Báo Ứng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

TRONG KHOẢNG THỜI GIAN từ lúc chia tay Donald đến khi sửa soạn đi gặp Marcia, anh tới trạm điện thoại phía sau văn phòng khu trại để gọi cho bà. Có lẽ anh sẽ không nói chuyện được với bà vì hẳn bà đang ngồi trong chiếc ghế bành rộng ở ngoài trời nói chuyện với nhà Einneman và nhà Fisher, song ngẫu nhiên sao dù được dự báo rằng trời sẽ nóng trở lại vào ngày hôm sau, thành phố cũng đã trở mát trong suốt hai mươi tư giờ nên giờ bà có thể ngồi trong căn hộ của gia đình để nghe chương trình ưa thích trên đài phát thanh với các cửa sổ mở rộng và chiếc quạt điện chạy vù vù. Bà hỏi anh khỏe không, Marcia cùng cặp sinh đôi thế nào, và khi anh báo với bà rằng mình và Marcia chuẩn bị đính hôn, bà bảo: "Bà không biết nên cười hay khóc, Eugene của bà ạ."

"Cười chứ bà," anh nói, phá lên cười.

"Ừ, bà hạnh phúc thay cho cháu, cháu yêu," bà bảo, "nhưng bà ước gì mẹ cháu còn sống để nhìn thấy điều này. Bà chỉ ước là nó còn sống để thấy cậu con trai mình đã nên người ra sao. Bà ước gì ông cũng ở đây. Ông sẽ vui mừng xiết bao vì chàng trai của ông. Thật đáng tự hào, ái nữ của bác sĩ Steinberg cơ đấy."

"Cháu ước gì ông cũng có mặt, bà ngoại ạ. Ở đây cháu vẫn nghĩ về ông," Bucky nói. "Hôm qua cháu đã nghĩ đến ông trong lúc lao từ cầu nhảy mức cao xuống. Cháu nhớ ông đã dạy cháu bơi như thế nào ở Y [1]. Lúc ấy cháu khoảng sáu tuổi. Ông ném cháu xuống bể và thế là dạy bơi đấy. Bà khỏe không bà? Nhà Einneman trông nom cho bà có tốt không?"

"Tất nhiên là tốt. Cháu đừng lo về bà. Nhà Einneman rất nhiệt tình, và bà dù sao cũng có thể tự lo liệu được. Eugene, bà phải nói chuyện này với cháu. Có thêm mười ba ca bại liệt mới ở khu Weequahic. Bảy mươi chín trên toàn thành phố chỉ trong ngày hôm qua. Mười chín chết. Báo cáo tổng hợp. Và có thêm ca mắc bại liệt mới ở sân chơi Chancellor. Selma Shankman điện thoại cho bà. Cô ấy báo tên mấy thằng bé và bà đã ghi lại."

"Đứa nào thế bà?"

"Để bà đi lấy kính. Để bà đi lấy tờ giấy ấy đã," bà đáp. Mấy người phụ trách đang xếp hàng bên ngoài trạm điện thoại để chờ được gọi điện, và anh ra dấu cho họ qua tấm kính rằng anh sẽ chỉ nói vài phút nữa thôi. Cũng trong khi ấy, anh chờ đợi để nghe những cái tên mà lòng lo lắng. Sao trẻ lại bị liệt, anh thầm nghĩ. Sao một căn bệnh lại khiến lũ nhỏ tàn tật? Sao lại hủy hoại những đứa trẻ không ai thay thế nổi? Chúng là những đứa bé tuyệt vời nhất trên đời. "Eugene ơi?"

"Dạ cháu đây."

"Rồi. Tên đây. Mấy thằng bé phải vào viện. Billy Schizer và Erwin Frankel. Và một đứa chết."

"Đứa nào chết ạ?"

"Một cậu bé tên là Ronald Graubard. Nó bị ốm và chết chỉ trong một đêm. Cháu biết nó chứ?"

"Cháu biết, bà ạ, vâng. Cháu biết nó ở sân chơi và ở trường. Cháu biết tất cả đám chúng nó. Ronnie đã chết. Cháu không sao tin nổi."

"Bà tiếc là phải nói cho cháu biết," bà ngoại anh nói, "nhưng bà nghĩ, bởi vì cháu đã gần gũi với tất cả những cậu bé ấy, cháu sẽ muốn biết tin."

"Bà nói phải ạ. Tất nhiên là cháu muốn được biết." "Trong thành phố có những người đang kêu gọi cách ly khu Weequahic. Văn phòng ông thị trưởng có bài nói chuyện về một lệnh cách ly," bà bảo anh.

"Một lệnh cách ly toàn bộ khu Weequahic hả bà?"

"Ừ. Đặt rào chắn để không ai có thể đi vào hay ra. Họ sẽ cấm tuyến xe buýt Irvington và Hillside và rồi chặn ở đại lộ Hawthorne và ở đại lộ Elizabeth. Trên báo tối nay đã đăng thế. Họ thậm chí còn in cả một cái bản đồ." "Nhưng ở đó cả hàng chục ngàn người, những người đang có công ăn việc làm và phải đi đến nơi làm việc. Họ không thể nhốt mọi người lại như thế chứ phải không ạ?" "Tình hình tệ lắm rồi Eugene. Mọi người phẫn nộ lắm. Người ta hoảng loạn. Tất cả đều lo sợ cho lũ trẻ của họ. Tạ ơn Chúa là cháu đang ở xa. Các tài xế xe buýt tuyến số tám và số mười bốn tuyên bố rằng họ sẽ không lái xe vào khu Weequahic cho tới khi phát cho họ mặt nạ bảo vệ. Vài người còn nói dù có thế nào họ cũng sẽ không lái vào. Bưu chính không muốn phát thư đến đấy. Những người lái xe tải chở hàng tới các cửa hiệu, các quầy tạp hóa, tới các cây xăng, và những nơi khác cũng không muốn vào. Người lạ lái xe qua thì kéo hết cửa kính xe lên mặc cho trời bên ngoài có nóng ra sao đi nữa. Những kẻ bài Do Thái thì nói là bởi người Do Thái mà bại liệt lan rộng ở đó. Bởi tất cả người Do Thái - nên Weequahic trở thành trung tâm của chứng liệt bại và bởi thế người Do Thái phải bị cách ly. Có kẻ nói như thể họ nghĩ rằng cách tốt nhất để tiêu diệt dịch bại liệt là đốt bỏ Weequahic cùng tất cả người Do Thái bên trong. Có vô số sự bất mãn xuất phát từ những thứ điên khùng mà người ta đang nói ra khi sợ hãi... Bởi lòng sợ hãi và nỗi hận thù của họ. Bà sinh ra ở thành phố này, và cả đời bà chưa từng thấy chuyện như thế bao giờ. Cứ như thể mọi thứ, mọi nơi đang sụp đổ vậy."

"Dạ vâng, chuyện tệ hại quá," anh nói, bỏ nốt đồng xu cuối cùng vào máy.

"Này Eugene, ôi - bà suýt quên mất. Họ sẽ đóng cửa các sân chơi. Vào ngày mai. Không chỉ Chancellor mà tất cả trên toàn thành phố."

"Họ ạ? Nhưng ông thị trưởng đã được tham vấn là duy trì mở cửa mà."

"Báo tối nay nói thế. Tất cả các điểm tập trung trẻ em sẽ phải đóng cửa. Nó đang ở ngay trước mặt bà đây. Các rạp chiếu phim sẽ cấm trẻ em dưới mười sáu tuổi. Bể bơi thành phố cũng sẽ đóng cửa. Các mục sư sẽ đóng cửa lớp học giáo lý. Báo nói vậy đấy. Các trường học có lẽ sẽ không khai giảng đúng ngày nếu tình hình cứ thế này. Bà đọc cho cháu nghe đoạn mở đầu nhé: ‘Có khả năng rằng các trường công

"Nhưng mà báo có nói cụ thể gì về các sân chơi không hả bà?"

"Không. Chỉ có một danh sách những nơi ông thị trưởng sẽ cho đóng cửa."

Vậy là nếu anh ở lại Newark thêm vài ngày nữa, anh sẽ không bao giờ phải bỏ việc. Thay vào đó anh sẽ được cho nghỉ, tùy ý làm những gì mình muốn và đi đến những nơi mình thích. Giá như ở lại, anh sẽ không bao giờ phải điện thoại cho O’Ga-ra và phải lãnh những lời nặng nề của ông ta. Giá như ở lại, anh sẽ không bao giờ phải bỏ lũ trẻ mà đi, không phải ngoái lại và dằn vặt về hành vi không thể bào chữa được của mình.

"Đây. Nhan đề đây. "Số liệu các ca bại liệt trong ngày trên toàn thành phố. Thị trưởng đóng cửa các địa điểm.’ Liệu bà có phải gửi cháu bài này không? Bà cắt nó ra nhé?" "Thôi, thôi. Bà ơi, có mấy người phụ trách đang phải đợi để gọi điện, với lại cháu không còn tiền xu nữa rồi. Cháu phải đi đây. Tạm biệt bà nhé."

MARCIA ĐANG ĐỢI anh cạnh lối vào nhà ăn, cả hai đều mặc áo len dày hòng chống chọi với cái lạnh bất thường, và cùng nhau, họ lẻn xuống bến tắm, lấy thuyền và khởi hành băng ngang hồ, xuyên qua lớp sương mù đang dâng cao, âm thanh duy nhất vang lên trong không gian tĩnh mịch ấy là tiếng oàm oạp mỗi khi mái chèo nhúng xuống nước. Đến đảo, họ chèo men tới rìa bên kia, kéo lê xuồng lên bờ. Marcia đã mang theo một cái chăn. Anh phụ nàng rũ nó ra và trải xuống khoảng đất trống.

"Có chuyện gì thế anh?" Nàng hỏi. "Chuyện nghiêm trọng hả?"

"Bà ngoại vừa báo tin cho anh. Sau một đêm, có bảy mươi chín ca bệnh mới ở Newark, ba mươi ở Weequahic, ba ở sân chơi. Hai ca nhập viện và một ca tử vong. Ronnie Graubard. Một cậu bé nhanh nhẹn, nhỏ người, sáng sủa, rất sắc sảo, nó đã chết."

Marcia nắm tay anh. "Em không biết phải nói sao, Bucky. Thật là khủng khiếp."

