẻ bắt giữ lại cảm thấy an tâm khi thả lỏng anh ở Oo-oh — anh tự hỏi đó là tên của đất nước hay thành phố và liệu có những thành phố nào khác như thế này trên hòn đảo không.

Anh chầm chậm leo xuống chiếc chiếc thang để xuống con hẻm có vẻ như không một bóng người, được lát bằng những viên đá cuội tròn, lớn. Anh lại nhìn xuống mặt đường mòn nhẵn nhụi, và một nụ cười chua chát thoáng qua trên nét mặt — con hẻm được lát bằng hộp sọ. "Thành phố của những hộp sọ người," Bradley thầm nghĩ. "Chắc bọn chúng gom góp chúng từ thời Adam đến giờ," anh nghĩ bụng, rồi bước qua và đi vào tòa nhà qua cánh cửa đã được chỉ điểm.

Bên trong, anh tìm thấy một căn phòng lớn nơi có rất nhiều Wieroos đang ngồi trước những bệ đỡ mà phần đỉnh bị khoét lõm xuống trông giống như những chiếc đĩa uống nước và tắm cho chim thường thấy trên các bãi cỏ vùng ngoại ô. Một chiếc ghế thò ra từ mỗi bốn mặt của bệ đỡ — chỉ là một tấm ván phẳng với một thanh đỡ chạy chéo từ đầu ngoài xuống chân bệ.

Khi Bradley bước vào, vài gã Wieroos thoáng thấy anh, và một tiếng tru thảm thiết vang lên. Không biết đó là lời chào hay lời đe dọa, Bradley chẳng thể đoán nổi. Bỗng từ một góc khuất tối tăm, một gã Wieroo khác lao thẳng về phía anh. "Ngươi là ai?" hắn thét lên. "Ngươi muốn gì?"

"Fosh-bal-soj sai tôi đến đây để ăn," Bradley đáp.

"Ngươi thuộc về Fosh-bal-soj à?" kẻ kia hỏi.

"Có vẻ như hắn nghĩ thế," người lính Anh đáp.

"Ngươi có phải là cos-ata-lu không?" gã Wieroo gặng hỏi.

"Cho tôi cái gì để ăn đi nếu không muốn tôi thành cái thứ đó luôn," Bradley đáp lại.

Gã Wieroo tỏ vẻ bối rối. "Ngồi đây đi, jaal-lu," hắn gắt lên, và Bradley ngồi xuống mà hoàn toàn không biết rằng mình đã bị lăng mạ khi bị gọi là người-lừa-cẩu, một từ miệt thị ở Caspak.

Gã Wieroo đã xếp cho anh ngồi vào một cái bệ một mình, và khi ngồi chờ đợi xem chuyện gì sắp xảy ra tiếp theo, anh quan sát những gã Wieroo ở khu vực ngay gần đó. Anh thấy rằng trong mỗi chiếc đĩa có một lượng thức ăn, và mỗi Wieroo đều được vũ trang bằng một chiếc xiên bằng gỗ, được mút nhọn một đầu; dùng để đưa phần thức ăn rắn vào miệng. Ở đầu bên kia của chiếc xiên có gắn một chiếc vỏ sò nhỏ. Cái này dùng để múc những phần thức ăn nhỏ hơn và mềm hơn mà cả bốn người ngồi chung mỗi bàn đều nhúng vào một cách không phân biệt. Những gã Wieroo cúi gằm người sát vào thức ăn, múc chúng một cách nhanh chóng và đầy ồn ào, và sự vội vã lớn đến mức một phần của mỗi miếng ăn luôn rơi trở lại chiếc đĩa chung; và khi chúng bị nghẹn vì tốc độ cố gắng nuốt chửng thức ăn, chúng thường đánh rơi tất cả. Bradley cảm thấy thật may mắn vì có một cái bệ dành riêng cho mình.

Chẳng mấy chốc, người quản lý nơi này quay lại với một cái bát gỗ đầy ắp thức ăn. Hắn trút đống đó vào "máng ăn" của Bradley, theo cách mà anh đã mặc định gọi nó. Người lính Anh thầm mừng vì anh không thể nhìn thấu vào góc tối hoặc biết rõ những thành phần nào cấu tạo nên mớ hỗn độn trước mặt, bởi vì anh đang rất đói.

Sau miếng ăn đầu tiên, anh lại càng ít muốn tìm hiểu nguồn gốc của món ăn hơn, bởi vì anh thấy nó ngon một cách kỳ lạ. Nó dường như là sự kết hợp giữa thịt, trái cây, rau củ, cá nhỏ và những thứ thức ăn không thể nhận dạng khác, tất cả được tẩm ướp để tạo ra một dư vị ẩm thực vừa khó tả vừa ngon lành.

