Báo Ứng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

KHI THẦY KỂ XONG CÂU CHUYỆN về lần gặp gỡ cuối cùng với Marcia, tôi hỏi: "Thầy đã đau đớn ra sao sau tất cả những chuyện ấy?"

"Chúa đã giết mẹ tôi khi sinh nở. Chúa đã cho tôi một người cha ăn cắp. Khi tôi mới ngoài hai mươi, Chúa cho tôi bệnh bại liệt để đến lượt mình, tôi lại truyền cho ít nhất là mấy tá trẻ, có lẽ còn nhiều hơn - bao gồm cả em của Marcia, bao gồm cả cậu, gần như chắc chắn thế. Gồm cả Donald Kaplow. Cậu ta chết trong máy trợ thở ở bệnh viện Stroudsburg vào tháng Tám năm 1944. Tôi phải đau đớn ra sao? Cậu nói đi." Thầy bày tỏ những điều này một cách chua cay, với cùng giọng điệu giống như khi tuyên bố rằng Chúa của Marcia một ngày nào đó sẽ phản lại cô và cũng sẽ thọc một dao vào lưng cô.

"Mục đích của em không phải là," tôi đáp, "đổ lỗi một ai đó, một nạn nhân nào đó của bại liệt, dù là trẻ hay già bởi không ai có thể vượt qua nổi nỗi đau của sự tàn phế vĩnh viễn. Tất nhiên cũng có những cảm giác nản lòng trước sự dai dẳng này. Nhưng tới lúc nào đó phải làm một điều gì đó khác đi chứ. Thầy nói đến Chúa. Thầy vẫn còn tin vào vị Chúa mà thầy chối bỏ chứ?"

"Ừ. Chắc phải có ai đó đã tạo lập nên nơi này chứ." "Chúa - kẻ tội đồ vĩ đại," tôi nói. "Dù sao nếu quả Chúa có lỗi, thì thầy không thể cũng là người có lỗi được." "Thôi được, đó là bí ẩn của y học. Tôi là một bí ẩn của y học," thầy Bucky nói với vẻ phân vân. Phải chăng ý thầy rằng có lẽ đây là một bí ẩn của thần học? Đây phải chăng là quan niệm phổ thông của thuyết ngộ đạo với một đấng toàn năng xấu xa, độc ác? Thánh thần phải chăng là kẻ thù của chúng ta? Phải thừa nhận rằng những bằng cứ thầy rút ra từ cuộc sống không hề ít. Chỉ có cái ác mới có thể tạo ra bệnh bại liệt. Chỉ có cái ác mới tạo ra Horace. Chỉ có cái ác mới gây nên chiến tranh thế giới thứ hai. Gộp tất cả những điều này với nhau thì cái ác thắng thế. Cái ác chính là đấng toàn năng. Quan niệm của thầy Cantor về đức Chúa, như tôi hiểu, là một Đấng toàn năng mà bản chất và động cơ được biện giải không phải từ những bằng chứng đáng ngờ trong kinh sách mà từ những bằng chứng lịch sử không thể chối cãi, lượm lặt được trong cả quãng đời tồn tại trên hành tinh này vào giữa thế kỷ hai mươi. Quan niệm của thầy về Chúa là một đấng toàn năng hiện hữu hợp nhất không phải từ ba cá thể trong một theo thuyết Chúa ba ngôi của Thiên Chúa giáo, mà từ hai - một kẻ bệnh hoạn và một thiên tài xấu xa độc ác.