Anh ngồi xuống tấm chăn và nàng ngồi cạnh anh. "Anh cũng không biết phải nói gì," anh nói với nàng.

"Giờ chẳng phải lúc đóng cửa sân chơi sao?" Nàng hỏi. "ừ. Họ đã đóng cửa nó rồi. Họ đã đóng cửa tất cả các sân chơi."

"Khi nào thế?"

"Kể từ ngày mai. Ông thị trưởng sẽ cho đóng cửa hết, bà anh bảo thế."

"Ôi, đấy không phải là việc tốt nhất cần phải làm sao? Lẽ ra ông ấy phải làm như thế từ lâu rồi."

"Lẽ ra anh phải ở lại đó, Marcia. Cho tới khi nào sân chơi còn mở cửa, lẽ ra anh không nên rời đi."

"Nhưng nó chỉ mở thêm có một ngày sau khi anh tới đây mà."

"Anh bỏ đi. Chẳng nói được gì nữa. Sự thật là sự thật. Anh đã bỏ đi."

Anh kéo nàng sát lại phía mình. "Đây," anh nói. "Nằm đây với anh," rồi anh siết chặt cơ thể nàng vào người mình. Họ ôm nhau, không nói lời nào. Anh không biết hay không nghĩ ra được chuyện gì để nói nữa. Anh đã bỏ đi trong khi tất cả những cậu bé của anh ở lại và giờ đây có thêm hai đứa trẻ nữa bị ốm và một đứa chết.

"Anh đã thường xuyên nghĩ tới chuyện này kể từ lúc anh tới đây phải không? Việc anh bỏ đi ấy?"

"Nếu ở Newark, anh sẽ tới dự đám tang của Ronnie. Nếu ở Newark, anh sẽ tới thăm gia đình cậu bé. Nhưng anh lại đang ở đây."

"Anh vẫn có thể tới thăm họ khi anh quay về mà." "Không giống nhau."

"Nhưng cho dù có ở lại đi nữa thì anh có thể làm được gì chứ?"

"Vấn đề không phải ở chỗ làm gì - mà là phải có mặt ở đó! Lẽ ra lúc này anh nên ở đó, Marcia! Thế mà anh lại đang ở trên đỉnh núi, ở giữa hồ!"

Họ ôm nhau và im lặng. Phải cỡ mười lăm phút đã trôi qua. Tất cả những gì Bucky có thể nghĩ tới chỉ là tên của đám trẻ, tất cả những gì anh có thể trông thấy là khuôn mặt của chúng: Billy Schizer. Ronald Graubard. Danny Kopferman. Myron Kopferman. Alan Michaels. Erwin Frankel. Herbie Steinmark. Leo Feinswog. Paul Lippman. Arnie Mesnikoff. Tất cả những gì anh có thể nghĩ tới chỉ là cuộc chiến ở Newark và những cậu bé mà anh đã bỏ rơi.

Phải mất mười lăm phút nữa trôi qua, họ vẫn không nói lời nào. Marcia phá vỡ sự im lặng, nàng khẽ khàng nói với anh. "Những vì sao thật ấn tượng. Anh không bao giờ nhìn thấy những vì sao như thế này ở nhà đâu. Em dám cá đây là lần đầu tiên anh mới thấy một bầu trời đêm đầy sao như thế này."

Anh lặng thinh.

"Nhìn kìa," nàng nói, "khi những cái lá lay động, ánh sao sẽ lọt qua vòm cây. Và mặt trời," ngưng một chút, nàng nói tiếp, "hồi chập tối, anh có trông thấy mặt trời lúc bắt đầu lặn không? Dường như nó ở rất gần với khu trại. Như một cái chiêng và anh có thể vươn người, đập tay được vào nó. Tất cả ở trên đấy thật là rộng lớn," nàng nói, vẫn tiếp tục một cách vô hiệu, gắng giúp anh thoát khỏi những cảm giác không đáng có, "và chúng ta thì bé nhỏ." Phải rồi, anh nghĩ, và có thứ còn bé nhỏ hơn chúng ta. Loài vi-rút hủy hoại mọi thứ.

"Nghe kìa anh," Marcia nói. "Suỵt, anh nghe thấy không?" Có một buổi sinh hoạt tại sảnh giải trí hồi đầu giờ tối, các trại viên ở lại để dọn dẹp chắc đã đặt một đĩa nhạc vào máy quay đĩa cho có bầu có bạn trong lúc chúng thu gom các vỏ chai sô-đa và quét nhà, những đứa trẻ còn lại cùng với người phụ trách của mình đã trở về lán sửa soạn đi ngủ. Vọng qua mặt hồ tối đen tĩnh lặng là bản nhạc mùa hè yêu thích của Marcia. Đó là bài hát phát ra từ máy hát tự động trong quán Syd’s vào cái ngày Bucky tới nhà Alan chia buồn, cũng là ngày anh được anh chàng phục vụ quầy Yushy cho biết tin Herbie đã chết.

"Rồi em sẽ gặp lại anh," Marcia dịu dàng hát anh nghe, "ở tất cả những nơi chốn quen thuộc ngày xưa Và nàng nhỏm dậy, lôi anh đứng lên cùng với mình, kiên quyết không để cho tinh thần của anh suy sụp thêm nữa - và không biết phải làm gì khác - nàng kéo anh vào các bước nhảy.

"Đó là điều mà trái tim em ôm ấp, " nàng hát, má kề sát ngực anh, "suốt ngày dài..." Và giọng nàng vang lên một cách quyến rũ lúc ngân từ "dài."

Làm theo ý nàng, anh âu yếm ôm nàng trong vòng tay và dìu đi chầm chậm theo nhạc quanh khoảng rừng trống họ đã tạo ra cho riêng mình, anh nhớ tới cái đêm trước ngày nàng lên đường tới Indian Hill hồi cuối tháng Sáu, đêm ấy họ đã nhảy cùng nhau giống như thế này theo tiếng nhạc phát ra từ ra-đi-ô nơi phòng phụ nhà nàng. Đêm đó họ chỉ quan tâm đến việc Marcia sẽ phải đi xa suốt cả mùa hè.

"Trong quán cà-phê nhỏ ấy, " nàng hát, giọng nàng mỏng và khẽ, "vườn hoa bên kia đường..."

Ở trên đảo, giữa khu rừng nhỏ toàn thân phong nghiêng ngả, như Marcia đã giải thích, chúng như vậy do phải hứng chịu thời tiết mùa đông khắc nghiệt ở vùng núi Pocono, hai người họ ôm chặt nhau bằng những cánh tay không bị liệt, cùng nhau lắc lư theo điệu nhạc trên những đôi chân không bị liệt, áp sát hai thân người không bại liệt với nhau và lúc này họ chỉ có thể nghe loáng thoáng lời bài hát - "... tất cả mọi thứ đều sáng ngời và rực rỡ... nghĩ tới anh... khi đêm mới tới... sẽ gặp lại anh" - trước khi tiếng hát im bặt. Có ai đó bên kia hồ đã nhấc cần máy quay đĩa lên rồi tắt máy, các bóng đèn trong sảnh giải trí đồng loạt tắt và họ nghe thấy tiếng đám trẻ chào nhau: "Ngủ ngon! Ngủ ngon nhé!" Và rồi ánh đèn pin nhấp nhoáng, từ sàn khiêu vũ trên đảo, anh và Marcia trông thấy ánh đèn lập lòe đây đó khi mỗi đứa trẻ - an toàn, khỏe mạnh, không sợ hãi, không thương tật - theo lối mòn trở về các căn lán.

"Chúng ta có nhau," Marcia thì thầm, tháo cặp kính của anh ra và hôn tới tấp lên khuôn mặt anh. "Cho dù có chuyện gì xảy ra trên đời này đi nữa, chúng ta vẫn có được tình yêu của nhau. Bucky, em hứa, em sẽ luôn hát cho anh nghe, yêu thương anh và dù có chuyện gì đi nữa, em sẽ luôn ở bên cạnh anh."

"ừ," anh nói với nàng, "chúng ta vẫn có được tình yêu của nhau." Nhưng điều ấy có tạo nên khác biệt gì, anh nghĩ, với Billy, Erwin và Ronnie? Điều ấy có tạo nên khác biệt gì với gia đình của chúng? Ôm hôn và nhảy như những thiếu niên tương tư, phớt lờ mọi chuyện - điều ấy có thể làm được gì cho ai không?

VỀ TỚI LÁN CỦA MÌNH - tất cả đang ngủ như chết sau một ngày dài hoạt động - anh thấy một mẩu giấy của Donald trên giường, ghi: "Gọi cho bà." Điện thoại cho bà? Nhưng anh vừa nói chuyện với bà có mấy tiếng đồng hồ trước mà. Anh vội vã ra cửa và chạy xuống trạm điện thoại, lòng tự hỏi không rõ có chuyện gì với bà và thầm nghĩ lẽ ra anh không bao giờ được bỏ bà lại một mình để đến khu trại. Tất nhiên là bà không thể tự lo cho mình, bà hay tức ngực mỗi khi cố mang đồ lên cầu thang. Anh đã bỏ bà lại một thân một mình và giờ có chuyện gì đó đã xảy đến.

"Bà ơi, cháu Eugene đây. Có chuyện gì thế? Bà có khỏe không ạ?"

"Bà khỏe. Có tin mới. Nên bà phải gọi đến trại. Bà không muốn báo cho cháu, nhưng bà nghĩ cháu muốn biết ngay tức thì. Không phải tin vui đâu, Eugene. Nếu không bà đã không gọi điện thoại đường dài như thế. Thật là tai họa. Bà Garozik vừa điện thoại báo từ thành phố Elizabeth vài phút trước. Muốn nói chuyện với cháu."

"Jake," Bucky nói.

"ừ," bà nói. "Jake chết rồi."

"Sao? Thế là thế nào?"

"Trong khi làm nhiệm vụ ở Pháp."

