CA BẠI LIỆT ĐẦU tiên của mùa hè năm đó xuất hiện vào những ngày đầu tháng Sáu, ngay sau Ngày Tưởng niệm [1], tại một khu phố nơi những người Ý nghèo khó cư ngụ, ở tận phía đầu kia của thành phố. Còn ở góc tây nam thành phố, tại khu Weequahic của người Do Thái, chúng tôi không nghe thấy ai nói gì về căn bệnh, cũng như không ghi nhận được bất cứ thông tin gì về hơn một chục ca nhiễm bệnh tiếp theo lần lượt xuất hiện rải rác khắp Newark tại tất cả các khu dân cư lân cận, ngoại trừ khu Weequahic của chúng tôi. Mãi tới ngày Bốn tháng Bảy, khi số ca mắc bệnh trong thành phố được báo cáo đã lên đến con số bốn mươi, mới có một bài báo nhan đề "Chủ tịch ủy ban Y tế báo động các bậc phụ huynh về căn bệnh bại liệt" đăng trên trang nhất tờ tin buổi chiều, trong đó dẫn lời của bác sĩ William Kittell, giám sát viên của ủy ban Y tế rằng các bậc phụ huynh cần theo dõi sát sao con cái mình và liên hệ ngay với bác sĩ trong trường hợp trẻ có các biểu hiện nhức đầu, đau họng, buồn nôn, cứng cổ, đau khớp hay sốt. Mặc dù bác sĩ Kittell thừa nhận rằng số lượng bốn mươi ca là nhiều gấp đôi số ca bệnh thường được báo cáo ở đầu mùa bại liệt hằng năm, nhưng ông muốn mọi người hiểu rõ rằng với một thành phố có số dân 429.000 người thì chưa thể coi đó là một trận dịch bại liệt. Mùa hè năm nay cũng giống như mùa hè mọi năm, thành phố có cơ sở để phải quan tâm và phòng ngừa đúng cách những vấn đề về vệ sinh, song vẫn chưa có cơ sở gì cho cái gọi là báo động mà các bậc phụ huynh đã lo lắng là "đủ chính đáng" cả, hai mươi tám năm trước, trong quãng thời gian bùng nổ dịch bại liệt lớn nhất từng được ghi nhận - nạn dịch ở vùng đồng bắc nước Mỹ vào năm 1916 - đã có hơn 27.000 ca nhiễm, với 6.000 người chết. Lúc đó ở Newark có 1.360 ca và 363 người tử vong.
Giờ đây, ngay cả trong một năm có số ca nhiễm bệnh ở mức trung bình thì khả năng mắc bệnh bại liệt đã giảm thiểu rất nhiều so với hồi năm 1916. Đây là căn bệnh liệt bại để lại cho trẻ nhỏ di chứng tàn tật, cơ thể bị biến dạng hay suốt đời phải nằm trong một thiết bị trợ thở làm bằng ống trụ kim loại mà ta thường gọi là phổi nhân tạo - hoặc có thể dẫn tới liệt các cơ hô hấp gây tử vong - đã khiến các bậc phụ huynh trong cộng đồng dân cư của chúng tôi vô cùng e ngại và làm cho lũ trẻ mất thoái mái trong những tháng hè được nghỉ học và vui chơi bên ngoài suốt ngày tới tận đêm khuya. Nỗi lo về những di chứng khủng khiếp của bại liệt càng thêm trầm trọng bởi thực tế rằng đến giờ vẫn không có thuốc đặc trị cũng như vắc-xin phòng dịch. Căn bệnh bại liệt - hay còn được gọi là chứng bệnh "liệt bại ở trẻ nhỏ" khi người ta còn tưởng nó chủ yếu gây bệnh cho trẻ ở lứa tuổi chập chững biết đi - có thể xảy ra với bất kỳ ai và không vì lý do cụ thể nào. Mặc dù bệnh nhân thường là trẻ em dưới mười sáu tuổi, nhưng người lớn cũng có thể bị lây nhiễm nặng, như trường hợp tổng thống Mỹ đương nhiệm.
Tổng thống Franklin Delano Roosevelt, nạn nhân nổi tiếng nhất của chứng bại liệt, đã mắc phải căn bệnh này khi ông ở độ tuổi ba mươi chín. Đang từ một con người mạnh khỏe, cường tráng, sau khi mắc bệnh, ông phải có người đỡ mỗi khi đi lại, thậm chí về sau để có thể đứng được, ông còn phải mang thiết bị chỉnh hình nặng trịch, được chế tạo từ thép-và-da-thuộc, kéo dài từ hông xuống đến chân. Tổ chức từ thiện March of Dimes do tổng thống FDR thành lập khi ông ở Nhà Trắng, quyên góp tiền cho công tác nghiên cứu và hỗ trợ tài chính cho những gia đình người bệnh; bởi việc phục hồi một phần hoặc hoàn toàn sức khỏe là khả thi nhưng thường phải mất nhiều tháng hoặc nhiều năm áp dụng vật lý trị liệu và phục hồi chức năng rất tổn kém trong bệnh viện. Trong cuộc vận động quyên góp quỹ hằng năm, ở các trường học, trẻ nhỏ Mỹ tặng những đồng xu chúng có để trợ giúp để chống lại căn bệnh, người ta bỏ tiền của mình vào các hộp quyên góp bằng kim loại mà nhân viên hướng dẫn chỗ ngồi trong các rạp chiếu phim chuyển tới từng người, những tấm áp-phích với dòng chữ "Bạn cũng có thể giúp đỡ!" và "Hãy chung tay chống lại căn bệnh bại liệt!" xuất hiện trên tường các của hiệu, công sở và những hành lang trường học trên khắp đất nước, những tấm áp-phích in hình các đứa trẻ ngồi trên xe lăn, mang nẹp chỉnh hình ở chân - một bé gái xinh xắn đang bẽn lẽn mút ngón tay cái, một bé trai với nụ cười hy vọng đầy quả cảm trên gương mặt sáng sủa - những tấm áp-phích này gây cảm giác cho tất cả những đứa bé còn khỏe mạnh về một thực tế bị nhiễm bệnh còn đáng sợ hơn rất nhiều.
Vào mùa hè, không khí ẩm ướt tràn lan khắp vùng đất trũng Newark, do một phần thành phố bị vây quanh bởi những miền đầm lầy rộng lớn - đây cũng là nguồn cơn chủ yếu khiến bệnh sốt rét, cũng là một căn bệnh không thể tiêu diệt nổi cứ đến hè là quay trở lại - buổi tối, trong lúc ngồi trên ghế bố để ở những con ngõ và các lối đi hòng trốn khỏi những căn phòng hầm hập không có gì giúp giải bớt cái nóng thiêu đốt ngoại trừ nước lạnh để tắm và nước đá để uống, chúng tôi phải luôn tay đập và khua đuổi muỗi. Thời ấy chưa có máy lạnh gia dụng, chỉ có mỗi một cái quạt điện đen nhỏ xíu để ở trên bàn, phả thoang thoảng chút gió mát trong phòng, chỉ làm dịu được tí đỉnh cái nóng mỗi khi nhiệt độ lên tới hơn ba mươi hai độ, mà mùa hè năm ấy, mức nhiệt độ cao như vậy thường kéo dài cả tuần hay mười ngày. Ngoài trời, người ta thắp những ngọn nến hương sả và phun hàng can thuốc diệt côn trùng Flit để chống muỗi và ruồi - những vật chủ trung gian truyền bệnh sốt rét, sốt vàng da, sốt thương hàn và nhiều người còn cho là cả bại liệt nữa - trong số đó, đầu tiên phải kể đến ông Drummond, thị trưởng Newark, người đã phát động chiến dịch "Đập ruồi" trên toàn thành phố. Ngay khi một con ruồi hay muỗi chui qua được tấm lưới chắn hay bay lọt qua một cánh cửa vào nhà, nó sẽ bị lùng diệt bằng vỉ đập ruồi và thuốc Flit vì người ta lo ngại đứa trẻ đang ngủ sẽ bị lây nhiễm vi-rút bại liệt từ những cái chân đầy bệnh tật của con côn trùng. Khi không ai rõ nguồn gốc lây nhiễm, người ta trở nên nghi ngờ mọi thứ, từ lũ mèo hoang gầy trơ xương lục lọi các thùng rác phía sau nhà, lũ chó vô chủ đói khát, bơ phờ lượn lờ kiếm ăn quanh các khu nhà rồi phóng uế trên những ngõ vắng và các con phố rồi cả lũ bồ câu đậu trên mái hiên xả phân trắng xuống các bậc tam cấp trước cửa. Trong tháng đầu bùng phát dịch - trước khi ủy ban Y tế công bố dịch - phòng vệ sinh môi trường đã bắt đầu tiêu diệt một cách có hệ thống đàn mèo hoang đông đúc trong thành phố, dù chẳng ai biết chúng có thực sự liên đới đến bại liệt hơn so với lũ mèo nuôi trong nhà hay không.
