CHÚNG TÔI KHÔNG BAO GIỜ còn gặp lại thầy Cantor ở khu cộng đồng người Do Thái nữa. Xét nghiệm chọc dò tủy sống tại bệnh viện Stroudsburg đã đổi chiều cho kết quả dương tính, và mặc dù không có triệu chứng bị mắc bệnh trong hầu như suốt bốn mươi tám tiếng sau đó, thầy vẫn bị đưa ngay vào khoa lây, nơi không cho người ngoài thăm viếng. Cuối cùng căn bệnh cũng bùng phát - đầu nhức như búa bổ, suy nhược đến kiệt quệ, buồn nôn ghê gớm, sốt li bì, đau nhức cơ bắp khôn tả, và rồi trong bốn mươi tám giờ tiếp theo là chứng tê liệt. Thầy phải nằm ở khoa lây ba tuần cho đến khi không cần phải thông tiểu và tiêu, rồi được chuyển lên tầng trên và bắt đầu điều trị bằng liệu pháp quấn nóng ở tay và chân, những bộ phận bị thương tổn ngay từ đầu. Thầy phải trải qua bốn đợt quấn nóng mỗi ngày, kéo dài tổng cộng từ bốn đến sáu tiếng. Thật may mắn là các cơ hô hấp không bị tổn thương, nên thầy chưa bao giờ phải chui vào máy trợ thở, một cảnh tượng khiến thầy khiếp hãi hơn bất cứ điều gì khác. Và khi được biết Donald Kaplow cũng đang phải nằm trong cùng bệnh viện, chỉ còn sống thoi thóp trong một máy trợ thở, lòng thầy ngập tràn nỗi khiếp hãi và niềm xót thương. Donald vận động viên nhảy cầu, Donald vận động viên ném đĩa, Donald phi công hải quân tương lai, giờ không còn sử dụng được những lá phổi và các chi của mình nữa!
Sau cùng thầy Cantor được chuyển tới Viện y học Kenny [1] ở Philadelphia bằng xe cứu thương, ở đó, vào thời điểm ấy của mùa hè, bệnh dịch nơi đây cũng tệ hại như ở Newark và các khoa của bệnh viện chật cứng bệnh nhân đến độ thầy đã rất may mắn mới có được một giường. Ở đây, những đợt trị liệu quấn nóng lại tiếp diễn nhằm hồi phục các chức năng cơ cánh tay, chân và cơ lưng nhưng cùng với đó cũng là sự kéo dãn đầy đau đớn bởi cơ bắp đã bị co quắp, vặn xoắn. Thầy mất mười bốn tháng trong Viện y học Kenny để bình phục, dần dần phục hồi được các chức năng nơi cánh tay phải và một phần của đôi chân, dù vậy vẫn có phần dưới xương sống bị xoắn cần được chữa trị dăm năm sau đó nữa bằng phẫu thuật nối ghép xương và gắn những lóng kim loại vào đốt sống. Trải qua sáu tháng trên giường với toàn thân băng kín sau những ca mổ cùng sự chăm nom không kể ngày đêm của bà ngoại, thầy mới hồi phục. Thầy vẫn phải ở trong Viện y học Kenny khi tổng thống Roosevelt đột ngột qua đời, vào tháng Tư năm 1945 và cả nước để tang. Thầy vẫn ở đó khi quân Đức bị đánh bại phải đầu hàng vào tháng Năm, khi những quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima và Nagasaki vào tháng Tám, cả khi quân Nhật đầu hàng quân đồng minh vài ngày sau đó. Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt, Dave, người bạn thân của thầy đã bình yên vô sự trở về nhà từ mặt trận châu Âu, nước Mỹ hân hoan, vậy mà thầy vẫn còn nằm viện, thân thể bị biến dạng và tàn phế.
Ở Viện y học Kenny, thầy là một trong số rất ít bệnh nhân không phải nằm liệt giường. Vài tuần sau khi đến đó, thầy đã ngồi trong một chiếc xe lăn và cũng dùng nó khi trở về lại Newark. Ở đây thầy tiếp tục được điều trị ngoại trú và ngày qua ngày, hồi phục được tất cả chức năng cơ của chân phải. Chi phí điều trị cho thầy vô cùng tốn kém, nhiều ngàn đô la, nhưng tất cả đều được Viện y học Kenny và tổ chức từ thiện March of Dimes chi trả.
Thầy không bao giờ còn quay lại dạy thể dục ở Chancellor, trông coi sân chơi hay thực hiện ước mơ huấn luyện điền kinh ở Weequahic nữa. Thầy đã bỏ hẳn ngành giáo dục, và sau vài khởi đầu kém may mắn - thoạt tiên là bán hàng thuê cho cửa hàng tạp hóa ở đại lộ Avon vốn từng thuộc sở hữu của ông bà thầy và rồi, vì tàn tật không thể kiếm được việc gì khác, thầy làm chân bảo dưỡng và sửa chữa xe hơi tại cây xăng trên đại lộ Springfield, ở đấy thầy trông hoàn toàn khác biệt với những người thợ thô lỗ khác và khách hàng thỉnh thoảng gọi thầy là Chân thọt - cuối cùng thầy tham dự thi tuyển công chức. Vì điểm thi cao và đã tốt nghiệp cao đẳng, thầy tìm được một chân văn phòng ở bưu điện khu trung tâm với mức lương nhà nước đủ trang trải cho cuộc sống hai bà cháu.
