ANH CHƯA BAO GIỜ đến vùng núi Pocono, hay lên những hạt đồng quê miền Tây Bắc bang New Jersey mạn phía bang Pennsylvania. Ngồi trên tàu hỏa, băng qua những ngọn đồi, các cánh rừng và trang trại rộng lớn khiến anh nghĩ mình đang trong một chuyến du ngoạn xa hơn gấp bội việc di chuyển tới một bang gần kề. Được lướt qua phong cảnh hoàn toàn lạ lẫm đã gây cho anh cảm xúc choáng ngợp - thứ cảm giác anh đã từng có vài lần trước đây khi ngồi trên tàu hỏa - cả khi đi trên tuyến đường xe lửa Jersey ra bờ biển - một tương lai mới và bí ẩn sắp mở ra trước anh. Ngắm nhìn Khe nước sâu Delaware, nơi con sông phân chia hai bang New Jersey và Pennsylvania đột ngột cắt qua ngọn núi chỉ cách điểm dừng của anh ở Stroudsburg khoảng mười lăm phút, càng làm tăng thêm xúc cảm của chuyến đi và khiến anh thêm yên tâm - mặc nhiên thừa nhận mà không cần lý do - rằng không một sự hủy diệt nào khả dĩ vượt được qua tấm lá chắn thiên nhiên vĩ đại dường này để tóm bắt được anh.
Chuyến đi đã ghi dấu lần đầu tiên từ sau cái chết của ông ngoại cách đây ba năm, anh phải để bà ngoại cho người khác săn sóc trong không chỉ mấy ngày cuối tuần, và là lần đầu tiên anh xa thành phố lâu hơn chỉ một, hai đêm. Đây cũng là lần đầu tiên từ nhiều tuần qua, những ý nghĩ về bại liệt không còn chiếm cứ tâm trí anh. Anh vẫn còn thương tiếc hai cậu bé đã chết, anh vẫn còn day dứt bởi ý nghĩ rằng tất cả những cậu bé khác của anh bị căn bệnh liệt bại tấn công, nhưng dù sao đi nữa anh không còn cảm thấy nản lòng trước tình cảnh cấp bách của mối tai ương hoặc rằng nếu là một người nào khác có thể đã làm việc của anh một cách tận tụy hơn. Anh đã hết lòng đương đầu với một thử thách khắc nghiệt bằng tất cả sức lực và trí thông minh - cho đến khi quyết định buông bỏ, rời khỏi cái thành phố nóng như thiêu đang oằn mình dưới bệnh dịch và đang rền rĩ những tiếng còi xe cấp cứu không ngừng di chuyển.
Ở ga Stroudsburg, Carl, lái xe của Indian Hill, một người to lớn có khuôn mặt ngây thơ cùng một cái đầu hói và khá rụt rè, đang đợi anh trong chiếc xe đa dụng cũ kỹ của trại. Carl đi ra thị trấn lấy hàng và rồi ghé đón chuyến tàu của Bucky. Khi bắt tay Carl, Bucky chỉ có một ý nghĩ trong đầu: Anh này không mang mầm bại liệt. Anh nhận ra nơi đây khí trời thật mát mẻ. Ngay cả trong nắng, thời tiết cũng mát!
Rời thị trấn với túi hành lý cồng kềnh của Bucky ở khoang sau, họ chạy xe dọc con phố chính xinh đẹp với những ngôi nhà gạch hai hay ba tầng - tầng mặt phố là một dãy cửa hàng còn các văn phòng nằm ở những tầng trên - sau đó rẽ về hướng bắc và bắt đầu chậm rãi bò ngược lên theo những con đường ngoằn ngoèo tiến vào vùng đồi. Họ đi ngang qua những trang trại, anh trông thấy ngựa và bò trên những cánh đồng, thỉnh thoảng anh bắt gặp một người nông dân đang ngồi trên máy kéo. Dọc đường là những tháp tròn chứa thức ăn gia súc, những chuồng nuôi gia súc, các hàng rào dây thép thấp lè tè, những hộp thư miền đồng quê đặt trên cọc gỗ và không thấy bại liệt ở đâu cả. Lên đến đỉnh một con dốc dài, họ ngoặt khỏi con đường trải nhựa, rẽ vào một đường đắt hẹp được đánh dấu bằng một cái biển gỗ với dòng chữ khắc TRẠI INDIAN HILL và bên dưới là hình một cái lều nón của người da đỏ trong một vòng lửa - giống như biểu tượng bên sườn chiếc xe. Sau khi xóc nhảy tưng tưng trên các sống trâu chừng dăm cây số đường đất xuyên qua rừng - một đường mòn ngoằn ngoèo lắm ổ gà mà người ta cố tình cứ để như thế - Carl bảo anh vậy, nhằm ngăn xe cộ không phải của trại đi vào Indian Hill - họ đã có mặt tại lối vào khuôn viên trại, một bãi rộng hình ô-van xanh mướt mát. Ấn tượng nơi này rất giống với những gì anh cảm nhận khi bước vào sân vận động Ruppert cùng Jake và Dave để xem đội Các chú gấu Newark đấu lại trận đấu của Chủ Nhật đầu mùa giải và - sau khi bước ra khỏi những ngách tối lờ mờ để vào lối đi sáng sủa dẫn đến dãy ghế ngồi - nhìn ngắm cả khoảng không rộng lớn với thảm cỏ được cắt tỉa cẩn thận giấu mình ở một nơi xấu xí nhất trong thành phố. Nhưng đó là một sân bóng có tường vây quanh. Còn ở đây là những khoảng không rộng mở. Ở đây cảnh vật không bị giới hạn và là nơi nương náu thậm chí còn đẹp hơn cả sân nhà của đội Các chú gấu.
Trên đỉnh một cây cột kim loại được dựng giữa hình ô-van phấp phới lá cờ Mỹ, phía dưới, là lá cờ có biểu tượng khu trại. Gần đó cũng có một túp lều nón của người da đỏ, cao chừng ba mét rưỡi hay bốn mét rưỡi, với những cột đỡ dài thò ra qua lỗ hở trên nóc. Trên đỉnh của tấm bạt phủ màu xám được trang trí bằng hai đường gấp khúc giống như tia sét còn ở gần đấy là một đường gợn sóng chắc để tượng trưng cho một dải núi. Ở hai bên lều có hai cây cột tổ đã nứt mục.
Khoảnh đất ô-van xanh mướt đó dốc thoai thoải về phía một cái hồ sáng lấp lánh ánh kim rộng mênh mông. Một bến tắm bằng gỗ chạy dọc bờ, với ba cầu tàu hẹp, làm bằng gỗ cách nhau chừng mười lăm mét, nhô ra hồ hơn ba mươi mét; ở phía cuối là hai cầu tàu có ván nhảy. Đây hẳn là bến tắm dành cho nam mà anh sẽ quản lý. Marcia đã bảo anh rằng nước hồ là của các dòng suối tự nhiên. Suối tự nhiên - nghe cứ như tên một kỳ quan thiên nhiên - lại một cách nói "không bại liệt" khác nữa. Mặc một chiếc áo sơ mi ngắn tay màu trắng, cổ thắt cà-vạt, bước ra khỏi xe, anh cảm nhận được làn không khí mát mẻ hơn hẳn ở Stroudsburg trên đôi tay và khuôn mặt, mặc dù mặt trời khá chói chang. Khoác túi đồ gọn nhẹ của mình trên vai, anh bất chợt thấy vui sướng vì sự tái khởi đầu, cảm giác say mê sung sướng của tái sinh - cảm giác ngập tràn của "Tôi đang sống! Tôi còn sống này!"
Anh đi theo con đường đất dẫn tới một căn nhà nhỏ ghép từ những súc gỗ trông ra hồ, văn phòng của ông Blomback ở trong đó. Carl đã khăng khăng đòi mang giúp Bucky cái túi nặng trịch của anh đến lán tên là Comanche, nơi anh sẽ ở với những cậu bé lớn nhất khu trại, những cậu bé mười lăm tuổi và người phụ trách của chúng. Mỗi lán trong các khu trại của con trai và con gái đều mang tên một bộ lạc người da đỏ.
Anh gõ cửa và được đón tiếp nồng hậu bởi chủ nhân, một người cao lênh khênh, cổ dài với cục yết hầu to và mấy mớ tóc muối tiêu chải chéo trên cái hộp sọ rám nắng. Tuổi ông ta chắc phải tầm sáu mươi, song khi mặc quần soóc ka-ki và áo pô-lô trại hè, trông ông vẫn còn cứng cáp và khỏe mạnh. Marcia kể với Bucky rằng ông Blomback góa vợ khi còn trẻ vào năm 1926, ông đã bỏ một chỗ làm có nhiều triển vọng khi đó là chân hiệu phó trường phổ thông trung học West Side ở Newark và mua khu trại bằng tiền gia đình vợ, để lấy chỗ dạy hai cậu con những tri thức của người da đỏ mà ông đã đem lòng yêu thích khi đi dã ngoại vào dịp hè. Hai đứa trẻ giờ đã lớn và đều đang trong quân ngũ, do vậy điều hành khu trại, chỉ đạo nhân viên và viếng thăm các gia đình người Do Thái ở New Jersey và Pennsylvania để tuyển mộ bọn nhỏ cho mùa cắm trại là công việc quanh năm của ông Blomback. Văn phòng đơn sơ của ông - ghép từ những súc gỗ thô ráp giống phía ngoài căn nhà - có năm chiếc mũ thổ dân kết từ lông chim được treo trên các móc trang trí cho bức vách phía sau bàn làm việc; trên các vách còn lại chi chít những bức ảnh chụp các trại viên, ngoại trừ một vài kệ chất đầy sách, tất cả, ông Blomback nói, đều có liên quan đến đời sống và tri thức của người da đỏ.
"Đây là cẩm nang," ông nói với Bucky và đưa cho anh một cuốn sách dày có tiêu đề Cẩm nang về rừng. "Cuốn này là nguồn cảm hứng của tôi đấy. Cuốn này cũng thế," nói rồi ông đưa cho anh cuốn thứ hai mỏng hơn - Sổ tay đi rừng của người da đỏ. Vâng lời, Bucky giở qua các trang của cuốn Sổ tay đi rừng, anh thấy những bức họa vẽ bằng bút mực hình các loại nấm, các loài chim chóc và các loại lá của rất nhiều loài cây, anh không nhận ra được bất cứ loài nào. Anh chú mục vào tiêu đề một chương; "Bốn mươi loài chim mỗi cậu bé nên biết," và buộc phải thừa nhận rằng anh, một người đã trưởng thành, không biết được quá hai loài trong số đó.