Khi anh ăn xong, cái máng đã trống không, và lúc này anh bắt đầu tự hỏi ai sẽ là người thanh toán cho bữa ăn của mình. Trong lúc chờ chủ quán quay lại, anh bắt đầu săm soi chiếc đĩa mình vừa ăn và cái bệ đỡ nó. Chiếc đĩa bằng đá đã bị mài nhẵn bởi thời gian sử dụng lâu dài, bốn cạnh bên ngoài bị khoét lõm và đánh bóng do sự cọ xát của vô số cơ thể Wieroo đã tựa vào chúng trong một khoảng thời gian mà Bradley không thể đoán nổi. Mọi thứ xung quanh đều mang lại cảm giác cổ xưa tự ngàn đời. Những chiếc bệ chạm khắc đã ngả đen vì sử dụng, những chiếc ghế gỗ bị mòn lõm xuống, sàn nhà lát phiến đá được đánh bóng bởi sự cọ xát của có lẽ hàng triệu bàn chân trần và bị mòn lõm ở những lối đi giữa các bệ đỡ khiến cho những cái bệ này trông như đang đứng trên những gò đá nhỏ cao hơn vài inch so với mặt bằng chung của sàn nhà.

Cuối cùng, thấy không có ai đến thu tiền, Bradley đứng dậy và bước về phía cửa. Anh mới đi được nửa quãng đường thì nghe thấy tiếng chủ nhà gọi giấu giếm: "Quay lại đây, jaal-lu," gã Wieroo thét lên; và Bradley làm theo lời hắn. Khi anh đến gần sinh vật đang đứng phía sau chiếc bệ lớn mặt phẳng cạnh góc khuất, anh nhìn thấy nằm trên bề mặt nhẵn nhụi đó thứ gần như khiến anh há hốc mồm ngạc nhiên — một vật đơn giản, bình thường, hay đúng hơn là gần như ở bất cứ nơi nào trên thế giới ngoài Caspak — một mẩu giấy vuông vức!

Và trên đó, bằng một nét chữ đẹp, được viết chi chít, là rất nhiều ký tự kỳ lạ! Vậy ra những sinh vật phi thường này không chỉ có ngôn ngữ nói mà còn có cả ngôn ngữ viết, và bên cạnh nghệ thuật dệt vải, chúng còn sở hữu cả kỹ nghệ làm giấy. Liệu có thể nào những sinh vật quái dị này lại đại diện cho nền văn hóa cao cấp của loài người trong biên giới của Caspak? Liệu quá trình tiến hóa tự nhiên qua vô số thời kỳ của đời sống Caspak đã tạo ra một dị nhân có cánh đại diện cho đỉnh cao trần thế trong sự tiến hóa của loài người?

Bradley đã ghi nhận một số dấu hiệu hiển nhiên về quá trình tiến hóa dần dần từ loài vượn lên người phóng giáo, được minh họa qua các chủng tộc chồng chéo nhau gồm người Alalus, người dùng câu lạc bộ và người dùng rìu, những mắt xích kết nối giữa hai thái cực mà anh từng tiếp xúc. Anh từng nghe nói về người Krolus và Galus — được cho là còn tiến bộ hơn trên nấc thang tiến hóa — và giờ đây anh đã có bằng chứng không thể chối cãi về một chủng tộc sở hữu những nét tinh tế của nền văn minh đi trước người phóng giáo hàng eon thời gian. Những phỏng đoán được khơi dậy dù chỉ qua một khoảnh khắc suy ngẫm về các khả năng liên quan ngay lập tức trở nên kỳ dị điên rồ như trí tưởng tượng quẫn trí của một kẻ nghiện ma túy.

Trong lúc những suy nghĩ ấy xẹt qua tâm trí, gã Wieroo chìa ra một cây bút bằng xương gắn vào chuôi gỗ đồng thời ra hiệu cho Bradley viết lên giấy. Thật khó để phán đoán từ nét mặt vô cảm của gã Wieroo điều gì đang diễn ra trong tâm trí sinh vật đó, nhưng Bradley không khỏi cảm thấy gã đang liếc nhìn mình với vẻ trịch thượng như muốn nói: "Đương nhiên là mi không biết viết rồi, tên sinh vật thấp kém đáng thương ạ; nhưng mi có thể điểm chỉ."

Bradley chộp lấy cây bút và bằng nét chữ rõ ràng, cứng cáp viết: "John Bradley, England." Gã Wieroo lộ rõ vẻ hoang mang khi chộp lấy mảnh giấy và kiểm tra nét chữ với mọi dấu hiệu hoài nghi và kinh ngạc. Đương nhiên nó chẳng thể hiểu nổi những ký tự kỳ lạ kia; nhưng rõ ràng nó chấp nhận chúng như bằng chứng cho thấy Bradley sở hữu kiến thức về một thứ ngôn ngữ viết của riêng mình, bởi sau dòng chữ của người lính Anh, nó cũng tự vạch vài ký tự của riêng nó.

“Ngươi sẽ quay lại đây ngay trước khi Lua giấu mặt sau vách đá lớn,” sinh vật thông báo, “trừ phi trước đó ngươi được triệu tập bởi Kẻ Nói Thay Luata, trong trường hợp đó ngươi sẽ không phải ăn thêm lần nào nữa.”