Tôi bất ngờ gặp thầy năm 1971, nhiều năm sau khi tôi tốt nghiệp trường kiến trúc và mở văn phòng ở một tòa nhà nằm chếch bên kia phố phía đối diện với bưu điện trung tâm Newark. Chúng tôi có lẽ đã chạm mặt nhau cả trăm lần trên phố Broad cho đến ngày tôi nhận ra thầy.
Tôi là một trong những chú bé nơi sân chơi hồi mùa hè năm 1944 ấy, tôi mắc bại liệt và gắn liền với chiếc xe lăn cả một năm trời trước khi trải qua một đợt trị liệu kéo dài giúp tôi có thể tự di chuyển bằng nạng và một cây gậy chống, cùng với hai chân phải đeo nẹp cho tới tận bây giờ. Khoảng mười năm trước, sau khi học việc ở một công ty kiến trúc trong thành phố, tôi cùng một kỹ sư cơ khí - cũng như tôi, anh này bị mắc bại liệt khi còn nhỏ - mở một công ty. Đó là công ty chuyên tư vấn và làm dịch vụ cải tạo kết cấu để những người ngồi xe lăn có thể sử dụng, lĩnh vực của chúng tôi bao gồm từ xây thêm những phòng phụ cho các ngôi nhà hiện hữu đến lắp đặt những chỗ vịn tay, hạ thấp các thanh treo đồ trong tủ, và chuyển vị trí các công tắc đèn. Chúng tôi thiết kế và lắp đặt đường dốc, các thang máy nâng xe lăn, chúng tôi mở rộng các cửa, chúng tôi cải tạo phòng tắm, phòng ngủ và bếp - mọi thứ giúp ích cho cuộc sống của những người phải ngồi xe lăn như anh bạn đối tác kỹ sư cơ khí kia. Người ngồi xe lăn có thể đòi hỏi những sửa đổi rất tốn kém đối với ngôi nhà, nhưng chúng tôi cố gắng tối đa để giữ đúng mức chi phí đã ước tính ban đầu và để giữ giá thấp. Cùng với chất lượng công việc, đây là phần quan trọng đóng góp cho thành công của chúng tôi. Phần còn lại là sự may mắn về địa điểm và thời gian, chúng tôi là nơi duy nhất cung cấp dịch vụ loại này ở khu đông đúc phía bắc New Jersey vào đúng thời điểm bắt đầu có sự quan tâm nghiêm túc về nhu cầu của một thiểu số những người khuyết tật.
Có lúc bạn may mắn và có lúc thì không. Bất kỳ bản tiểu sử nào cũng là cơ duyên, và, bắt đầu từ việc được hoài thai, cơ duyên - ông vua của ngẫu nhiên - là tất thảy. Cơ duyên là điều tôi tin thầy Cantor muốn nói khi thầy chỉ trích thứ thầy gọi là Chúa.
Tay trái của thầy Cantor bị teo và không còn dùng được nữa, tổn thương ở các cơ chân trái khiến thầy bước tập tễnh. Những năm trở lại đây, cái chân này ngày càng yếu, cả phần ống chân lẫn phần đùi và sau gần ba mươi năm phục hồi, đây là lần đầu tiên thầy thấy đau nhức toàn bộ chân. Bởi thế, sau khi thăm khám bác sĩ và và dăm lần lui tới cửa hàng bán thiết bị chỉnh hình của bệnh viện, thầy đã đeo một bộ nẹp trong ống quần để hỗ trợ chân trái. Nó không làm giảm đau nhức được là bao, nhưng khi dùng với một cây gậy thì giúp cho thầy lấy được thăng bằng và bước đi vững chắc. Tuy vậy, nếu tình hình cứ tiếp tục xấu đi - cũng như ở nhiều bệnh nhân bại liệt còn sống sót trong những năm cuối đời thường phải chịu đựng cái gọi là hội chứng hậu bại liệt - có lẽ không còn bao lâu nữa, thầy bảo, rồi tôi sẽ phải ngồi lại xe lăn.
Chúng tôi bất chợt gặp lại nhau vào buổi trưa một ngày mùa xuân năm 1971 trên phố Broad náo nhiệt, ở một địa điểm nằm khoảng giữa nơi làm việc của hai người. Tôi là người nhận ra thầy trước, dù giờ thầy đã để ria và, ở cái tuổi năm mươi, mái tóc một thời đen nhánh không còn cắt kiểu đầu nhà binh, mà giờ là một mớ bạc trắng - bộ ria cũng trắng. Và thầy dĩ nhiên cũng không còn bước đi kiểu nhón gót của vận động viên điền kinh nữa. Những nét góc cạnh trên khuôn mặt đã phồng vì thân thể đã béo lên, vì thế thầy không còn điểm gì gây ấn tượng mạnh như hồi xưa khi cái đầu với làn da ngăm đen như được chế tác theo các quy định nghiêm ngặt nhất của hình học phẳng - đầu của một chàng thanh niên cương quyết, không hề nao núng. Khuôn mặt thuở xưa giờ bị chôn vùi bên trong một khuôn mặt khác, khuôn mặt phàm tục, bộ mặt mà một người ẩn dật thường thấy khi hờ hững liếc nhìn vẻ già nua của mình trong gương. Không còn chút dấu vết gì của chàng thanh niên rắn rỏi, những cơ bắp giờ đã chảy xệ còn sự gọn ghẽ nay đã xộc xệch. Giờ thầy đơn giản là một người đẫy đà.