"Cháu không tin. Nó là đứa không thể chết. Nó vững chãi như thành đồng. Nó cao một mét chín mươi và nặng cả tạ. Nó tràn trề sinh lực. Nó không thể chết được!" "Tiếc rằng đó lại là sự thật, cháu yêu. Mẹ nó nói nó bị giết trong khi chiến đấu. Ở một thị trấn giờ bà cũng không nhớ tên. Lẽ ra bà phải viết ra. Eileen đang ở đó với gia đình." Bà nhắc đến Eileen một lần nữa khiến anh choáng váng. Jake đã gặp Eileen McCurdy ở trường trung học, và cô trở thành người yêu Jake trong suốt những năm cậu ta học ở Panzer. Cặp này sẽ làm đám cưới và định cư ở Elizabeth ngay khi cậu giải ngũ trở về.

"Thằng bé to cao và với tư cách tốt nhường ấy," bà anh vẫn đang nói. "Jake là một trong những cậu bé khá nhất mà cháu kết bạn. Giờ bà có thể nhìn thấy nó, đang ngồi ăn ở ngay trong cái bếp này buổi đầu tiên cháu đưa nó về nhà ta ăn tối. Có cả Dave nữa. Jake nó lúc ấy đòi ăn ‘Món Do Thái.’ Nó đã ăn mười sáu cái bánh khoai tây rán." "Nó thế đấy. Vâng, cháu còn nhớ mà. Và mấy bà cháu mình cười vui, tất cả chúng ta cười sảng khoái." Lúc này nước mắt đang ròng ròng trên khuôn mặt Bucky. "Dù gì thì Dave cũng còn sống. Dave Jacob còn sống."

"Bà cũng không thể nói chắc, cháu yêu. Không sao biết chắc chắn được. Bà cũng cho là thế. Bà mong là thế. Bà chưa nghe thấy gì nữa. Nhưng theo tin tức tối nay, chiến sự ở Pháp không thuận lợi. Đài nói có rất nhiều người chết. Đánh nhau với quân Đức ác liệt ghê lắm. Nhiều người chết và nhiều người bị thương."

"Cháu không thể mất cả hai thằng bạn được," Bucky yếu ớt đáp, và sau khi treo máy, anh không về lán mà đi xuống bến tắm. Ở đó, dù có đợt không khí lạnh mới tràn về, anh vẫn ngồi trên cầu nhảy, nhìn đăm đăm vào khoảng tối, thầm lặp đi lặp lại những biệt hiệu danh tiếng của Jake trên trang thể thao của báo trường - Võ sĩ Jake, Jake Lớn, Jake miền núi... Không thể hình dung Jake chết, anh bèn tưởng tượng bản thân mình chết, cách này chả giúp được gì, dẫu sao cũng khiến anh thôi khóc.

Khoảng nửa đêm, anh quay xuống cầu tàu, nhưng thay vì lên đồi về khu lán, anh quay ngược lại và một lần nữa theo lối đi lát gỗ tới cầu nhảy. Anh cứ tiếp tục bước như vậy cho tới khi ánh hừng đông bắt đầu rọi chiếu mặt hồ, và anh nhớ vào lúc tờ mờ sáng giống thế này, một người thân đã qua đời khác của anh, ông ngoại, sẽ thường uống một tách trà nóng - mùa đông thì pha thêm một chút rượu schnapps - trước khi đi chợ Phố Mulbery mua hàng hóa cho ngày hôm đó. Khi được nghỉ học, thỉnh thoảng Bucky cũng đi cùng ông.

Anh vẫn phải cố sức kìm nén để quay trở lại lán trước khi có người thức dậy, trước lúc lũ chim trên cây bắt đầu cất tiếng hót. Bình minh đã lên trên khu trại Indian Hill. Chẳng mấy chốc nơi đó sẽ rì rầm những giọng nói non nớt vọng ra từ các căn lán và rồi tiếng la hét vui tươi sẽ cất lên.

MỖI TUẦN một lần, Đêm hội da đỏ được tổ chức tách riêng cho trại nam và trại nữ. Vào lúc tám giờ tối, tất cả các cậu bé cùng tới khu đất rộng thoáng đãng cao hơn mặt hồ và ngồi thành một vòng tròn quanh đống lửa trại, ở ngay tâm vòng tròn là một cái hõm đất được lát bằng những viên đá phẳng. Những khúc gỗ được xếp thành các lớp ngang rồi dọc xen kẽ theo kiểu lán-gỗ [2], càng lên trên càng nhỏ dần, thành một đống gỗ cao khoảng gần một mét tính từ hai khúc gỗ lớn và nặng ở dưới cùng. Chắn quanh là một vòng các hòn cuội nhỏ đủ kiểu. Cách rào chắn bằng đá cuội này chừng hai mét rưỡi đến ba mét là những băng ghế dành cho trại viên xếp thành hình tròn. Đó là những khúc gỗ bổ đôi, được gác lên các bệ đá, mặt phẳng hướng lên trên, tạo thành bốn vòng tròn đồng tâm và chia ra ba khu vực. Dãy ghế cuối cùng cách bìa rừng khoảng sáu mét. Ông Blomback gọi cách sắp xếp ấy là Vòng tròn bộ tộc và buổi họp mặt hằng tuần ở khu đất đó là Đại hội bộ tộc.

Ở rìa Vòng tròn bộ tộc là một cái lều nón rộng hơn và được trang trí công phu hơn so với cái lều dựng tại lối vào khu trại. Đó là Lều bộ tộc, giăng trên đỉnh là những dải băng màu đỏ, xanh lá cây, vàng, xanh sẫm, đen, tất cả các dải băng ấy đều có đường viền phía dưới là hai màu đỏ và đen. Còn có một cây cột tổ, đỉnh được khắc chạm đầu một con đại bàng và phía dưới, nhô ra hai cánh chim dang rộng, cứng chắc. Đen, trắng và đỏ là ba sắc màu chủ đạo của cây cột tổ, trong đó trắng và đỏ là hai màu tượng trưng cho hai phe thường thi đấu đối kháng ở trại. Cây cột tổ cao khoảng bốn mét rưỡi, bất cứ ai ở dưới thuyền trên mặt hồ ngẩng đầu lên đều có thể trông thấy, ở hướng tây, bên kia hồ, nơi những cô bé đang tổ chức Đêm da đỏ của trại mình, mặt trời bắt đầu lặn và Đại hội bộ tộc sẽ kết thúc đúng vào lúc bóng đêm bao trùm tất cả khu trại. Chỉ còn nghe loáng thoáng tiếng lách cách dọn dẹp bếp sau bữa tối vọng ra từ nhà ăn, lúc này dưới đáy hồ là màn trình diễn sắc màu của bầu trời, một khối nham thạch hòa quyện màu vàng sẫm và hồng nhạt với màu đỏ thẫm như máu, báo hiệu một ngày đang dần kết thúc. Một buổi chiều mùa hè đa sắc màu đang trôi chầm chậm trên Indian Hill, một món quà hấp dẫn của vị thần đường chân trời, nếu quả có một vị thần như thế trong đền thờ của người da đỏ.

Các cậu bé và những người phụ trách chúng - tối ấy ai cũng là một "chiến binh da đỏ" - đến dự Đại hội bộ tộc trong những bộ trang phục hầu hết được làm thủ công. Ai cũng buộc một dải băng có đính hạt trên đầu, mặc quần áo dài có rua kiểu người da đỏ - thực ra, áo là áo sơ-mi, quần là quần bó được đính thêm tua rua dọc theo hai đường may bên ngoài, và đi giày đanh của thổ dân, một vài đôi được cắt từ da thuộc trong các cửa hàng đồ thủ công và phần lớn là giày da mềm được gắn hạt và đính rua nơi mắt cá chân như giày đanh. Rất nhiều cậu bé gắn lông chim - nhổ từ bộ lông chim chúng tìm thấy trong rừng - trên dải băng đeo quanh đầu, có một số đứa buộc quanh bắp tay mình, phía trên khuỷu tay khoảng dăm phân, dải băng có đính hạt và nhiều đứa mang theo những mái chèo có sơn các biểu tượng bằng ba màu đỏ, đen và trắng như trên cây cột tổ. Những đứa khác quàng cung trên vai - những cái cung không có tên - mượn từ lều cung nỏ, và một vài đứa mang theo những cái trống mô phỏng kiểu trống của thổ dân, mặt trống được căng bằng da dê và dùi trống được gắn hạt thủ công chỗ tay cầm. Có vài ba đứa thì cầm lục lạc trong tay, đó là những ống bơ đựng bột nở làm bánh bỏ đầy đá cuội bên trong. Mấy cậu bé trại viên nhỏ tuổi nhất lấy chăn quấn quanh người giả làm váy người da đỏ, sẵn tiện giúp cho chúng được ấm khi nhiệt độ hạ lúc trời về tối.

Bộ trang phục thổ dân da đỏ của Bucky được giáo viên phụ trách đồ thủ công giúp gom góp mà thành. Cũng giống như mọi người, anh lấy bột ca cao trét lên mặt cho làn da thẫm lại giống màu da người da đỏ, và trên hai má anh vẽ hai vạch chéo khác màu nhau - "mặt nạ chiến đấu" - một bên màu đen vẽ bằng than và bên kia màu đỏ vẽ bằng son môi. Anh ngồi cạnh Donald Kaplow, còn các cậu bé khác trong lán Comanche thì ngồi dọc theo trên những ghế băng xa hơn. Ở chỗ nào cũng như chỗ nào, các cậu bé nói chuyện ồn ào và đùa giỡn cho tới khi có hai trại viên từ dưới hàng ghế mang theo hai cái trống da dê bước đến chỗ vòng đá cuội bao quanh đống gỗ lửa trại, hai cậu đứng đối diện nhau, bắt đầu trịnh trọng đập mạnh vào mặt trống trong khi những ai mang lục lạc thì lắc, mỗi người một nhịp điệu, không ai giống ai.

Rồi tất cả xoay người nhìn về phía chiếc lều nón. Từ trong ô cửa ô-van, ông Blomback bước ra, đầu đội một cái mũ thổ dân gắn đầy những cọng lông chim màu trắng có chỏm nâu, đuôi mũ ở phía sau dài xuống tận dưới thắt lưng. Áo dài quần bó ông mặc, và ngay cả đôi giày đanh ông mang đều được trang sức một cách tỉ mỉ kỹ lưỡng bằng những tua rua da dê, những dải băng đính hạt, và những búi tóc dài trông giống như của tóc đàn ông nhưng gần như chắc chắn đó là những sợi tóc của phụ nữ được mua từ cửa hàng bán đồ rẻ tiền. Một tay ông cầm một cây gậy - "Gậy chiến tranh của tù trưởng Blomback vĩ đại đấy", Donald thầm thì - trên gắn rất nhiều lông chim, và trong tay kia là cây tẩu hòa bình, một ống gỗ dài, cuối ống có gắn nõ làm bằng đất sét và dọc thân tẩu có buộc những cọng lông chim.