Mọi người đã biết căn bệnh này rất dễ lây lan và có thể truyền sang những người khỏe mạnh chỉ qua những tiếp xúc thông thường với người đã mắc bệnh. Vì lẽ đó, khi số ca nhiễm trong thành phố tăng lên đều đặn, cộng đồng đã vô cùng lo lắng - nhiều trẻ nhỏ trong vùng đã bị bố mẹ cấm đi bể bơi công cộng ở công viên Olympic gần thị trấn Irvington, cấm đến các rạp chiếu phim có hệ thống điều hòa không khí, rồi cấm đi xe buýt vào khu trung tâm hay từ Down Neck tới đại lộ Wilson để xem đội bóng hạng xoàng của thành phố - đội Các chú gấu Newark - chơi bóng chày trên sân vận động Ruppert. Chúng tôi được cảnh báo là không được dùng các nhà vệ sinh công cộng, uống nước thẳng từ vòi hay uống chung nước ngọt với người khác, cũng như chúng tôi phải tránh để bị cảm lạnh, tránh giao tiếp với người lạ hay mượn sách ở thư viện, tránh gọi điện thoại công cộng hay mua thức ăn từ hàng quán ven đường, rồi thì nào là phải rửa tay thật sạch bằng xà-phòng và rửa rau quả trước khi ăn, phải tránh xa ai đó trông có vẻ đang ốm hay có các triệu chứng của bệnh bại liệt.
Cách biệt hẳn cái nóng nực của thành phố và tới một trại hè nơi miền núi hay vùng đồng quê được coi là cách tốt nhất để bảo vệ một đứa trẻ khỏi mắc bệnh bại liệt. Chọn bờ biển Jersey cách đó chừng sáu mươi dặm để nghỉ qua mùa hè cũng là một cách hay. Một gia đình có thể thuê riêng một phòng ngủ và sử dụng bếp chung trong một căn nhà cho thuê thuộc Bradley Beach - khu nghỉ mát được dân Do Thái ở miền Bắc Jersey ưa chuộng cả mấy thập kỷ nay - nơi có một dải cát vàng, lối đi lát gỗ dọc bờ, và những mái nhà tranh chạy dài cả dặm dọc theo bờ biển. Ở đấy, mấy mẹ con có thể ra bãi hít thở không khí đại dương trong lành, mát mẻ suốt cả tuần và rồi đến cuối tuần hay kỳ nghỉ phép, ông bố sẽ ra cùng. Tất nhiên vẫn có những ca bại liệt xuất hiện ở các khu trại hè cũng như ở các thị trấn ven biển, nhưng bởi số lượng không đáng kể so với số ca được ghi nhận ở Newark, nên hầu hết mọi người đều tin rằng, khi mà thành phố còn nhan nhản các vỉa hè bẩn thỉu và không khí tù hãm là điều kiện thuận lợi cho bệnh tật lây lan thì được sống gần biển, ở nơi thôn quê hay trên vùng núi cao sẽ là một đảm bảo chắc chắn rằng không mắc bệnh.
Vậy là một số đứa may mắn được đặc ân rời khỏi thành phố vào mùa hè trong khi đám chúng tôi ở lại vi phạm tất thảy những gì không được phép, tin tưởng rằng "chơi quá sức" không phải là một nguyên nhân khả dĩ dẫn đến bệnh bại liệt: chúng tôi chơi bóng mềm hết trận này đến trận khác, chơi bóng chày hết hiệp này đến hiệp kia trên sân thể thao trải nhựa nóng giãy chốn trường học, chạy nhảy suốt ngày trong cái nóng khôn tả, uống ừng ực từ những vòi nước không đảm bảo vệ sinh; giữa các hiệp, cả đám lại ngồi chen chúc trên ghế băng, dùng những cái găng tay bắt bóng đã cũ sờn, dính đầy bụi đất lau trán không cho mồ hôi chảy vào mắt rồi lại tiếp tục cuộc chơi với những chiếc áo pô-lô ướt đẫm và những đôi giày thể thao đã nặng mùi, mà chẳng quản gì tới chuyện việc khinh suất ấy có thể đày đọa bất cứ ai trong số chúng tôi vào cảnh cả đời sẽ phải sống trong một cái máy trợ thở và sẽ hiểu rõ được thế nào là cơn ác mộng tồi tệ nhất đối một cơ thể con người.
Người ta thường xuyên thấy chỉ có chừng hơn một chục cô bé là hay có mặt trong sân chơi, phần lớn vào khoảng tám, chín tuổi, đang chơi nhảy dây ở khu vực xa trung tâm, thoai thoải dốc về phía con đường nhỏ dẫn vào trường, sát lối xe cộ đi lại tấp nập. Khi những cô bé không nhảy dây, chúng sử dụng con đường thành nơi nhảy lò cò, thi chạy, chơi trò nhặt xương cừu hoặc vui đùa tâng một quả bóng cao su màu hồng suốt cả ngày. Thỉnh thoảng, vào lúc mấy đứa con gái nhảy dây đôi, chúng quay hai sợi dây về hai hướng ngược nhau, có một thằng nhóc không biết từ đâu chạy tới, huých cô bé đang chuẩn bị nhảy sang một bên, lao vào và bắt đầu hét rống lên bài hát nhảy dây yêu thích của bọn con gái một cách giễu cợt rồi để cả người mắc vào dây nhảy. "H, tên tôi là Hà mã...!" Đám con gái sẽ nhao nhao la lớn "Dừng lại! Dừng lại!" và cầu cứu người quản lý sân chơi giúp đỡ, anh này đứng nguyên tại chỗ và quát đứa trẻ phá đám (hầu như ngày nào cũng chỉ là thằng nhóc ấy), "Thôi đi, Myron! Để cho mấy bạn gái yên còn không là em phải đi về đấy!" Huyên náo nhờ vậy mà giảm bớt. Chẳng mấy chốc, mấy sợi dây lại một lần nữa quay nhanh và bài hát lại được từng bé lần lượt cất lời trầm bổng:
A, tên tôi là Agnes
Còn tên chồng tôi là Alphonse,
Chúng tôi đến từ Alabama
Và chúng tôi mang theo nhiều áo!
B, tên tôi là Bev
Còn tên chồng tôi là Bill,
Chúng tôi đến từ Bermuda
Và chúng tôi mang về những quả bòng!
C, tên tôi là...
Bằng những giọng ca non nớt, đám con gái đóng đô ở mé xa của sân chơi ứng tác lời hát theo kiểu của chúng từ A tới Z và rồi bắt đầu lại từ đầu, các danh từ cuối mỗi câu hát có âm trùng với chữ cái trong đoạn, đôi khi lời hát rất ngớ ngẩn, vô nghĩa, mỗi lần một khác. Nhảy vào giữa các sợi dây rồi phấn khích lao ra ngoài - ngoại trừ những lúc bị Myron Kopferman và mấy thằng nhóc như nó quấy phá - chúng hoạt động không biết mệt; trừ phi bị người quản lý sân chơi gọi cả bọn di chuyển vào trong bóng mát của ngôi trường để tránh nóng, đám trẻ không hề rời xa con đường từ thứ Sáu của tháng Sáu, khi học kì mùa xuân kết thúc cho đến thứ Ba sau Lễ Lao động, khi bắt đầu học kì mùa thu, còn lại thì chúng chỉ có thể chơi nhảy dây sau giờ học ở trường hay vào lúc ra chơi.
Người quản lý sân chơi năm đó là thầy Bucky Cantor, vì có thị lực kém nên phải đeo một cặp mắt kính dày cộp, là một trong số rất ít thanh niên quanh khu đó không phải nhập ngũ. Trong năm học trước, thầy Cantor là giáo viên mới dạy môn thể dục tại trường Chancellor Avenue nên thầy biết nhiều đứa trong đám trẻ chúng tôi hay tụ tập ở sân chơi. Mùa hè năm ấy thầy hai mươi ba tuổi, đã học xong trường South Side - trường trung học đa sắc tộc, đa tôn giáo ở Newark và tốt nghiệp trường Cao đẳng Panzer chuyên ngành Giáo dục thể chất và Vệ sinh thành phố East Orange. Thầy cao mấp mé một mét sáu mươi lăm, mặc dù là một vận động viên điền kinh siêu hạng và là một đấu thủ mạnh, song chiều cao cùng thị lực kém đã khiến thầy không được thi đấu bóng bầu dục, bóng chày hay bóng rổ ở giải các trường cao đẳng mà chỉ giới hạn ở môn ném lao và cử tạ. Trên cơ thể chắc nịch của thầy là chiếc đầu lớn với những đường nét gồ ghề, vát cạnh: gò má rộng, trán cao, quai hàm vát, một cái mũi thẳng và cao khiến thầy không khác nào một chân dung dập nổi in trên các đồng xu. Thầy Cantor có cặp môi đầy đặn, sắc cạnh hệt như cơ bắp, một nước da ngăm ngăm quanh năm. Từ thuở thiếu thời, thầy đã để đầu đinh - kiểu tóc của lính. Kiểu tóc này khiến hai tai thầy trông nổi bật, không phải vì kích cỡ, chúng không lớn - không thật sự lớn vì chúng ép sát vào đầu, mà bởi khi nhìn nghiêng, tai của thầy trông giống hình con ách bích, hay giống những đôi cánh nhỏ gắn dưới chân của những nhân vật thần thoại, với chóp tai không lượn tròn như hầu hết những đôi tai thông thường, mà gần như nhọn hoắt. Trước khi ông ngoại của thầy đặt cho thầy cái tên Bucky, đám bạn đường phố chơi chung với thầy thời thơ ấu thường gọi thầy với cái tên ngắn gọn là Ách, một biệt danh bắt nguồn không đơn thuần bởi tài năng thể thao sớm phát triển của thầy mà còn bởi hình dạng dị thường của đôi tai.