"Hai cuốn sách này là nguồn cảm hứng cho tất cả các chủ trại hè," ông Blomback bảo anh. "Ernest Thompson Seton đơn thương độc mã khởi đầu trào lưu cắm trại theo kiểu người da đỏ. Một người thầy vĩ đại và có ảnh hưởng lớn. ‘Lòng can đảm,’ Seton nói, ‘là mục tiêu đầu tiên của giáo dục. Chúng ta sống hoang dã để mưu cầu điều này, nói ngắn gọn là tạo dựng lòng can đảm.’ Những cuốn sách tuyệt đối cần thiết. Chúng luôn luôn đưa ra một mẫu người anh hùng lý tưởng. Chúng ghi nhận thổ dân da đỏ là người khởi xướng vĩ đại cho cuộc sống nơi hoang dã, trong những cánh rừng và cách sử dụng những phương pháp của họ mỗi khi hữu dụng. Chúng đưa ra những bài kiểm tra vỡ lòng về sự kiên cường, theo tấm gương của người da đỏ. Chúng chỉ ra cội nguồn sức mạnh là sự tự chủ. ‘Vượt trên tất cả,’ Seton nói, ‘là đức tính anh hùng." Bucky gật đầu, đồng ý rằng đó là những vấn đề quan trọng, cho dù anh chưa từng nghe đến cái tên Seton.
"Cứ đến ngày mười bốn tháng Tám hằng năm, khu trại kỷ niệm ngày sinh của Seton bằng một đám rước theo kiểu da đỏ. Chính Ernest Thompson Seton là người khiến kiểu cắm trại trong thế kỷ hai mươi trở thành một trong những thành tựu lớn nhất của nước ta."
Bucky lại gật đầu. "Tôi mong muốn được đọc những cuốn sách này," anh vừa nói vừa đưa trả lại cho ông Blomback. "Có vẻ như chúng là những cuốn sách quan trọng, nhất là đối với việc giáo dục những cậu thiếu niên." "Ở Indian Hill, chúng tôi giáo dục các cậu trai và cả các cô gái. Tôi mong cậu sẽ đọc chúng. Ngay sau khi sắp xếp ổn thỏa, cậu có thể tới và mượn của tôi. Những cuốn sách có một không hai, được xuất bản từ đầu thế kỷ khi mà cả dân tộc dưới sự dẫn dắt của Teddy Roosevelt, đang trở về với cuộc sống ngoài trời. Cậu là người may mắn đấy, anh bạn trẻ," ông nói. "Từ tấm bé, tôi đã quen biết bác sĩ Steinberg và gia đình ông ấy. Nếu bác sĩ Steinberg đã đứng ra bảo đảm cho cậu, với tôi thế là đủ. Tôi sẽ kêu một trong những phụ trách viên đưa cậu đi một vòng quanh khu trại, rồi đích thân tôi sẽ đưa cậu tới thăm quan bến tắm và giới thiệu cậu với mọi người ở đấy. Tất cả bọn họ đã biết trước cậu sẽ tới. Tại bến tắm, chúng tôi có hai mục tiêu: dạy cho bọn trẻ của chúng ta những kỹ năng dưới nước và cách giữ an toàn khi ở dưới nước."
"Tôi đã học những nguyên tắc về hai thứ ấy trong trường Panzer, thưa ông Blomback. Tôi dạy môn thể dục ở trường Chancellor Avenue, an toàn là điều tôi quan tâm đầu tiên." "Các bậc cha mẹ để chúng ta chăm nom con cái họ trong những tháng hè," ông Blomback nói. "Việc của chúng ta là không để họ thất vọng. Mười tám năm nay, kể từ khi tôi mua khu trại, chưa từng bao giờ có một tai nạn nào tại bến tắm. Không một tai nạn nào cả."
"Ông có thể tin ở tôi, thưa ông, an toàn là trước nhất." "Không có một tai nạn nào," ông Blomback lặp lại một cách nghiêm nghị. "Quản lý bến tắm là một trong những vị trí có trách nhiệm nặng nề nhất tại khu trại. Có thể nói là vị trí có trách nhiệm nặng nhất. Một khu trại có thể bị sụp đổ bởi một tai nạn bất cẩn dưới nước. Khỏi cần phải nói, mỗi trại viên phải có một người bạn bơi cùng trình độ. Chúng phải xuống nước và lên bờ cùng nhau. Luôn phải kiểm tra cặp bạn này trước, sau và trong lúc bơi. Bơi một mình có thể dẫn tới những tai nạn chết người."
"Tôi nghĩ mình là một người có tinh thần trách nhiệm, thưa ông. Ông có thể tin cậy tôi trong việc bảo đảm sự an toàn cho mỗi trại viên. Ông cứ yên tâm đi, tôi biết tầm quan trọng của phương thức bạn cùng bơi."
"Được rồi, bữa trưa vẫn còn đang được phục vụ," ông Blomback nói. "Hôm nay có món mì ống sốt phô-mai. Bữa tối là thịt bò nướng. Tối thứ Sáu là tối thịt bò nướng ở Indian Hill, theo khẩu phần hoặc tùy thích. Hãy cùng với tôi tới nhà ăn và chúng tôi sẽ chuẩn bị thứ gì đó cho cậu. Và đây - đây là một cái áo pô-lô của trại. Tháo cà-vạt ra, kể từ giờ không phải đeo nó nữa, và chúng ta đi ăn trưa. Irv Schlanger để lại khăn trải giường, chăn và khăn tắm. Cậu có thể dùng chúng. Thứ Hai là ngày lấy đồ mang đi giặt." Cái áo đưa cho anh giống hệt cái áo ông Blomback đang mặc: trước ngực là tên trại và bên dưới là hình lều của người da đỏ trong một vòng tròn lửa.
Nhà ăn, một căn nhà gỗ lớn không có tường bao, chỉ cách lối đi lát gỗ từ văn phòng làm việc bên hồ của ông Blomback vài bước chân, đang đông kín trại viên, các cô bé và những người phụ trách của mình ngồi tại những chiếc bàn tròn ở một phía của lối đi chính giữa nhà ăn, còn các cậu bé cùng những người trông nom mình ngồi ở bên kia. Ngoài trời đang nắng ấm - mặt trời nơi đây dường như hiền lành và mến khách chứ không gay gắt, một Mặt Trời Cha chăm bẵm, thần ánh sáng của Đất Mẹ phì nhiêu - mặt hồ lung linh sáng lấp lánh và màu xanh ngút ngàn của vạn vật sinh sôi nảy nở của mùa hè mà kiến thức của anh về chúng cũng chẳng hơn gì đối với các loài chim. Trong nhà ăn tiếng la hét của bọn trẻ vang đi khắp chốn, vẻ huyên náo khiến anh nhớ lại cảm giác hứng thú biết bao khi được ở bên lũ nhỏ và vì thế mà anh yêu thích công việc lúc trước của mình. Anh hầu như đã quên mất niềm vui sướng ấy trong những tuần gian khó khi phải đứng nhìn mối đe dọa trước những gì mà anh không cách nào bảo vệ nổi. Ở đây có những đứa trẻ hạnh phúc, tràn đầy sức sống, không bị một cái ác hay kẻ thù vô hình nào đe dọa - chúng thực ra được che chở khỏi bất hạnh bằng một mối quan tâm kỹ lưỡng của người lớn. Nói một cách độ lượng thì anh đã chấm dứt việc phải chứng kiến một cách bất lực nỗi kinh hoàng đi cùng cái chết và giờ quay trở lại với bầy trẻ vô tư lự tràn trề sức sống. Anh thừa sức hoàn thành công việc ở nơi đây.
Ông Blomback để anh ăn trưa một mình, nói rằng họ sẽ gặp lại khi Bucky ăn xong, ở nhà ăn, chưa ai biết hay để ý xem anh là ai - lũ nhỏ cũng như những người phụ trách đều mải mê vui vẻ trò chuyện trong khi ăn, bạn cùng lán chuyện trò và cười đùa, ở vài bàn say sưa hát, mặc dù mới ăn sáng cách đó có vài giờ nhưng giống như đã nhiều năm chúng không được gặp nhau vậy. Anh tìm bàn có Marcia, nàng có lẽ vẫn chưa biết anh đã đến. Tối hôm trước trong điện thoại, cả hai đều nghĩ rằng khi anh nhận lán của mình xong xuôi và trên đường ra được bến tắm thì bữa trưa đã kết thúc từ lâu và rằng anh sẽ chỉ đến nhà ăn vào giờ ăn tối.
Khi tìm thấy bàn của nàng, anh vui mừng khôn xiết đến độ phải kiềm chế để không đứng đó và gọi to tên nàng. Sự thật là trong ba ngày cuối ở sân chơi anh đã nghĩ rằng anh sẽ không bao giờ được gặp lại nàng. Từ lúc đồng ý nhận công việc ở Indian Hill, anh đã chắc mẩm rằng mình sẽ gục ngã bởi bại liệt và mất tất cả. Nhưng giờ thì nàng kia, cô gái với đôi mắt đen ấn tượng cùng mái tóc dày, quăn, đen nhánh đã cắt ngắn trong mùa hè - chi có ít người có mái tóc đen tự nhiên, và Marcia là một trong số đó. Lúc họ gặp nhau lần đầu nơi tập hợp giáo viên trong khoa lại để giới thiệu những người mới vào mùa thu năm trước, tóc nàng khi ấy xõa xuống bờ vai đầy quyến rũ. Nàng lôi cuốn anh đến độ trong buổi chiều đầu tiên cách lần ấy không lâu, đứng đối diện với nàng, anh mới có thể nhìn thẳng vào đôi mắt và đủ tự chủ để không bị nàng hút hồn từ xa. Rồi anh nhìn nàng bước đĩnh đạc dẫn đầu đám học sinh ngoan ngoãn của mình đi qua những hành lang tới khu hội trường và anh lại ngất ngây lần nữa. Cả khi bọn nhỏ gọi nàng là Cô Steinberg cũng khiến anh rung động.
Giờ thì trông nàng cháy nắng và chiếc áo pô-lô trắng của trại nàng đang mặc, như áo anh, càng làm nổi rõ nước da đen giòn, và nhất là đôi mắt hút hồn anh không chỉ bởi màu đen nhánh mà còn bởi chúng tròn hơn bất cứ đôi mắt nào của ai khác, hai điểm hồng tâm của ước ao với những vòng tròn đồng tâm màu nâu đen. Anh chưa bao giờ thấy nàng xinh đến thế, ngay cả khi nàng giống một trại viên hơn là một cô phụ trách, chỉ cách ăn mặc trang nhã là có chút giống một cô giáo tiểu học, người con gái hai mươi hai tuổi ấy, có vẻ ngoài điềm đạm của một giáo viên đầy kinh nghiệm. Anh để ý thấy cái mũi nhỏ thanh tú của nàng có bôi chút thuốc mỡ màu trắng và băn khoăn không hiểu nàng đang chữa gì, bị cháy nắng hay bị nhiễm độc cây thường xuân. Và rồi anh có ý nghĩ vui vẻ nhất: Đấy là thứ mà mình lo ngại ở nơi đây, đó là điều mà mình sẽ cảnh báo lũ trẻ - độc cây thường xuân!