Lúc ấy tôi ba mươi chín tuổi, thấp, phục phịch, râu ria lởm chởm trông không còn mấy giống cậu bé yếu ớt hồi xưa nữa. Khi tôi nhận ra thầy ngoài phố, tôi mừng rỡ gọi với theo: "Thầy Cantor! Thầy Cantor! Em là Arnold Mesnikoff. Ở sân chơi Chancellor này. Alan Michaels hồi ấy là bạn thân nhất của em. Nó ngồi cạnh em suốt thời đi học." Dù không bao giờ lãng quên Alan, tôi đã không thốt to tên cậu ấy trong biết bao năm kể từ khi cậu chết, hồi thập niên mà những mối nguy cơ lớn nhất trên trái đất là chiến tranh, bom nguyên tử, và bệnh bại liệt.
Sau buổi gặp đầu trên phố nhiều xúc cảm ấy, chúng tôi bắt đầu cùng ăn trưa mỗi tuần một lần ở tiệm ăn gần đó, và vì thế tôi được nghe chuyện của thầy. Thì ra tôi là người đầu tiên được thầy kể lại toàn bộ câu chuyện, từ đầu đến cuối, hầu như không bỏ sót điều gì bởi sau mỗi tuần thầy càng trở nên thân thiết tin cậy nơi tôi hơn. Tôi đã cố gắng tối đa để chăm chú lắng nghe và tham gia vào câu chuyện trong khi thầy tìm lời nhằm thuật lại ký ức về phần đời tươi đẹp ấy. Dường như, thầy không thấy vui cũng chẳng buồn khi kể lại mọi chuyện - chỉ là tâm sự rỉ rả những điều bấy lâu thầy không sao kiểm soát nổi, chẳng thể chôn vùi cũng như giải tỏa, giống như một kẻ bị lưu đày đau đớn thăm lại quê quán cũ, chốn chôn nhau cắt rốn thương yêu, nơi phạm tội trước kia của mình. Hồi ở sân chơi, hai thầy trò chúng tôi không thật gần gũi - tôi kém môn điền kinh, là cậu bé nhút nhát, ít nói, mảnh khảnh. Nhưng trên thực tế tôi là một trong những cậu bé la cà nơi sân chơi Chancellor trong mùa hè kinh hoàng ấy - vì tôi là bạn thân nhất của cậu học trò thầy quý nhất ở sân chơi và giống như Alan và thầy, cũng bị mắc bại liệt - nên thầy đã chia sẻ rất thẳng thắn khiến cho tôi, thính giả mà trước đó thầy chưa từng quen biết trong vai một người trưởng thành, thính giả giờ đang truyền cho thầy lòng tự tin cũng như, hồi còn bé, tôi và các bạn khác đã được thầy truyền cảm hứng.
Nhìn chung, thầy bộc lộ sai lầm không sửa của bản thân khi nói hết những điều đã giữ trong lòng nhiều năm, không chỉ về việc bị tàn tật về mặt thể chất do bại liệt mà còn thoái chí không kém bởi nỗi hổ thẹn dai dẳng. Thầy là sự đối lập hoàn hảo với hình mẫu nạn nhân bại liệt vĩ đại nhất nước Mỹ, FDR, căn bệnh không dẫn Bucky đến thành công mà tới thất bại. Bại liệt và những hệ quả của nó đã gây tổn thương vĩnh viễn đến lòng tự tin của một đấng nam nhi, và thầy đã từ bỏ hoàn toàn phẩm chất quý báu này trong mọi mặt của cuộc đời mình. Thầy gần như quan niệm bản thân là một kẻ phi giới tính - giống như một lọ mực đã cạn - một cách tự lượng gây sốc với một chàng trai sống trong một kỷ nguyên xung đột và tranh chấp mang tính quốc gia khi đàn ông là những thành trì bất khả chiến bại của gia đình và tổ quốc. Khi tôi nói với thầy rằng tôi có một vợ và hai con, thầy đáp từ khi bị tàn phế thầy chưa bao giờ hẹn hò với ai và cứ ở vậy tới giờ. Thầy không bao giờ có thể cho ai ngoài bác sĩ hay bà ngoại, lúc bà còn sống, nhìn thấy cánh tay và cái chân bị teo tóp của mình. Bà là người đã tận tụy chăm sóc thầy sau khi thầy rời Viện y học Kenny, bà là người, dù những cơn đau ngực đã được chẩn đoán là bị bệnh tim nghiêm trọng, cứ vào mỗi chiều Chủ Nhật lại rất đều đặn bắt tàu hỏa từ Newark lên Philadelphia thăm thầy suốt thời gian mười bốn tháng điều trị ở đó.
Giờ bà mất đã lâu, nhưng đến tận khi thầy bất ngờ bị mắc kẹt giữa cuộc bạo động năm 1967 ở Newark [2] - khi ấy một ngôi nhà phía cuối phố bị thiêu rụi và hàng tràng đạn được bắn đi từ nóc nhà kế bên - thì thầy vẫn sống trong căn hộ nhỏ không thang máy ở khu tập thể trên đường Barclay gần Avon. Thầy đã những muốn ra xem tiếng máy bay vọng từ chỗ nào phía ngoài những bậc cầu thang - cây cầu thang thầy đã có thời thích bước ba bậc một - và rồi, bất kể vào mùa nào, bất chấp nó có đóng băng hay trơn trượt ra sao đi nữa, thầy vẫn cần mẫn lên xuống để sinh sống trong căn hộ trên tầng ba, nơi đã một thời có tình yêu thương vô bờ bến của bà và nơi gợi nhớ lại rõ ràng nhất giọng nói hiền từ không bao giờ gắt gỏng ấy. Dù vậy, nhất là khi không còn ai thân thích trên đời, thầy có thể - và thường thường, dù không hề cố ý, trong lúc leo từng bước lên nhà vào cuối mỗi ngày làm việc - vẽ nên trong trí não hình ảnh hiển hiện của người bà đang quỳ rạp lau chùi cầu thang mỗi tuần một lần bằng chiếc bàn chải thô cứng và một xô nước đầy bọt hay đang nấu ăn cho gia đình nhỏ bé của họ trên chiếc lò than. Đó là hình ảnh cao quý nhất trong lòng thầy về người phụ nữ.