Tất cả những đường nét góc cạnh trên khuôn mặt thầy Cantor đã tạo cho cặp mắt màu khói xám sau gọng kính - đôi mắt dài và hẹp như người Á châu - một cái nhìn sâu thẳm, dù hốc mắt thầy không thật sâu. Giọng nói phát ra từ khuôn mặt cá tính ấy, thật kinh ngạc, lại hơi chói tai, nhưng điều này không hề làm giảm đi vẻ ấn tượng trong diện mạo của thầy. Đó chính là khuôn mặt cứng cỏi, cam chịu, sắc sảo của một thanh niên cường tráng, khỏe mạnh mà người ta hoàn toàn có thể trông cậy.
MỘT BUỔI CHIỀU ĐẦU THÁNG BẢY, hai ô-tô chở đầy học sinh gốc Ý tuổi từ mười lăm đến mười tám của trường East Side tới đỗ ở đầu phố phía sau trường, nơi có sân chơi. Trường East Side nằm trong khu Ironbound. Tính đến thời điểm đó, khu ổ chuột của thợ thuyền này được ghi nhận là có số ca mắc bại liệt cao nhất thành phố. Ngay khi thấy chiếc xe dừng lại, thầy Cantor tháo bỏ găng bóng chày để xuống sân - thầy đang chơi ở vị trí chốt ba trong một hiệp đấu thử của chúng tôi - rồi hối hả đi ra chỗ hơn một chục thanh niên vừa xuống xe. Dáng người thể thao, kiểu chạy gằn bước của thầy đã được lũ trẻ ở sân chơi bắt chước, cũng như cách thầy hơi rướn người khi di chuyển nhón gót và cả cái lối lắc lư đôi vai chắc nịch nữa. Vài cậu chàng còn sao lại y chang dáng đi đứng của thầy cả trong sân tập cũng như ở ngoài.
"Mấy cậu cần gì?" Thầy Cantor lên tiếng.
"Bọn này đang phát tán vi-rút bại liệt đây," một gã người Ý đáp. Gã chính là kẻ đầu tiên nghênh ngang bước ra khỏi xe. "Đúng không chúng mày?" Gã hỏi, quay người lại để tìm kiếm sự hỗ trợ của đồng bọn, cả bọn liền tiến về phía thầy Cantor tỏ rõ thái độ muốn gây sự.
"Trông cậu đang phát tán rắc rối thì có," thầy Cantor bảo gã. "Cậu rời khỏi đây đi."
"Không, không được," gã người Ý khăng khăng, "chờ tới khi bọn này phát tán ít vi-rút bại liệt đã. Đây mắc rồi mà các người lại chưa, nên bọn này lái xe tới và làm lây lan một ít ra xung quanh." Gã vừa nói vừa lắc lư người tới lui ra vẻ ta đây. Đôi ngón tay cái màu đồng thau ngoắc vào hai con đỉa nằm phía trước trên chiếc quần đi kèm với cái nhìn chằm chằm biểu lộ vẻ khinh mạn.
"Tôi là người quản lý sân chơi này," thầy Cantor nói, chỉ tay qua vai về phía lũ chúng tôi. "Tôi yêu cầu các cậu đi khỏi đây. Các cậu không có việc gì ở đây cả và tôi đang yêu cầu các cậu rời đi một cách lịch sự. Sao nào?"
"Có luật cấm phát tán bệnh bại liệt từ khi nào thế hả ông quản lý?"
"Này, bại liệt không phải chuyện đùa. Và có luật cấm gây thiệt hại cho cộng đồng. Tôi không muốn phải gọi cảnh sát. Thế nào, có chịu đi không hay để tôi gọi cảnh sát đến lôi cổ đi?"
Lúc này, tên cầm đầu, cao hơn thầy Cantor cả nửa cái đầu, tiến lên một bước và phun nước bọt xuống hè đường. Một bãi đờm tung tóe cách mũi giày thể thao của thầy chỉ vài phân.
"Thế nghĩa là sao?" thầy Cantor hỏi gã. Giọng thầy vẫn bình tĩnh, với hai tay khoanh trước ngực, thầy là hiện thân của sự vững chãi. Không có một tên du côn nào ở Ironbound có thể thắng được thầy hay tới được gần đám trẻ thầy bảo vệ.
"Tao đã bảo mày rồi đấy thôi. Chúng tao đang phát tán vi-rút bại liệt. Bọn tao không muốn để tụi mày thoát." "Này, đừng có ăn nói hỗn láo nhé," thầy Cantor bảo và giận dữ dấn tới một bước, chỉ còn cách gã người Ý có vài phân. "Tôi cho cậu mười giây để quay đầu lại và lôi cả đám khỏi đây."
Gã người Ý mím cười. Gã thực ra không ngừng cười mỉm từ lúc rời khỏi xe. "Nếu không thì sao?" Gã hỏi ngược lại.
"Tôi đã nói rồi đấy. Tôi sẽ gọi cảnh sát đến lôi cổ các cậu đi và không cho quay lại nữa."
Kẻ đối diện lại nhổ nước bọt, lần này trúng vào cạnh giày thầy Cantor, thầy bèn gọi cậu bé từ nãy giờ vẫn đang chờ lần giao bóng kế tiếp và cũng như lũ chúng tôi, đang lẳng lặng dõi theo cuộc đối đầu của thầy trước cả chục tên người Ý. "Jerry, vào phòng thầy. Gọi điện cho cảnh sát. Nói là em thay thầy điện thoại mời họ đến."
"Cảnh sát sẽ làm gì, tống giam tao chắc?" Gã cầm đầu sẵng giọng. "Họ bỏ tù tao vì tội nhổ nước bọt xuống vỉa hè khu Weequahic cao quý của mày à? Mày cũng sở hữu luôn cái hè đường này chắc, hả bốn mắt?"
Thầy Cantor không trả lời mà chỉ vững chãi đứng chắn giữa đám trẻ đang chơi bóng ở sau lưng và hai chiếc xe đầy ắp mấy gã Ý, lũ này vẫn đang đứng phì phèo thuốc lá trên đường bên rìa sân chơi như thể mỗi gã đều sắp sửa quăng điếu thuốc đang hút xuống và bất thình lình rút hung khí ra. Nhưng khi Jerry từ trong văn phòng dưới tầng hầm quay trở ra - ở đó, theo hướng dẫn của thầy, nó đã gọi điện thoại cho cảnh sát - thì hai chiếc xe cùng với đám người mang theo điềm chẳng lành ấy đã mất dạng. Chỉ vài phút sau, khi chiếc xe tuần tra đến nơi, thầy Cantor cung cấp cho cảnh sát biển số đăng ký của cả hai xe mà thầy đã ghi nhớ trong lúc đứng kề bên. Sau khi cảnh sát đi rồi, đám trẻ bên trong hàng rào mới bắt đầu chế nhạo bọn người Ý.
Hóa ra cả một khu vực vỉa hè rộng chừng sáu mét vuông, nơi mấy gã Ý đứng tụ thành đám lúc trước, đầy đờm dãi nhớp nháp, dơ bẩn, rõ là một nơi lý tưởng để phát sinh bệnh tật. Thầy Cantor sai hai cậu bé xuống tầng hầm nhà trường tìm hai cái xô hứng đầy nước nóng pha với dung dịch a-mô-ni-ắc lấy trong phòng bảo vệ, rồi tạt mạnh hỗn hợp ấy lên vỉa hè cho tới khi nó sạch bóng. Nhìn đám trẻ đang giội rửa bãi nhầy nhụa khiến thầy Cantor nhớ lại hồi lên mười, thầy cũng đã phải làm vệ sinh sạch sẽ sau khi giết một con chuột phía sau cửa hàng tạp hóa của ông ngoại.