Theo suy nghĩ vô thần của tôi, lý giải Chúa theo cách đó cũng không lố bịch hơn việc trao lòng tin cho các đấng thần linh đang phù trợ hàng tỷ người khác; về phần cuộc nổi loạn của thầy Cantor chống lại Người, với tôi, nó lố bịch đơn giản bởi không cần làm thế. Coi bệnh dịch bại liệt trong đám nhỏ ở khu Weequahic và ở trại Indian Hill chỉ là một tai họa là điều thầy không sao chấp nhận được. Thầy cần phải biến tai họa đó thành tội lỗi. Thầy phải tìm kiếm một quy luật tự thân cho điều đã xảy đến. Đã có một dịch bệnh và thầy cần một lý do cho nó. Thầy phải hỏi tại sao. Tại sao? Tại sao? Coi sự kiện đó là vô mục đích, ngẫu nhiên, vô lý, và chỉ là bi kịch không sao khiến thầy thỏa mãn. Coi đó chỉ là sự sản sinh lan truyền của vi-rút không khiến thầy hài lòng. Thay vào đó thầy - kẻ tuẫn nạn này, kẻ điên dại của nguyên cớ này - tìm kiếm một cách tuyệt vọng cho một nguyên nhân sâu xa hơn - là ở Chúa hoặc ở chính bản thân mình, theo một cách thần bí, theo một cách bí ẩn, trong một mối liên minh ma quỷ với nhau hay chỉ là kẻ hủy diệt đơn lẻ. Tôi phải nói rằng mặc dù tôi rất cảm thông với những nỗi đau buồn chồng chất đã khiến đời thầy tàn lụi, nhưng đây không gì khác hơn là sự ngạo mạn ngu ngốc, không phải là sự ngạo mạn của ý chí hay tham vọng mà là sự ngạo mạn của trí tướng tượng, của sự cảm nhận ngây ngô về tôn giáo. Chúng ta đã từng nghe toàn bộ điều này trước kia và bây giờ đã nghe đủ rồi, kể cả nghe từ những người hết sức tốt như thầy Cantor.

"Còn cậu, Arnie?" Thầy hỏi tôi. "Cậu không thấy đau xót à ? "

"Em mắc bệnh từ khi còn bé. Lúc đó em mới mười hai tuổi, bằng khoảng một nửa tuổi thầy. Em đã nằm viện gần một năm. Em là đứa lớn nhất trong khoa nhi khi ấy," tôi nói, "xung quanh là bọn nhỏ la hét và khóc lóc đòi người nhà - từ sáng đến đêm lũ nhỏ ấy tìm kiếm vô vọng một khuôn mặt quen thuộc với chúng. Không chỉ chúng có cảm giác cô đơn. Có vô số nỗi sợ hãi và sự tuyệt vọng ở quanh đấy. Và vô số nỗi đau xót lớn lên cùng với một đôi chân hư bại. Trong nhiều năm cứ tới đêm em nằm trên giường thì thầm nói chuyện với các chi của mình, ‘Cử động đi! Cử động nào!’ Em lỡ mất một năm học ở trường, nên khi quay lại em cũng mất lớp và lũ bạn cũ học cùng, ở trường trung học em cũng có vài lần đau khổ. Bọn con gái thì thương hại còn lũ con trai thì xa lánh em. Em thường ngồi ưu tư ở ngoài đường biên sân bóng. Cuộc đời bên lề khiến em có một thời niên thiếu đau buồn. Em những muốn bước đi giống như tất cả mọi người khác. Nhìn chúng bạn còn lành lặn đang chơi bóng sau giờ học, em muốn thét lên, ‘tôi cũng có quyền được chạy mà!’ Em thường xuyên bị dằn vặt bởi ý nghĩ rằng thật dễ biết bao để mọi chuyện có thể xoay theo hướng khác. Có một dạo em không muốn đi học chút nào - em không muốn suốt cả ngày dài phải thấy thân hình lũ bạn cùng trang lứa và tất cả những thứ chúng có thể thực hiện. Điều em muốn là thứ nhỏ nhặt nhất trên đời: được giống như mọi người. Thầy biết cái cảm giác đó mà," tôi nói với thầy. "Tôi sẽ không bao giờ là thằng tôi khi xưa nữa. Thay vào đó tôi sẽ thế này cho đến hết đời. Tôi sẽ không bao giờ còn biết đến niềm vui sống nữa rồi."