Không cách gì gọi được Marcia ở giữa cái nhà ăn huyên náo nhường này. Vài lần anh giơ một tay lên, nhưng dù đã giơ cao và vẫy vẫy nhưng nàng vẫn không thấy. Rồi anh nhìn ra mấy cô em gái của Marcia, hai chị em sinh đôi nhà Steinberg, Sheila và Phyllis, đang ngồi cạnh nhau ở cách Marcia vài bàn. Cả hai được mười một tuổi và trông khác hoàn toàn người chị cả, hai khuôn mặt lấm tấm tàn nhang với mái tóc hung đỏ dài và quăn búp, chân gầy giơ xương và mũi to giống cha, cả hai đều đã cao gần bằng Marcia. Anh vẫy hai bé, nhưng cả hai đang mải nói chuyện sôi nổi với những cô bé cùng bàn và đều không nhìn thấy anh. Từ lần đầu gặp mặt, anh đã hoàn toàn bị Sheila và Phyllis chinh phục bởi vẻ sôi nổi, sự thông minh, xúc cảm mãnh liệt của chúng, thậm chí bởi cả dáng điệu vụng về lóng ngóng của tuổi mới lớn đã bắt đầu hiện hữu ở hai chị em. Mình sẽ gắn bó với hai cô bé trong suốt quãng đời còn lại, anh thầm nghĩ, và viễn cảnh ấy khiến anh ngập tràn niềm vui sướng lớn lao. Chúng ta sẽ là thành viên của cùng một gia đình. Cùng lúc, anh nghĩ về Herbie và Alan, những cậu bé đã chết vì nghỉ hè ở Newark, về Sheila và Phyllis, những đứa trẻ hầu như cùng tuổi nhưng tràn trề sinh lực bởi chúng trải qua mùa hè nơi trại Indian Hill. Và rồi, anh nghĩ về Jake và Dave đang chiến đấu với quân Đức ở đâu đó tại Pháp trong khi anh thì thu mình nơi căn nhà ồn ào vui vẻ trong một trại nghỉ hè với tất thảy những đứa trẻ tràn trề nhựa sống này. Anh bị day dứt bởi ý nghĩ vì sao những ngả đường đời phân ly đến thế và vì sao mỗi người chúng ta bất lực đến thế khi phải đối mặt với hoàn cảnh. Vai trò của Chúa ở đâu trong chuyện này? Tại sao người ném một người xuống châu Âu nơi lũ phát-xít chiếm đóng với súng trường trong tay và ấn người khác vào nhà ăn của Indian Hill với một đĩa mì ống sốt phô-mai trước mặt? Tại sao Người lại đặt một đứa trẻ Weequahic vào Newark đầy bại liệt trong mùa hè còn một đứa khác thì ở nơi trú ẩn nguy nga Pocono? Với một người trước kia cho rằng sự chuyên cần và chăm chỉ là lời giải cho mọi khó khăn của mình, giờ thì không thể cắt nghĩa được lý do vì sao những chuyện ấy đã xảy ra và lại xảy ra theo cách đó.
"Anh Bucky!" Hai chị em sinh đôi đã nhìn thấy anh, hét gọi át cả tiếng ồn ào. Chúng đứng cạnh bàn và vẫy tay. "Anh Bucky! Anh đã đến! Hoan hô!"
Anh vẫy tay đáp lại và cặp sinh đôi bắt đầu chỉ trỏ về phía người chị đang ngồi với vẻ phấn kích.
Anh mỉm cười và nói to: "Anh thấy, anh thấy rồi" khi cặp sinh đôi gọi Marcia: "Anh Bucky ở đây này!"
Marcia đứng lên nhìn quanh, nên anh cũng đứng lên, ; cuối cùng nàng thấy anh, và với cả hai bàn tay nàng gửi anh một nụ hôn gió. Anh đã an toàn. Bại liệt đã không quật ngã được anh.
NGUYÊN BUỔI CHIỀU, anh ở bến tắm, quan sát những người phụ trách - những cậu học sinh trung học ở độ tuổi mười bảy, những anh chàng chưa tới tuổi nhập ngũ - giám sát các trại viên thực hiện trọn vẹn những lần bơi thử và các bài luyện tập. Chẳng có bài tập nào mà không giống với những gì anh đã học trong khóa dạy bơi và nhảy cầu tại trường Panzer. Anh đã từng trông đợi để có một chương trình hoạt động thú vị cũng như một môi trường lý tưởng để làm việc - cả bến tắm không có một chút biểu hiện mảy may sao nhãng, bến lên xuống, các cầu tàu, những sàn lát ván, và những cầu nhảy đều ở điều kiện tuyệt hảo, còn nước hồ thì trong vắt đến kinh ngạc. Những triền đồi cây cối mọc ken dày chạy dọc suốt bờ hồ. Các lán gỗ dành cho trại viên được dựng trên những ngọn đồi thấp phía kề với hồ, nếu hình dung nhà ăn là thân chim thì một bên cánh của nó là khu trại dành cho nữ và cánh bên kia là khu trại dành cho nam. Cách bờ gần trăm mét là một đảo nhỏ được bao phủ bởi những thân cây mọc nghiêng, vỏ màu trắng. Đây hẳn là hòn đảo mà Marcia đã đề cập với anh rằng hai người họ có thể ra đó để được riêng tư một cách an toàn.
Cô đã tìm được cách gửi lại lời nhắn cho anh tại chỗ cô thư ký văn phòng ông Blomback: "Em không tin nổi vào mắt mình khi thấy chồng tương lai của mình ở đây. Em có thể lẻn ra lúc 9:30. Gặp anh ở bên ngoài nhà ăn nhé. Như bọn trẻ hay nói, "Tớ thích ấy nhiều. M."
Khi các lớp học bơi sau cùng kết thúc và các trại viên trở về lán của mình để chuẩn bị cho bữa tối ngày thứ Sáu và buổi chiếu phim tiếp sau đó, Bucky vẫn một mình ở lại bến tắm, anh hài lòng bởi những giờ làm việc đầu tiên của mình đã trôi qua tốt đẹp và anh hứng khởi khi được bầu bạn với tất cả những đứa trẻ không âu lo, năng động tuyệt vời này. Anh đã ngâm mình dưới nước để quen với những phụ trách và cách họ cùng làm việc, giúp đỡ bọn trẻ học cách bơi và cách thở, do vậy anh không có thời gian để làm một cú nhảy từ bên cầu nhảy mức cao. Nhưng suốt buổi chiều anh đã nghĩ tới chuyện đó, như thể chỉ đến khi anh nhảy cú đầu tiên ấy, anh mới thực sự là ở đây.
Anh bước ra ngoài, dọc theo cái cầu gỗ hẹp dẫn đến tầng cầu nhảy cao, tháo cặp kính và để nó dưới chân các bậc thang. Rồi, anh mò mẫm trèo lên cầu nhảy. Căng mắt nhìn, anh có thể trông thấy lối đi dẫn mình ra đến mép cầu nhưng ngoài xa hơn, anh gần như không phân biệt được gì nữa. Những triền đồi, rừng cây, hòn đảo màu trắng, ngay cả hồ nước, tất thảy đều biến mất. Anh chỉ có một mình trên cầu nhảy phía bên trên mặt nước và hầu như không nhìn thấy gì. Không khí ấm áp, cơ thể anh ấm áp, anh chỉ nghe thấy tiếng quật bóng tennis pốc pốc và thỉnh thoảng là tiếng lách cách của kim loại va phải nhau vọng từ đằng xa nơi mấy trại viên đang chơi trò ném móng ngựa. Khi anh hít vào, không có mùi hôi thối của khu trại lợn Secaucus ở New Jersey. Anh hít căng hai lá phổi làn khí trời trong lành, vô trùng của vùng núi Pocono, rồi chạy lấy đà ba bước, bật nhảy, kiểm soát đến từng ly cả cơ thể trong suốt quãng đường bay mù mịt ấy, nhào xuống nước theo kiểu chim nhạn, mắt chỉ chợt thấy ngay trước khi hai cánh tay xuyên ngọt qua mặt hồ, anh lao thẳng đứng vào sâu trong làn nước tinh khiết và lạnh ngắt.
VÀO 5:45 CHIỀU, khi anh và đám con trai cùng lán đang gần tới cửa nhà ăn, thì có hai trại viên tách ra khỏi đám con gái cùng với những phụ trách đang tiến lại và bắt đầu gọi tên anh. Đó là những cô bé nhà Steinberg, cặp sinh đôi giống hệt nhau, kể cả khi đứng sát nhau, anh cũng khó có thể gọi đúng tên từng đứa. "Đây là Sheila! Đây là Phyllis!" Anh la lên khi cả hai lao vào vòng tay anh. "Hai đứa trông tuyệt lắm," anh bảo. "Nhìn xem đen không này. Mà còn lớn nữa. Chết thật, hai đứa cao bằng anh rồi." "Cao hơn chứ!" Chúng hét lên, quấn chặt lấy anh. "Ô, đừng nói thế," Bucky cười phá lên, "xin các cô, chưa cao hơn đâu!" "Anh sắp biểu diễn nhảy cầu hả?" Một cô bé hỏi. "Tới giờ chưa có ai đề nghị anh cả," anh đáp. "Thì chúng em đang đề nghị anh đây! Một buổi biểu diễn nhảy cầu cho cả trại xem! Tất cả những động tác vặn xoắn và nhảy ngược anh làm trên không trung ấy."