Và không bao giờ, không một lần nào kể từ khi rời trại Indian Hill vào tháng Bảy năm 1944, thầy quay trở lại Weequahic hay ghé thăm sân tập thể thao, chỗ thầy đã dạy trong ngôi trường Chancellor Avenue hay đến sân chơi Chancellor.
"Vì sao lại không ạ?" tôi hỏi.
"Sao tôi phải trở lại? Tôi là Mary thương hàn [3] của sân chơi Chancellor. Tôi là kẻ mang bệnh bại liệt đến sân chơi. Tôi là kẻ mang bệnh bại liệt đến Indian Hill."
Nhận định của thầy về vai trò của bản thân khiến tôi chấn động. Tôi không hề được chuẩn bị trước phán xét nghiệt ngã này.
"Thầy ấy hả? Chả hề có bằng cớ nào rằng đó là thầy."
"Cũng chẳng hề có bằng cớ nào rằng đó không phải là tôi," thầy nói bằng cái lối đã dùng trong gần trọn cuộc đối thoại lúc ăn trưa giữa hai thầy trò, hoặc là tránh nhìn vào mặt tôi mà nhìn vào điểm vô hình xa xôi nào đó hoặc là nhìn xuống thức ăn trong đĩa. Có vẻ như thầy không muốn tôi, hay có lẽ bất kỳ ai, nhìn vào sâu đôi mắt mình.
"Nhưng thầy cũng mắc bại liệt," tôi nói với thầy. "Cũng như hết thảy bọn em đã không may mắc bại liệt sớm mười một năm trước khi vắc-xin ra đời. Những tiến bộ phi thường của y học thế kỷ hai mươi hơi chậm cho chúng ta. Những mùa hè của trẻ thơ ngày nay tuyệt nhiên không còn chút lo âu gì như hồi trước nữa. Bóng đen của căn bệnh bại liệt đã hoàn toàn biến mất. Không còn ai trần trụi, không có kháng thể bại liệt như chúng ta khi ấy. Nhưng riêng trường hợp của thầy, nhiều khả năng là thầy nhiễm bại liệt từ Donald Kaplow hơn là thầy lây cho anh ấy."
"Còn Sheila, một trong hai cô bé sinh đôi nhà Steinberg thì sao - cô bé lây từ ai? Nghĩ mà xem, giờ đã quá muộn để đào xới hết thảy chuyện này lên," thầy nói, thật kỳ quặc, bởi chính thầy đã xới gần như hết thảy mọi thứ với tôi rồi đấy thôi. "Chuyện gì đã xảy ra thì cũng đã xảy ra rồi," thầy bảo. "Bất cứ gì tôi làm, tôi cũng đã làm rồi. Điều gì không làm, tôi không để tâm."
"Nhưng cứ cho rằng thầy là nguồn phát tán đi chăng nữa thì cũng chả ai ngờ được chuyện ấy. Nhất định là thầy đã không sống trong ngần ấy năm để tự hành hạ bản thân, tự khinh miệt mình vì những thứ mình không gây ra đấy chứ? Đó là một một bản án quá sức nghiệt ngã."
Câu chuyện dừng lại trong chốc lát, trong khi thầy thả hồn mình về một chốn xa xăm nào, rất có thể đó là năm 1944.
"Tôi đã sống chung với điều gì trong suốt ngần ấy năm ư," thầy nói, "đó là Marcia Steinberg, nếu cậu muốn biết sự thật. Tôi đã cắt đứt với rất nhiều thứ, nhưng tôi không bao giờ có thể làm thế với nàng. Trong tất cả những năm qua, vô số lần tôi tưởng đã nhận ra nàng trên phố." "Như hình ảnh của cô ở tuổi hai mươi hai chứ ạ?" Thầy gật đầu, và rồi, bổ sung vào điều vừa tiết lộ, thầy nói: "Ngày Chủ Nhật, tôi quyết không nghĩ tới nàng, tuy nhiên đó lại là điều tôi làm suốt ngày hôm đó. Và mọi nỗ lực chối bỏ của tôi chẳng hề mang lại điều gì."
Có những người đã bị quên lãng ở thời điểm bạn chối bỏ họ; đó không phải là trường hợp của thầy Cantor với Marcia. Ký ức về Marcia còn mãi.
Dùng bàn tay lành lặn, thầy lấy trong túi áo khoác ra một phong bì và đưa nó cho tôi. Nó được gửi cho Eugene Cantor số 17 đường Barclay và dấu bưu điện tại Stroudsburg, ngày 2 tháng 7 năm 1944.
"Xem đi," thầy bảo. "Tôi mang đi cho cậu xem. Tôi nhận được nó khi nàng mới rời khỏi trại hè vài ngày."
Lá thư tôi lấy từ phong bì ra được viết theo kiểu chữ Palmer [4] trên một tờ giấy khổ nhỏ, màu xanh nhạt, nét chứ bay bướm tuyệt đẹp. Trên đó viết:
Mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh
Mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh
Mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh
Mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh mãi yêu anh
Cứ như thế cho đến hết trang và sang cả nửa mặt giấy bên kia, chúng còn được lặp lại theo một đường gióng vô hình thẳng từ trên xuống. Cuối thư là chữ ký, chỉ một chữ cái viết tắt tên cô, M, một chữ viết hoa, cao, rất đẹp có một vòng cong nhỏ, tiếp theo là nét sổ thẳng "(giống như trong từ Mãi)."