"Không có gì đáng lo cả," thầy Cantor bảo đám con trai. "Chúng sẽ không quay trở lại nữa đâu. Ngoài đời vẫn có những chuyện như thế đấy," thầy nói, nhắc lại một câu nói ưa thích của ông ngoại mình, "lúc nào mà chả có chuyện khôi hài," và thầy trở lại với bóng chày và hiệp đấu lại tiếp diễn. Mấy thằng con trai mục kích toàn bộ sự việc từ phía bên kia hàng rào mắt xích cao ngang hai tầng nhà, sát bên sân chơi, hết sức ấn tượng với cách thầy Cantor đối phó với mấy gã người Ý. Phong thái tự tin, thái độ kiên quyết, sức khỏe của một vận động viên cử tạ và việc thầy hằng ngày tham gia chơi bóng nhiệt tình cùng chúng tôi - tất cả những điều này khiến trong số các nhân viên chính thức nơi sân chơi, thầy là người được yêu thích ngay từ khi tới nhận nhiệm vụ quản lý; và sau vụ việc với mấy gã người Ý, thầy ngay lập tức trở thành một anh hùng, một thần tượng, một người anh lớn quả cảm, chở che, nhất là đối với những đứa có anh trai đang ở ngoài chiến trường.
Cuối tuần ấy, có hai cậu bé nằm trong số trẻ có mặt tại sân chơi lúc mấy gã người Ý xuất hiện, không đến chơi bóng. Buổi sáng hôm đầu tiên, khi tỉnh dậy, cả hai đều bị sốt cao, cứng cơ cổ, đến buổi tối ngày thứ hai - bắt đầu có triệu chứng khó thở và các chi trở nên yếu ớt phải cần đến sự trợ giúp của người khác - cả hai liền được tức tốc đưa tới bệnh viện cấp cứu. Một trong hai cậu, Herbie Steinmark, tròn trĩnh, vụng về, đáng yêu, học lớp tám, vì thiếu năng khiếu thể thao nên thường được chỉ định chơi ở vị trí cánh phải và quật cú bóng cuối cùng, còn cậu kia, Alan Michaels, cũng học lớp tám, nằm trong số hai hay ba vận động viên cừ khôi nhất sân chơi và là đứa gần gũi với thầy Cantor nhất. Herbie và Alan là hai nạn nhân mắc bệnh bại liệt đầu tiên ở cộng đồng này. Trong vòng bốn mươi tám tiếng đồng hồ, có thêm mười một ca bệnh nữa và mặc dù trong số này không có đứa nào có mặt trong sân chơi ngày hôm ấy, thế nhưng lời đồn rằng căn bệnh là do mấy tên người Ý mang tới khu Weequahic được lan truyền khắp cộng đồng. Vì cho tới lúc này, khu dân cư người Ý được ghi nhận là nơi có nhiều ca mắc bệnh bại liệt nhất trong thành phố trong khi ở chỗ chúng tôi chưa có ca nào, điều ấy khiến người ta tin những lời đồn là đúng đắn, rằng đám người Ý lái xe ngang qua thành phố chiều hôm ấy có ý định lây nhiễm cho người Do Thái bệnh bại liệt và chúng đã thành công.
MẸ CỦA BUCKY CANTOR mất khi sinh nở, và cậu bé xấu số được ông bà ngoại nuôi nấng trong một chung cư có mười hai gia đình sinh sống trên phố Barclay, phía dưới đại lộ Avon, đây là một trong những khu dân cư nghèo nhất thành phố. Cha của Bucky Cantor, người cậu thừa hưởng được thị lực kém, là nhân viên kế toán ở một cửa hàng lớn trong nội đô và rất mê cá cược ngựa. Ngay sau khi vợ chết và con trai ra đời - ông bị buộc tội ăn cắp của chủ để trả những món nợ cá cược - hóa ra ông đã bắt đầu biển thủ ngay từ những ngày đầu đi làm. Ông bị giam hai năm và sau khi được tha, không bao giờ trở lại Newark nữa. Thế chỗ cho người cha đó, cậu bé, lúc ấy được gọi là Eugene, được dạy dỗ bởi ông ngoại. Đó là một người to lớn, dáng hình như gấu, làm luôn chân luôn tay, là chủ một tiệm tạp hóa trên đại lộ Avon, nơi cậu tới làm việc sau giờ học và suốt cả những ngày thứ bảy. Khi Eugene lên năm, cha cậu tục huyền, ông thuê một luật sư để giành đứa trẻ về sống với mình và người vợ mới ở thành phố cảng Perth Amboy, nơi ông có việc làm trong một xưởng sửa chữa tàu. Ông ngoại, thay vì mướn một luật sư cho mình, đã lái thẳng xe tới Perth Amboy. Ở đó, trong cuộc xung đột, nghe nói cụ đã đe bẻ gãy cổ ông con rể một thời nếu hắn còn dám gây phiền nhiễu tới cuộc đời của Eugene. Kể từ đó, không ai còn nghe gì về cha của Eugene nữa.
Vì phải cùng ông ngoại khuân nhấc các sọt hàng trong cửa hiệu mà ngực và cơ tay Eugene bắt đầu phát triển, và cũng do phải chạy lên, chạy xuống ba tầng nhà vô số lần trong ngày mà cậu đã luyện rèn được đôi chân. Cũng từ tính gan dạ, dũng cảm của ông ngoại mà cậu học được cách chiến đấu với bất cứ trở ngại nào, kể cả việc sinh ra là con trai của kẻ mà ông ngoại đã gọi trong suốt cả đời mình là "một kẻ ám muội." Eugene muốn trở thành một chàng trai cường tráng, giống hệt như ông ngoại cậu, và không phải mang cặp kính dày cộp. Nhưng đôi mắt cậu kém quá nên buổi tối, khi bỏ kính ra để lên giường đi ngủ, cậu chỉ thấy mờ mờ hình dáng vài món đồ vật trong phòng. Ông ngoại cậu, người chả hề bận tâm đến nhược điểm này đã bảo thằng cháu đang đau khổ - lúc ấy lên tám và bắt đầu phải đeo kính - rằng mắt cậu bây giờ nhìn rõ chẳng kém ai. Sau đó, chẳng còn ai đề cập đến chuyện ấy nữa.
Bà ngoại Eugene, một người nhỏ bé và tốt bụng, xởi lởi và chu đáo, là một bậc sinh thành hoàn toàn tương xứng với ông cậu. Bà can đảm chịu đựng chuyện buồn, dù vẫn khóc mỗi khi nghe nhắc đến người con gái mới hai mươi tuổi đã chết khi sinh nở của mình. Bà được khách đến cửa hàng rất yêu mến, còn ở nhà bà vừa làm không ngơi tay vừa lắng nghe Life can be beautiful (Đời đôi khi vẫn đẹp) hay những vở kịch nhiều kỳ khác trên đài phát thanh mà bà rất thích; chúng luôn làm thính giả run bắn người, âu lo với viễn cảnh của tai họa kế tiếp. Hằng ngày, trong vài giờ rảnh rang không phải lo việc cửa hàng, bà toàn tâm toàn ý lo cho Eugene, chăm sóc thằng cháu khi nó bị sởi, khi nó dỗi hờn, và khi nó bị thủy đậu, giữ cho quần áo nó mặc luôn sạch sẽ và những chỗ rách được khâu vá, kiểm tra bài vở của nó xem đã hoàn tất chưa, ký sổ liên lạc của nó, đưa nó đến bác sĩ nha khoa để khám định kỳ (những ngày ấy, một số ít trẻ nghèo phải đến đó), nấu cho nó những bữa ăn ngon, đủ chất và đóng học phí cho nó theo học giáo lý ở Giáo đường Do Thái để chuẩn bị cho Lễ Trưởng thành. Để chống chọi với mấy căn bệnh lây nhiễm phổ biến nơi trẻ nhỏ, Eugene đã có được một nền tảng sức khỏe tốt, bộ răng khỏe đều tăm tắp và một thể chất mạnh mẽ. Chúng là kết quả của những chăm sóc mà bà ngoại dành cho cậu, bà đã làm tất cả những gì mà thuở ấy người ta có thể biết được, để giúp một đứa trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn. Ông bà ngoại hiếm khi cãi cọ - mỗi người đều biết cần làm gì và làm cách nào là tốt nhất, mỗi người đều mong muốn làm sao để bé Eugene không quên những điều họ dạy.
Ông ngoại luôn quan tâm đến sự phát triển cơ bắp của đứa cháu, lúc nào ông cũng trong tư thế sắn sàng trừ diệt bất cứ biểu hiện yếu ớt nào mà cậu thừa hưởng - cùng với thị lực kém - từ người cha và dạy cháu rằng mọi nỗ lực quyết tâm nơi con người đều thấm đẫm tinh thần trách nhiệm. Lời dặn dò của ông ngoại không phải lúc nào cũng dễ tuân theo, nhưng mỗi khi thấy Eugene đạt được những kỳ vọng của mình, ông không bao giờ dè xẻn những lời khen ngợi. Một lần, khi mới mười tuổi, Eugene bắt gặp một con chuột lông xám to tướng trong phòng kho mờ tối phía sau cửa hàng. Lúc thấy con chuột thập thò trong đống thùng các-tông bỏ không mà cậu vừa giúp ông dỡ ra thì ngoài trời đã tối đen. Phản xạ tức thời của cậu nhóc khi ấy dĩ nhiên là bỏ chạy. Nhưng rồi, biết chắc ông ngoại đang ở đằng trước tiếp chuyện một khách hàng, cậu rón rén tới góc phòng lấy cái xẻng sâu lòng, nặng trịch vẫn dùng để học cách xúc than cho vào cái lò sưởi trong cửa hàng.