“Tên khốn trấn an thật đấy,” Bradley thầm nghĩ khi quay người rời khỏi tòa nhà.

Bên ngoài có vài gã Wieroo vừa ăn xong ở các bệ bên trong. Bọn chúng lập tức vây quanh anh, hỏi đủ thứ chuyện, giật áo quần, thắt lưng đạn và súng lục của anh. Thái độ của bọn chúng hoàn toàn khác hẳn khi ở trong quán ăn và Bradley hiểu ra rằng một ngôi nhà ăn uống chính là nơi trú ẩn an toàn đối với anh, bởi luật pháp nghiêm ngặt của người Wieroo cấm mọi cuộc cãi vã trong những bức tường đó. Giờ thì bọn chúng thô bạo và đe dọa, với đôi cánh khép hờ lượn lờ xung quanh anh trong tư thế đe dọa, chặn lối anh đến chiếc thang dẫn lên mái nhà từ nơi anh vừa tụt xuống; nhưng người lính Anh không phải kẻ chịu đựng sự cản trở lâu. Ban đầu anh cố lách qua người bọn chúng, và rồi khi một tên túm lấy tay và giật anh lại thô bạo, Bradley vung tay đấm thẳng vào hàm gã đó ngã gục.

Ngay lập tức hỗn loạn bùng nổ. Những tiếng tru tréo vang lên, đôi cánh lớn mở ra rồi khép lại với tiếng vỗ đập lớn và rất nhiều bàn tay như móng vuốt chìa ra túm lấy anh. Bradley tung cú đấm sang phải rồi sang trái. Anh không dám dùng súng lục vì sợ rằng một khi chúng phát hiện ra uy lực của nó, anh sẽ bị đè bẹp bởi số lượng đông đảo và bị tước đoạt món vũ khí mà anh coi là át chủ bài, cần được giữ lại đến phút chót để có thể trợ giúp cho cuộc trốn chạy của mình, bởi người lính Anh đã bắt đầu lên kế hoạch cho một cuộc tẩu thoát như thế, dẫu cho nó gần như vô vọng.

Vài cú đấm đã thuyết phục Bradley rằng đám Wieroo này đích thực là lũ hèn nhát và chúng không mang theo vũ khí nào, bởi sau khi hai hay ba tên ngã gục dưới những cú đấm của anh, những kẻ còn lại liền đứng vây quanh anh thành một vòng tròn, nhưng ở một khoảng cách an toàn và chỉ biết đe dọa, làm lớn chuyện, trong khi những kẻ bị anh hạ gục thì nằm rạp trên mặt đường mà không chịu đứng dậy, vừa rên rỉ vừa tru tréo trong một bản hợp xướng bi ai.

Lần nữa Bradley sải bước về phía chiếc thang, và lần này vòng tròn dãn ra nhường chỗ cho anh; nhưng vừa leo lên được vài bậc, anh đã bị một tên túm lấy một chân và cố kéo sụp xuống. Thoáng liếc nhìn về phía sau, tay vẫn bám chặt vào thang bằng cả hai tay, người lính Anh co chân tự do lên và với toàn bộ sức mạnh của một đôi chân cường tráng, anh giáng một cú đạp trời giáng bằng chiếc giày nặng trịch thẳng vào khuôn mặt bẹt dí của gã Wieroo đang giữ mình. Gieo rắc những tiếng thét kinh hoàng, sinh vật lấy cả hai tay ôm mặt và ngã khụy xuống đất trong khi Bradley nhanh chóng leo nốt quãng đường còn lại lên mái nhà, mặc dù vừa chạm đến đỉnh thang thì tiếng vỗ cánh rầm rộ bên dưới đã cảnh báo anh rằng lũ Wieroo đang bám theo sau. Khoảnh khắc sau, bọn chúng bu bám xung quanh đầu anh khi anh chạy thục mạng về hướng căn phòng nơi anh đã trải qua những giờ phút đầu tiên của buổi sáng sau khi đặt chân đến.

Khoảng cách từ đỉnh thang đến cánh cửa không xa, và Bradley suýt chút nữa đã chạm tới đích thì cánh cửa bật mở và Fosh-bal-soj bước ra. Ngay lập tức đám Wieroo đuổi theo liền đòi trừng phạt tên jaal-lu dám cả gan đối xử tàn tệ với chúng. Fosh-bal-soj lắng nghe những lời khiếu nại của chúng rồi với một cái quạt tay bất chợt bên tay phải, hắn túm lấy gáy Bradley và hất văng anh ngã chỏng gọng qua khung cửa đập xuống sàn phòng.

Cuộc tập kích diễn ra quá bất ngờ và sức mạnh của gã Wieroo quá đáng sợ khiến người lính Anh hoàn toàn mất cảnh giác. Khi anh lồm cồm bò dậy, cánh cửa đã đóng lại, và Fosh-bal-soj đang đứng sừng sững phía trên, khuôn mặt gớm ghiếc biến dạng vì giận dữ và căm hờn.