Hai cô bé đã thấy anh nhảy cầu vài tháng trước, khi anh được mời đến nhà nghỉ mát mùa hè bên bờ biển của gia đình Steinberg nhân dịp nghỉ lễ Ngày Tưởng niệm, và cả nhà đã cùng đến câu lạc bộ bơi lặn nơi gia đình Steinberg là hội viên ở ngoài bãi biển. Đó là lần đầu tiên anh đóng vai một người khách qua đêm của gia đình, và cũng là lần đầu anh gạt bỏ sang bên những mặc cảm về việc một người có xuất thân như mình được trò chuyện với những con người có học như vậy, anh thấy cha mẹ của Marcia hết sức tốt bụng và dễ gần. Anh còn nhớ niềm vui khi dạy hai cô bé sinh đôi những kỹ thuật cơ bản trên cầu nhảy mức thấp, cách giữ thăng bằng và lao đầu xuống. Hai bé lúc đầu còn sợ sệt, nhưng vào cuối buổi chiều hôm ấy, cả hai đã có thể lao xuống từ cầu nhảy. Cũng từ đấy, anh là ngôi sao trong mắt hai chị em, và cả hai lúc nào cũng tìm cách giành giật anh với chị cả. Anh bị cả hai, hai cô con gái mà bác sĩ Steinberg khen ngợi gọi là "đôi giọt nước tỏa sáng", chiếm hữu.
"Anh rất nhớ hai đứa," anh bảo chúng. "Anh có ở lại đây đến hết hè không?" Chúng hỏi. "Chắc chắn rồi." "Vì thầy Schlanger đã lên đường nhập ngũ phải không ạ?" "ừ, đúng thế." "Chị Marcia nói thế, nhưng lúc đầu chúng em tưởng chị đang nằm mơ." "Anh cũng tưởng mình đang mơ, chuyện anh đang ở đây ấy," Bucky đáp lời. "Anh sẽ gặp các em sau nhé," anh nói và để khoe với chúng bạn cùng lán, hai chị em từng đứa rướn cổ để hôn anh vào môi một cách khoa trương. Rồi, khi chạy vào lối nhà ăn, chúng kêu lên, cũng không kém phần khoa trương, "Chúng em yêu anh, Bucky!"
Anh ngồi ăn kế cậu phụ trách của lán Comanche, Donald Kaplow, một chàng trai mười bảy tuổi, hồi học trung học rất mê điền kinh và môn ném đĩa. Khi Bucky nói anh chơi môn ném lao, Donald bảo rằng cậu ta đã mang các thiết bị thể thao của mình đến trại, và khi nào có thời gian rỗi cậu lại tập luyện kỹ năng ném đĩa của mình ở bãi cỏ sau khu trại dành cho nữ, là nơi tổ chức đám rước theo kiểu da đỏ vào mỗi tháng Tám. Cậu hỏi Bucky có muốn lúc nào đó cùng đi xem và góp ý cho cậu không. "Nhất định, nhất định rồi," Bucky nói.
"Em đã nhìn thấy thầy chiều nay," Donald nói. "Từ hàng hiên căn lán em ở có thể nhìn ra được hồ. Em đã quan sát thầy nhảy cầu. Thầy là vận động viên nhảy cầu à?" "Tôi có thể thực hiện được những động tác nhảy cầu căn bản, nhưng không, tôi không phải là vận động viên." "Em chẳng bao giờ làm chủ được kỹ thuật nhảy của mình. Em cứ mắc đi mắc lại những lỗi ngớ ngẩn."
"Tôi có thể giúp cậu được," Bucky nói.
"Thầy giúp em chứ?"
"Nếu có thời gian tôi nhất định sẽ chỉ."
"Ôi hay quá. Cảm ơn thầy."
"Mình sẽ đi từng động tác một. Cậu giờ có lẽ chỉ cần được sửa vài lỗi là sẽ làm tốt."
"Em sẽ không làm phiền thầy đấy chứ?"
"Không sao. Nếu và khi nào rảnh, tôi sẽ giúp."
"Một lần nữa, cảm ơn thầy, thầy Cantor."
Khi nhìn sang bên dãy bàn ăn của con gái để kiếm Marcia, anh trông thấy một trong hai cô bé nhà Steinberg đang điên cuồng khua tay về phía anh. Anh mỉm cười, vẫy trả rồi nhận ra chưa đến một ngày mà mình đã rũ sạch những ưu tư về bại liệt, chỉ trừ vài phút trước, khi Donald gợi anh nhớ đến Alan Michaels. Mặc dù Donald hơn năm tuổi và đã cao một mét tám mươi, cả hai đều là những chàng trai ưa nhìn có vai rộng, dáng gầy cao, đôi chân khỏe, cùng mong mỏi tìm được một huấn luyện viên giúp họ phát triển kỹ năng thể thao. Những chàng trai như Alan và Donald, hình như cảm thấy ngay tức khắc lòng nhiệt thành hướng dẫn và khả năng truyền thụ những gì họ đang cần từ Buckỵ, nên đã nhanh chóng gia nhập vào hàng ngũ học trò của anh. Nếu Alan còn sống, cậu bé chắc sẽ khôn lớn trở nên một thanh niên giống Donald Kaplow. Nếu Alan còn sống, nếu Herbie Steinmark vẫn sống, Bucky chắc sẽ không có mặt ở đây và cái điều quái gở ấy sẽ không xảy ra nơi quê nhà.
ANH VÀ MARCIA bơi thuyền ngang qua hồ - anh chưa từng chèo thuyền bao giờ, nhưng Marcia chỉ cho anh, và sau khi quan sát nàng khua chèo vài cái, anh đã cầm chèo. Họ chầm chậm chìm dần vào màn đêm, khi tới hòn đảo hẹp - xa hơn so với anh hình dung lúc đứng ở bến tắm dành cho nam - họ chèo thuyền vòng sang phía bên kia, ở đó họ kéo chiếc thuyền lên bờ và lôi nó vào phía sau một lùm cây nhỏ. Cả hai hầu như không nói gì với nhau kể từ lúc nắm tay nhau bên ngoài nhà ăn rồi vội vã đi tới bến tắm dành cho các bé gái và lặng lẽ nâng một chiếc thuyền ra khỏi giá.
Trời không trăng, không sao, chỉ có ánh sáng le lói lọt ra từ những căn lán trên sườn đồi phía sau bờ. Bữa tối có món thịt bò nướng - Donald Kaplow với tính háu ăn của một cậu trai mới lớn đã ngấu nghiến hết lát thịt đỏ sẫm này tới lát thịt đỏ sẫm khác - đã kết thúc, và lúc này, trong sảnh giải trí đang chiếu phim cho những đứa trẻ lớn hơn, do vậy thứ âm thanh duy nhất vọng ra từ khu trại là tiếng loáng thoáng từ các cảnh phim. Ở sát bên nhau, họ nghe thấy bản giao hưởng đơn điệu của lũ ếch, và cứ chừng vài phút, lại nghe thấy một tiếng sấm rền từ phía xa vọi.
Bản nhạc kịch của sấm chẳng hề khiến việc được ở riêng cùng nhau trên đảo đầy cây trong bộ đồ soóc ka-ki và áo pô-lô của trại bớt đi chút ý nghĩa hay tính kích thích vì mớ quần áo ít vải của họ mang lại chút nào. Tay chân để trần, họ đứng trên một khoảnh đất trống nhỏ xíu ở giữa những thân cây, hai người ở gần sát bên nhau đến mức anh có thể trông thấy nàng một cách rõ ràng bất chấp bóng tối. Marcia, cách đây mấy đêm, đã bơi thuyền ra đảo, dùng tay dọn sạch đống lá rụng từ mùa thu trước, chuẩn bị sẵn sàng một chỗ trống cho chốn hò hẹn của hai người.
Trên đảo, bao quanh họ, là cây cối ken dày đặc, thân chúng không phải chỉ một màu trắng như anh đã thấy lúc anh đứng từ bến tắm nhìn qua mà có những vết khía màu đen chạy vòng quanh bên ngoài vỏ giống như những vết sẹo do bị roi quất. Bị tàn phá bởi thời tiết hoặc bởi bệnh thực vật, nhiều cây cong vòng hoặc đổ rạp, một số mọc cao vượt lên gần gấp đôi, vài cây thân bị xé làm hai nửa lởm chởm sát xuống tận gốc, một số khác bị gãy lìa. Những cây vẫn còn nguyên vẹn thì khẳng khiu đến mức anh có thể dùng bàn tay nắm quanh thân chúng khá dễ dàng giống như khi anh đùa giỡn siết chặt bắp đùi của Marcia bằng hai bàn tay của anh vậy. Các cành trên cao và những nhánh nhỏ của các cây còn nguyên vẹn rủ xuống khoảng đất trống làm thành một mái vòm kết bằng những chiếc lá mỏng có răng cưa. Đó là một nơi ẩn náu hoàn hảo, một nơi biệt lập, mà họ chỉ dám mơ tưởng trong khi âu yếm điên cuồng trong căn phòng phụ phía trước ở nhà Steinberg, họ đã phải cố kìm nén những âm thanh dễ nhận biết thể hiện sự hưng phấn, lạc thú và khoái cảm.
"Em gọi những cây này là gì?" Anh hỏi, giơ tay sờ vào một thân cây. Bỗng nhiên anh trở nên ngượng nghịu, cứ như hồi họ được giới thiệu với nhau trong buổi đầu tập trung giữa các giáo viên trong khoa và anh thấy mình di chuyển cứng dơ, vụng về còn nét mặt thì thiếu tự nhiên đến kỳ cục. Nàng đã khiến anh sững sờ khi đưa bàn tay nhỏ nhắn của mình ra bắt tay anh, và anh ngớ ngẩn biết bao vì không biết phải làm gì với nó - sức quyến rũ tỏa ra từ hình hài nhỏ nhắn của nàng làm anh thậm chí không thể nghĩ đến chuyện làm sao để tán tỉnh nàng. Cuộc gặp mặt gây lúng túng đến cùng cực ấy đã khiến chàng trai đã được ông ngoại nuôi dưỡng niềm tin rằng không gì không thể làm với sức mạnh bản thân, chỉ có thể lí nhí câu chào trước một cô gái có cân nặng có lẽ chưa tới bốn mươi lăm cân.
"Cây phong," nàng đáp. "Chúng là phong trắng - phong bạc."
"Một vài chỗ bị tróc vỏ." Anh dễ dàng bóc một lớp vỏ mỏng màu bạc ra khỏi gốc cây và đưa cho nàng xem, trong bóng tối, như thể họ là những đứa trẻ trong chuyến đi dã ngoại.
"Người da đồ dùng vỏ cây phong để làm thuyền," nàng nói với anh.
"Tất nhiên rồi. Thuyền vỏ phong. Anh không bao giờ nghĩ đó là tên của một loài cây."
Hai người không nói thêm một tiếng nào nữa trong khi ngồi nghe tiếng được, tiếng mất của bộ phim lan trên mặt nước, tiếng sấm xa vời cùng tiếng ếch gần bên và tiếng thịch thịch của một thứ gì đó bên kia hồ đập vào bến tắm hay cầu tàu. Nhịp tim của anh trở nên gấp gáp khi anh chợt nghĩ tới khả năng đó là ông Blomback đang tới chỗ họ bằng một chiếc thuyền khác.