Bucky gật đầu. Thầy - người đã có một thời ngắn ngủi đứng trên cầu nhảy mức cao ở Indian Hill, đã từng là chàng trai hạnh phúc nhất trên trái đất, người đã từng được nghe Marcia Steinberg âu yếm hát ru cho ngủ qua điện thoại đường dài trong cái nóng bức kinh người của mùa hè chết chóc đó - thầy đã hiểu những lời tôi vừa kể một cách rất dễ dàng.

Rồi tôi kể cho thầy nghe về một người bạn cùng phòng hồi học dự bị đại học năm thứ hai. "Khi tới trường Đại học Rutgers," tôi kể, "em cùng một bạn mắc bại liệt người Do Thái được phân chung phòng trong một ký túc xá của những sinh viên khỏe mạnh. Đấy là cách ghép cặp các sinh viên kiểu Nô-ê hồi bấy giờ. Thể chất cậu ấy kém em xa. Bị biến dạng thê thảm. Tên cậu là Pomerantz. Một sinh viên ưu tú, ở trung học được đại diện phát biểu cho toàn thể học sinh, một thiên tài bẩm sinh, vậy mà em không thể chịu nổi cậu ta. Cậu đã làm em phát điên. Không sao khiến cậu ấy im tiếng. Không thể kiềm chế nổi những khát khao cháy bỏng về một Pomerantz trước khi bị bại liệt. Không thể lẩn tránh, dù chỉ một ngày, về sự bất công đã xảy đến cho cậu. Cứ thế và cứ thế một cách ma quỷ. ‘Lúc đầu cậu sẽ nhận ra cuộc đời một thằng tàn phế là thế nào,’ cậu ấy bảo em. ‘Đó là giai đoạn một. Khi đã bình phục, cậu phải cố làm những việc vặt vãnh tối thiểu để khỏi bị suy sụp tinh thần. Đó là giai đoạn hai. Sau đó, cậu phải vật lộn để khỏi là con số không nhưng theo kinh nghiệm xương máu dài lâu cho thấy đó chính là thứ cậu sẽ trở thành. Và rồi, nếu may mắn, sau năm trăm giai đoạn nữa, ở tuổi bảy mươi, cậu thấy mình cuối cùng đã có thể nói thành thật, "Ôi, tôi đã vượt qua tất cả - tôi đã không cho phép cuộc đời rời bỏ tôi hoàn toàn." Đó là lúc cậu chết. Pomerantz đã đạt thành tích xuất sắc ở lớp dự bị, dễ dàng lọt vào trường y, và rồi cậu ấy chết - cậu ấy tự tử ở trường ngay trong năm học đầu."

"Tôi không thể bảo," thầy Cantor bảo tôi, "rằng tôi chưa từng bị ý tưởng ấy hút hồn."

"Em cũng có nghĩ đến điều đó," tôi nói. "Nhưng rồi em không quá bê bối như Pomerantz. Và rồi em may mắn, vô cùng may mắn: trong năm cuối đại học em gặp vợ em. Và dần dần bại liệt biến mất chỉ còn lại niềm vui sướng, và em dứt bỏ được cái ngưỡng cản của số mệnh. Em nhận ra hồi năm 1944 ở Weequahic em đã sống qua được thảm kịch cộng đồng trong cả một mùa hè dài dằng dặc nên cũng chẳng việc gì phải làm một người bi quan suốt cả cuộc đời. Vợ em là bạn đồng hành dịu dàng, vui tươi trong suốt mười tám năm nay. Cô ấy rất có ý nghĩa đối với em. Rồi khi có con và được làm cha, ta sẽ bắt đầu quên đi cánh tay đã hỏng."

"Tôi tin chắc là thế. Cậu trông có vẻ mãn nguyện nhỉ." "Giờ thầy sống ở đâu?" Tôi hỏi.