Nín thở, Eugene nhón chân tiến tới cho đến khi dồn được con chuột đang hoảng hốt vào một góc. Khi cậu nhóc giơ cao chiếc xẻng, con chuột ngóc thẳng người trên hai chân sau, hai hàm răng ghê sợ của nó nghiến chặt lại, đang chuẩn bị nhảy lên. Nhưng trước khi con vật có thể bật lên khỏi sàn, cậu đã nhanh chóng phang mặt dưới cái xẻng vào thẳng đầu con vật thuộc loài gặm nhấm, khiến đầu nó vỡ toác. Máu lẫn vụn xương và dịch não chảy xuống những kẽ ván sàn phòng kho - Eugene không sao nén nổi cơn nôn ọe chợt đến - rồi cậu lấy lưỡi xẻng xúc con chuột chết lên. Nó nặng, nặng hơn là cậu hình dung và khi nằm thượt trên xẻng trông to hơn và dài hơn lúc đứng trên hai chân sau. Lạ thay không một bộ phận cơ thể nào - kể cả cái đuôi vô tri và bốn chân bất động - lại khiến Eugene biết chắc con vật đã chết như những cọng ria mảnh như cây kim dính máu. Với vũ khí giơ cao trên đầu, cậu không hề để ý tới những cọng ria nhỏ nhoi ấy; cậu không hề để ý tới bất cứ điều gì khác ngoài hai từ "Giết nó!" như thể ông ngoại đã lập sẵn công thức ấy vào trong đầu cậu. Chờ tới khi người khách cầm túi đồ rời khỏi cửa hàng, Eugene giơ chiếc xẻng ra phía trước - với vẻ lạnh tanh để chứng tỏ mình không hề sợ sệt - cậu cứ thế đi xuyên qua cửa hàng cho ông ngoại xem rồi bước tiếp ra ngoài. Tới góc đường, cậu nhóc rung rung cho xác con vật rơi khỏi xẻng, đẩy nó qua khung lưới sắt xuống cống. Trở lại cửa hàng, cậu lấy một cái bàn chải mòn, cục xà-phòng màu nâu, mớ giẻ lau và một xô nước cọ sạch bãi nôn cùng những dấu vết mà con chuột để lại trên sàn nhà rồi rửa sạch sẽ cái xẻng.
Sau thắng lợi này, ông ngoại chuyển sang gọi thằng cháu bằng biệt danh Bucky-mười-tuổi-đeo-kính - với hàm ý ghi nhớ sự việc thể hiện bản tính kiên cường và gan góc, có nghị lực, có sức chịu đựng hơn người này của cậu.
Từ một ngôi làng Do Thái ở Polish Galicia thuộc châu Âu, ông ngoại Sam Cantor đã một mình di cư tới Mỹ vào thập niên 1880 khi mới chỉ là một đứa trẻ. Ông đã học được lòng can đảm trên những con phố Newark, nơi ông đã bị vỡ mũi không chỉ một lần vì đánh nhau với những kẻ bài Do Thái. Những vụ bạo lực gây hấn như cơm bữa-chống người Do Thái ở Newark trong suốt quãng đời niên thiếu sống ở khu ổ chuột đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc hình thành nên quan điểm sống của ông Cantor và tiếp đó là của đứa cháu ngoại ông. Ông khuyến khích cháu biết đấu tranh bảo vệ bản thân với tư cách là một con người và là một người Do Thái, thấu hiểu rằng tranh đấu không bao giờ kết thúc, rằng cuộc sống là một chuỗi đụng độ khắc nghiệt, "một khi ta buộc phải trả giá thì ta trả." Cái mũi gãy nằm giữa mặt ông luôn là bằng chứng cho cậu bé thấy rằng cuộc đời này đã hoài công mà không sao đè bẹp ông cho được. Ông lão đã qua đời vì một cơn đau tim vào tháng Bảy năm 1941. Khi mười gã người Ý lái xe tới sân chơi, và chỉ mình Bucky đơn thương độc mã buộc chúng thoái lui, nhưng điều ấy không có nghĩa là ông ngoại không có mặt ở đó, trong suốt cuộc chạm trán ấy.
Một cậu bé mất mẹ từ lúc mới chào đời và cha thì ngồi tù, một cậu bé mà trong ký ức tuổi thơ không hề có bóng dáng mẹ cha, không thể nào tốt số hơn khi có được ông bà ngoại - những người thay thế cha mẹ - đã nuôi dạy cậu trở nên mạnh mẽ về mọi mặt - cậu rất ít khi để cho ý nghĩ mồ côi cả cha lẫn mẹ dày vò mình, mặc dù điều ấy được ghi rõ trong lý lịch của cậu.
LÚC BUCKY hai mươi tuổi và đang theo học năm đầu ở trường cao đẳng thì hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ bị quân Nhật bất ngờ ném bom và gần như bị tiêu diệt hoàn toàn tại Trân Châu Cảng vào Chủ nhật, ngày 7 tháng 12 năm 1941. Thứ Hai ngày mùng tám, anh đến ban tuyển quân phía ngoài trụ sở Ủy ban thành phố để đăng lính.
Nhưng bởi mắt kém, cả lục quân, hải quân, cũng như lực lượng phòng vệ bờ biển hay thủy quân lục chiến, không đâu nhận anh cả. Anh bị xếp hạng 4-F và bị trả lại trường Panzer để tiếp tục học thành giáo viên thể dục. Ông ngoại mới vừa mất, Bucky có một ý nghĩ kỳ quặc rằng anh đã khiến ông thất vọng và đã không đạt được những kỳ vọng từ người dạy dỗ kiên định của mình. Các cơ bắp cường tráng và thể hình lực sĩ phỏng có ích gì nếu anh không dùng chúng phục vụ quân đội? Bucky tập tạ từ tuổi thiếu niên đâu để chỉ ném lao - mà để trở thành một lính thủy đánh bộ.
Sau khi Mỹ bắt đầu tham chiến, Bucky vẫn dạo bước trên các con phố trong khi tất cả những chàng trai đủ điều kiện sức khỏe cùng độ tuổi đã kết thúc khóa huấn luyện để lên đường chiến đấu với quân Nhật và quân Đức, trong số đó có cả hai người bạn thân nhất của anh ở trường Panzer, cả ba đã cùng nhau xếp hàng ở ban tuyển quân sáng ngày mùng 8 tháng Mười Hai. Anh vẫn sống cùng bà, hằng ngày đi học ở trường Panzer, và bà đã nghe thấy anh khóc trong phòng ngủ khi được tin hai cậu bạn thân Dave và Jake đã tới Fort Dix để bắt đầu khóa huấn luyện mà không có mình, bà đã nghe thấy đứa cháu khóc dù trước đây bà biết Eugene chưa bao giờ khóc cả. Anh thấy hổ thẹn vì bộ đồ dân phục, hổ thẹn khi xem tin chiến sự trong rạp, hổ thẹn khi trên chuyến xe buýt tan học từ East Orange về nhà ở Newark lại ngồi cạnh ai đó đang đọc trên nhật báo buổi chiều những bản tin chiến sự nóng hổi trong ngày:
"Bataan thất thủ", "Corregidor bại trận", "Chiến bại nơi đảo Wake". Cảm giác xấu hổ nơi anh là của một người có thể tạo nên những thay đổi cho cục diện cuộc chiến vào lúc quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương đang liên tiếp hứng chịu những thất bại to lớn.
Bởi chiến tranh và lệnh gọi nhập ngũ, các trường cần một số lượng lớn nam giáo viên thể dục nên trước khi tốt nghiệp trường Panzer vào tháng Sáu năm 1943, Bucky đã nhận một chân ở trường Chancellor Avenue dành cho trẻ mười tuổi và ký hợp đồng làm người quản lý sân chơi trong dịp hè. Mục đích của anh là được dạy thể dục và làm huấn luyện viên ở Weequahic, trường trung học có cửa mở thông ra đại lộ Chancellor. Điều thu hút Bucky là ở cả hai trường, học sinh Do Thái đều chiếm số đông và đều có thành tích học tập tuyệt vời. Anh mong muốn được dạy những học trò xuất sắc trong thể thao cũng như trong học tập, biết coi trọng tinh thần thể thao cũng như những gì học được qua các cuộc thi đấu trên sân. Anh muốn dạy chúng những điều ông ngoại đã dạy mình: ngoan cường và kiên định, có một thể hình đẹp, cân đối và không bao giờ cho phép kẻ khác lăng mạ mình hay chỉ bởi vì học giỏi mà lại bị phỉ báng là đồ Do Thái yếu ớt, ẻo lả.