Tôi đút tờ giấy vào phong bì và đưa trả nó cho thầy.
"Một cô gái hai mươi hai tuổi viết thư cho người yêu đầu tiên. Lúc nhận được thư này chắc thầy vui lắm."
"Tôi nhận được thư khi đi làm về. Tôi đã giữ nó trong túi suốt bữa tối. Tôi mang nó theo lên giường. Trong lúc ngủ tôi vẫn cầm nó trong tay. Rồi tôi tỉnh dậy khi nghe thấy tiếng chuông điện thoại. Bà tôi ngủ ở phía bên kia lối đi. Bà cũng bị đánh thức. ‘Không biết ai lại điện thoại vào giờ này nhỉ?’ Tôi đi vào bếp để nghe máy. Lúc đó đồng hồ đã chỉ quá nửa đêm vài phút. Marcia gọi từ trạm điện thoại sau văn phòng ông Blomback. Nàng đã đi nằm trong lán, nhưng không sao ngủ được, nên trở dậy và mặc đồ rồi lần mò trong đêm để gọi cho tôi. Nàng muốn biết tôi đã nhận được thư chưa. Tôi nói nhận rồi. Tôi nói tôi là của nàng cả thảy hai trăm mười tám lần - nàng có thể tin chắc như vậy. Tôi nói tôi sẽ mãi là của nàng. Rồi nàng bảo tôi rằng nàng muốn hát ru cho người yêu của mình ngủ. Lúc ấy tôi đang ở bên bàn ăn, mặc bộ đồ lót ngồi trong bóng tối và đầm đìa mồ hôi vì nóng. Đó lại là một ngày nóng bức ghê gớm nữa, và trời vẫn không hề dịu mát dù đã nửa đêm. Ánh đèn ở các căn hộ bên kia đường đã tắt. Tôi nghĩ chắc cả dãy phố chẳng ai còn thức cả.".
"Thế cô có hát cho thầy nghe không?"
"Một bài hát ru. Tôi không biết bài ấy, nhưng đó là một bài hát ru. Nàng hát rất, rất êm ái. Và cứ thế, nàng hát qua điện thoại cho đến hết bài. Có lé bài hát ấy nàng nhớ từ khi còn bé tí."
"Vậy là thầy đã say mê cả giọng hát êm ái của cô nữa."
"Tôi như ngây dại bởi niềm hạnh phúc ngập tràn. Lúc đó tôi xúc động quá nên đã thì thào trong điện thoại: ‘Em thật sự tuyệt vời như thế này sao?’ Tôi không thể tin lại có một cô gái như vậy ở ngoài đời. Tôi là chàng trai may mắn nhất thế gian. Và sao lại không cho được. Cậu hiểu tôi chứ? Với tất thảy tình yêu thương của nàng, làm sao tôi có thể không cho là thế?"
"Rồi thầy đã đánh mất cô," tôi nói. "Thầy đã mất cô ra sao? Thầy vẫn chưa kể em nghe chuyện đó."
"Không, tôi không đánh mất. Tôi không để Marcia gặp mình. Chuyện xảy ra như vậy đấy. Xem nào, hình như tôi đã nói đủ rồi." Đột nhiên, thầy lúng túng vì xấu hổ là đã tỏ ra ủy mị quá, mặt thầy đỏ bừng. "Ma xui quỷ khiến thế nào mà tôi lại đem chuyện này ra kể. Cái lá thư. Bởi tìm thấy cái thư đó. Lẽ ra tôi không bao giờ được lục kiếm lại lá thư ấy mới phải."
Chống khuỷu tay xuống bàn, thầy gục bộ mặt đỏ gay vào bàn tay lành lặn và dùng mấy đầu ngón tay xoa lên mí mắt nhắm nghiền. Chúng tôi đã đi đến phần khó khăn nhất trong câu chuyện.
"Chuyện cắt đứt với cô Marcia xảy ra ra sao?" tôi hỏi.
"Khi nàng xuống Stroudsburg để đến bệnh viện, lúc tôi đã không còn bị cách ly, tôi nhờ người ta bảo nàng về đi. Nàng để lại mẩu giấy nhắn tôi rằng cô em của nàng chỉ bị nhẹ, là một ca thể không liệt và chỉ sau ba tuần đã hồi phục hoàn toàn. Tôi yên tâm khi nghe được thế, nhưng vẫn không muốn nối lại mối quan hệ với nhà bên ấy. Marcia cố gặp tôi lần thứ hai khi tôi được chuyển xuống Philadelphia. Lần đó tôi để nàng gặp. Chúng tôi đã cãi nhau to lắm. Tôi không biết nàng có thể giận dữ đến thế - trước đó tôi chưa bao giờ thấy nàng tỏ vẻ tức giận với bất kỳ ai. Sau đó, nàng không bao giờ quay lại. Chúng tôi không bao giờ liên hệ lại nữa. Cha nàng đã cố gắng gọi điện thoại lúc tôi ở Philadelphia, nhưng tôi không nghe máy. Còn dạo tôi đang làm ở cây xăng Esso trên đại lộ Springfield, thật bất ngờ khi một hôm ông ghé vào đó mua xăng. Ông chắc đã phải đi xa lắm để mua xăng ở đó."
"Ông cụ đến đó vì cô sao? Để cố kéo thầy về à?"