"Tôi chuyển đến bắc Newark, ở gần công viên Branch Brook. Đồ đạc ở chỗ của bà ngoại tôi cũ và ọp ẹp quá nên tôi cũng không màng giữ lại nữa. Ra ngoài một sáng thứ Bảy và mang về một cái giường mới tinh, sô-pha, ghế, đèn, tất tần tật. Giờ tôi có một chỗ ở khá tiện nghi."

"Thầy làm sao để hòa nhập với mọi người?"

"Tôi không phải là người quảng giao Arnie ạ. Tôi đi xem phim. Thứ Bảy tôi đi xuống Ironbound ăn món Bồ Đào Nha. Tôi thích ngồi trong công viên những khi đẹp trời. Tôi xem ti-vi. Tôi theo dõi chương trình thời sự." Tôi hình dung thầy làm những việc đó thui thủi một mình, giống như một anh chàng nhà quê si tình, cố sao cho trong ngày Chủ Nhật không mỏi mòn nghĩ về Marcia Steinberg và trong những ngày còn lại thì không phải hình dung đã gặp cô, vẫn ở tuổi hai mươi hai, đang dạo bước trên những con phố trung tâm. Bất kỳ ai khi nhớ về chàng Bucky khi xưa cũng sẽ dự đoán rằng chàng sẽ có đủ sức mạnh để chinh phục những thử thách cao hơn thế. Và rồi tôi nghĩ đến bản thân mình, khi không có gia đình, người thân và tự hỏi liệu tôi có thể làm được gì tốt hơn hay cũng chỉ đến thế. Phim ảnh rồi công việc và Chủ Nhật đi ăn quán - tôi thấy sao mà cô đơn ảm đạm quá.

"Thầy có xem thể thao không?"

Thầy lắc mạnh đầu như thể tôi vừa tra hỏi một đứa bé rằng có phải cháu vừa nghịch diêm không.

"Em hiểu," tôi nói. "Khi lũ nhỏ nhà em còn bé tí thì em không thể cùng chúng chạy quanh sân, rồi khi chúng lớn hơn và học đi xe đạp thì em không thể đi cùng với chúng, chuyện với em là thế đấy. Thầy cố kiềm chế cảm xúc của mình nhưng thật không dễ chút nào."

"Tôi thậm chí còn không xem các trang tin thể thao trên báo. Tôi không muốn nhìn thấy chúng nữa."

"Thầy có bao giờ còn gặp Dave bạn của thầy sau khi anh ấy giải ngũ không?"

"Cậu ấy kiếm được việc làm trong hệ thống trường ở khu Englewood. Rồi mang theo vợ và các con dời lên đó. Không, tôi không gặp cậu ấy nữa." Rồi thầy chìm vào im lặng, và điều đó không gì rõ ràng hơn là mặc cho những lời tuyên bố khắc kỷ rằng không sống với những gì mình không có, thầy đã tuyệt nhiên không sao quen được sự mất mát to lớn đến thế, và rằng hai mươi bảy năm sau, thầy vẫn còn tự vấn về tất cả những gì đã và đã không xảy ra, luôn cố gắng tối đa để không nghĩ đến vô số điều - trong số đó, là chuyện nếu còn dạy tới giờ, chắc thầy sẽ là người đứng đầu bộ môn điền kinh ở trường trung học Weequahic.

"Tôi muốn giúp bọn trẻ và khiến chúng mạnh khỏe," cuối cùng thầy nói, "vậy mà thay vào đó tôi lại khiến chúng thương tật vĩnh viễn." Đấy là ý nghĩ đã biến mấy thập niên của thầy thành sự âm thầm chịu đựng, chàng Bucky của ngày xưa tuyệt nhiên không hề đáng phải chịu đựng nỗi dày vò như vậy. Lúc này nhìn thầy như thể đã từng sống trên trái đất này suốt cả bảy ngàn năm tủi hổ. Tôi nắm lấy bàn tay còn lành lặn của thầy - bàn tay mà các cơ còn hoạt động bình thường nhưng không còn rắn chắc và khỏe khoắn nữa, bàn tay không còn cứng chắc mà chỉ như một khúc thịt mềm - rồi nói, "Bại liệt làm hại bọn trẻ. Thầy không phải là thủ phạm. Thầy chả liên quan gì đến chuyện dịch lây lan hệt như Horace cũng không liên quan vậy. Thầy cũng chỉ là một nạn nhân như bất kỳ ai trong số chúng em mà thôi."