TIN LAN KHẮP sân chơi sau khi Herbie Steinmark và Alan Michaels được đưa lên xe cứu thương vào khoa lây của bệnh viện Beth Israel, là cả hai đều bị tê liệt hoàn toàn, không còn khả năng tự thở và đang sống lay lắt trong máy trợ thở. Cho dù không phải tất cả lũ trẻ đều đến sân chơi sáng hôm ấy, nhưng vẫn có đủ số để lập thành bốn đội bóng chày đấu 5-hiệp vòng tròn luân phiên trong suốt cả ngày. Bucky ước lượng rằng nếu tính cả Herbie và Alan thì trong số chín mươi trẻ thường tới sân chơi có khoảng mười lăm hay hai mươi em vắng mặt - anh đoán chừng chúng bị cha mẹ giữ ở nhà vì sợ mắc phải bệnh bại liệt. Nghĩ vậy vì anh rất hiểu sự bao bọc của các bậc cha mẹ người Do Thái trong cộng đồng và nỗi e ngại nơi những người mẹ đầy thận trọng, nhưng thực tế anh lại ngạc nhiên bởi số đông trẻ không vì khiếp sợ mà lánh xa sân. Có lẽ bởi những lời anh giảng giải với bọn trẻ ngày hôm trước.
"Này các em," anh nói sau khi tập hợp lũ trẻ trên sân bóng trước khi cả bọn giải tán về nhà ăn tối, "thầy không muốn các em hoảng loạn. Bại liệt là một căn bệnh xuất hiện mỗi khi hè về. Đó là một căn bệnh không thể coi thường, nó quẩn quanh chúng ta suốt cả đời. Cách tốt nhất để đối phó với mối đe dọa từ bệnh này là giữ cho mình luôn mạnh khỏe và tráng kiện. Hãy cố gắng tắm rửa kỹ lưỡng mỗi ngày, ăn đầy đủ và ngủ tám tiếng, hãy uống tám cốc nước một ngày và không được lo lắng hay hoảng sợ. Tất cả chúng ta đều muốn Herbie và Alan mau chóng khỏe lại. Tất cả chúng ta đều mong ước chuyện này đã không xảy ra với hai bạn. Đó là hai cậu bé tuyệt vời và là bạn thân của nhiều em ở đây. Tuy nhiên, trong lúc Herbie và Alan đang bình phục tại bệnh viện, chúng ta đây phải tiếp tục sống cuộc sống của mình. Nghĩa là hằng ngày đến đây, đến sân chơi này và tập thể thao giống như các em vẫn từng làm. Nếu ai trong số các em cảm thấy không khỏe, tất nhiên là phải nói ngay với cha mẹ và ở nhà để theo dõi cho tới khi được bác sĩ thăm khám và chữa trị. Nhưng nếu như các em cảm thấy sung sức thì không có lý do nào trên đời có thể khiến các em không được chạy nhảy như các em thích trong suốt cả mấy tháng hè."
Tối ấy, Bucky năm lần bảy lượt dùng điện thoại trong bếp gọi đến nhà Steinmark và Michaels để bày tỏ sự quan tâm của mình và của đám trẻ trong sân chơi cũng như hỏi thăm về tình hình của hai cậu bé bị bệnh. Nhưng cả hai nhà đều không ai trả lời điện thoại. Thật không phải là một tín hiệu tốt lành. Cả hai gia đình chắc hẳn còn đang trong bệnh viện lúc chín giờ mười lăm phút tối.
Thế rồi có tiếng chuông điện thoại. Chính là Marcia, gọi từ vùng núi Pocono. Nàng đã nghe tin về hai đứa trẻ nơi sân chơi của anh. "Em nói chuyện với người nhà. Mọi người kể cho em. Anh ổn chứ?"
"Anh ổn," vừa nói anh vừa kéo dài dây điện thoại để có thể đứng ở chỗ mát hơn, kế bên khung cửa sổ đang mở. "Tất cả những đứa khác đều khỏe. Anh đang cố gắng liên lạc với gia đình hai cậu bé phải nằm viện xem chúng thế nào." "Em nhớ anh," Marcia nói, "và em lo cho anh."
"Anh cũng nhớ em," anh trả lời, "nhưng không việc gì phải lo cho anh cả."
"Giờ em thấy hối hận là đã lên đây." Nàng đã là tổng phụ trách được hai mùa hè tại Indian Hill, một trại hè dành cho trẻ Do Thái ở vùng núi Pocono thuộc bang Pennsylvania, cách thành phố bảy mươi dặm; nàng là giáo viên tiểu học tại trường Chancellor - hai người đã gặp nhau trong buổi họp mặt toàn thể các giáo viên mới vào mùa thu trước. "Tình hình nghe ra tệ anh nhỉ," nàng nói.
"Thật đáng lo cho hai cậu bé và gia đình chúng," anh nói, "nhưng tình hình vẫn trong tầm kiểm soát. Em không nên suy nghĩ thế."
"Mẹ em có nói gì đó về đám choai choai người Ý tới sân chơi để làm lây lan căn bệnh."
"Mấy anh chàng người Ý ấy không làm lây lan gì đâu. Lúc ấy anh ở đó. Anh biết rõ mà. Chỉ là một đám hỗn hào thôi. Chúng khạc nhổ khắp con phố và bọn anh đã cọ sạch rồi. Bại liệt là bại liệt - không một ai biết nó được lây lan như thế nào. Cứ hè tới là nó xuất hiện mà mình chả làm được gì."
"Em yêu anh, Bucky. Em luôn nghĩ tới anh."
Hạ giọng để láng giềng không nghe thấy tiếng mình bên ô cửa sổ mở, anh đáp, "anh cũng yêu em." Thật khó khăn để thốt ra những lời này bởi lẽ anh đã tự đặt cho mình nguyên tắc của - khối óc, anh nghĩ - là không được quá mong nhớ khi nàng ở xa. Nói thế này cũng còn không dễ bởi anh chưa bao giờ thổ lộ thành lời với một cô gái nào và anh vẫn thấy lúng túng khi tìm từ ngữ để diễn tả.
"Em phải gác máy đây," Marcia nói. "Có người đang đứng chờ đằng sau. Anh nhớ giữ gìn nhé."
"Ừ. Nhưng em đừng lo. Không phải sợ. Không có gì phải hoảng sợ cả."
Ngày hôm sau, khắp khu phố ai cũng bàn tán về sự kiện trong khu vực trường học tại Weequahic đã có thêm mười một ca mắc bệnh bại liệt - bằng số ca mắc bệnh theo báo cáo của ba năm trước cộng lại mà lúc này mới chỉ là tháng bảy, vẫn còn hai tháng dài nữa mùa bại liệt mới kết thúc. Mười một ca mới, và trong đêm đó, Alan Michaels, cậu bé yêu quý của Bucky, đã chết. Căn bệnh đã hủy hoại cuộc đời cậu bé trong bảy mươi hai giờ.
Ngày kế tiếp là thứ bảy, sân chơi chỉ mở cửa phục vụ các hoạt động có tổ chức đúng đến trưa, vào lúc tiếng còi báo động của hệ thống phòng không đặt trên đỉnh các cột điện trong thành phố rú lên rồi rền rĩ kéo dài trong lần thử định kỳ hằng tuần. Sau khi đóng cửa sân chơi, thay vì trở về phố Barclay phụ giúp bà ngoại mua hàng tạp phẩm cho tuần tới - hàng tồn kho trong cửa hàng tạp hóa của gia đình Cantor đã bị bán tống bán tháo sau khi ông ngoại mất - Bucky tắm trong phòng thay đồ của bọn con trai và mặc một bộ đồ quần dài áo sơ-mi, chân đi một đôi giày bóng lộn mà hồi sáng anh đã bỏ vào cái túi giấy mang đến đây, Rồi anh thả bộ dọc đại lộ Chancellor, xuôi theo dốc tới phố Fabyan Place, nơi gia đình Alan Michaels cư ngụ. Bất chấp căn bệnh bại liệt đang hoành hành trong cộng đồng nơi đây, trên con phố chính san sát của hiệu vẫn đầy người mua sắm đồ tạp hóa ngày thứ bảy, đi lấy đồ gửi giặt khô, mua thuốc theo toa hoặc bất cứ thứ gì họ cần trong cửa hàng điện gia dụng, cửa hàng quần áo nữ hoặc cửa hàng mắt kính và cửa hàng dụng cụ, đồ dùng gia dụng. Trong cửa hàng cắt tóc của Frenchy, tất cả ghế đều có người ngồi, họ là những người trong khu phố đang chờ cắt tóc hoặc cạo râu; ở cửa hàng sửa chữa giày dép kế bên, ông chủ người Ý - ông chủ cửa hàng duy nhất trên phố không phải là người Do Thái, bao gồm cả Frenchy - đang loay hoay kiếm mấy đôi giày đã sửa xong cho khách trong đống giày chất lộn xộn trên quầy; còn đài truyền thanh bằng tiếng Ý thì đang nói ồn ào qua cánh cửa để ngỏ của cửa hàng. Các cửa hàng đã hạ thấp tấm bạt đằng trước để che ánh nắng chói chang xuyên qua khung cửa sổ nhìn ra phố.