"Tôi không biết nữa. Có lẽ thế. Tôi để người khác ra đổ xăng. Còn tôi lẩn đi. Tôi biết mình không xứng với bác sĩ Steinberg. Tôi không biết chuyện gì xảy đến với con gái ông. Tôi chả muốn biết. Dù cô ấy đi lấy ai đi nữa, hãy để hai vợ chồng và những đứa con của họ hạnh phúc và tận hưởng sự khỏe mạnh. Hãy cùng hy vọng Chúa trời nhân từ của họ sẽ ban phát tất thảy điều ấy trước khi đâm lưỡi dao của mình vào lưng họ."
Đó là một lời tuyên bố cay nghiệt gây chú ý của một người từng là Bucky Cantor khi xưa và trong thoáng chốc, thầy có vẻ vừa tự làm hồn mình xáo động khi nói những lời này.
"Tôi nợ nàng sự tự do của nàng," cuối cùng thầy thốt lên, "và tôi đã trao nó lại cho nàng. Tôi không muốn người con gái ấy cảm thấy bị kẹt lại với tôi. Tôi không muốn hủy hoại cuộc đời nàng. Nàng đâu thể yêu một kẻ tàn phế, và nàng không nên bị ám bởi một người như thế."
"Chẳng phải việc này tùy vào quyết định của cô hay sao?" Tôi hỏi. "Một người đàn ông có tật đôi khi lại rất hấp dẫn đối với một týp phụ nữ nào đó. Em có kinh nghiệm chuyện này."
"Cậu nghĩ mà xem, Marcia là một cô gái xinh xắn, ngây thơ, được cha mẹ tử tế, đầy trách nhiệm nuôi nấng tới nơi tới chốn, họ đã dạy dỗ nàng và những người em nàng phải lịch sự và hảo tâm," Bucky nói. "Nàng là một cô giáo dạy lớp Một trẻ trung, ngây thơ. Một cô nàng mảnh mai, thậm chí thấp hơn tôi cả gang tay. Những thứ đó không thể khiến nàng trở nên thông minh hơn tôi - nàng khi ấy vẫn còn không biết phải làm sao để thoát ra khỏi mớ bòng bong quanh mình. Nên tôi đã giúp nàng. Tôi chỉ làm những gì buộc phải làm."
"Thầy chắc đã nghĩ về chuyện này nhiều lắm," tôi nói. "Tất cả ý kiến của thầy đều nói lên điều đó."
Thầy mỉm cười, nụ cười hiếm hoi trong suốt những buổi trò chuyện giữa chúng tôi, nụ cười hệt như một cái cau mày, biểu thị một sự mệt mỏi hơn là mừng vui. Ở thầy không thấy nét hân hoan phấn chấn nào. Giờ nó đã biến mất, dù trước đây, cùng với nghị lực và tính siêng năng, đó là đặc điểm chính nơi thầy. Và, đương nhiên, cả tố chất điền kinh cũng đã hoàn toàn mất dạng. Điều này không phải chỉ bởi giờ đây một cánh tay và một bên chân không còn dùng được nữa. Bản tính xưa của thầy, tất thảy nét đặc trưng không thể thiếu sẽ đập ngay vào mắt bạn ở khoảnh khắc đầu tiên gặp thầy, dường như đã bị lột bỏ đi mất rồi, chúng đã biến thành những mảnh vụn nhỏ bay đi khỏi người thầy như thể miếng vỏ mỏng mà thầy lột từ thân cây phong trong cái đêm đầu tiên cùng Marcia trên hòn đảo giữa hồ ở Indian Hill. Chúng tôi gặp nhau một ngày mỗi tuần vào bữa trưa trong vài tháng và không lần nào thầy tỏ ra phấn chấn, kể cả lúc nói câu: "Nàng thích bài hát này, ‘Rồi em sẽ gặp lại anh’ - Tôi cũng sẽ không bao giờ có thể quên bài ấy. ủy mị, dớ dẩn thật đấy, nhưng dù sao có lẽ tôi sẽ còn nhớ chừng nào còn sống. Tôi không biết sẽ ra sao nếu tôi phải nghe lại bài hát ấy lần nữa." "Thầy sẽ khóc òa mất."
"Có lẽ thế."
"Thầy có quyền khóc mà," tôi nói. "Bất cứ ai cũng sẽ đau khổ, sau khi phải từ bỏ một tình nhân đích thực như thế." "Ôi, anh bạn cũ nơi sân chơi của tôi ơi," thầy thốt lên, nhiều xúc cảm hơn cách thầy nói khi trước. "Tôi không bao giờ nghĩ cảnh chia tay với nàng sẽ ra sao. chưa bao giờ." "Khi cô nổi nóng với thầy - cái lần cô đến Philadelphia gặp thầy -"
"Sau đó tôi không còn gặp lại nàng nữa."
"Thầy đã nói rồi. Nhưng chuyện khi ấy ra sao?"
Lúc ấy tôi còn phải ngồi xe lăn, thầy kể, đó là một ngày thứ Bảy đẹp trời giữa tháng Mười, trời vẫn còn đủ ấm để người ta có thể đi ra bên ngoài và nàng có thể ngồi trên chiếc ghế băng nơi bãi cỏ phía trước Viện y học Kenny, dưới những tán cây lá đã chuyển màu và bắt đầu rụng, nhưng trời cũng không còn đủ ấm áp nên trận dịch bại liệt ở các bang miền đông bắc chưa bị xua tan và tàn lụi hoàn toàn. Bucky đã không gặp hay nói chuyện với nàng được gần ba tháng, nên Marcia không hay biết gì về mức độ tàn tật của anh. Rồi cũng có sự liên lạc, không phải giữa Bucky và Marcia mà giữa Bucky và bố nàng. Bác sĩ Steinberg đã viết thư nói rằng anh cần cho phép Marcia thăm mình và để cô trực tiếp nói ý nghĩ của mình với anh. "Marcia và gia đình," bác sĩ Steinberg viết, "xứng đáng để được cháu đối xử tốt hơn thế này." Nhận được một bức thư được viết tay trên tờ giấy in riêng cho bệnh viện từ một người là bác sĩ, Bucky, đương nhiên, không thể từ chối, thế nên ngày giờ cuộc thăm viếng đã được định, để rồi trận cãi vã gần như ngay lập tức nổ ra khi nàng đến, lúc anh nhận ra tóc nàng đã để dài hơn so với lần gặp cuối, điều này khiến nàng trông nữ tính hơn hồi ở trại và trở nên xinh xắn hơn lúc nào hết. Nàng đi găng và đội mũ, trông hệt như một cô giáo chính hiệu, người đã khiến anh lần đầu đắm đuối.