"Lừa, rắn, thằn lằn!" hắn thét lên. "Mày dám cả gan đặt đôi bàn tay thấp kém, bẩn thỉu, báng bổ của mày lên cả những kẻ thấp kém nhất trong số những Wieroos — những kẻ được chọn thiêng liêng của Luata!"

Bradley nổi điên, thế nên anh cất lời bằng một giọng rất nhỏ, điềm tĩnh trong khi một nụ cười mờ nhạt thoáng qua trên môi nhưng đôi mắt xám lạnh lẽo lại không hề cười.

"Những gì anh vừa làm với tôi," anh nói, "— tôi sẽ giết anh vì điều đó," và ngay khi vừa dứt lời, anh lao thẳng vào cổ của Fosh-bal-soj. Gã Wieroo còn lại vốn đang ngủ say khi Bradley rời phòng đã đi đâu mất, và hai kẻ đối đầu chỉ có hai người. Fosh-bal-soj tỏ ra ít hèn nhát hơn đám tấn công Bradley dưới ngõ hẻm, nhưng điều đó có lẽ bởi vì hắn không có cơ hội thể hiện, vì Bradley đã túm được cổ họng hắn trước khi hắn kịp thét lên tiếng nào và bằng tay phải, hắn giáng những cú đấm nặng nề, liên tiếp vào mặt và tim Fosh-bal-soj — những cú chọc tàn nhẫn, đập nát bằng tay ngắn khiến ý chí chiến đấu của một gã tan thành mây khói trong nháy mắt.

Nhưng Fosh-bal-soj không có ý định chết một cách thụ động. Hắn cào cấu và đấm đá Bradley trong khi dùng đôi cánh khổng lồ để cố che chắn trước cơn mưa đòn không thương tiếc, đồng thời tìm cách tóm lấy cổ họng đối thủ. Chẳng mấy chốc hắn đã thành công đánh ngã người lính Anh, và cả hai cùng ngã nhào xuống sàn nhà với tiếng động nặng nề, Bradley nằm dưới, và ngay khoảnh khắc đó gã Wieroo siết chặt những chiếc móng dài quanh khí quản của đối phương.

Fosh-bal-soj sở hữu sức mạnh phi thường và hắn đang chiến đấu vì sinh mạng của chính mình. Người lính Anh nhanh chóng nhận ra trận chiến đang quay lưng lại với mình. Lồng ngực anh đã bắt đầu phập phồng đau đớn vì thiếu không khí trong lúc anh với tay tìm khẩu súng lục. Anh phải rất vất vả mới rút được nó ra khỏi bao, và ngay cả khi ấy, khi cái chết đang sờ sờ trước mắt, anh vẫn nghĩ đến những viên đạn quý giá của mình. "Không thể lãng phí được," anh nghĩ; rồi luồn ngón tay vào nòng súng, anh giơ vũ khí lên và giáng một cú trời giáng giữa trán Fosh-bal-soj. Ngay lập tức những ngón tay giống như móng vuốt buông thõng lực nắm, và sinh vật ngã mềm oặt xuống sàn cạnh Bradley, người nằm im lìm suốt mấy phút liền hổn hển lấy lại hơi thở.

Đến khi đã có thể cử động, anh đứng dậy, cúi sát người vào gã Wieroo đang nằm bất động lặng thím, đôi cánh rũ rượi và đôi mắt to tròn vô hồn trân trân nhìn lên trần nhà. Một cuộc kiểm tra nhanh chóng khiến Bradley tin chắc rằng sinh vật đã chết, và cùng với sự xác tín đó là cảm giác ngập tràn về những hiểm nguy giờ đây đang bủa vây; nhưng anh phải trốn thoát bằng cách nào đây?

Ý nghĩ đầu tiên của anh là tìm cách che giấu bằng chứng về hành động của mình rồi sau đó thực hiện một nỗ lực táo bạo để tẩu thoát. Tiến đến cánh cửa thứ hai, anh nhẹ nhàng đẩy mở và nhòm vào thứ trông có giống như một kho chứa. Bên trong là một đống vải vụn la liệt như loại dùng làm áo choàng của Wieroos, một số rương được sơn xanh và trắng, với những ký tự màu trắng được vẽ nét đậm trên nền xanh và ký tự xanh trên nền trắng. Ở một góc là một chồng hộp sọ người cao suýt chạm trần và ở góc khác là một chồng cánh Wieroo khô. Căn phòng có hình thù méo mó không kém căn phòng kia và chỉ có một cửa sổ duy nhất cùng cánh cửa thứ hai ở tận cùng phía bên kia, nhưng không có lối thoát qua mái nhà và quan trọng nhất là chẳng có sinh vật nào ở trong đó cả.