Đó là một ngày quang đãng, không mây và nhiệt độ tăng từng giờ. Các cậu trai học Bucky môn thể dục và những cậu từ sân chơi trở nên phấn khích khi phát hiện ra anh ngoài đại lộ Chancellor - bởi nhà anh không gần đây mà ở tận dưới mạn phía nam nên họ đã quen chỉ thấy anh trong văn phòng với vai trò giáo viên thể dục và người quản lý sân chơi. Anh vẫy tay khi nghe cả đám gọi "Thầy Cantor!" và anh mỉm cười gật đầu với phụ huynh, anh nhận ra vài người đã gặp trong các buổi họp phụ huynh. Một ông bố dừng chân để bắt chuyện. "Tôi muốn bắt tay cậu, chàng thanh niên," ông nói với anh. "Cậu đã tống cổ lũ Ý ấy đi. Lũ chó chết. Một chọi mười. Cậu quả là chàng trai can đảm." ‘Cảm ơn ông." "Tôi là Murray Rosenfield. Bố của Joey." "Xin cảm ơn ông Rosenfield." Kế đến, một bà vừa bước ra khỏi cửa hàng cũng dừng chân nói chuyện.
Bà mỉm cười lịch thiệp và bảo "Tôi là Lewy. Tôi là mẹ của cháu Bernie. Con trai tôi tôn sùng thầy, thầy Cantor ạ. Nhưng tôi có điều muốn hỏi thầy. Với tình hình hiện nay ở thành phố chúng ta, thầy có nghĩ là lũ trẻ bắt buộc phải vận động trong cái nóng như thế này không? Bernie về đến nhà là đầm đìa mồ hôi. Liệu có nên không thầy? Hãy xem chuyện thằng bé Alan đấy. Làm sao mà một gia đình có thể khuây khỏa được sau chuyện như thế chứ? Hai anh của nó đang trong quân ngũ, và giờ lại thế này." "Dạ, tôi không để tụi nhỏ chơi đến kiệt sức đâu, thưa bà Lewy. Tôi vẫn canh chừng chúng đấy ạ." "Bernie," bà nói, "nó không biết khi nào phải dừng lại. Nó có thể chạy cả ngày và cả đêm nếu không ai bảo nó thôi." "Tôi đảm bảo sẽ bắt em Bernie ngừng chơi nếu thấy em ấy nóng bức quá, tôi sẽ trông chừng cậu bé." "Vâng, cảm ơn, cảm ơn thầy. Mọi người vui lắm vì có thầy trông nom bọn trẻ." "Vâng, tôi mong mình giúp được phần nào," Bucky đáp. Một nhóm nhỏ vây quanh khi anh nói chuyện với mẹ của Bernie, giờ thì một bà nữa lại gần và giật tay áo anh để gọi. "Mà Ủy ban Y tế làm được gì hả cậu?" "Bà hỏi tôi ạ?" Bucky đáp lời. "ừ, cậu đấy. Qua một đêm mà có tới mười một ca mắc trong khu Weequahic! Một trẻ chết! Tôi muốn biết ủy ban Y tế đang làm gì để bảo vệ lũ trẻ của chúng ta." Tôi không làm ở ủy ban Y tế," Bucky đáp. "Tôi là người quản lý sân chơi ở Chancellor." "Ai đó nói anh làm ở ủy ban Y tế mà," bà truy anh. "Không, không phải tôi. Ước gì tôi giúp được bà nhưng tôi ở bên trường học ạ." "Cậu mà điện thoại cho ủy ban Y tế," bà nói, "là thấy máy bận. Tôi đồ rằng họ cố ý bỏ ống nghe ra." "ủy ban Y tế trước vẫn làm việc mà," một bà khác xen vào "Họ treo biển cách ly lên một ngôi nhà trong phố tôi." Giọng bà này buồn bã thấy rõ, bà tiếp, "Đã có ca nhiễm bại liệt ở phố tôi!" "Mà chả thấy ủy ban Y tế làm gì hết!" Ai đó giận dữ hét lên. "Thành phố đang làm gì để ngăn chặn dịch? Không hề làm gì!" "Phải làm gì đó đi chứ - mà họ có làm đâu!" "Họ phải kiểm tra sữa lũ trẻ uống chứ nhỉ - bại liệt là từ mấy con bò bẩn thỉu và nó nhiễm vào sữa." "Không," người khác lại nói "Không phải tại bò đâu - bởi chai lọ đấy. Người ta không chịu tiệt trùng cẩn thận các chai lọ đựng sữa." "Sao họ không xông khói nhỉ?" Một giọng khác cất lên. "Sao họ không dùng chất tẩy uế cơ chứ? Nó sẽ thanh trùng tất cả mọi thứ." "Sao họ không làm giống hồi trước, khi tôi còn bé? Khi ấy người ta buộc long não vào cổ bọn tôi. Các cụ hồi ấy có thứ gì mùi thảo dược kinh lắm gọi là asafetida - có khi cách đấy giờ có tác dụng cũng nên." "Sao họ không phun hóa chất gì đấy trên các con phố để diệt bệnh nhỉ?" "Hóa chất thì quên đi," người khác lại bảo. "Quan trọng nhất là bảo lũ trẻ rửa tay. Rửa tay liên tục. Sạch sẽ! Sạch sẽ là cách duy nhất!" "Còn một thứ quan trọng nữa," Bucky xen lời, "đó là mọi người phải bình tĩnh, không mất tự chủ cũng như hoảng hốt. Và đừng có khiến lũ trẻ sợ. Điều quan trọng là làm sao để bọn trẻ sinh hoạt như bình thường, còn mọi người, trong lời ăn tiếng nói với chúng, hãy cố tỏ ra vừa phải và bình tĩnh." "Liệu có nên chăng cho chúng nó ở nhà cho đến khi hết dịch?" Một bà khác hỏi anh. "Nhà chả phải là nơi an toàn nhất trong lúc này sao? Tôi là mẹ của Richie Tulin. Richie nó tôn thờ thầy, thầy Cantor ạ. Cả lũ đều thế. Nhưng chả phải Richie sẽ ổn hơn, chả phải tất cả các cậu bé sẽ ổn hơn nếu thầy đóng cửa sân chơi và chúng ở trong nhà?" "Mình tôi không quyết định được việc đóng cửa sân chơi, bà Tulin ạ. Chuyện này tùy thuộc vào thầy hiệu trưởng nhà trường." "Đừng nghĩ tôi trách cứ thầy về những chuyện đang xảy ra," bà bảo. "Không, không ạ, tôi biết bà không có ý ấy. Bà là một người mẹ. Bà lo lắng. Tôi thông cảm với nỗi lo âu của mọi người." "Bọn trẻ Do Thái là gia sản của chúng ta," ai đó nói. "Sao dịch bệnh lại nhắm vào lũ trẻ Do Thái xinh xắn cơ chứ?" "Tôi không phải là bác sĩ. Tôi cũng không phải nhà khoa học. Tôi không biết tại sao nó lại lây lan, nó tấn công ai. Tôi không tin có người tạo ra nó. Vì thế ai cũng cố tìm xem người nào hay cái gì là nguyên nhân. Mọi người cố tìm xem nguyên cớ từ đâu để có thể thanh trừ nó." "Nhưng còn lũ người Ý thì sao? Đúng là do bọn Ý rồi!" "Không, không phải thế đâu. Tôi ở đó lúc mấy cậu người Ý đến. Chúng chẳng chạm vào bọn trẻ nữa cơ. Không phải là bọn Ý đâu. Bà ơi, rõ là bà lo lắng quá rồi và bà đừng có sợ hãi quá thế. Quan trọng là đừng gieo rắc nỗi sợ hãi cho lũ nhỏ. Chúng ta sẽ vượt qua dịch bệnh này, tin tôi đi. Tất cả chúng ta hãy làm tròn bổn phận của mình, giữ bình tĩnh cũng như làm tất thảy những gì có thể để bảo vệ lũ trẻ, và tất cả chúng ta sẽ cùng nhau vượt qua trận dịch này," anh nói. "ừ, cảm ơn thầy, chàng trai. Thầy là một thanh niên tuyệt vời." "Tôi phải đi, xin mọi người thứ lỗi," anh nói với tất cả bọn họ, nhìn lần cuối vào những con mắt lo âu, cầu khẩn anh như thể anh có quyền năng gì khác lớn hơn cái cương vị là một người quản lý sân chơi hai mươi ba tuổi.
FABYAN PLACE là con phố tận cùng Newark, kế đến là đường ray xe lửa, mấy cái kho chứa gỗ và ranh giới với thị trấn Irvington. Giống như những con phố dân cư khác ăn thông với đại lộ Chancellor, hai bên đường là những ngôi nhà bằng gỗ hai tầng có gác mái, phía trước là bậc thềm lát gạch đỏ cùng khoảnh sân nhỏ xíu được rào quanh, nhà này ngăn cách với nhà bên cạnh bằng lối chạy ô-tô hẹp tráng xi-măng dẫn vào một ga-ra nhỏ. Trên lề đường phía trước bậc thềm mỗi ngôi nhà là một cây non che bóng mát được thành phố trồng từ thập niên trước, giờ trông khô héo bởi vài tuần qua trời nóng như thiêu như đốt mà không có lấy một giọt mưa. Không có biểu hiện nào của sự đau ốm hay truyền nhiễm trên con phố sạch sẽ và yên ắng này. Mành mành cùng các bức rèm cửa sổ ở tất cả các nhà, các tầng đều được kéo xuống để ngăn hơi nóng dữ dội từ ngoài đường lọt vào. Không một bóng người, Bucky tự hỏi liệu có phải vì nóng hay vì hàng xóm, láng giềng đang giữ rịt con cái ở trong nhà do tôn trọng - hay có lẽ bởi khiếp sợ gia đình nhà Michaels.