Tất cả các trại viên đều đứng trong lúc ông Blomback từ căn lều bước ra, ông đi từng bước chậm rãi cho tới khi ra đến chính giữa Vòng tròn bộ tộc. Tiếng trống, tiếng lục lạc ngừng cả lại và mọi người ngồi xuống.

Ông Blomback đưa cây gậy chiến tranh và cây tẩu hòa bình cho hai tay trống, rồi khoanh hai tay trước ngực vẻ rất kịch, ông đưa mắt một vòng nhìn các trại viên đang ngồi xung quanh. Bột ca cao được trét dày tuy không che được hoàn toàn yết hầu nhô cao của ông, nhưng trông ông giống một tù trưởng thực sự đến kinh ngạc. Đã hàng bao nhiêu năm qua, ông chào các chiến binh theo kiểu của thổ dân da đỏ - đưa cánh tay phải lên cao, lòng bàn tay hướng về phía trước - và các chiến binh sẽ cùng nhau đáp lại bằng cách đồng thanh gầm lên một tiếng "Hừm!" Nhưng kiểu chào này đã phải hủy bỏ do sự ra đời của Đức quốc xã, với bọn chúng, cử chỉ này có nghĩa là "Hiel Hitler!"

"Khi con vượn người đầu tiên đứng thẳng trên hai chân và bước đi," Ông Blomback cất lời, "- đó là con người! Sự kiện vĩ đại này được biểu tượng hóa và đánh dấu bằng việc nhóm lên đống lửa đầu tiên."

Donald quay về phía Bucky thì thào: "Tuần nào bọn em cũng phải nghe bài này. Lũ nhỏ chả hiểu gì. Em đồ rằng cũng không tệ hơn những gì diễn ra trong giáo đường." "Hàng triệu năm qua," ông Blomback nói tiếp, "loài người đã quan niệm ngọn lửa phúc lành này là cứu cánh và là biểu tượng của ánh sáng, ấm áp, chở che, đoàn kết, bộ tộc." Ông ngừng lời bởi tiếng ồn động cơ một chiếc máy bay đang bay qua khu trại. Hồi này máy bay thường qua đây bất kể giờ giấc. Từ khi chiến tranh bùng nổ, một căn cứ không quân đã được mở cách đó chừng hơn một trăm cây số về phía bắc, và Indian Hill nằm trên đường bay cửa nó.

"Tất thảy những điều thiêng liêng theo quan niệm cổ đại" Ông Blomback nói, "về tổ ấm, cuộc sống gia đình, cội nguồn được đặt ở tâm điểm vùng sáng của ngọn lửa, và sợi dây gia đình bền chắc tự nó sẽ yếu đi cùng với sự tàn lụi của ngọn lửa gia đình. Chỉ có ngọn lửa thiêng nhóm bằng củi cổ xưa mới có khả năng đánh đúng và làm rung lên sợi dây ký ức nguyên sơ. Người bạn cùng nhóm lửa chiếm được cảm tình của em, và cùng cắm trại với nhau trong yên bình - cùng có niềm cảm khái trước cảnh mặt trời sớm mai, ánh chiều, những vì sao, vầng trăng, bão tố, cảnh hoàng hôn, bóng tối đêm đen - mối đồng cảm của các em là sự gắn kết bền vững của một tập thể, tuy nhiên cuộc đời bên ngoài của các em vẫn riêng tư.

Ông dang hai tay hướng về phía đám đông, và các trại viên đồng thanh đáp lại tạo thành một dòng hợp âm: "Anh lửa trại là tâm điểm của mọi cộng đồng cổ xưa. Chúng ta sẽ không lãng quên phép màu của nó."

Đội trống lúc này bắt đầu gõ nhịp trống thổ dân, và Donald thì thào với Bucky: "Một sử gia về người da đỏ. Seton gì đó. Đấy là người ông ấy tôn thờ. Những lời đó là của ông này. Ông Blomback dùng cùng tên thổ dân với Seton: Sói đen. Ông ấy không nhận thấy tất cả những thứ đó chả có ý nghĩa gì."

Kế đó, một người mang mặt nạ hình một con chim mỏ to ở hàng đầu tiến tới đống củi đã được chuẩn bị sẵn để châm lửa đốt. Anh ta cúi đầu chào ông Blomback và rồi hướng về phía các trại viên.

"Meetah Kola nayhoon-po omnicheeyay nee-chopi. "

"Đó là pháp sư của bọn em," Donald thì thào. "Tên anh ấy là Barry Feinberg."

"Hãy lắng nghe, những người bạn của tôi," pháp sư tiếp tục, dịch câu thổ ngữ mới nói sang tiếng Anh. "Chúng ta sắp sửa tập hợp thành một bộ tộc."

Một cậu bé đứng ở đầu hàng bước lên phía trước vài bước, cầm trong tay vài miếng gỗ, một miếng hình cây cung, một miếng khác hình cây gậy dài khoảng ba mươi phân có một đầu vót nhọn, và vài mẩu nữa nhỏ hơn. Cậu đặt tất cả xuống đất cạnh người pháp sư.

"Bây giờ chúng ta sẽ đốt đống lửa bộ tộc," pháp sư nói, "theo cách của những đứa trẻ miền đồng rừng, chứ không phải cách của người da trắng, nghĩa là - giống như Wakonda tự tay nhóm đống lửa của mình - bằng cách chà xát hai cái cây vào nhau trong một cơn dông, nào hãy bước tới gần đống lửa thiêng được tạo nên từ cây rừng đây."

Pháp sư quỳ xuống, nhiều trại viên đứng dậy quan sát cách anh ta dùng cây cung và cây gậy dài, vót nhọn cùng các mẩu gỗ nhỏ cố đánh lửa.

Donald thì thào nói với Bucky: "Công đoạn này cũng mất một lúc đấy."

"Liệu nó có cháy không?" Bucky thì thầm hỏi.

"Thủ lĩnh Sói đen có thể làm trong ba mươi mốt giây. Với các trại viên thì khó khăn hơn. Đôi khi họ phải chịu thua và làm theo cách của đám người da trắng vô dụng là đánh một que diêm."

Một số trại viên đứng lên ghế băng để nhìn cho rõ hơn. Sau vài phút, ông Blomback lẳng lặng bước tới bên pháp sư, làm điệu bộ, vừa nói, vừa kín đáo chỉ dẫn cho anh ta.

Tất cả phải chờ thêm mấy phút nữa rồi tiếng hò reo vang lên giữa đám trại viên, lúc đầu chỉ là làn khói nhẹ và rồi một chấm lửa, khi pháp sư hà hơi thổi, nó bùng lên thành ngọn lửa nhỏ trong mớ bùi nhùi lá gỗ thông khô và vụn bào vỏ cây phong. Rồi khúc gỗ dưới cùng bén lửa và các trại viên đồng thanh hát: "Ánh lửa, ánh lửa, ánh lửa, bùng lên! Những ngọn lửa, những ngọn lửa, những ngọn lửa, quay tròn! Làn khói, làn khói, làn khói, bốc lên!"

Khi ấy, cùng tiếng trống nhuốm màu tang tóc theo nhịp to-nhỏ-nhỏ-nhỏ phát ra từ hai cái trống thổ dân, cuộc nhảy múa bắt đầu: người Mohawk vừa nhảy vừa ngậm rắn trong mồm, người Seneca đóng giả tuần lộc, người Oneida với điệu nhảy chó kéo xe, người Hopis nhảy múa cầu mưa theo điệu con bò, người Sioux với vũ điệu giậm cỏ. Trong một điệu nhảy những chiến binh da đỏ hăng hái bật nhảy lên cao, trong một điệu khác họ bước đi nhón gót xen kẽ nhảy lò cò theo kiểu cứ một bước đi thì nhảy lò cò hai lần, ở điệu nhảy thứ ba họ mang những nhánh gạc tuần lộc đằng trước, làm từ những cành cây cong queo gắn vào nhau. Đôi khi họ hú hét như bầy sói rồi có lúc họ lại sủa ăng ẳng như đàn chó, và vào lúc cuối, khi trời tối hẳn và chỉ có ánh sáng của đống lửa rọi chiếu vòng tròn người, hai mươi trại viên, ai cũng trang bị một cây chùy và đeo chuỗi tràng hạt có xen kẽ những vuốt thú, tập hợp trong ánh lửa để đi săn tìm Mishi-Mokwa, biệt hiệu Gấu lớn [3]. Vào vai Mishi-Mokwa là cậu bé to cao nhất trại, nằm ở giường đối diện Bucky bên kia lối đi giữa lán, Jerome Hochberger. Cả người quấn trong một chiếc áo choàng lông cũ kỹ của mẹ một trại viên khác, Jerome còn kéo chiếc áo trùm lên trên đầu cậu ta.

"Ta là Mishi-Mokwa không hề biết sợ đây," từ trong chiếc áo Jerome phát ra tiếng gầm gừ. "Ta, là gấu xám núi vĩ đại, là chúa tể của tất cả thảo nguyên miền tây đây."

Người cầm đầu của đám săn lùng cũng từ lán của Bucky, Shelly Schreiber. Trong tiếng trống ầm ĩ phía sau và ánh lửa lấp loáng trên gương mặt sơn phết của mình, Shelly nói: "Đây là những chiến binh tinh nhuệ của chúng ta. Chúng tôi đang săn tìm Mishi-Mokwa, hắn ta là Gấu lớn của những rặng núi, hắn cướp phá vùng biên cương của chúng ta. Chúng tôi chắc chắn sẽ tìm ra và tiêu diệt hắn."

Tới đây nhiều đứa trẻ bắt đầu hô: "Diệt hắn! Diệt hắn! Diệt Mishi-Mokwa!"

Những chiến binh săn lùng hú vang hiệu lệnh xung phong, rồi nhảy múa như thể họ là những con gấu đứng bằng hai chân sau. Rồi cả toán bắt đầu đánh hơi trên mặt đất tìm kiếm dấu vết Gấu lớn để lại. Khi họ tìm thấy ông ta, Gấu lớn gầm lên dữ dội và ngân dài, khiến cho các cậu bé đang ngồi gần đó hét toáng vì hoảng sợ.