"Sao ở đây không có chim chóc gì hết nhỉ?" Cuối cùng anh cũng lên tiếng.
"Có đấy. Ban đêm chim không hót."
"Không hót hay hót?"
"Ôi, Bucky," nàng thì thầm giọng khẩn cầu, "chúng ta nhất thiết phải tiếp tục như thế này sao? cởi đồ em ra, đi anh. Cởi quần áo em ngay nào."
Sau nhiều tuần xa cách, anh cần nàng bảo anh làm thế.
Anh cần cô gái thông minh này nói mọi điều với anh, thật thế, về cuộc đời bên ngoài sân chơi, bãi tập điền kinh và phòng thể dục. Anh cần mọi người trong gia đình nàng chỉ cho anh biết cách sống của một người đàn ông trưởng thành, điều không ai dạy cho anh, kể cả ông ngoại.
Anh lập tức cởi thắt lưng và hàng khuy chiếc quần soóc của nàng rồi tuột nó rơi xuống đất. Cùng lúc, nàng giơ hai tay lên như một đứa trẻ, anh lấy đi cái đèn pin nàng đang mang trên tay rồi nhẹ nhàng tuột chiếc áo pô-lô của nàng qua đầu. Nàng vòng tay cởi áo ngực trong khi anh đã quỳ gối, và lúc ấy với cảm giác kỳ lạ, có phần xấu hổ, anh kéo quần lót nàng xuống và tuột nó qua hai chân.
"Tất em nữa," nàng nói, lúc ấy đã lấy chân lột bỏ đôi giày thể thao của mình. Anh kéo đôi tất ra và nhét chúng vào giày nàng. Đôi tất nàng rất sạch, trắng và cũng như tất cả trang phục nàng đang mặc, thoang thoảng mùi thuốc tẩy của phòng giặt trong trại.
Không mặc quần áo, trông nàng nhỏ nhắn và mảnh dẻ, dáng người xinh đẹp, đôi chân gọn, đôi cánh tay thanh mảnh, cổ mảnh mai và cặp vú bé, nằm cao trên ngực nàng, với hai núm vú mềm, nhạt màu, không nhô ra. Cơ thể phụ nữ mảnh mai thanh tú trông mong manh như của con trẻ. Nàng rõ ràng trông không giống một người quen chuyện chăn gối, và cũng không quá xa lạ với điều này. Trong một ngày nghỉ hồi cuối thu khi cả nhà nàng đi nghỉ, khoảng bốn giờ chiều thứ Bảy, lúc những tấm rèm cựa trong buồng ngủ của nàng ở đại lộ Goldsmith được kéo xuống, anh đã lấy đi Sự trong trắng của nàng - và làm mất của chính mình - rồi nàng đã thì thầm: "Bucky, dạy em làm tình đi," như thể trong hai người nàng ít kinh nghiệm hơn. Họ nằm cạnh nhau trên giường rất lâu sau đó - giường của nàng đây, anh thầm nghĩ, có bốn cọc giường được chạm trổ, một tấm ri-đô vải hoa sặc sỡ và một cái váy xếp nếp mà nàng thường mặc đi ngủ từ khi còn bé - trong khi đó, nàng, với giọng nhỏ nhẹ, cứ như thể còn có ai đó cũng đang ở trong căn nhà trống vắng, nói tới sự may mắn khôn tả của mình là không chỉ có một gia đình tuyệt vời mà còn có Bucky để yêu thương nữa. Rồi anh kể với nàng nhiều chuyện hơn bất cứ lần nào trước đấy về thời thơ ấu của anh, anh nói về bản thân với nàng dễ dàng hơn với bất cứ cô gái nào anh từng quen biết, hơn bất kỳ ai anh từng biết, tiết lộ mọi chuyện - những chuyện anh thường chỉ giữ cho riêng mình - về điều làm anh hạnh phúc và điều khiến anh buồn. "Anh là con trai của một kẻ ăn cắp," anh tự nhận và thấy mình có thể nói những lời ấy với nàng mà không hề mảy may xấu hổ. "Ông ấy phải đi tù vì ăn cắp tiền. Ông ấy có tiền án. Anh chưa bao giờ gặp ông. Không biết giờ ông ấy sống ở đâu, thậm chí còn sống hay đã chết. Nếu lúc trước ông ấy nuôi anh, cũng không rõ anh có trở thành một tên trộm không nữa? về phần mình, nếu không có ông bà ngoại như thế, không được sống với những hàng xóm láng giềng như thế," anh bảo nàng, "chắc là trước sau gì anh cũng trở nên một kẻ vô tích sự."
Nằm quay mặt vào nhau trên chiếc giường có bốn cọc màn, họ cùng nhau chuyện trò tới khi trời chạng vạng, rồi tối hẳn, đến khi cả hai đã nói về tất cả mọi thứ và thổ lộ tất thảy những gì họ có khả năng mô tả về bản thân với người kia. Và rồi, cứ như thể mình còn làm anh mê muội chưa đủ, Marcia thì thầm vào tai anh điều mà nàng vừa mới học. "Thế chỉ có mỗi cách tình tự như vừa rồi thôi à?"
"ANH," MARCIA THÌ THẦM sau khi anh đã cởi hết quần áo nàng. "Giờ thì đến lượt anh."
Anh nhanh chóng cởi bỏ các thứ trên người và để xuống cạnh nàng chỗ rìa khoảng trống của hai người.
"Để em ngắm anh nào. Ôi, tạ ơn Chúa," nàng bảo và òa khóc. Anh vội kéo nàng vào lòng, nhưng vô ích. Nàng vẫn nức nở không sao kìm nén nổi.
"Sao thế em?" Anh hỏi. "Có chuyện gì thế?"
"Em đã nghĩ là anh sắp chết!" Nàng kêu lên. ‘Em đã cho là anh sẽ bị liệt và chết! Em không sao ngủ nổi, em sợ quá. Em thường ra đây mỗi khi rảnh rỗi và cầu nguyện Chúa phù hộ để anh luôn khỏe mạnh. Em chưa bao giờ nhiệt thành cầu nguyện cho ai đến thế. ‘Xin hãy bảo vệ Bucky!’ Em khóc vì hạnh phúc, anh yêu ạ! Hạnh phúc, quá hạnh phúc! Anh đã ở đây rồi! Anh không mắc bệnh! Ôi Bucky, ôm em chặt vào, ôm em chặt hết cỡ vào! Anh đã an toàn rồi."
KHI HAI NGƯỜI quần áo đã tề chỉnh và sẵn sàng quay về trại, thay vì cho rằng những lời đó là do nàng cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng và quên chúng đi thì anh lại không thể ngăn được mình nói ra những điều không nên nói về lời cầu nguyện của nàng với Chúa mà anh đã chối bỏ. Anh biết chẳng có lý do gì để khép ngày trọng đại này bằng việc quay trở lại một đề tài quá ư nhạy cảm, nhất là khi anh chưa từng bao giờ nghe thấy nàng nói như thế trước đây và có lẽ sau này cũng không lặp lại. Đó là một đề tài cực kỳ nguy hiểm vào khoảnh khắc này, và không thích hợp, thực tế là giờ này, lúc này anh đang ở đây rồi. Song anh không thể kiềm chế được bản thân. Anh đã phải vứt bỏ quá nhiều thứ ở Newark để có thể đè nén những cảm xúc của mình - và anh chỉ mới rời Newark và nạn dịch nơi đó có mười hai tiếng đồng hồ.
"Em có thực lòng cho rằng Chúa đáp lại những lời nguyện cầu của em không?" Anh hỏi nàng.
"Em thực sự không thể nào biết được. Nhưng, chẳng phải anh đang ở đây rồi sao? Chẳng phải anh khỏe mạnh đấy sao?"
"Điều ấy chẳng chứng minh được gì cả," anh nói. "Tại sao Chúa không đáp lại lời cầu nguyện của cha mẹ Alan Michaels? Chắc chắn họ đã cầu nguyện. Cha mẹ Herbie Steinmark chắc chắn cũng đã có cầu nguyện. Họ là những con người tốt. Họ là những người Do Thái tử tế. Tại sao Chúa không can thiệp cho họ chứ? Tại sao Người không cứu giúp những đứa con trai của họ chứ?"
"Thật lòng là em không biết," Marcia tuyệt vọng trả lời.
"Anh cũng không biết. Anh không biết tại sao Chúa lại sinh ra căn bệnh bại liệt. Người muốn chứng tỏ điều gì? Rằng chúng ta cần những con người tàn tật trên trái đất ư?" "Chúa không tạo ra bệnh bại liệt," nàng phản đối. "Em nghĩ là không sao?"
"Vâng," nàng cao giọng, "em nghĩ là không."
"Nhưng chẳng phải Chúa tạo ra mọi thứ đấy sao?" "Hai điều này không giống nhau mà."
"Tại sao lại không chứ?"
"Tại sao anh lại tranh cãi với em hả Bucky? Mà chúng mình tranh cãi chuyện gì thế này? Em chỉ có nói rằng em cầu nguyện Chúa bởi vì em lo sợ cho anh. Và bây giờ anh đang ở đây và em ngập tràn hạnh phúc. Vì chuyện ấy mà anh biến nó thành một cuộc tranh cãi. Tại sao anh lại muốn cãi nhau với em khi mà cả bao nhiêu tuần nay chúng mình không gặp nhau chứ?"
"Anh không muốn cãi cọ" anh nói.
"Thế thì đừng cãi nữa" nàng đáp, giọng hoang mang hơn là giận dữ.
Lúc này tiếng sấm đã ì ầm đều đặn còn ánh chớp thì lóe lên ngay gần đó.
"Chúng ta phải đi thôi," nàng nói. "Chúng ta phải về trong lúc cơn dông vẫn còn chưa tới."
"Nhưng làm sao một người Do Thái có thể cầu nguyện vị chúa mang đến tai ương nhường ấy cho một cộng đồng hàng nghìn hàng vạn người Do Thái?"
"Em không biết! Chính xác là anh đang muốn đưa chuyện này tới đâu?"
Đột nhiên anh thấy sợ phải nói với nàng - sợ rằng nếu anh cứ khăng khăng ép nàng phải hiểu những gì anh đã hiểu, anh sẽ mất nàng và cái gia đình nhỏ trong tương lai của họ. Trước đây họ chưa bao giờ cãi nhau hay mâu thuẫn bất cứ chuyện gì. Chưa bao giờ, dù chỉ một lần, anh cảm thấy chút đối nghịch mảy may nào trong tình yêu với Marcia - hay trong tình yêu nàng dành cho anh về chuyện này - cho nên, đúng ngay lúc ấy, trước khi anh bắt đầu hủy hoại mọi thứ, Bucky đã kịp kiềm chế bản thân.