"Không phải vậy đâu, Arnie. Tôi nhớ có một tối Bill Blomback kể cho lũ trẻ về những người thổ dân da đỏ, về lòng tin của họ vào sự hiện hữu của một con quỷ, nó đang giương cung bắn về phía họ một mũi tên vô hình, mũi tên ấy chắc chắn sẽ mang tới bệnh tật cho họ -"

"Đừng thầy ạ," tôi phản đối. "Làm ơn đừng nghĩ theo hướng đó. Đấy chỉ là câu chuyện bên đám lửa trại mà thầy Cantor, một chuyện dành cho trẻ em thôi. Trong chuyện chắc hẳn có cả một pháp sư xua đuổi những linh hồn ma quỷ. Thầy không phải con quỷ của người da đỏ. Thầy cũng chả phải là mũi tên đó nữa, khốn kiếp thật - thầy đâu phải người mang đến tật nguyền và chết chóc. Thầy không bao giờ là thủ phạm cả - Thầy -không được chấp nhận giả thuyết ấy - em nhắc lại: thầy hoàn toàn vô tội."

Và rồi, với vẻ phẫn nộ - như thể tôi có thể khiến thầy thay đổi chỉ nhờ vào một khát khao rằng phải khiến thầy thay đổi; như thể, sau từng ấy tiếng đồng hồ nói chuyện lúc ăn trưa, giờ tôi có thể khiến thầy nhìn nhận bản thân không chỉ sở hữu những khiếm khuyết và bắt đầu thanh trừ mặc cảm tội lỗi nơi thầy; như thể tôi hoàn toàn có thể làm sống lại chút gì còn vương sót lại của người quản lý sân chơi trẻ trung, không khoan nhượng hồi xưa, người chỉ có một mình, đã đứng ra ngăn chặn cả chục tên côn đồ người Ý định dọa nạt chúng tôi với lời lẽ đe dọa mang bệnh bại liệt lây truyền cho người Do Thái - tôi nói, "Đừng đối nghịch với bản thân. Thế giới này đã quá đủ khắc nghiệt rồi. Đừng làm mọi sự xấu thêm bằng việc hiến tế bản thân thầy."

Nhưng thật khó lòng cứu giúp một con người chính trực đã bị hủy hoại. Việc thầy chỉ có mỗi mình, trong cả quãng thời gian dài chỉ dùng cách nghĩ của riêng mình về mọi điều - và đã mất mọi điều mà thầy khao khát được có - khiến tôi không thể khu trục cách lý giải về sự kiện bi thảm trong cuộc đời thầy hoặc thay đổi mối liên hệ của thầy với chúng. Thầy Cantor không phải là một con người tài năng - nếu thế thầy hẳn đã không làm giáo viên dạy thể dục cho bọn nhỏ và cũng chưa từng nhàn rỗi, thảnh thơi. Nói chung thầy là người kém hài hước, ăn nói tương đối rành mạch và gần như không có chút dí dỏm nào, người cả đời chả bao giờ châm biếm hay mỉa mai, người hiếm khi nói đùa một câu hay chế nhạo ai đó - kiểu người thay vì quan trọng hóa chức trách của mình thì lại được phú cho một chút sức mạnh tinh thần, và bởi thế nên thầy đã phải trả giá đắt khi gán cho câu chuyện mình cái ý nghĩa tiêu cực nhất, điều này càng lúc càng thêm mãnh liệt và làm gia tăng một cách ác hại nỗi bất hạnh của đời thầy. Sự tàn phá mà cả hai nơi, sân chơi Chancellor và trại Indian Hill, phải gánh chịu với thầy dường như không phải là một điều vô lý ác độc của thiên nhiên mà là một tội ác tày trời của bản thân, nó cướp đi tất cả những gì thầy đã từng có và phá nát cuộc đời thầy. Cảm giác tội lỗi ở người như thầy Cantor có thể mang vẻ ngớ ngẩn nhưng, trong thực tế, là không thể tránh khỏi. Một người như vậy giống như đã bị kết án. Không gì anh ta làm có thể thỏa mãn ý tưởng đó của bản thân. Anh ta không bao giờ biết bổn phận của mình dừng ở đâu cả. Anh không bao giờ tin ở những giới hạn của anh bởi vì, lòng tốt bẩm sinh lạnh lùng sẽ không bao giờ cho phép anh ta gạt bỏ bản thân khỏi nỗi khổ đau của những người khác, anh ta sẽ không bao giờ chấp nhận một cách vô tư rằng mình có bất kỳ một hạn chế nào. Thắng lợi to lớn nhất của một người như vậy là giải phóng người mình yêu khỏi việc lấy một người chồng tàn tật, và thái độ anh hùng của anh ta là từ chối ước muốn lớn lao nhất của mình bằng cách từ bỏ cô.