"Này, hỡi Mishi-Mokwa," thủ lĩnh toán săn lùng dõng dạc, "bọn ta đã tìm thấy ngươi. Nếu như ngươi không ló mặt ra trước khi ta đếm đến một trăm, đi đến đâu ta cũng sẽ rêu rao rằng ngươi là kẻ hèn nhát.".

Bất thình lình, Gấu lớn nhảy xổ tới trước mặt những người săn tìm, và trong tiếng reo hò mừng rỡ của các trại viên, toán săn tìm bắt đầu dùng gậy chiến tranh được bọc vải thô nện ông ta túi bụi, không thương xót. Khi Gấu lớn nằm sõng soài trên mặt đất trong chiếc áo khoác lông thú, những chiến binh da đỏ nhảy múa xung quanh Mishi-Mokwa, từng người lần lượt nắm lấy bàn chân to lớn không còn sự sống của ông ta và hét lớn: "Hâu! Hâu! Hâu!" Tiếng reo hò cổ vũ của các trại viên vẫn tiếp tục đầy phấn khích, vô cùng thích thú khi chính mình được ở giữa người sát hại và kẻ bị sát hại.

Tiếp theo, hai người phụ trách, một nhỏ người và một cao lớn, trong vai Lông vũ ngắn và Lông vũ dài, kể một loạt những câu chuyện cổ tích về loài vật khiến cho mấy đứa trẻ nhỏ giả vờ sợ hét toáng lên, và rồi ông Blomback, tháo cái mũ của mình ra, đặt nó xuống bên cạnh cây tẩu hòa bình và cây gậy chiến tranh, bắt nhịp cho các cậu bé hát bài hát quen thuộc của khu trại trong khoảng hai mươi phút, bằng cách ấy ông đưa lũ trẻ trở lại trạng thái bình thường sau sự kích động của vở kịch về người da đỏ. Sau khi hát xong, ông nói: "Và đây là những tin tức quan trọng về cuộc chiến trong tuần qua. Đây là những gì diễn ra ở một nơi xa thật xa Indian Hill. Ở Ý, quân đội Anh phá vỡ phòng tuyến trên sông Arno và đã vào đến Florence. Trên Thái Bình Dương, quân đội Mỹ đột kích và giành lại được đảo Guam. Thủ tướng Tojo

"Ê! Ê, Tojo!" Một nhóm các cậu trai lớn tuổi hét lớn.

"Toji, thủ tướng Nhật," ông Blomback tiếp tục, "bị hất cẳng khỏi chức vụ lãnh đạo quân đội Nhật. Ở Anh, Thủ tướng Churchill -"

"Hây, Churchill!"

" - tiên đoán rằng cuộc chiến chống lại quân Đức có thể kết thúc sớm hơn dự kiến. Và ở ngay đây, ở thành phố Chicago, bang Illinois, như nhiều người trong số các bạn đây đã biết, Tổng thống Roosevelt được Đại hội toàn quốc của đảng Dân chủ đề cử giữ tiếp vai trò tổng thống nhiệm kỳ thứ tư."

Quá nửa số trại viên đứng thẳng người dậy, hét váng: "Hoan hô! Hoan hô Tổng thống Roosevelt!" trong khi một đứa gõ điên cuồng chiếc trống thổ dân còn một đứa khác khua lục lạc.

"Và bây giờ," ông Blomback nói tiếp sau khi mọi âm thanh đã lắng xuống, "ghi nhớ rằng các quân đoàn Mỹ đang chiến đấu ở châu Âu và trên Thái Bình Dương, ghi nhớ rằng tất cả các em, cũng như tôi, đều có người thân đang phục vụ trong quân ngũ, bài hát trước khi kết thúc buổi lửa trại này sẽ là "cầu Chúa phù hộ cho nước Mỹ." Chúng ta dành tặng bài hát này cho tất cả những ai đêm nay đang ở ngoài xa kia, chiến đấu cho đất nước mình." Sau khi hát xong bài "cầu Chúa phù hộ cho nước Mỹ", các cậu bé dang hai tay có gắn tua rua trên áo, khoác lên vai nhau, rồi một hàng các trại viên cùng nhau đứng lắc lư theo một hướng trong khi hàng phía trước và hàng phía sau - theo hướng ngược lại, chúng hạt bài "Cho tới ngày chúng ta gặp lại nhau," một bài hát vui về tình bạn mang lại sự gắn bó cho mỗi Đêm hội da đỏ. Trong Đêm hội da đỏ cuối cùng kết thúc mùa nghỉ, nhiều trại viên trở về nhà trong nước mắt.

Trong lúc ấy, chỉ riêng mình Bucky rơi nước mắt khi hát bài "Cầu Chúa phù hộ cho nước Mỹ", ký ức về người bạn thân hồi học cao đẳng không rời khỏi tâm trí anh kể từ lúc anh nghe được tin báo tử của cậu bạn trên chiến trường Pháp. Bucky đã cố hết sức dự trọn buổi lễ diễn ra quanh đống lửa trại cũng như lắng nghe những lời thầm thì chen ngang của Donald ngồi bên cạnh, nhưng tất cả suy nghĩ của anh chỉ xoay quanh cái chết của Jake, cuộc đời của Jake và tất cả những sự kiện có thể xảy ra trong đời Jake nếu bạn anh còn sống. Trong lúc các cậu bé săn đuổi Gấu lớn, Bucky nhớ tới hôm giao lưu giữa các sinh viên cao đẳng trên toàn bang mùa xuân năm 1941, lần ấy Jake không chỉ lập kỷ lục của trường Panzer mà còn là kỷ lục của tất cả các trường cao đẳng trên đất Mỹ với thành tích đẩy tạ được 17.[14] mét. Làm sao cậu đẩy xa được đến thế - một phóng viên tờ Star-Ledger của thành phố Newark đã hỏi Jake. Cười toét miệng - rồi liếc nhanh về phía Bucky và chiếc cúp có gắn hình một vận động viên đẩy tạ nhỏ xíu bằng đồng ở trên đỉnh, vào thời điểm quả tạ vừa rời khỏi tay - Jake trả lời anh ta. "Dễ mà," cậu nói kèm theo một cái nháy mắt. "Vai trái nhô cao, vai phải nhô cao hơn, khuỷu tay phải cao hơn nữa, và bàn tay phải là cao nhất. Tư thế là vậy. Cứ theo như thế mà làm còn quả tạ sẽ tự bay." Dễ dàng. Mọi thứ với Jake đều dễ dàng.

Chắc chắn cậu ấy sẽ tham dự môn đẩy tạ trong Thế vận hội Olympic, sẽ cưới Eileen ngay khi trở về nhà, sẽ kiếm được việc là huấn luyện viên trong trường đại học... với tất cả tài năng đó, có thứ gì có thể ngăn được cậu ấy chứ?

Ngồi quanh đống lửa trại Dưới những vì sao sáng,

Đêm nay chúng ta gặp gỡ nhau trong tình bè bạn.

Ngồi quanh gần những tán cây xào xạc Giữ gìn những ký ức quý báu của chúng ta.

Và như thế, trước khi nhắm mắt chìm vào trong giấc ngủ Hãy trịnh trọng hứa với nhau rằng chúng ta sẽ giữ cho Tình bạn ở Indian Hill thật sâu đậm,

Cho tới ngày chúng ta gặp lại nhau.

Sau khi hát xong bài ca chia tay, các trại viên bắt cặp làm quen và kết bạn với nhau rồi từ các hàng ghế đang ngồi, chúng theo chân các phụ trách viên của mình tới vây quanh đống lửa trại đã được hai người phụ trách trẻ tuổi dập tắt. Khi ánh đèn pin lấp loáng đưa chân các cậu bé trở về lán mất hút trong rừng cây tối thẫm, bỗng một hiệu lệnh xung phong được phát ra từ chỗ các trại viên vừa rời gót, và một số ít các cậu bé nhỏ tuổi choàng chăn quanh mình vẫn còn ngây ngất bởi những câu thần chú bên ngọn lửa sáng rực hò hét phấn khích "Hâu! Hâu! Hâu!" Có một vài đứa tự dùng đèn pin chiếu hất từ cằm trở lên trong lúc làm điệu bộ nhăn nhó và trợn trừng mắt tạo ra những khuôn mặt yêu quái để hù dọa nhau lần cuối cùng trước khi Đêm hội da đỏ kết thúc. Một giờ đồng hồ gắn kết trong Đêm hội mang đến những tiếng cười lớn và tiếng khúc khích của đám trẻ dội lại từ lán này qua lán khác, ngay cả khi mọi người đều đã ngủ, mùi gỗ cháy vẫn lan tỏa, tràn ngập khắp khu trại.

SAU SÁU NGÀY YÊN BÌNH tiếp theo - những ngày đẹp nhất từ trước đến giờ ở khu trại, ánh nắng tháng Bảy tràn ngập khắp nơi, sáu ngày hạ chí tuyệt đẹp ở khu trại hè trên núi này, ngày nào cũng đẹp như ngày nào - rạng sáng ngày thứ Bảy, vào lúc ba giờ sáng, ở trong lán Comanche, có tiếng chân lê bước nặng nề đi vào nhà vệ sinh. Giường Bucky nằm ở cuối dãy, ngay cạnh nhà vệ sinh, và khi anh tỉnh giấc thì nghe có tiếng người đang nôn ọe trong đó. Anh với tay lấy cặp kính của mình dưới gầm giường và nhìn dọc lối đi giữa nhà để xem đó là ai. Giường trống là của Donald. Anh ngồi dậy và ghé sát cánh của nhà vệ sinh, khẽ nói: "Bucky đây. Cậu cần gì không?"

Donald yếu ớt đáp: "Em ăn phải cái gì rồi. Chắc sẽ khỏe thôi." Nhưng ngay sau đó cậu ta lại ọe tiếp, và Bucky, trong bộ pyjama cứ ở đứng cuối giường của mình để chờ Donald ra khỏi phòng vệ sinh.

Gary Weisberg, nằm ở giường sát với Donald, đã tỉnh, trông thấy Bucky đang ngồi, chống khuỷu tay nhổm dậy thì thào: "Có chuyện gì thế ạ?"