Nhanh hết mức có thể, Bradley lôi xác gã Wieroo qua khung cửa rồi đóng sập cửa lại; sau đó anh rảo mắt tìm chỗ giấu cái xác. Một chiếc rương đủ lớn để chứa thi thể nếu co quắp đầu gối thật sát, và với ý định đó Bradley tiến đến chiếc rương để mở nó ra. Nắp rương được làm thành hai mảnh, mỗi mảnh gắn bản lề ở hai đầu đối diện của chiếc rương và khớp hoàn hảo với nhau ở chính giữa rương, tạo thành một khớp nối kín khít, vừa vặn. Không có ổ khóa nào cả. Bradley nâng một nửa nắp lên và ngòm nhìn vào. Với một tiếng thốt nghẹn ngào "By Jove!", anh cúi sát hơn để kiểm tra bên trong — chiếc rương chứa đầy một bộ sưu tập đồ trang sức bằng vàng.

Nhận ra không còn chỗ trống trong rương cho cái xác của Wieroo, Bradley quay sang tìm phương án khác để che giấu bằng chứng tội ác. Có một khoảng trống giữa những chiếc rương và bức tường, và anh nhét cái xác vào đó, chất đống những chiếc áo choàng bỏ đi lên trên cho đến khi nó hoàn toàn bị khuất tầm nhìn; nhưng giờ đây làm sao anh có thể tẩu thoát dưới thứ ánh sáng chói chang của buổi sớm mùa xuân ấy?

Anh bước đến cánh cửa ở tận cùng căn phòng và cẩn trọng hé mở một inch. Trước mặt và cách đó chừng hai thước là bức tường trống của một tòa nhà khác. Bradley đẩy hé cửa rộng thêm chút nữa và nhìn ngó cả hai phía. Không một bóng người ở phía bên trái trải dài qua một khoảng rộng lớn các mái nhà, và sang phía bên phải là một tòa nhà khác che khuất tầm nhìn ở khoảng cách chừng hai mươi thước. Lách người bước ra, anh quay sang phải và chỉ sau vài bước chân đã tìm thấy một lối đi hẹp giữa hai tòa nhà. Rẽ vào đây, anh vừa đi được nửa đoạn thì thấy một Wieroo xuất hiện ở đầu bên kia rồi dừng lại. Sinh vật không nhìn xuống lối đi; nhưng bất cứ lúc nào nó cũng có thể quay mắt về phía anh, và khi đó anh sẽ bị phát hiện ngay lập tức.

Bên trái Bradley là một hốc tường hình tam giác của một trong những ngôi nhà và anh nép ngay vào đó, nhờ vậy che giấu được tầm nhìn của gã Wieroo. Ngay bên cạnh anh là một cánh cửa được sơn màu vàng rực rỡ và được thiết kế theo cùng kiểu dáng với những cánh cửa Wieroo khác mà anh từng thấy, bao gồm vô số dải gỗ hẹp dài từ bốn đến sáu inch được ghép lại thành từng mảng có chiều rộng tương đương, các dải gỗ ở các mảng liền kề không bao giờ chạy cùng hướng. Kết quả tạo ra vẻ giống như một chiếc chăn vá víu điên rồ, càng nổi bật hơn khi các mảng liền kề được sơn những màu khác nhau, giống như một trong những cánh cửa anh từng thấy. Các dải gỗ dường như được buộc chặt vào nhau và vào khung xương bên dưới của cửa bằng gân hoặc sợi và cả keo dán, sau đó được quét một lớp sơn dày. Một cạnh của cửa được tạo thành từ một thanh gỗ tròn, thẳng đường kính khoảng hai inch nhô ra ở cả đỉnh và đáy, các phần nhô ra lọt vào các lỗ tròn ở cả thanh lanh tô và bệ cửa tạo thành trục để cửa quay. Một đĩa lệch tâm ở mặt trong của cửa khớp với một khe trên khung khi cần khóa chặt cửa chống lại kẻ đột nhập.

Khi Bradley đứng áp sát vào tường chờ gã Wieroo di chuyển đi nơi khác, anh nghe thấy tiếng cánh của sinh vật cọ sát vào các bức tường của những tòa nhà khi nó di chuyển xuống lối đi hẹp theo hướng của anh. Vì cánh cửa màu vàng là phương tiện duy nhất để tẩu thoát mà không bị phát hiện, người lính Anh quyết định liều lĩnh với bất cứ thứ gì nằm sau nó, và thế là, anh mạnh dạn đẩy cửa bước qua ngưỡng cửa và bước vào một căn phòng nhỏ.

Khi vừa bước vào, anh nghe thấy một tiếng thốt ngạc nhiên bị nén lại, và quay mắt về hướng phát ra âm thanh, anh sững sờ thấy một cô gái mắt tròn xoe đang đứng áp sát vào bức tường đối diện, hiện lên vẻ mặt đầy hoài nghi. Chỉ qua một cái nhìn, anh thấy rằng cô không thuộc bất kỳ chủng tộc loài người nào mà anh từng tiếp xúc kể từ khi đặt chân lên Caprona — không hề có dấu vết nào trên hình dáng hay khuôn mặt thể hiện mối liên hệ với những tầng lớp người thấp kém đó, cô cũng không ăn mặc như họ — hoặc đúng hơn là cô không hoàn toàn thiếu y phục như hầu hết bọn họ.