Mặc dù có lẽ nếu thầy không lẩn trốn thử thách ở nơi sân chơi, có lẽ nếu như thầy không bỏ rơi bọn trẻ ở Chancellor chỉ vài ngày trước khi thành phố đóng cửa sân chơi và đưa cả bọn về nhà - và cũng có lẽ, nếu người bạn thân thiết nhất của thầy không hy sinh trong cuộc chiến - thầy hẳn sẽ không quá vội vàng trách móc bản thân về tấn thảm kịch ấy đến vậy và có thể đã không trở thành một trong những người tự dằn vặt bản thân suốt đời. Có lẽ nếu thầy cứ tiếp tục lưu lại Newark và bám trụ lại lâu hơn cùng những người dân Do Thái ở Weequahic trong một thách thức chung trước căn bệnh bại liệt và cho dù có chuyện gì xảy ra với mình đi chăng nữa, vẫn kiên cường đến cùng, cho tới khi bệnh dịch chấm dứt...

Hay có thể thầy đã nhìn nhận câu chuyện theo cách của mình mà không còn để tâm đến vai trò của bản thân trong đó ra sao nữa, và với tất cả những gì tôi biết - với tất cả những hiểu biết khoa học về các trận dịch bệnh - có lẽ đúng là như thế. Có thể ở đây không phải là thầy sai. Có thể đúng là thầy không bị niềm tin mù quáng đánh lừa. Có thể khẳng định của thầy không hề cường điệu hóa và thầy không hề kết luận sai. Có thể thầy chính là mũi tên vô hình đó.

VÀ LÚC ĐÓ, ở cái tuổi hai mươi ba, đối với tất cả bọn con trai chúng tôi, thầy là hình ảnh mẫu mực và đáng kính nhất chúng tôi được biết, một thanh niên quả quyết, khoan dung, tốt bụng, công bằng, điềm đạm, hòa nhã, đầy sinh lực, vạm vỡ - vừa là đồng đội vừa là chỉ huy. Và không gì chói sáng hơn hình ảnh trong buổi chiều gần cuối tháng Sáu, trước khi trận dịch năm 1944 lan chiếm khắp thành phố - trước khi cơ thể và cuộc đời của nhiều đứa trong chúng tôi thay đổi hoàn toàn - chiều ấy tất cả chúng tôi xếp hàng đi sau thầy từ sân chơi tới bãi đất lớn bên kia phố dưới chân một con dốc ngắn. Đó là nơi đội bóng trường trung học thường dùng để tập thể lực và luyện tập và là nơi thầy sẽ chỉ cho chúng tôi cách phóng lao. Mặc đồ ngắn bó sát người, quần soóc vải xa-tanh, áo sát nách, đi giày đinh, tay phải cầm lỏng ngọn lao, thầy dẫn đầu cả nhóm.