Họ cùng nhau kéo chiếc thuyền xuống mép hồ, rồi trong một lúc, không nói với nhau lời nào, cả hai cật lực chèo về khu trại và tới nơi trước khi cơn mưa nặng hạt bắt đầu trút xuống.
DONALD KAPLOW và lũ trẻ đang ngủ khi Bucky bước vào lán Comanche, dò dẫm đi dọc lối hẹp giữa những tủ đựng đồ cá nhân. Nhẹ nhàng một cách tối đa, anh thay bộ pyjama, cất gọn quần áo và chui người vào giữa mớ chăn đệm sạch sẽ trước đây từng thuộc về Irv Schlanger trên chiếc giường anh đã dọn hồi sớm. Anh và Marcia đã chia tay không mấy vui, và anh vẫn cảm thấy buồn từ lúc họ vội vã hôn tạm biệt nhau nơi cập mạn, lúc ấy mỗi người đều sợ rằng có điều gì khác chứ không phải chỉ có Chúa là nguồn cơn của lần cãi nhau đầu tiên này, rồi cả hai hối hả chạy theo hai hướng ngược nhau về lán của mình.
Tiếng mưa bắt đầu rơi lộp bộp trên mái lán trong lúc Bucky nằm nghĩ tới Dave và Jake đang chiến đấu ở Pháp trong cuộc chiến mà anh bị loại ra ngoài. Anh nghĩ về Irv Schlanger, chàng tân binh đã ngủ ngay trên chiếc giường này đêm trước khi nhập ngũ. Thời gian trôi đi và một lần nữa dường như tất cả mọi người đều ra trận chỉ trừ anh. Được nằm ngoài trận chiến, được thoát khỏi nơi máu chảy đầu rơi - tất thảy những điều mà ai khác sẽ xem như một cơ may, thì anh lại thấy như tai ương. Ông đã dạy dỗ anh trở thành một chiến binh không biết sợ, đào luyện anh biết nghĩ một cách đầy trách nhiệm, sẵn lòng và phù hợp để bảo vệ lẽ phải, rồi thay vì đương đầu với cơn vận hạn của thế kỷ, một cuộc xung đột mang tầm vóc toàn cầu giữa thiện và ác, anh lại không thể góp phần mình, dù là nhỏ nhất.
Dù sao anh cũng đã có một cuộc chiến của mình, cuộc chiến mà anh được trả lương trên bãi chiến trường là sân chơi của mình, cuộc chiến mà trong đó anh đã bỏ mặc những người lính chỉ vì Marcia và sự an toàn nơi Indian Hill. Nếu anh không thể chiến đấu ở châu Âu hay Thái Bình Dương, anh ít ra cũng có thể ở lại Newark, chiến đấu với nỗi sợ hãi bại liệt kề cận lũ nhỏ đang trong mối hiểm nguy của mình. Thay vào đó anh lại ở đây, khu trại hè nơi đỉnh ngọn núi biệt lập, tách khỏi thế giới nằm cuối một con đường đất hẹp, ẩn mình phía sau màn không khí bằng cả rừng cây - và làm gì nơi đó? Chơi bời với lũ trẻ. Và mãn nguyện với điều đó! Rồi khi anh càng thấy mãn nguyện, nỗi nhục nhã càng lớn hơn.
Mặc cho mưa to như xuyên vào mái trại, biến bãi cỏ sân tập và con đường mòn đầy bụi đất thành một bãi sình lầy rộng lớn ngập ngụa nước, mặc cho tiếng sấm vang vọng qua những ngọn núi và ánh chớp lập lòe chiếu xuống khắp khu trại, không một cậu bé nào ở cả hai dãy giường tỉnh giấc. Căn lán ghép gỗ đơn sơ, ấm cúng - với những lá cờ đuôi nheo sặc sỡ, những mái chèo được trang trí cầu kỳ, với những tủ đồ cá nhân dán đầy các miếng dính trang trí và những chiếc giường xếp hẹp dưới gầm để giày da, giày thể thao và dép quai hậu thành hàng, với những thành viên cường tráng đang ngủ an lành, đám thiếu niên trai trẻ khỏe khoắn - dường như cách xa cuộc chiến, cũng như anh ở cách xa cuộc chiến của mình, ở đây anh có tình thương yêu của hai cô em gái vợ tương lai và tình yêu nồng nàn của người vợ tương lai; ở đây anh có một cậu trai như Donald Kaplow hăng hái truy cầu sự chỉ dạy của anh; ở đây anh có một bến tắm tuyệt vời để điều hành và cả tá cậu trai tràn đầy năng lượng để dạy dỗ và động viên; ở đây, vào cuối ngày, anh có cây cầu nhảy mức cao để tập luyện trong bình yên và tĩnh lặng, ở đây anh được chở che an toàn như với một người tị nạn khỏi kẻ giết chóc đang hoành hành chốn quê nhà. Ở đây anh có mọi thứ mà Dave và Jake không có, những đứa trẻ ở sân chơi Chancellor không có và tất cả cư dân ở Newark không có. Nhưng cái anh không còn có nữa là lương tâm trong sạch mà anh cần để sống.
Anh sẽ phải quay trở lại. Ngày mai anh sẽ đón một chuyến tàu rời ga Stroudsburg và ngay khi về tới Newark, anh sẽ liên lạc với O’Ga-ra, nói với ông ta rằng anh muốn tiếp tục công việc ở sân chơi vào ngày thứ Hai. Bởi ủy ban Giải trí đang trong tình trạng thiếu nhân sự do nhập ngũ, nhận lại việc sẽ không gặp phiền toái gì. Trong mắt tất cả mọi người, anh đã rời sân chơi một ngày rưỡi - và không ai có thể nói rằng một ngày rưỡi đi nghỉ ở vùng núi Pocono là cẩu thả hay bỏ trốn cả.
Nhưng liệu Marcia sẽ không coi việc quay lại Newark của anh là một đòn đánh hầu nhắm vào nàng, nhất là khi buổi tối trên đảo của họ đã kết thúc không vui vẻ gì? Nếu như anh thu xếp đồ đạc và rời khỏi đây vào ngày mai, hậu quả gì sẽ xảy đến cho kế hoạch của hai người? Anh đã có ý định ngay khi có giờ rỗi sẽ vào thị trấn, mang theo năm mươi đô-la rút từ khoản tiết kiệm dành mua bếp lò cho bà ngoại, để mua tặng Marcia một chiếc nhẫn đính hôn trong cửa hàng nữ trang địa phương... Nhưng anh không cần phải lo lắng - không lo lắng về chiếc nhẫn tặng Marcia, không lo lắng về việc Marcia sẽ hiểu nhầm lý do anh đi, không lo lắng vì đã rời bỏ ông Blomback trong cơn hoạn nạn, không lo lắng vì sẽ làm cho Donald Kaplow và hai cô em sinh đôi nhà Steinberg thất vọng. Anh đã phạm sai lầm nghiêm trọng. Vội vàng hấp tấp, anh đã đầu hàng nỗi khiếp sợ và dưới phép thuật của nó, anh đã phản bội những cậu bé của mình và phản bội chính anh trong khi tất cả những gì anh cần làm là ở lại nơi anh đang ở và thực hiện công việc của mình. Những nỗ lực tình yêu của Marcia nhằm giải thoát anh khỏi Newark đã khiến anh ngu ngốc hủy hoại chính bản thân mình. Những đứa trẻ ở đây sẽ ổn mà không cần đến anh. Đây không phải là vùng chiến. Indian Hill không phải là nơi cần anh.
Bên ngoài, dường như mưa không còn có thể to hơn được nữa, mưa lớn kỷ lục một cách đáng ngạc nhiên và bắt đầu trút ào ào như thác xuống mái lán dốc, ngập tràn các máng xối và quét ngang các ô cửa sổ đóng chặt thành những mảng nước lớn chảy thẳng xuống. Giả sử trời mưa như thế này ở Newark, giả sử như mưa ở đó mấy ngày không dứt, hàng triệu, hàng triệu giọt mưa rơi xối xả xuống những căn nhà, những ngõ nhỏ và những con đường trong thành phố - nó có quét sạch căn bệnh bại liệt đi chăng? Nhưng tại sao anh lại đi suy xét điều gì đã không và không thể xảy ra chứ? Anh phải về nhà! Lòng anh hối thúc anh nhỏm ngay dậy, bỏ hết đồ đạc của mình vào trong cái túi vải thô để sẵn sàng bắt chuyến tàu sáng đầu tiên. Nhưng anh không muốn đánh thức những cậu bé và khiến cho hành động của mình trông giống như thể anh đang gấp rút chạy khỏi đó trong cơn hoảng loạn. Việc anh hối hả tới đây đã là hành động trong cơn hoảng loạn rồi. Anh sắp rời đi sau khi khôi phục lại lòng can đảm bởi một kinh nghiệm xương máu mà tính thực tế của nó là không thể chối bỏ, nhưng là một kinh nghiệm mà mức độ nguy hiểm không thể so sánh được với những gì đã đe dọa Dave và Jake khi họ chiến đấu để mở rộng bàn đạp của quân đồng minh trên đất Pháp.
Còn về Chúa, thật dễ dàng để nghĩ tới Người một cách tử tế tại một thiên đường như Indian Hill. Đó là một thứ gì đó khác ở Newark - hay ở châu Âu hay ở Thái Bình Dương - vào mùa hè năm 1944.
SÁNG HÔM SAU, khung cảnh ướt át của dông tố đã mất dạng, mặt trời thật rạng rỡ, thời tiết như cũng tiếp thêm sinh khí, sự vui vẻ phấn chấn của các cậu bé khi bắt đầu một ngày mới không hề có nỗi sợ hãi nào cũng gợi cho anh nhiều suy tư về việc không còn bao giờ được ngủ giữa những vách lán được dán đầy những lá cờ hiệu của cả tá các trường này nữa. Và đánh cược tương lai hai người bằng việc đột ngột rời bỏ Marcia là một điều quá kinh khủng, không thể suy tính được. Đứng từ hàng hiên căn lán nhìn ra mặt hồ phẳng lặng, sáng loáng, anh chìm đắm thật sâu trong những suy nghĩ về khoảng thời gian cuối ngày đầu tiên của mình, rồi anh nhìn về hòn đảo phía xa xa nơi họ đã chèo thuyền ra đó, làm tình dưới vòm lá phong - anh không thể nào gạt bỏ được điều ấy chỉ sau có một ngày. Ý nghĩ ấy thậm chí còn được củng cố thêm anh khi nhìn thấy những ván sàn nơi lối vào căn lán sũng nước, gió đã tạt những hạt nước mưa văng khắp hàng hiên và xuyên qua cánh cửa ngăn - ngay cả dấu vết bình thường ấy của một trận mưa lớn không hiểu sao cũng góp vào quyết định ở lại của anh. Đứng dưới một bầu trời trong xanh phẳng lặng sau cơn dông, những chú chim ríu rít bay lượn trên cao, và ở giữa những cậu bé vui vẻ, hồ hởi như thế này, làm sao anh có thể quyết định khác được chứ? Anh không phải là bác sĩ. Anh không phải là y tá. Anh không thể quay trở lại một nơi bi thảm mà anh hoàn toàn bất lực không thể thay đổi được gì.