Một tấm da mềm buông từ vai trái xuống ngay dưới hông trái ở một bên và gần đến đầu gối phải ở bên kia, một chiếc đai lỏng thắt quanh eo, và những món trang sức bằng vàng giống như anh từng thấy trong chiếc rương xanh-trắng đeo vòng quanh tay và chân, trong khi một chiếc vòng nguyệt quế bằng vàng với vương miện hình tam giác búi chặt mái tóc dày trên trán cô. Làn da trắng ngần như thể bị giam cầm lâu ngày trong nhà; nhưng vẫn mịn màng và trong trẻo. Vóc dáng cô, dù chỉ che khuất một phần bởi tấm da nai mềm mại, lại sở hữu những đường cong đối xứng và nét duyên dáng tuổi trẻ, trong khi các nét trên khuôn mặt cô hoàn toàn có thể khiến những mỹ nhân được săn đón nhất ở châu Âu phải ghen tị.

Nếu cô gái ngạc nhiên vì sự xuất hiện bất ngờ của Bradley, thì người sau lại hoàn toàn kinh ngạc khi phát hiện ra một sinh vật tuyệt mỹ như vậy giữa những cư dân gớm ghiếc của Thành phố Hộp Sọ Người. Thoáng chốc cả hai nhìn nhau với vẻ kinh hoàng không giấu giếm, rồi Bradley cất lời, sử dụng hết khả năng nghèo nàn của mình bằng ngôn ngữ chung của Caspak.

"Cô là ai," anh hỏi, "và đến từ đâu? Đừng nói với tôi rằng cô là một Wieroo nhé."

"Không," cô đáp, "tôi không phải Wieroo." Và cô hơi rùng mình khi phát âm từ đó. "Tôi là một Galu; nhưng anh là ai và là gì? Tôi chắc chắn anh không phải người Galu qua trang phục; nhưng anh giống người Galu ở những điểm khác. Tôi biết anh không thuộc về thành phố khủng khiếp này, bởi vì tôi đã ở đây gần mười mặt trăng rồi, và chưa từng thấy một nam nhân Galu nào bị mang đến đây trước đó, cũng không có ai giống anh và tôi, ngoại trừ những nữ tù nhân ở xứ sở Oo-oh, và tất cả bọn họ đều là nữ giới. Vậy anh có phải là tù nhân không?"

Anh kể vắn tắt cho cô nghe anh là ai và làm gì, dẫu anh nghi ngờ liệu cô có hiểu nổi không, và từ cô, anh biết được rằng cô đã bị giam cầm ở đó nhiều tháng trời; nhưng với mục đích gì thì lúc đó anh chưa kịp tìm hiểu, vì giữa lúc cuộc trò chuyện đang diễn ra thì cánh cửa màu vàng bật mở và một gã Wieroo với chiếc áo choàng có vạch vàng bước vào.

Nhận ra Bradley, sinh vật nổi trận lôi đình. "Con bò sát này từ đâu đến thế?" nó gặng hỏi cô gái. "Nó ở đây với cô bao lâu rồi?"

"Nó đi qua cửa ngay trước anh thôi," Bradley trả lời thay cô gái.

Gã Wieroo có vẻ nhẹ nhõm. "Thật may cho cô gái là thế," hắn nói, "vì giờ đây chỉ có mình ngươi phải chết thôi." Và bước đến cửa, sinh vật cất cao giọng hú lên một trong những âm thanh kỳ dị, ảm đạm đó.

Người lính Anh nhìn về phía cô gái. "Tôi có nên giết nó không?" anh hỏi, nửa rút khẩu súng lục. "Làm thế nào là tốt nhất? — Tôi không muốn gây nguy hiểm cho cô."

Gã Wieroo lùi dần về phía cửa. "Kẻ báng bổ!" hắn thét lên. "Mày dám cả gan đe dọa một trong những người được chọn thiêng liêng của Luata!"

“Đừng giết hắn,” cô gái kêu lên, “vì khi đó sẽ chẳng còn hy vọng nào cho anh nữa đâu. Việc anh có mặt ở đây, còn sống, cho thấy họ có lẽ không hề có ý định giết anh, và vì thế anh vẫn còn cơ hội nếu không chọc giận chúng; nhưng hễ động thủ bạo lực thì cái hộp sọ nhợt nhạt của anh sẽ nằm trên chiếc bệ cao nhất của Oo-oh đấy.”

"Còn cô thì sao?" Bradley hỏi.

"Tôi đã bị định sẵn cái chết rồi," cô gái đáp; "tôi là cos-ata-lo."