"Donald. Bị đau bụng. Cứ ngủ đi."

Sau cùng Donald cũng bước ra và Bucky một tay đỡ khuỷu còn tay kia quàng qua hông dìu cậu về giường. Anh đắp chăn và bắt mạch cho cậu.

"Bình thường," Bucky nói nhỏ. "Cậu thấy trong người. thế nào?"

Mắt nhắm nghiền, Donald đáp. "Nôn hết ra rồi. Lạnh quá."

Bucky để tay lên trán Donald thấy hâm hấp sốt. "Cậu có muốn tôi đưa tới trạm xá không? Sốt và lạnh. Có lẽ cậu phải gặp y tá."

"Em sẽ khỏe mà," Donald nói giọng yếu ớt. "Chỉ cần ngủ."

Nhưng đến buổi sáng, Donald yếu tới độ không thể bước ra khỏi giường để đánh răng, Bucky lại đặt tay lên trán cậu và bảo: "Tôi sẽ đưa cậu đến bệnh xá."

"Chắc là cảm cúm," Donald bảo. "Nhảy cầu khi trời lạnh." Cậu ta cố mỉm cười. "Không thể đổ tại là không được nhắc."

"Cũng có thể vì lạnh. Nhưng cậu vẫn đang sốt và giờ cậu phải nằm ở bệnh xá. Có thấy đau không? Có chỗ nào đau không?"

"Đầu."

"Đau lắm à?"

"Cũng đau."

Các cậu bé trong lán đã đi ăn sáng mà không có Donald và Bucky. Khỏi mất thì giờ để Donald thay quần áo, Bucky khoác vội chiếc áo choàng tắm ra ngoài bộ pyjama của cậu tính dìu cậu đi dép lê xuống bệnh xá nhỏ ở gần lối vào khu trại hè. Một trong số hai y tá của Indian Hill chắc đang trực ở đó.

"Để tôi đỡ cậu dậy nhé," Bucky bảo.

"Em tự đứng dậy được mà," Donald nói. Nhưng khi cậu cố đứng, thì không nổi, và rồi đột ngột, cậu ngã ngửa xuống giường.

"Chân em," cậu thốt lên.

"Chân nào? Cả hai chân à?"

"Chân phải của em. Cứ như bị liệt ấy."

"Mọi người sẽ đưa cậu đến bệnh viện."

"Tại sao em không đi được thế này?" Giọng Donald đột nhiên run run sợ hãi. "Sao em không cử động được chân?" "Tôi không rõ," Bucky bảo cậu ta. "Nhưng bác sĩ sẽ tìm ra nguyên nhân và giúp cậu đi lại được trên đôi chân của mình. Cậu cứ chờ mà xem. Cố gắng bình tĩnh. Tôi đi gọi một chiếc xe cấp cứu."

Anh chạy hết tốc lực xuống đồi tới văn phòng của ông Blomback, thầm nghĩ, Alan, Herbie, Ronnie, Jake - còn chưa đủ sao? Giờ là cả Donald ư?

Giám đốc khu trại đang ở nhà ăn dùng bữa sáng với các trại viên và những người phụ trách. Bucky chuyển sang đi bộ khi anh bước vào nhà ăn và nhìn thấy ông Blomback ngồi trên chiếc ghế quen thuộc ở chiếc bàn trung tâm. Đây là một trong những buổi sáng yêu thích của các trại viên - nhà bếp làm món bánh kếp và có thể ngửi thấy mùi của những dòng si-rô gỗ thích chảy tràn trề trong đĩa ăn các trại viên. "Thưa ông Blomback," anh nói nhỏ, "ông có thể ra ngoài một chút không? Có chuyện khẩn."

Ông Blomback đứng dậy và hai người cùng đi ra khỏi cửa rồi bước thêm vài bước trước khi Bucky nói. "Tôi nghĩ rằng Donald bị mắc bại liệt. Tôi đã để cậu ấy nằm ở trên giường. Một chân bị liệt bại. Cậu ấy đau đầu. Sốt và dậy nôn mửa hồi đêm. Tốt nhất là chúng ta gọi xe cấp cứu," "Không, xe cứu thương sẽ làm náo động tất cả mọi người. Để tôi đưa cậu ấy tới bệnh viện bằng xe riêng của tôi. Cậu có chắc đó là bệnh bại liệt không?"

"Chân phải của cậu ấy bị liệt," Bucky đáp. "Cậu ấy không đứng dậy được. Cậu ấy đau đầu. Có đủ các triệu chứng. Nghe không giống bệnh bại liệt sao?"

Bucky chạy ngược lên đồi trong lúc ông Blomback đi lấy xe, lái theo sau rồi đậu bên ngoài căn lán. Lấy một cái chăn quấn quanh người Donald, Bucky cùng với ông Blomback, mỗi người giữ một bên, giúp cậu rời khỏi giường, ra ngoài hàng hiên trông xuống hồ. Trong khoảng thời gian Bucky rời khỏi lán, chân trái chưa bị liệt của Donald đã yếu hẳn đi, vì thế cả hai chân cậu lê thõng phía sau khi Bucky và ông Blomback xốc cậu xuống cầu thang đưa vào trong xe.

"Đừng kể với ai vội," ông Blomback nói với Bucky. "Chúng ta không muốn đám trẻ hoảng loạn. Chúng ta không muốn các phụ trách viên hoảng loạn. Bây giờ tôi sẽ đưa cậu ấy đến bệnh viện. Ở đó tôi sẽ điện thoại cho gia đình cậu ấy."

Khi Bukcy nhìn Donald đang nằm dài trên băng ghế sau trong xe, mắt nhắm nghiền và bắt đầu phải cố hết sức để hít thở được, anh nhớ tới tối thứ Hai bên hồ, cậu đã nhảy cầu thậm chí còn tự tin hơn, gọn gàng hơn và lấy thăng bằng tốt hơn so với tối trước; anh nhớ lại vẻ khỏe mạnh, cường tráng của cậu, anh nhớ sau khi Donald hoàn tất bài nhảy cầu, mình đã chỉ dẫn thêm cho cậu kiểu nhảy chim nhạn trong nửa giờ nữa ra sao. Rồi anh nhớ tới từng cú nhảy Donald đã thực hiện mỗi lúc mỗi hoàn hảo hơn.

Bucky gõ nhẹ vào của kính xe và Donald mở mắt. "Cậu sẽ chóng khỏe thôi," Bucky nói trong lúc ông Blomback bắt đầu rời bánh. Bucky chạy theo xe, tiếp tục nói với Donald, "chúng ta sẽ lại nhảy cầu sau vài ngày nữa," dù cho cậu bé đã yếu đi trông thấy và ánh mắt của cậu trông thật khủng khiếp - hai con mắt của cậu trong cơn sốt quét qua gương mặt Bucky, nháo nhác kiếm tìm một thần dược không ai có cả.

May mắn thay, các trại viên vẫn còn đang ăn sáng và Bucky chạy ngược lên các bậc thang căn lán, gắng hết sức dọn dẹp gọn gàng giường của Donald. Rồi anh bước ra ngoài hàng hiên nhìn xuống hồ, ở đó những người phụ tá của anh chắc hẳn sắp tập hợp rồi, và anh tự hỏi: Ngoài mình ra thì còn ai mang căn bệnh bại liệt đến đây nữa chứ?

Các cậu bé trong lán được thông báo rằng Donald phải tới bệnh viện vì đau bụng và sẽ ở đó cho tới khi bình phục. Thực tế, kết quả chọc dò tủy sống ở bệnh viện đã xác nhận Donald Kaplow bị mắc bệnh bại liệt, ông Blomback cũng đã thông báo với cha mẹ cậu và họ sẽ khởi hành từ nhà ở Hazelton tới Stroudsburg. Bucky dành trọn ngày hôm ấy của mình ở bến tắm, làm việc với những người phụ trách, ở dưới nước hướng dẫn cho những đứa nhỏ tuổi và đến cầu nhảy sửa các động tác sai cho đám lớn tuổi hơn - bọn này đang mê mẩn môn nhảy cầu và nếu được phép, suốt cả ngày dài chúng sẽ chẳng chơi môn nào khác. Sau khi kết thúc ngày làm việc và các trại viên đã trở về lán thay quần áo bẩn để đi ăn tối, anh gỡ mắt kính ra và leo lên cầu nhảy tầm cao, rồi trong nửa giờ, anh tập trung nhảy mọi kiểu khó mà mình biết. Xong xuôi, anh lên bờ và lấy kính đeo, vẫn không sao giải tỏa khỏi tâm trí những điều vừa xảy đến - tốc độ diễn biến của nó và nỗi ám ảnh chính mình là thủ phạm. Cả nỗi ám ảnh rằng dịch bại liệt bùng phát nơi sân chơi Chancellor cũng khởi nguồn từ chính anh. Đột nhiên, anh nghe thấy một tiếng hét inh tai. Đó là tiếng hét của người phụ nữ ở bên dưới nhà Michaels, khiếp hãi rằng con của bà sẽ mắc bại liệt và chết. Có điều, lúc ấy anh không chỉ nghe thấy tiếng hét - bản thân anh đã là tiếng hét đó.

TỐI HÔM ẤY họ lại chèo thuyền ra đảo. Marcia vẫn chưa hay biết chuyện Donald bị bệnh. Ông Blomback dự định sẽ thông báo toàn trại vào bữa sáng ngày hôm sau, cùng với sự có mặt của bác sĩ Huntley, bác sĩ của trại từ Stroudsburg đến, ông này vẫn thường xuyên được gọi đến trại và cùng với các y tá của trại chữa trị những ca nặng hơn các ca thông thường như vẩy nến, chốc lở, đau mắt đỏ, ngộ độc thường xuân, cùng lắm là gãy xương. Dù ông Blomback đã dự đoán sẽ có một số phụ huynh đến đón con em rời trại ngay tức thì, ông vẫn hy vọng bác sĩ Huntley giúp giảm thiểu được nỗi hoang mang, hạn chế bớt sự hoảng loạn, và ông sẽ có thể duy trì trại hoạt động bình thường đến cuối mùa. Ông đã bảo Bucky như vậy khi từ bệnh viện quay về và nhắc anh đừng nói gì mà cứ để ông thông báo. Tình trạng của Donald trở nên xấu hơn. Các cơn đau ở bắp thịt và khớp dày vò cậu và có lẽ phải cần máy thở để giúp cậu có thể hô hấp được. Cha mẹ cậu đã tới, nhưng lúc đó Donald đã bị cách ly, và do nguy cơ lây nhiễm, họ chưa được gặp con. Các bác sĩ đã giải thích cho ông Blomback tốc độ chuyển biến mau chóng từ các triệu chứng giống như cúm ở Donald thành tình trạng nguy hiểm đến tính mạng của bệnh bại liệt.