Khi chúng tôi tới nơi, bãi đất vắng tanh và thầy Cantor bảo chúng tôi tập trung ở đường biên phía đại lộ Chancellor, ở đó thầy cho từng đứa xem cây lao và được tự tay cầm nó, một thanh kim loại mảnh nặng khoảng gần một cân và dài chừng hai mét sáu. Thầy chỉ cho chúng tôi xem các cách khác nhau để cầm phần cán được quấn thừng và cách thầy ưa dùng hơn cả. Rồi thầy giải thích đôi điều về nguồn gốc của cây lao, thứ vũ khí đã xuất hiện trong các xã hội nguyên thủy, trước khi phát minh ra cung và tên, và việc ném lao để săn bắn, rồi cho tới hội thi Olympic đầu tiên vào thế kỷ thứ tám trước công nguyên tại Hy Lạp. Vận động viên phóng lao đầu tiên được nhắc đến là Hercules, chiến binh vĩ đại và là người chuyên giết quái vật, thầy Cantor bảo, đó là con trai của vị thần đứng đầu các vị thần Hy Lạp cổ, Zeus, và cũng là người mạnh nhất trên trái đất. Bài học kết thúc, thầy nói bây giờ thầy sẽ làm nóng người, và chúng tôi ngắm nhìn thầy khởi động khoảng hai mươi phút, vài đứa ở bên đường biên đang cố bắt chước động tác của thầy. Điều quan trọng là, thầy bảo - trong lúc đang ở tư thế hai chân dang rộng trên mặt đất - lúc nào cũng phải khởi động các cơ ở háng trước bởi chúng dễ bị kéo căng. Thầy dùng cây lao như một dụng cụ tập trong nhiều động tác, giữ nó thăng bằng trong khi vặn người và xoay người, mang nó như một cái ách ngang cổ lúc quỳ, ngồi xổm hoặc nhảy lên và rồi trong khi đứng, thầy uốn cong người rồi xoay phần thân trên. Thầy vừa chồng cây chuối vừa đi bằng hai tay thành một vòng tròn rộng, vài đứa bọn tôi cũng cố thử làm theo; và khi miệng chỉ cách mặt đất có vài phân, thầy giải thích cho chúng tôi rằng thầy chồng cây chuối thay cho tập với tạ để khởi động phần thân trên. Cuối cùng thầy kết thúc bài tập bằng cách gập hẳn thân người ra trước rồi lại uốn thân người về sau trong khi vẫn giữ gót chân cố định trên mặt đất. Khi thầy nói sẽ chạy nước rút hai lần quanh bãi đất, chúng tôi cũng chạy theo, cố hết sức mới theo kịp thầy nhưng giả vờ như đang khởi động cho cú ném lao. Rồi, trong vài phút, thầy tập chạy dọc theo một đường thẳng vô hình tay giơ cao ngọn lao, ngang và thẳng nhưng không phóng.

Khi đã sẵn sàng, thầy nhắc chúng tôi là cần phải chú ý vào những điểm gì, bắt đầu từ cách thầy chạy và bật bước dài rồi kết thúc với cú phóng. Không cầm lao, thầy biểu diễn tất cả động tác kiểu phim quay chậm, mô tả như thật. "Không có gì thần kỳ đâu các em, nhưng nó cũng không phải chuyện dễ làm. Tuy thế, nếu các em thường xuyên thực hành," thầy nói, "tích cực và rèn luyện siêng năng - nếu đều đặn luyện tập những điều sau, thứ nhất là giữ thăng bằng, thứ hai là kỹ năng di chuyển và thứ ba là độ mềm dẻo - nếu em kiên trì với chế độ kiểm soát trọng lượng, và nếu phóng lao thật sự quan trọng với các em, tôi đảm bảo với các em rằng thành quả rồi sẽ tới. Mọi thứ trong thể thao đều đòi hỏi quyết tâm. Có ba điều phải luôn tâm niệm: xác định mục tiêu, toàn tâm toàn ý, và kỷ luật tập luyện rồi các em sẽ đạt được thành công.