Miệng thì tuyên bố rằng dù nàng có nói gì anh cũng không đổi ý, nhưng anh lại ước ao được đưa bàn tay lành lặn chạm vào khuôn mặt nàng biết bao. Thay vì thế, anh dùng cánh tay ấy nắm lấy cổ cánh tay bị liệt bại và nâng nó lên ngang tầm mắt nàng. "Nhìn xem," anh nói. "Giờ anh trông như thế này đây."
Nàng không nói gì, nhưng cũng không hề chớp mắt. Không, anh bảo nàng, anh không còn xứng làm một người chồng, một người cha và nếu nàng không nghĩ như thế thì đó là một sự vô trách nhiệm.
"Vô trách nhiệm với bản thân em sao?" Nàng khóc.
"Cố trở thành một nữ anh hùng cao quý. Đúng thế."
"Anh đang nói gì vậy? Em chẳng định trở thành ai khác ngoài người yêu anh, muốn lấy anh và trở thành vợ anh." Rồi chủ động vào đề theo cách mà chắc nàng đã nghĩ kỹ lúc trên tàu hỏa đến thăm anh. "Bucky, điều này không có gì phức tạp, thật thế," nàng bảo anh. "Em không phải là người phức tạp. Anh có nhớ không? Có nhớ em đã nói gì với anh trong cái đêm trước khi em rời trại hồi tháng Sáu không? ‘Chúng mình sẽ bên nhau trọn đời.’ Phải, nhất định chúng mình sẽ thế. Không gì có thể thay đổi điều đó. Em chỉ là một cô gái bình thường mong muốn được hạnh phúc. Anh làm em hạnh phúc. Anh đã luôn làm thế. Sao giờ anh lại không?"
"Bởi vì cái đêm trước khi em rời trại đã qua lâu rồi. Bởi vì anh không còn là người mà em đã yêu nữa. Em tự lừa dối bản thân nếu em nghĩ rằng đó vẫn là anh lúc này. Em chỉ đang làm điều mà lương tâm em mách bảo rằng đó là đúng - anh hiểu mà."
"Anh chẳng hiểu gì hết! Anh đang nói những lời vô nghĩa! Anh đang cố tỏ ra cao thượng bằng cách từ chối nói chuyện với em và từ chối gặp em. Bằng cách bảo em hãy đi đi để mặc anh một mình. Ôi Bucky, anh mù quáng quá rồi!" "Marcia, hãy lấy một người không bị tàn tật, một người khỏe mạnh, một người xứng đáng, một người có hết thảy những phẩm chất của người cha sau này. Em có thể có bất cứ ai, một luật sư, một bác sĩ - ai đó cũng thông minh như em và cũng có học như em. Đó là điều em và gia đình em xứng đáng có được. Và đó là điều em phải làm."
"Anh đang chọc tức em nên mới nói với em thế này! Từ trước tới giờ em chưa bao giờ gặp điều gì khiến em bực bội như những điều anh đang làm ngay lúc này! Em chưa bao giờ biết người nào khác ngoại trừ anh thấy dễ chịu khi chê trách bản thân mình đến thế!"
"Không phải anh làm thế đâu. Thế là hoàn toàn sai với những gì anh đang nói. Anh chỉ đột nhiên nhận ra những hậu quả của điều đã xảy ra còn em thì không. Em sẽ không nhận ra. Nghe anh này: mọi thứ đã không còn giống như hồi trước mùa hè. Nhìn anh đây. Mọi thứ không thể khác biệt hơn được nữa. Em nhìn đi."
"Xin anh thôi đi. Em đã nhìn tay anh và em mặc kệ." "Thế thì nhìn chân anh," anh bảo, kéo ống quần pyjama lên.
"Thôi đi, em xin anh đấy! Anh nghĩ rằng cơ thể anh bị biến dạng, nhưng cái thực sự biến dạng là trí não của anh!" "Lại một lý do thích đáng nữa để cứu em thoát khỏi anh. Phần lớn phụ nữ sẽ vui mừng nếu một kẻ tàn phế tình nguyện rời khỏi cuộc đời họ."
"Vậy thì em không nằm trong số phần lớn ấy! Và anh không chỉ là một người tàn phế! Bucky, anh lúc nào cũng thế này. Anh không bao giờ nhìn nhận mọi sự theo đúng trật tự của chúng - không bao giờ! Anh luôn nhận trách nhiệm về mình trong khi anh chẳng hề có lỗi. Chỉ một trong hai khả năng hoặc là Chúa tồi tệ, người phải chịu trách nhiệm; hoặc là Bucky Cantor tệ hại, người phải chịu trách nhiệm, trong khi thực ra, trách nhiệm không nằm ở cả hai người. Thái độ của anh đối với Chúa - nó chưa chín chắn, nó chỉ thuần túy là ngốc nghếch."