Bucky đã thuật lại tỉ mỉ những điều này với Marcia ngay khi họ tới đảo.

Nàng nghe như nuốt từng lời. Nàng ngồi trên tấm chăn và đưa hai tay che mặt. Bucky đi đi lại lại xung quanh, không sao kể nốt cho nàng nghe đoạn cuối được. Nghe chuyện của Donald đã đủ nặng nề với nàng lắm rồi không cần phải kể tiếp ngay chuyện của anh nữa.

"Em phải điện thoại cho bố em" là câu đầu tiên nàng mở lời. "Em phải gọi cho ông mới được."

"Sao không để ông Blomback thông báo cho cả trại đã?" "Ông ấy lẽ ra phải thông báo rồi chứ. Anh không thể ngồi chờ khi xung quanh có chuyện thế này."

"Em nghĩ ông ấy phải giải tán trại hả?"

"Thế nên em mới muốn hỏi bố. Thật kinh khủng. Bọn trẻ nơi lán của anh ra sao?"

"Tới giờ chúng có vẻ vẫn khỏe."

"Còn anh thế nào?" Nàng hỏi.

"Anh thấy khỏe," anh nói. "Anh phải nói với em, anh đã hai lần làm việc với Donald ở ngoài hồ vài ngày trước. Anh đã giúp cậu ấy hoàn thiện kỹ thuật nhảy cầu. Lúc đó cậu ấy khỏe hơn bao giờ hết."

"Lúc đó là khi nào thế anh?"

"Khoảng một tuần trước. Sau bữa tối. Anh để cậu ấy nhảy cầu xuống nước lạnh. Có lẽ đó là một sai lấm. Một sai lầm tệ hại."

"Ôi Bucky, đó không phải lỗi của anh. Chuyện này quả là kinh khủng. Em sợ cho anh. Em sợ cho mấy đứa em em. Em sợ cho bọn nhỏ nơi khu trại. Em sợ cho chính bản thân mình. Một ca nhiễm không đơn thuần chỉ là một ca ở cái nơi trại hè đông đúc trẻ nhỏ sống chung đụng như thế này. Nó giống như một que diêm cháy trong đống củi khô. Một ca nhiễm ở đây nguy hiểm gấp cả một trăm lần ở thành phố."

Nàng vẫn ngồi còn anh tiếp tục bước đi. Anh sợ không dám đến gần nàng bởi anh sợ làm nàng lây nhiễm, nếu thực sự anh vẫn còn chưa lây cho nàng, nếu anh chưa khiến tất cả mọi người nơi đây nhiễm bệnh! Lũ trẻ nhỏ ở hồ! Những phụ tá của anh nơi bến tắm! Hai chị em sinh đôi anh vẫn hôn mỗi tối nơi nhà ăn! Tâm trạng rối bời, anh bỏ kính để dụi mắt đầy lo âu, và khi ấy dưới ánh trăng hàng cây phong bao quanh hai người trông giống như muôn vàn bóng hình méo mó dị dạng - hòn đảo tình nhân của họ bỗng tràn ngập những bóng ma các nạn nhân của bệnh bại liệt.

"Chúng mình phải về thôi," Marcia nói. "Em phải gọi cho bố."

"Anh đã nói với ông Blomback rằng sẽ không nói cho bất kỳ ai rồi mà."

"Em mặc kệ. Em phải có trách nhiệm với hai đứa em em, chỉ điều đó thôi cũng đã đủ rồi. Em phải kể cho bố em chuyện xảy ra rồi hỏi bố xem phải làm sao. Em sợ lắm, Bucky. Em thấy sợ vô cùng. Trước đây chuyện cứ như thể bệnh bại liệt sẽ không để ý đến những đứa trẻ sống ở trong rừng - nó không tìm được bọn trẻ ở đây. Em đã nghĩ nếu lũ nhỏ cứ ở lại trại và đừng có đi đâu thì sẽ không việc gì. Làm thế nào mà nó có thể lùng bắt cả những đứa ở đây thế này cơ chứ?"

Anh không thể nói với nàng. Nàng quá khiếp sợ nên anh không thể nói cho nàng được. Và anh cũng quá bối rối bởi sự nghiêm trọng của tất cả mọi điều nên không sao nói với nàng được. Sự nghiêm trọng của những điều đã xảy ra. Sự nghiêm trọng của những việc anh đã làm.

Marcia đứng dậy và gấp chăn, họ kéo chiếc thuyền xuống nước rồi chèo về khu trại. Suýt soát mười giờ thì họ cập bến. Những người phụ trách đang cho trại viên của mình đi ngủ. Đèn trong văn phòng ông Blomback vẫn còn sáng, nhưng dường như không còn ai trong khu trại nữa. Không có ai đứng xếp hàng trước trạm điện thoại, dù rằng ngày mai đây, ngay khi câu chuyện về Donald được thông báo, ở đó sẽ có một hàng người dài và cuộc sống nơi khu trại sẽ ngoặt hẳn sang một hướng mới.

Marica kéo kín cánh cửa xếp của trạm điện thoại để không ai tình cờ có mặt gần đó có thể nghe được, còn Bucky đứng cạnh trạm, cố đoán những lời bác sĩ Steinberg nói dựa trên phản ứng của nàng. Marica hạ giọng nên Bucky đứng ngoài chỉ nghe thấy những tiếng côn trùng kêu vo ve, gợi anh nhớ lại buổi tối trò chuyện thân mật ở Newark khi anh ngồi trong căn phòng phụ sau nhà bác sĩ Steinberg cùng ông ăn trái đào thơm ngọt đó.

Vẻ lo lắng của nàng dường như dịu bớt ngay khi nghe thấy giọng bố ở đầu dây bên kia, và chỉ sau một vài phút, nàng ngồi xuống cái ghế nhỏ đặt bên trong trạm để tiếp tục trò chuyện với bố. Bucky cứ đinh ninh trưa hôm ấy anh đi cùng Carl ra Stroudsburg để mua nhẫn đính hôn cho Marcia. Giờ đây việc đính hôn đã bị quên lãng. Lúc này trong tâm trí Marcia chỉ còn có căn bệnh bại liệt, cũng giống như tâm trạng anh suốt cả mùa hè này. Không phải là anh trốn khỏi bại liệt, và không phải vì nó đã theo chân anh tới vùng núi Pocono mà bởi anh đã mang nó tới Pocono cùng với mình. Bằng cách nào, Marcia hỏi, mà bệnh bại liệt đã truy lùng ra được chúng ta ở đây? Thông qua sự lây bệnh từ người mới tới, người yêu của nàng! Nhớ tới tất cả những cậu bé đã nhiễm bại liệt trong lúc anh còn đang làm việc ở Chancellor hồi đầu mùa hè, nhớ tới cảnh tượng to tiếng trên sân bóng vào buổi chiều mọi người phải ngăn Kenny Blumenfled lại không cho hành hung Horace, Bucky cho rằng người mà lẽ ra Kenny muốn giết vì là tác nhân làm lây lan căn bệnh bại liệt không phải là "ông khờ" - mà chính là người quản lý sân chơi mới đúng.

Marcia mở cửa và từ trong trạm điện thoại bước ra. Lời của bố đã giúp nàng bình tâm lại, nàng vòng tay ôm Bucky và nói: "Em sợ cho mấy đứa em gái em. Em biết anh sẽ ổn, anh mạnh mẽ và cường tráng, nhưng em lo lắng xiết bao cho hai con bé."

"Bố em nói gì thế?" Anh hỏi, vừa nói vừa quay đầu qua hướng khác để không phả hơi thở của mình vào mặt nàng.

"Bố em nói sẽ điện thoại cho Bill Blomback nhưng có vẻ như ông Blomback đã làm tất cả những gì cần phải làm rồi. Bố nói ta không phải sơ tán hai trăm năm mươi đứa trẻ chỉ vì một ca bại liệt. Bố nói bọn trẻ nên tiếp tục hoạt động như bình thường. Bố nghĩ sẽ có rất nhiều bậc cha mẹ vì hoảng hốt mà đưa con mình rời khỏi trại. Nhưng em không được hoảng hốt hay làm cho hai đứa nhỏ nhà em sợ hãi. Bố hỏi về anh. Em nói anh vững như bàn thạch. Ồ, Bucky này, em thấy khá hơn rồi. Bố mẹ em cuối tuần này sẽ lên đây thay vì đi ra bờ biển đấy. Họ muốn đích thân trấn an các cô con gái của mình."

"Tốt quá," anh nói, và khi chia tay, mặc dù tay ôm nàng thật chặt song anh cố tình chỉ hôn lên tóc thay vì hôn môi, như thể lần này biết đâu việc ấy sẽ làm thay đổi được gì đó.

SÁNG HÔM SAU, khi bữa ăn kết thúc, ông Blomback rung chiếc chuông thường dùng để báo hiệu những thông báo của ông đến toàn thể trại. Các trại viên liền im tiếng khi ông đứng lên. "Chào tất cả các bạn, các chàng trai và các cô gái, tôi có một thông điệp hệ trọng muốn báo cho các bạn trong buổi sáng hôm nay," ông nói, vẻ điềm tĩnh, giọng ông không biểu hiện chút hoảng hốt nào. "Đó là về sức khỏe của một phụ trách viên của chúng ta. Donald Kaplow ở lán Comanche. Cách đây hai đêm Donald đã bị ốm và sáng hôm qua khi tỉnh dậy thì sốt cao. Thầy Cantor đã nhanh chóng báo cho tôi về tình trạng của Donald, và tôi đã quyết định chuyển cậu ấy đến bệnh viện Stroudsburg. Ở đó, họ đã xét nghiệm và xác định rằng Donald đã nhiễm bại liệt. Cha mẹ cậu ấy đã tới bệnh viện rồi và đang ở đó với cậu. Cậu đang được các y bác sĩ bệnh viện điều trị và chăm nom. Bác sĩ Huntley, bác sĩ của trại đang có mặt ở đây, và ông muốn nói vài lời với các bạn."