Như thường lệ, rất cẩn trọng, thầy bảo chúng tôi rằng vì lý do an toàn không ai được lao ra ngoài sân; chúng tôi chỉ được nhìn từ chỗ đang đứng. Thầy nhắc điều này hai lần. Không thể nào nghiêm túc hơn thế, nghiêm túc chính là cách thầy thể hiện trách nhiệm của mình với công việc.

Rồi thầy phóng mạnh ngọn lao. Có thế nhìn thấy từng cơ bắp của thầy phồng căng khi thầy buông tay cho cây lao bay vào khoảng không. Thầy rít lên nho nhỏ bởi gắng sức (sau này cả đám chúng tôi cũng bắt chước kêu theo), một tiếng kêu bản năng - tiếng kêu nguyên thủy khi lâm trận, biểu lộ một nỗ lực tột độ. Ngay lúc ngọn lao rời tay, thầy nhảy nhịp để lấy lại thăng bằng và để không ngã đè lên cái vạch cấm mà thầy đã dùng giày vạch trên lớp đất bụi. Rồi thầy dõi theo ngọn lao trong suốt thời gian nó vạch một quỹ đạo trên không, quét nên một cung tròn trên sân tập. Không có đứa nào trong chúng tôi trước giờ được tận mắt xem một tiết mục điền kinh đẹp đẽ đến vậy. Ngọn lao bay đi, qua vạch bốn mươi lăm mét giữa sân rồi lao tiếp sang phần sân bên kia, khi nó hạ thấp độ cao và tiếp đất, cán của nó rung lên bần bật và đầu mũi bọc kim loại xiên ngọt xuống đất bởi dư lực của cú bay.

Chúng tôi reo hò ầm ĩ rồi vỗ tay tán thưởng. Quỹ đạo bay của ngọn lao đều bắt nguồn từ các cơ bắp dẻo dai của thầy Cantor. Các cơ bắp trên khắp cơ thể của thầy - từ hai bàn chân, đôi chân, cặp mông, thân người, hai cánh tay, cho đến đôi vai, thậm chí cả gốc cổ ngắn và dày dặn - đã đồng thời tạo nên uy lực cho cú phóng. Cứ như thể người quản lý sân chơi của chúng tôi đã biến thành một người đàn ông nguyên thủy, đang lùng kiếm thức ăn trên các cánh đồng cỏ, thuần phục đời sống hoang dã bằng sức mạnh của đôi tay mình. Chưa bao giờ chúng tôi kính phục ai nhiều như thế. Qua thầy, đám trẻ chúng tôi đã bỏ lại sau lưng câu chuyện nhỏ nhặt về cộng đồng Do Thái nhỏ nhoi và bước vào truyền thuyết lịch sử về giống nòi cổ xưa của mình.

Chiều ấy thầy thực hiện nhiều lần các màn phóng lao, lần nào cũng gọn gàng và đầy uy lực, mỗi cú phóng đều kèm theo một tiếng hét và tiếng gừ trong họng; và lần nào, điều khiến chúng tôi phấn khích là, lần ném sau đều tiếp đất xa hơn lần ném trước vài mét. Chạy đà cùng cây lao giơ trên cao, cánh tay cầm lao đưa sâu ra đằng sau, rồi vung mạnh ra phía trước và buông cho ngọn lao bay đi tạo nên một đòn tấn công sấm sét - trong mắt chúng tôi thầy dường như bất khả chiến bại.

HẾT

Báo Ứng Cánh Cửa Mở Rộng Nguyên tác: Nemesis ebook©MotSAch TVE-4u©Read Freely - Think Freedom —★— Nhà xuất bản: NXB Trẻ© 2013
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.