"Này, Chúa của em không phải là thứ anh mê, nên đừng có đưa ông ta vào câu chuyện. Ông ta quá tầm thường đối với anh. Ông ta dành quá nhiều thời gian cho việc giết trẻ con."
"Đây cũng lại là điều vô nghĩa lý nữa! Đừng chỉ vì mắc bại liệt mà anh có quyền ăn nói lung tung. Anh chẳng biết Chúa là gì hết! Chả ai biết hay có thể nhận thức được! Anh đang tỏ ra ngu như lừa mà anh đâu phải là lừa. Anh nói năng bất cần - mà anh đâu có phải vậy. Anh đang tỏ ra điên khùng - mà anh có điên đâu. Anh không bao giờ điên cả. Đầu óc anh hoàn toàn tỉnh táo. Tỉnh táo và lành mạnh, khỏe khoắn và minh mẫn. Nhưng còn việc này! Chối bỏ tình yêu của em dành cho anh, chối bỏ gia đình em - Em từ chối không tham gia vào cái trò điên rồ đó!"
Lúc này sự ương bướng cũng sụp đổ, và úp mặt vào hai tay, nàng bắt đầu nức nở. Các bệnh nhân đang tiếp khách ở những ghế băng gần bên hay đang được đẩy đi trên xe lăn dọc con đường lát gạch phía trước viện không biết chuyện gì mà chỉ thấy một cô gái trẻ, mảnh mai, xinh xắn, ăn vận đẹp ngồi kề một bệnh nhân trên một chiếc xe lăn, rõ ràng đang bị nỗi khổ đau cuốn đi.
"Anh khiến em hoàn toàn rối trí," cô nói qua hàng nước mắt. "Giá như anh được gọi nhập ngũ, có thể anh sẽ - ôi, em không biết anh sẽ ra sao nữa. Có thể anh sẽ là một người lính và vượt qua tất thảy mọi chuyện - bất kể là chuyện gì. Anh không tin rằng chính anh là người em yêu, dù cho anh có bị mắc hay không căn bệnh bại liệt sao? Anh không hiểu rằng kết cục tồi tệ nhất với hai ta là để anh rời bỏ em sao? Em không thể chịu đựng nổi việc mất anh - những điều này liệu có tác động được tới anh không? Bucky, cuộc đời anh sẽ dễ chịu hơn rất nhiều nếu anh cứ để mọi sự như nó vốn thế. Em sẽ thuyết phục anh rằng chúng ta phải cùng nhau bước tiếp bằng cách nào đây? Vì Chúa, đừng lo cho em. Hãy làm những gì chúng ta đã bàn - cưới em đi!"
Nhưng anh không hề nhúc nhích, mặc cho nàng khóc bao lâu đi nữa và mặc cho vẻ chân thành của tiếng khóc than làm anh như đứt từng khúc ruột. "Cưới em đi," nàng bảo, và anh chỉ có thể đáp. "Anh sẽ không làm thế với em," rồi nàng chỉ có thể đáp. "Anh không làm gì em cả - Em chịu trách nhiệm với những quyết định của mình!" Nhưng anh không đổi ý, cả khi có cơ hội cuối cùng để làm một người đàn ông bình thường là giữ cho mình cô gái trẻ đoan trang anh nhất mực yêu thương, người đã không hề đắn đo chọn lựa một người tàn tật làm bạn đời của mình. Cách duy nhất để giữ gìn chút phẩm giá còn sót lại là phải chối bỏ bản thân khỏi tất thảy những gì anh hằng ao ước - lẽ ra anh phải bị nàng thuyết phục làm theo ý nàng, bởi nếu không, anh sẽ mất tất cả. Điều quan trọng nhất là, nếu nàng vẫn chưa sẵn sàng tế nhị buông bỏ việc anh đang từ chối mình, nếu nàng vẫn còn quá bấu víu vào mối tình ngây thơ của mình - và nghe lời người cha câu nệ đạo đức của mình - đến khi nhìn thấy sự thật trần trụi cho mình, nàng sẽ thấy hoàn toàn hụt hẫng so với việc có một gia đình và mái nhà của riêng mình, cùng lũ trẻ vui tươi và một người chồng lành lặn. Rồi, ngày đó sẽ đến, và không xa nữa đâu, khi ấy nàng sẽ cảm kích việc anh đã tàn nhẫn từ chối nàng - khi ấy nàng nhận ra cuộc đời mà anh dành cho mình tốt hơn biết bao vì không còn bóng dáng anh trong đó.
❀ ❀ ❀
[1] . Elizabeth Kenny (1880-1952) là một nữ y tá người Úc đã đề xuất phương pháp vật lý trị liệu cho các bệnh nhân bại liệt. Đầu những năm 1940, một số cơ sở y tế điều trị bệnh nhân bại liệt với phương pháp của bà và cũng mang tên của bà được lập ra ở Mỹ.
[2] . Cuộc bạo động diễn ra trong sáu ngày từ ngày 12 đến ngày 17-7-1967 do người Mỹ gốc Phi gây ra ở Newark khiến 26 người chết và hàng trăm người khác bị thương.
[3] . Mary thương hàn là biệt danh của Mary Mallon (1869-1938) - trường hợp đầu tiên ở Mỹ được xác định là người lây truyền bệnh thương hàn nhưng không hề có triệu chứng bị bệnh (danh từ chuyên môn là người lánh mang trủng).
[4] . Austin Palmer là người đề xướng và cổ xúy một lối viết chữ đẹp hồi cuối thế ký XIX đầu thế kỷ XX. Sau này trở thành lối viết phổ biến ở Mỹ.