Đội ngũ phụ trách viên và các trại viên, đương nhiên, giật mình nhận thấy tất cả mọi thứ ở khu trại vừa đột nhiên biến đổi - mọi điều trên đời vừa đổi khác - và mọi người im lặng chờ đợi để nghe xem bác sĩ sẽ nói gì với họ. Là một người đàn ông trung niên có bộ dạng chải chuốt, Huntley đã là bác sĩ của khu trại từ những ngày đầu. Ở ông toát lên một vẻ dịu dàng và đáng tin chưa kể đến cặp kính không gọng, mái tóc bạc thưa mỏng và khuôn mặt chất phác tai tái lại càng tôn thêm phong thái ấy. Ông ăn vận không giống bất kỳ ai ở trại, một bộ com-lê, áo sơ-mi trắng, cà-vạt và giày sẫm màu.

"Chào mọi người. Xin tự giới thiệu với những ai còn chưa biết, tôi là bác sĩ Huntley. Tôi biết là nếu và khi nào bất cứ ai trong số các bạn cảm thấy không được khỏe, bạn sẽ nói với người phụ trách của mình và người đó sẽ thu xếp để bạn gặp cô Rudko hay cô Southworth, những y tá của trại và nếu thấy cần, bạn gặp tôi. Vâng, tôi muốn khuyến khích các bạn tiếp tục tuân thủ cách thức đó trong những ngày và những tuần tới. Bất cứ dấu hiệu ốm mệt nào, ngay lập tức báo cho người phụ trách của mình, như là các bạn vẫn luôn làm thế. Nếu bạn đau họng, nếu bạn bị cứng cổ, nếu bạn bị nôn mửa, hãy báo cho người phụ trách. Nếu bạn đau đầu, nếu bạn nghĩ mình bị sốt, hãy báo cho người phụ trách. Nói chung nếu bạn cảm thấy không được khỏe, hãy báo cho người phụ trách. Người phụ trách sẽ đưa bạn tới y tá, họ sẽ chăm nom bạn và họ sẽ thông báo với tôi. Bởi vì tôi muốn tất cả các bạn khỏe mạnh để có thể vui chơi trong những tuần còn lại của mùa hè."

Sau khi nói xong mấy câu điềm đạm ấy, bác sĩ Huntley ngồi xuống và ông Blomback lại đứng lên. "Tôi muốn tất cả trại viên biết rằng trong sáng nay tôi sẽ điện thoại tới nhà từng em để báo về việc triển khai này. Đồng thời, tôi muốn gặp các tổng phụ trách ở văn phòng ngay sau bữa sáng. Với tất cả những người khác," ông nói, "đến đây đã xong. Chương trình của ngày hôm nay không thay đổi. Hoạt động như thường lệ. Hãy ra ngoài trời và vui chơi -hôm nay lại là một ngày đẹp trời nữa."

Marcia cùng với ba tổng phụ trách khác vội vã tới văn phòng của ông Blomback, và Bucky, thay vì đi xuống bến tắm, điều anh tâm niệm sẽ làm sau khi rời nhà ăn, lại bất chợt thấy mình chạy đuổi theo bác sĩ Huntley trước khi ông bước lên chiếc ô-tô của ông, đang đậu ở cột cờ, để lái về thị trấn.

Chạy phía sau ông, anh nghe thấy tiếng gọi tên mình. "Bucky! Chờ chút! Chờ chúng em với!" Đó là cặp sinh đôi nhà Steinberg, đang đua nhau đuổi theo anh. "Chờ đã!" "Các em, anh phải gặp bác sĩ Huntley."

"Bucky," một cô bé vừa nói, vừa nắm tay anh, "chúng em phải làm sao?"

"Các em đã nghe ông Blomback nói rồi đấy. Cứ tiếp tục hoạt động như thường ngày."

"Nhưng bệnh bại liệt " Khi hai cô bé cố gắng vươn tay ôm ngang người anh và ghì sát vào bộ ngực rộng của anh để được an lòng, ngay lập tức anh quay người đi vì sợ sẽ phả hơi thở của mình vào hai khuôn mặt giống nhau như đúc cùng đang hoang mang sợ hãi ấy.

"Đừng lo lắng gì về bệnh bại liệt cả," anh nói. "Không có gì đáng để lo lắng cả, Sheila, Phyllis, anh phải chạy đi đây - hệ trọng lắm," rồi anh để hai cô bé đứng đó, vẫn chưa hết hoảng sợ, co ro cúm rúm với nhau.

"Nhưng chúng em cần anh!" một trong hai đứa hét với theo anh. "Chị Marcia đang ở chỗ ông Blomback!"

"Chiều nay!" Anh hét đáp lại. "Anh hứa! Anh sẽ sớm gặp lại hai em!"

Bác sĩ Huntley đã mở cửa xe và vừa ngồi vào trong thì Bucky bắt kịp ông. "Bác sĩ Huntley, tôi phải nói chuyện với ông. Tôi là người phụ trách bến tắm trong trại dành cho nam. Bucky Cantor."

"Ừm. Bill Blomback có nhắc đến cậu."

"Bác sĩ Huntley, tôi có chuyện cần phải nói với ông. Tôi từ Newark đến đây vào thứ Sáu tuần rồi. Ở Newark, tôi làm việc tại một sân chơi khu Weequahic, vùng dịch bại liệt. Donald Kaplow và tôi có làm việc chung với nhau hai tối ở bến tắm sau giờ ăn. Ngày nào, chúng tôi cũng ngồi cạnh nhau lúc ăn trưa. Trong lán, chúng tôi luôn đi cạnh nhau. Trong Đêm hội da đỏ, tôi cũng ngồi cạnh cậu ấy. Giờ đây, cậu ấy bị mắc bại liệt. Bác sĩ, có phải tôi là người mang lại căn bệnh này cho cậu ấy không? Tôi có mang nó tới cho những người khác không? Có thể nào có trường hợp ấy xảy ra không?"

Lúc này, bác sĩ Huntley đã bước ra khỏi xe để nghe cho rõ câu chuyện đầy căng thẳng của một thanh niên trông cực kỳ cường tráng. "Cậu cảm thấy trong người thế nào?" Ông hỏi Bucky.

"Tôi thấy khỏe."

"Tốt, khả năng cậu là người khỏe mang trùng khá thấp. Mặc dù, khả năng ấy có thể xảy ra, nhưng nó rất, rất hiếm thấy. Thường gặp nhất, giai đoạn người mang mầm bệnh chính là lúc người ấy đang phải khám chữa bệnh. Nhưng cậu đừng có căng thẳng," bác sĩ nói, "để tuyệt đối chắc chắn, chúng tôi sẽ đưa cậu đi chọc dò tủy sống và rút ra một ít dịch tủy mang đi phân tích xét nghiệm. Những biến đổi nhất định trong dịch tủy là biểu hiện của mầm bại liệt. Chúng tôi sẽ tiến hành ngay lập tức, trong sáng nay, để cho cậu an tâm. Cậu có thể lên xe cùng với tôi tới bệnh viện và sau đó chúng tôi sẽ gọi Carl tới đưa cậu trở lại đầy."

Bucky chạy thật nhanh xuống bến nói với các phụ tá rằng anh sẽ vắng mặt buổi sáng hôm ấy và cắt đặt một người phụ trách lớn tuổi thay anh cho tới khi anh quay trở lại, rồi anh tới chỗ bác sĩ Huntley đang chờ anh trong xe để đi tới Stroudsburg. Giá mà đợt xét nghiệm này chứng tỏ được rằng anh không phải là người chịu trách nhiệm! Giá mà anh được chứng minh là vô tội! Thế thì, khi cuộc kiểm tra ở bệnh viện hoàn tất và mọi thứ được chứng nhận là ổn, trên đường về, anh có thể dừng chân ở cửa hàng trang sức tại Stroudsburg để mua tặng Marcia chiếc nhẫn đính hôn. Anh hy vọng mình có đủ tiền để mua một chiếc nhẫn thật.

Cuối ngày hôm ấy, ô-tô bắt đầu tới đón các trại viên về nhà. Xe đến nườm nượp liên tục cho tới tận tối khuya và sang cả ngày hôm sau, trong vòng bốn mươi tám giờ kể từ lúc ông Blomback thông báo trước toàn trại sau bữa sáng rằng có một người phụ trách trẻ bị mắc bệnh bại liệt, đã có hơn một trăm trong số hai trăm năm mươi trại viên được cha mẹ tới đón về. Ngày hôm sau, thêm hai cậu bé nữa trong lán của Bucky - một trong hai cậu là Jerome Hochberger, cậu trai lớn mặc áo choàng lông thú, người đã vào vai Gấu lớn trong Đêm hội da đỏ - được chẩn đoán là bị nhiễm bệnh bại liệt và toàn bộ khu trại ngay lập tức ngừng hoạt động. Thêm chín trại viên khác ở Indian Hill đổ bệnh và phải nhập viện vì bệnh bại liệt khi về tới nhà, trong đó có Sheila, em gái của Marcia.

❀ ❀ ❀

[1] . Y là viết tắt của YMCA (Young men’s Christian Assosiation - Hiệp hội thanh niên Cơ đốc giáo) có cơ sở ở nhiều nước trên thế giới với mục tiêu đào tạo thanh thiếu niên trở thành những con người lành mạnh.

[2] . Nguyên văn: log-cabin. Các súc gỗ được xếp một lớp ngang, rồi một lớp dọc và cứ thế. Gỗ to ở dưới, các lớp trên bé dần. Trên cùng là lớp mồi dễ bắt lửa. Khi cháy, lửa sẽ cháy ở trên đỉnh và theo thời gian, cháy dần xuống dưới.

[3] . Mishi-Mokwa (1825-1888): Thủ lĩnh thổ dân da đỏ nổi danh với những cuộc bạo loạn ở miền tây bắc Canada vào thế kỷ XIX.

Báo Ứng Cánh Cửa Mở Rộng Nguyên tác: Nemesis ebook©MotSAch TVE-4u©Read Freely - Think Freedom —★— Nhà xuất bản: NXB Trẻ© 2013
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.