"Cos-ata-lo! cos-ata-lu!" Những cụm từ này có nghĩa gì mà lại được đám dân cư Oo-oh lặp đi lặp lại nhiều lần đến thế? Lu và lo, Bradley biết nghĩa là đàn ông và đàn bà; ata được dùng theo nhiều cách khác nhau để chỉ sự sống, trứng, con non, sự sinh sản và các chủ đề tương tự; cos là phủ định; nhưng khi kết hợp lại thì chúng hoàn toàn vô nghĩa đối với người châu Âu.

"Ý cô là họ sẽ giết cô sao?" Bradley hỏi.

"Tôi chỉ ước họ làm thế," cô gái đáp. "Số phận của tôi còn tồi tệ hơn cái chết — chỉ vài đêm nữa thôi, khi trăng non mọc."

"Con rắn cái đáng thương!" gã Wieroo gắt lên. "Ngươi sắp trở thành kẻ thiêng liêng trên tất cả những ả đàn bà khác. Kẻ Nói Thay Luata đã chọn ngươi cho riêng ngài. Hôm nay ngươi sẽ đến đền thờ của ngài —" gã Wieroo dùng một cụm từ mang nghĩa đen là Nơi Cao Sát — "nơi ngươi sẽ nhận được những mệnh lệnh thiêng liêng."

Cô gái rùng mình và liếc nhìn Bradley đầy vẻ ưu tư. "Ah," cô thở dài, "giá như tôi được nhìn thấy đất nước yêu dấu của mình một lần nữa!"

Người đàn ông đột ngột bước sát lại cạnh cô trước khi gã Wieroo kịp chen ngang và hỏi nhỏ liệu có cách nào để anh giúp cô trốn thoát không. Cô buồn bã lắc đầu. "Ngay cả khi chúng ta thoát khỏi thành phố," cô đáp, "thì vẫn còn vùng nước lớn giữa hòn đảo Oo-oh và bờ biển Galu."

"Và đằng sau thành phố là gì, nếu chúng ta có thể rời khỏi đây?" Bradley tiếp lời.

"Tôi chỉ có thể đoán mò từ những gì nghe được kể từ khi bị mang đến đây," cô trả lời; "nhưng qua các lời kể và nhận xét tình cờ, tôi hiểu đó là một vùng đất tuyệt đẹp, nơi có rất ít thú dữ và không có con người, bởi vì chỉ có người Wieroos sống trên hòn đảo này và họ luôn cư ngụ trong các thành phố — có ba thành phố như thế, trong đó nơi này là lớn nhất. Những nơi khác nằm ở tận đầu bên kia của hòn đảo, cách nhau khoảng ba ngày đường từ đầu này chí đầu kia và tại điểm rộng nhất khoảng một ngày đường."

Từ kinh nghiệm bản thân và từ những gì người bản địa ở đại lục đã kể, Bradley biết rằng mười dặm là một chặng đường đi bộ tốt trong một ngày ở Caspak, do thực tế là ở hầu hết các điểm đó là một vùng hoang dã không có đường đi và bất cứ lúc nào lữ khách cũng bị bao vây bởi những con thú dữ và bò sát gớm ghiếc cản trở nghiêm trọng tốc độ tiến bước.

Cả hai đã nói chuyện rất nhanh nhưng nay lại bị gián đoạn bởi sự xuất hiện qua ô trống trên mái nhà của vài gã Wieroo đến hưởng ứng báo động mà tên có vạch vàng vừa hú lên.

"Tên jaal-lu này," kẻ bị xúc phạm thét lên, "đã đe dọa ta. Hãy tước chiếc rìu của nó và trói chặt nó lại nơi mà nó không thể gây hại gì cho đến khi Kẻ Nói Thay Luata phán quyết phải xử lý nó thế nào. Nó là một trong những sinh vật kỳ lạ mà Fosh-bal-soj phát hiện lần đầu tiên ở trên xứ sở Band-lu và bám theo về đến tận đây. Kẻ Nói Thay Luata đã sai Fosh-bal-soj mang về một trong những sinh vật đó, và nó đây rồi. Hy vọng rằng nó đến từ một thế giới khác và nắm giữ bí mật về lũ cos-ata-lu."

Bọn Wieroo bạo dạn tiến đến định cước "chiếc rìu" của Bradley, sau khi tên thủ lĩnh chỉ tay vào khẩu súng lục đang treo lủng lẳng ở bao súng bên hông người lính Anh, nhưng tên đi đầu đã ngã nhào ngửa về phía sau đè lên lũ đồng bọn bởi cú đấm thẳng vào cằm mà Bradley bồi thêm một tràng xông pha dọn sạch căn phòng trong thời gian kỷ lục; nhưng anh đã tính sót ô trống trên mái nhà. Hai tên đã ngã gục và những tiếng tru tréo, rên rỉ vang lên thì viện binh từ trên cao xuất hiện. Bradley không nhìn thấy chúng; nhưng cô gái thì có, và dẫu cô kêu lên cảnh báo, thì đã quá muộn để anh né tránh một gã Wieroo lớn lao đầu bổ nhào xuống người, đập mạnh vào giữa hai bả vai và quật ngã anh xuống sàn. Ngay lập tức hàng tá tên nữa nhào lên người anh. Khẩu súng lục bị giật khỏi bao và anh bị đè bẹp dí bởi sức nặng của số đông.