Hãy quên Chúa đi, anh tự nhủ. Kể từ khi nào Chúa trở thành mối bận tâm của anh vậy? Và tự nhủ tiếp tục phận sự mới là việc của mình, anh cùng các cậu bé đi ăn sáng, hít căng lồng ngực không khí vùng núi trong lành không hề ô nhiễm. Trong khi thầy trò họ băng qua con đường đồi dốc cỏ mọc đầy, bốc lên từ mặt đất ướt nước mưa, xộc vào mũi anh là một mùi hương nồng của cỏ ướt, một mùi hương anh mới biết đến lần đầu, và dường như nó chứng thực rằng anh, không thể phủ nhận, đang hào hứng với cuộc đời. Anh đã thường xuyên sống trong căn hộ nơi thành thị cùng bà và chưa bao giờ có cảm giác trên làn da thịt mình có sự hòa trộn giữa ấm áp và mát lạnh của một sáng tháng Bảy nơi vùng núi, cũng như chưa từng biết đến sự ngập tràn cảm xúc mà nó tạo ra. Có gì đó rất phấn chấn khi được cả ngày làm việc trong khoảng không gian bất tận này, có gì đó rất hấp dẫn trong việc cởi bỏ áo quần Marcia trong bóng đêm nơi đảo vắng cách xa mọi người, có gì đó rất xúc động khi được ngủ dưới bầu trời đầy sấm chớp và tỉnh dậy như trong buổi sáng đầu tiên khi các sinh hoạt của loài người được mặt trời rọi chiếu. Tôi ở đây, anh nghĩ, và tôi hạnh phúc - quả đúng như thế thật, anh thấy phấn khởi, ngay cả khi nghe tiếng lép nhép vang lên sau mỗi bước chân của anh đạp trên thảm cỏ đẫm nước. Tất cả đều có ở nơi đây! Yên bình! Tình yêu! Sức khỏe! sắc đẹp! Trẻ em! Công việc! Còn chuyện gì khác phải làm ngoài việc ở lại đây kia chứ? Đúng thế, mọi thứ anh trông thấy, anh ngửi thấy, anh nghe thấy là điềm báo trước cho hình bóng hư ảo ấy, niềm hạnh phúc tương lai.
Chiều ấy, có một sự kiện bất thường, nghe nói, chưa từng bao giờ xảy ra ở khu trại. Một đàn bướm khổng lồ bay rợp trời Indian Hill, và trong khoảng thời gian một giờ đồng hồ giữa chiều, người ta nhìn thấy chúng chập choạng sà xuống, đậu trên khắp các sân chơi, đậu kín trên viền những tấm lưới ở sân tennis và túm tụm trên các cụm cây hoa tai mọc rất nhiều nơi rìa đất của khu trại. Có phải chúng đã bị những cơn cuồng phong trong cơn dông đêm cuốn theo? Có phải chúng đã bị lạc đường trong lúc di trú về phương Nam? Nhưng tại sao chúng lại di trú vào mùa hè, sao lại sớm đến thế? Không một ai, kể cả chuyên viên về thiên nhiên, biết lời giải đáp. Chúng nhất tề xuất hiện như thể để săm soi kỹ lưỡng từng lá cỏ, từng bụi cây, từng thân cây, từng cọng dây leo, từng lá dương xỉ, từng ngọn cỏ dại và từng cánh hoa ở khu trại trên đỉnh núi trước khi định hướng lại và tiếp tục hành trình bay của mình đến nơi chúng định đến.
Trong khi anh đứng dưới ánh mặt trời chói chang nơi bến tắm và quan sát những khuôn mặt ngập trong ánh nắng đang nhấp nhô dưới nước, có một con bướm đậu xuống và bắt đầu nhấm nháp trên bờ vai trần của Bucky.
Thật kỳ lạ! Hút chất khoáng từ những giọt mồ hôi của anh! Thật tuyệt vời! Bucky đứng yên không nhúc nhích, liếc mắt theo dõi con bướm cho tới khi nó đập cánh bay lên và đột ngột biến mất.
Sau đó, khi thuật lại sự việc cho các cậu bé trong lán, anh bảo với chúng rằng con bướm đậu trên vai anh trông như được những người da đỏ phác họa và tô vẽ vậy, hai cánh của nó có được trang điểm bằng những hoa văn màu cam và màu đen, trên rìa cánh màu đen là những chấm trắng li ti cực kỳ tỉ mỉ - điều mà anh không nói với đám trẻ, ấy là anh ngạc nhiên vô cùng trước việc con bướm sặc sỡ hút dinh dưỡng từ da thịt anh và khi nó bay đi anh cho phép mình bán tín bán nghi rằng sự kiện này ắt hẳn cũng là một điềm báo cho những ngày tốt đẹp sắp tới.
Không một ai ở Indian Hill e ngại việc đàn bướm che phủ khu trại và làm giảm sự tươi sáng của không gian. Đúng hơn là, mọi người đều cười thích thú trước tất cả sự di chuyển lặng lẽ, sinh động của chúng, các trại viên và những người phụ trách đều hồi hộp như nhau, cùng có cảm giác bị phủ ngập bởi sự mỏng manh không trọng lượng của hằng hà sa số những đôi cánh sặc sỡ dập dờn. Một vài trại viên đua nhau lao ra khỏi lán cầm theo những vợt bắt bướm chúng tự tay kết và những đứa trẻ nhỏ tuổi nhất khu trại cuồng nhiệt chạy đuổi theo những con bướm đang bay tới bay lui, cô gắng tóm lấy chúng bằng hai bàn tay xòe rộng. Tất cả mọi người ai cũng sung sướng bởi lẽ ai cũng biết rằng bướm không cắn người, không phải là tác nhân lây truyền bệnh mà là những sinh vật giúp phân tán phấn hoa làm cho hạt mầm cây cỏ phát triển. Còn có thể có điều gì tốt lành hơn thế nữa?
Phải, sân chơi ở Newark đã ở phía sau lưng anh. Anh sẽ không rời khỏi Indian Hill. Ở đó anh chỉ là mồi ngon của bại liệt; ở đây anh là thức ăn cho bướm. Tính cách dao động - một nhược điểm tệ hại trước đây anh chưa từng biết đến - chẳng mấy chốc sẽ hủy hoại tính cách quả quyết trước những việc cần phải hoàn thành ở nơi anh.
TỚI THỜI ĐIỂM này của mùa hè, những bé mới tập bơi ở trại dành cho con trai đã thông thạo động tác thở ra dưới nước, nổi úp mặt và ít nhất bơi được kiểu chó; nhiều đứa còn tiến xa hơn, đang ở giai đoạn đầu luyện bơi ngửa và trường sấp, vài đứa mới tập đã nhảy xuống nơi nước sâu và bơi được khoảng sáu mét đến chỗ nước nông của hồ. Anh có năm người phụ tá trong nhóm, và mặc dù họ có vẻ giỏi trông nom lũ con trai ở đủ mọi lứa tuổi cũng như dạy giáo trình bơi dưới sự coi sóc của anh, ngay từ ngày đầu tiên, Bucky vẫn tự mình tìm ra và đưa xuống nước rèn giũa thêm những đứa mà mấy phụ tá kín đáo gọi là "các bao cát", những cậu chàng ít tự tin nhất, học chậm nhất và những cậu chàng thiếu khả năng tự nổi trong nước. Anh đi dọc cầu tàu đến bến tắm nước sâu nơi một anh phụ trách đang dạy những cậu bé lớp lớn nhảy cầu; anh cũng dành thời gian cho lũ nhỏ đang vật lộn học bơi bướm; nhưng thường là anh sẽ quay về với những đứa nhỏ hơn rồi xuống nước với chúng, dạy chúng động tác vươn tay, quạt nước và đạp chân, lấy hai tay nâng chúng và nói vài lời rằng thầy ở ngay đây và chúng sẽ không gặp nguy hiểm khi bị sặc một mồm nước, chứ đừng nói đến việc bị chìm nghỉm một mình. Cuối ngày ở bến tắm, đúng y như khi anh bắt đầu ở Panzer hồi trước, không thể có công việc nào sung sướng hơn cho một người đàn ông là dạy một cậu bé một môn thể thao, cùng với những lời chỉ dẫn căn bản, sự an toàn và lòng tự tin rằng tất cả điều này là cần thiết và giúp bé vượt qua nỗi sợ trước điều mới mẻ, dù đó là bơi hay đấm bốc, bóng chày.
Một ngày đầy bận rộn với vô số thứ xảy đến. Trước bữa tối anh nhận nụ hôn mừng đón từ đôi môi ướt át của cặp sinh đôi, chúng đã chờ anh ở bậc thềm cổng vào nhà ăn và rú lên: "Thơm cái nào! Thơm cái nào!" khi anh xuất hiện trong tầm mắt, và sau bữa tối anh đã hứa với Donald Kaplow là sẽ chỉ cho cậu cách nhảy cầu. Rồi, lúc chín giờ ba mươi, đi ra đảo vắng với vợ chưa cưới. Nàng đã để một tin nhắn nữa trong phong bì ở phòng làm việc của ông Blomback. "Nữa nhé. Tìm em. M." Anh đã thu xếp với Carl nhờ cậu chở ra Stroudsburg lúc nào đó trong tuần để mua nhấn đính hôn cho Marcia.
Khoảng nửa tiếng sau bữa tối, khi đám con trai trong lán đang có hiệp đấu thử trò bóng mềm trên sân, anh và Donald đi xuống bến tắm để Donald biểu diễn kỹ thuật nhảy cầu ván cho Bucky xem. Donald khởi đầu với kiểu nhảy thuận [1], một cú nhảy ngược [2] và rồi một cú nhảy dao gấp thuận [3].
"Tốt lắm!" Bucky bảo cậu. "Tôi không hiểu sao cậu lại nghĩ có gì sai ở những động tác nhảy ấy."
Donald mỉm cười trước lời khen nhưng vẫn hỏi: "Chạy đà của em có đúng không? Động tác bật cao của em đúng chưa?"
"Cậu yên tâm, đúng rồi đấy," Bucky nói. "Cậu biết phải làm gì và cậu làm được. Cậu nhảy chân vuông kiểu mới. Đầu tiên phần thân trên cong vào còn chân giữ nguyên. Rồi phần thân dưới nâng lên trong khi đầu và tay giữ ổn định. Đúng trong từng động tác. Cậu có nhảy được kiểu lộn ngược không [4] ? Chúng ta cùng xem nào. Cẩn thận cái ván nhảy đấy."
Donald là một vận động viên nhảy cầu bẩm sinh và Bucky không thấy cậu ta mắc một lỗi nào trong cú nhảy lộn ngược đó. Sau cú nhảy, khi Donald nhô lên và đang gạt mớ tóc khỏi mắt, người còn ngâm dưới nước, Bucky gọi cậu ta: "Một cú xoay người mạnh mẽ và đẹp. Cậu có tư thế gập người ôm chân [5] đẹp và rất khít. Thời điểm, thăng bằng - mọi thứ đều tuyệt."
Donald leo lên cầu tàu, và khi Bucky ném cho cậu ta một cái khăn tắm, cậu liền lau khô người. "Ở đây có lạnh quá không?" Bucky hỏi "Cậu có lạnh không?"
"Không, không lạnh chút nào," Donald đáp.
Mặt trời vẫn chiếu rọi và bầu trời mênh mông vẫn xanh trong nhưng nhiệt độ đã hạ xuống gần đến mười độ kể từ lúc ăn tối. Thật khó tin là chỉ mấy ngày trước anh và lũ trẻ nơi sân chơi đã phải chịu đựng thời tiết oi bức mà chính nó ấp ủ mầm mống của trận dịch đang hủy diệt thành phố của anh và làm mọi người khiếp sợ. Anh choáng váng nhận ra rằng trên này hết thảy mọi thứ đã thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Giá như ở Newark nhiệt độ có thể hạ xuống thấp như ở đây và giữ ở mức này cho đến hết tháng Bảy và Tám!
"Cậu đang rét run cả người kìa," Bucky bảo. "Mai cũng giờ này hai ta sẽ tiếp tục nhé. Thế được không?"
"Nhưng làm ơn để em tập động tác nhảy lộn xuôi [6] bây giờ đã nhé. Em sẽ nhảy kiểu đó từ cuối cầu nhảy," Donald nói, và cậu ta đứng vào vị trí, hai tay giơ ra trước, khuỷu tay cố định, hơi khuỵu chân. "Đây không phải kiểu nhảy em thạo nhất," cậu nói.
"Hãy tập trung," Bucky hướng dẫn. "Giơ tay lên rồi gập người lại và ôm chặt lấy chân."
Donald đã sẵn sàng, quay mặt ra phía hồ và cậu bật cao, lộn người trên không, và rơi xuống với chân xuống trước, làm nên một cú tiếp nước thẳng đứng kinh điển.
"Em nhảy có sai không?" Donald hỏi ngay khi vừa trồi lên mặt nước. Cậu phải lấy tay che nắng chiều và ánh chói lóa lấp loáng của nó đi qua mặt nước để nhìn Bucky rõ hơn.
"Không," Bucky nói. "Có một giây lát hai tay cậu buông khỏi hai chân, nhưng điều ấy không quan trọng mấy." "Thế ạ? Để em nhảy lại lần nữa," cậu vừa nói vừa bơi sải về phía cầu thang. "Để em làm cho đúng các động tác." "Được, nhà vô địch ạ," Bucky vừa nói vừa cười và gắn cho Donald cái biệt danh mà anh đã được gán hồi còn là một thằng nhóc đường phố có cặp tai nhọn, trước khi ông ngoại bước vào cuộc sống của anh rồi đổi tên cho anh theo nghĩa tốt đẹp. "Một cú nhảy lộn xuôi cuối cùng rồi chúng ta vào thôi."
Lần này, từ lúc bước chân lên ván nhảy, Donald bắt đầu lấy đà như thường lệ, giậm nhảy và hoàn thành củ nhảy một cách thành thạo. Hai bàn tay cậu dịch chuyển từ cẳng chân lên đến hai bên đầu gối rồi đến hai bên bắp đùi một cách hoàn hảo.
"Tuyệt!" Bucky nói khi cậu nổi lên mặt nước. "Độ cao tuyệt hảo, động tác lộn người xuất sắc. Chính xác và đầy thuyết phục từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc. Tất cả những lỗi mà cậu nói mình phạm phải đâu? Cậu không mắc phải bất cứ một lỗi nào hết."
"Thầy Cantor," Donald phấn khích nói trong lúc trèo trở lại bến, "để em biểu diễn cho thầy xem động tác xoắn nửa người [7] và dao gấp ngược [8] rồi mình hẵng về. Để em hoàn thành chuỗi các động tác ấy đi thầy. Em không lạnh đâu, thật đấy."
"Nhưng tôi thì lạnh," Bucky vừa nói vừa cười, "mà người tôi đã khô và tôi đã mặc áo vào rồi đấy nhé."
"Ôi trời," Donald đáp trả, "đẩy là sự khác biệt giữa tuổi mười bảy và hai mươi tư."
"Hai mươi ba," Bucky nói, lại cười phá lên, thật không thể hài lòng hơn thế này - hài lòng với Donald và tính bền bỉ của cậu và tràn đầy mãn nguyện khi biết rằng Marcia và hai cô em sinh đôi chỉ ở cách đó vài bước chân. Điều ấy gần như thể họ đã là một gia đình. Như thể Donald, chỉ nhỏ hơn anh sáu tuổi, là con trai của anh và Marcia, có vẻ phi lý quá, Donald mà lại là cháu trai của cặp sinh đôi kia. "Này," anh nói, "nhiệt độ đang hạ từng phút. Chúng ta còn có cả mấy tháng hè trước mặt để luyện tập ở đây cơ mà." Và anh quẳng cho Donald cái áo lạnh dài tay để mặc và cẩn thận, anh bắt cậu quấn khăn ngang thân người ướt nhẹp của cậu.
Chậm chạp leo lên dốc về lán, Donald nói: "Em muốn gia nhập không lực của hải quân lúc được mười tám tuổi. Bạn thân của em đã vào đó từ một năm trước rồi. Chúng em viết thư cho nhau suốt. Nó kể em nghe về việc huấn luyện. Gian khổ lắm. Nhưng em muốn ra chiến trường trước khi chiến tranh kết thúc. Em muốn bay chiến đấu với bọn Nhật. Em đã muốn làm thế kể từ sau trận Trân Châu Cảng. Chiến tranh bùng nổ khi em mười bốn tuổi, đủ lớn để biết chuyện gì đang diễn ra và để muốn làm gì đó có ích. Em muốn ở trong quân ngũ khi bọn Nhật đầu hàng. Ngày ấy mới tuyệt làm sao."
"Tôi hy vọng cậu sẽ có cơ hội ấy," Bucky bảo.
"Điều gi khiến thầy không ở trong quân ngũ thế, thầy Cantor?"
"Thị lực của tôi. Cái này này." Anh gõ gõ móng tay vào mắt kính. "Tôi có hai người bạn thân đang chiến đấu ở Pháp. Họ nhảy dù xuống bãi biển Normandy vào ngày D. Tôi ước gì mình có thể ở đó cùng với họ."
"Em theo dõi chiến sự trên Thái Bình Dương," Donald nói. "Trận chiến ở châu Âu bây giờ diễn biến nhanh lắm. Đây là khởi đầu ngày tàn của bọn Đức. Nhưng ở Thái Bình Dương, vẫn còn nhiều trận phải chiến đấu. Tháng trước, ở quần đảo Mariana, chúng ta đã phá hủy một trăm bốn mươi máy bay Nhật trong hai ngày. Thử hình dung được ở đấy trong hai ngày đó mà xem."
"Còn rất nhiều trận đánh ở cả hai mặt trận," Bucky nói với cậu. "Cậu sẽ không bị lỡ dịp đâu."
Khi họ leo lên đến các bậc thang dẫn đến khu lán Comanche, Donald hỏi: "Thầy có thể xem những động tác nhảy cầu còn lại vào tối mai, sau bữa tối, được không ạ?"
"Chắc chắn là được chứ."
"Cảm ơn thầy Cantor đã dành cho em suốt ngần ấy thời gian."
Và trên hàng hiên của lán, Donald hơi ngập ngừng chìa tay ra bắt tay anh - một nghi thức trang trọng hơi bất ngờ với mục đích bày tỏ sự biết ơn. Mới có một buổi ở cầu nhảy mà anh và cậu ta đã như những người bạn lâu năm, mặc dù trong lúc đứng đó cùng Donald vào cuối một ngày mùa hè tuyệt đẹp, trong Bucky vẫn nhoi nhói nghĩ về tất cả những cậu bé mà anh đã bỏ rơi ở sân chơi. Dù đã cố gắng để cảm thấy hân hoan trước mọi thứ nơi đây, anh vẫn chưa thể chiến thắng hoàn toàn mặc cảm về hành động không thể tha thứ của mình là buông bỏ cái nơi mà anh không còn được kính trọng nữa.
❀ ❀ ❀
[1] . Nguyên văn: Front dive. Tư thế nhảy cầu mà người nhảy đứng ở mép ván, hướng mặt về phía nước và nhảy xuống.
[2] . Nguyên văn: Back dive. Tư thế mà người nhảy đứng ở mép ván, quay lưng lại phía nước, bật lên và nhảy xuống.
[3] . Nguyên văn: Front jackknife. Người nhảy chạy đà tới mép cầu, bật cao, ở trên không giữ cho chân vuông góc với thân hoặc hai tay ôm gối sát vào thân.
[4] . Nguyên văn: Back somersault. Người nhảy quay lưng lại mặt nước. Bật cao, xoay người trên không và tiếp nước.
[5] . Nguyên văn: Tuck. Tư thế lộn người trên không với chân co lại và được hai tay vòng ôm chật.
[6] . Nguyên văn: Forward somersault. Người nhảy hướng mặt về phía hồ, bật cao, xoay người trên không trước khi tiếp nước.
[7] . Nguyên văn: Half twist. Khi ở trên không thân người của vận động viên xoay 90° so với phương khi đứng trên cầu.
[8] . Nguyên văn: Back jackknife. Là động tác lao xuống nước trong tư thế cong người ở phần hông, chân duỗi thẳng.