Theo lệnh của tên Wieroo áo có vạch vàng vốn rõ ràng là kẻ có thẩm quyền, một tên bỏ đi và lát sau quay lại mang theo dây thừng bằng sợi thực vật để trói nghiến Bradley lại.

"Giờ hãy khiêng nó đến Nơi Xanh của Bảy Hộp Sọ," tên thủ lĩnh Wieroo ra lệnh, "và một tên hãy đem lời thuật lại mọi chuyện xảy ra đến tai Kẻ Nói Thay Luata."

Mỗi sinh vật giơ một tay lên, mu bàn tay áp vào mặt như để chào kính. Một tên tóm lấy Bradley và khiêng anh qua khung cửa vàng lên mái nhà từ nơi nó tung đôi cánh rộng và vỗ phành phịch bay đi khắp các mái nhà của Oo-oh với gánh nặng trĩu bị kẹp chặt trong móng vuốt dài.

Bên dưới, Bradley có thể thấy thành phố trải dài tít tắp về mọi hướng. Nó không lớn như anh tưởng tượng, dẫu anh phán đoán nó rộng ít nhất ba dặm vuông. Các ngôi nhà chồng chất thành những đống hỗn độn không thể tả nổi, đôi khi cao tới cả trăm thước. Các con phố và hẻm xóm ngắn và ngoằn ngoèo, có rất nhiều khu vực mà các công trình được nêm chặt vào nhau đến mức không một chút ánh sáng nào có thể lọt tới các tầng thấp nhất, toàn bộ bề mặt mặt đất bị nén chặt hoàn toàn bởi chúng.

Màu sắc vô cùng phong phú và giật gân, kiến trúc thì đáng kinh ngạc. Nhiều mái nhà có hình chiếc cốc hoặc cái đĩa với một lỗ nhỏ ở chính giữa mỗi mái, như thể chúng được xây dựng để hứng nước mưa và dẫn vào bể chứa bên dưới; nhưng hầu như tất cả những mái nhà khác đều có ô mở lớn ở đỉnh mà Bradley từng thấy bọn người bay này dùng thay cho cửa ra vào. Ở mọi độ cao là vô số những chiếc cột được cắm chóp bằng những chiếc hộp sọ nhe răng cười; nhưng hai đặc điểm nổi bật nhất của thành phố là tòa tháp tròn bằng hộp sọ người mà Bradley đã chú ý từ đầu ngày và một tòa nhà khác lớn hơn nhiều nằm gần trung tâm thành phố. Khi tiến lại gần, Bradley thấy đó là một tòa nhà khổng lồ cao tới một trăm thước mọc lên từ mặt đất và đứng độc lập ở trung tâm của thứ có thể được gọi là quảng trường ở nơi nào khác trên thế giới. Tuy nhiên, các phần của nó được lắp ráp với cùng một vẻ bất thường kỳ lạ đặc trưng cho kiến trúc của toàn thành phố; và nó được che phủ bởi một mái nhà hình cái đĩa khổng lồ nhô ra tận ngoài mái hiên, trông giống như chiếc nón lá khổng lồ của phu phen người Trung Hoa bị lộn ngược.

Gã Wieroo chở Bradley bay lướt qua một góc của không gian mở quanh tòa nhà lớn, để lộ bên dưới là bãi cỏ, cây cối và dòng nước chảy róc rách. Bọn chúng bay qua tòa nhà và cách đó chừng năm trăm thước, sinh vật hạ cánh xuống mái của một tòa nhà hình vuông màu xanh lam được dựng bảy cây cột mang bảy chiếc hộp sọ. Vậy đây, Bradley thầm nghĩ, chính là Nơi Xanh của Bảy Hộp Sọ.

Phía trên ô mở trên mái nhà có một tấm lưới che, và gã Wieroo đã tháo nó ra. Sau đó, nó buộc một đoạn dây thừng sợi vào một bên cổ chân của Bradley và lăn anh qua mép miệng hố. Bên dưới tối như mực và trong một khoảnh khắc, người lính Anh suýt trải qua cảm giác kinh hoàng thực sự lớn nhất trong đời. Khi lăn xuống vực thẳm đen ngòm, anh cảm thấy sợi dây thừng siết chặt quanh cổ chân và ngay khoảnh khắc tiếp theo anh bị khựng lại bởi một cú giật bất ngờ, đu đưa như con lắc, đầu chúc xuống đất. Rồi sinh vật thả dây dần xuống cho đến khi đầu Bradley va chạm mạnh và đau đớn xuống sàn gỗ bên dưới, sau đó gã Wieroo buông hẳn đầu dây và thân thể người lính Anh đổ rầm xuống ván sàn. Anh cảm thấy đầu dây tự do rơi đè lên người mình và nghe thấy tiếng tấm lưới được trượt khớp lại che kín phía trên.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.