Một bóng người ló dạng ở góc quanh đại lộ Lyons, một mình một lối, băng qua ánh nắng chói chang đang thiêu đốt Fabyan Place và làm mềm cả lớp nhựa rải đường. Bucky nhận ra người ấy từ đằng xa nhờ dáng đi đặc biệt. Horace. Tất cả mọi người, từ đàn ông, đàn bà đến con trẻ ở khu Weequahic đều nhận ra Horace, phần lớn bởi cảm giác rất bất an khi thấy ông ta đang hướng về lối đi của mình. Khi những đứa trẻ nhìn thấy ông, chúng chạy sang bên kia đường; khi người lớn nhìn thấy ông, họ cụp mắt xuống. Horace là "ông khờ" trong khu dân cư này, một người đàn ông gầy nhom trạc tuổi ba mươi mấy bốn mươi - không ai biết chắc ông ta bao nhiêu tuổi - có trí não đã ngừng phát triển từ hồi lên sáu và bác sĩ tâm lý chắc sẽ xếp vào loại đần độn hoặc thậm chí là dở hơi thay vì cái tên "ông khờ" mà đám thanh niên trong khu phố đã gán cho ông ta bấy lâu mà không hề dựa trên kết quả thăm khám nào. Horace kéo lê hai bàn chân, đầu để nhô ra đằng trước giống như đầu rùa, lẩy bẩy bước từng bước, nhìn tổng thể ông ta không phải là đang bước đi mà trong tư thế loạng choạng tiến về phía trước. Nước dãi tụ lại nơi khóe miệng mỗi dịp hiếm hoi Horace cất tiếng, còn khi lặng thinh, chốc chốc ông ta cũng chảy nước dãi. Khuôn mặt bẹt, dị dạng như thể khi chào đời đã bị mỏ kẹp đè nghiến và vặn xoắn lúc được lôi ra khỏi tử cung của người mẹ, ngoại trừ cái mũi to - làm cho khuôn mặt ông ta trở nên chật chội - có hình dạng củ hành kỳ quặc và lố bịch khiến một vài đứa trẻ hét lên "Này, mũi kèn!" để trêu chọc mỗi khi thấy Horace lê bước ngang qua nơi chúng tụ tập trước bậc thềm hay lối vào ga-ra bên hông nhà. Quanh năm suốt tháng, quần áo Horace bốc ra một thứ mùi chua loét và trên khuôn mặt lấm tấm những nốt đỏ cùng những vết cắt trên da mặt chứng tỏ dù có thể có trí não của một đứa bé thì Horace cũng mọc râu như người trưởng thành và tuy khá mạo hiểm, ông ta đã tự cạo hoặc nhờ một trong hai đấng sinh thành của mình cạo hộ trước khi ra đường mỗi ngày. Mấy phút trước, hẳn là ông ta đã rời căn phòng nhỏ phía sau cửa hàng cắt tóc ngay góc lượn của con phố, nơi đó ông sống cùng cha mẹ, là một cặp vợ chồng đứng tuổi nói với nhau bằng tiếng Do Thái cổ Yiddish còn với các khách hàng thì bằng thứ tiếng Anh rất nặng và nghe đâu họ cũng có những đứa con bình thường đã lớn và sinh sống ở nơi khác - ngạc nhiên một điều là, hai người anh của Horace nghe nói một là bác sĩ còn một là một doanh nhân thành đạt. Horace là con út và ngày nào ông ta cũng lê bước trên các con phố trong khu, ngày oi bức nhất mùa hè cũng như ngày lạnh cắt da cắt thịt mùa đông, với một áo khoác len quá khổ, cái mũ liền áo được kéo lên trùm bên ngoài mũ len che tai, chân đi đôi ủng cao su màu đen không cài móc, hai cái găng tay dành cho đôi bàn tay to bè được đính lủng lẳng vào hai ống tay áo bằng kim băng mà chẳng bao giờ dùng tới bất luận nhiệt độ thấp đến cỡ nào. Mặc bộ trang phục này khi lê bước trên đường càng khiến Horace trông kỳ quặc hơn.
Bucky tìm thấy nhà của Michaels ở cuối phố, qua các bậc thềm, vào trong gian tiền sảnh có gắn mấy hòm thư, anh nhấn chuông căn hộ của họ trên tầng hai và nghe thấy tiếng chuông reo trên gác. Có ai đó chậm chạp bước xuống các bậc thang bên trong rồi mở cánh cửa lắp kính mờ dưới chân cầu thang. Đó là một người đàn ông to lớn, trông rất vững chãi, mặc áo sơ-mi ngắn tay có hàng nút chật căng trên bụng. Bên dưới cặp mắt là hai quầng thâm sẫm, dù đã trông thấy Bucky, ông vẫn lặng thinh như thể nỗi đau buồn đã khiến cho chủ nhân trở nên quá u mê không thể thốt nên lời.
"Tôi là Bucky Cantor. Tôi là quản lý sân chơi ở trường Chancellor và là giáo viên thể dục ở đó. Alan học lớp tôi. Cậu bé cũng chơi bóng ở chỗ sân chơi. Tôi đã nghe chuyện và đến đây để xin chia buồn."
Mãi sau người đàn ông mới trả lời. "Alan có nhắc đến thầy," cuối cùng ông cũng thốt ra.
"Alan là một vận động viên bẩm sinh. Một cậu bé chu đáo. Thật là một tin đau xót, bàng hoàng. Thật không sao hiểu nổi. Tôi đến đây vì muốn bày tỏ nỗi đau buồn của mình với gia đình ta."
Gian tiền sảnh rất nóng, và cả hai đầm đìa mồ hôi.
"Lên nhà đi," ông Michaels nói. "Chúng tôi xin được mời thầy chút nước lạnh."
"Tôi không dám phiền ông đâu," Bucky đáp. "Tôi chỉ muốn chia buồn và nói rằng ông bà đã có một cậu con trai tuyệt vời. Cậu ấy thật trưởng thành về mọi mặt."
"Nhà có trà đá. Em vợ tôi pha. Nhà đã mời bác sĩ khám cho vợ tôi. Bà ấy nằm bẹp từ lúc ấy đến giờ. Bác sĩ phải cho uống thuốc an thần. Thầy lên nhà uống trà đã." "Thật tình tôi không dám làm phiền ạ."
"Không sao đâu. Alan đã kể cho chúng tôi về thầy Cantor cùng sức khỏe của thầy. Nó yêu thích sân chơi lắm." Và rồi, giọng ông nghẹn lại, "Nó yêu đời lắm."
Bucky theo chân người đàn ông cao to, phờ phạc bởi đau buồn ấy lên gác và bước vào căn hộ. Tất cả rèm cửa đều được thả xuống và không một ngọn đèn nào được bật sáng. Trong phòng có một cái ra-đi-ô để phía sau ghế sô-pha và đối diện là hai ghế bành lớn. Bucky ngồi trên sô-pha còn ông Michaels đi vào bếp rồi quay ra cầm trên tay một cốc trà đá cho khách. Ông mời Bucky ngồi vào một chiếc ghế bành rồi với vẻ đau khổ và thở dài sườn sượt, ông ngồi xuống chiếc ghế bành còn lại, phía trước ghế này kê một cái kệ gác chân nhỏ. Sau khi ngả người trong ghế và gác chân lên cái kệ nhỏ, trông ông chắc cũng giống như bà vợ, đang nằm trong giường, vừa được cho uống thuốc và không sao gượng dậy nổi. Tin dữ đã khiến khuôn mặt người đàn ông trở nên vô cảm. Trong bóng tối nhờ nhờ, quầng thâm dưới cặp mắt ông trông thẫm đen, như thể ai đó đã đóng hai con dấu mực tang thương lên đó. Thay vì tự xé quần áo của mình khi nghe tin người thân qua đời như phong tục cổ xưa của người Do Thái - ông Michaels đã gắn trên khuôn mặt nhợt nhạt của mình hai quầng tối ấy.
"Mấy thằng con tôi đang trong quân ngũ," ông nói, vẻ yếu ớt đến mức nếu có ai đó ở ngay phòng kế bên chắc cũng không sao nghe thấy nổi, đồng thời chậm rãi như thể đã quá kiệt sức. "Từ khi chúng phải đóng quân ở nước ngoài, không có ngày nào là tôi không lo sẽ nhận được tin dữ. Cho tới giờ chúng vẫn sống sót sau những trận đánh ác liệt nhất, vậy mà chỉ vài buổi sáng trước, thằng em tỉnh dậy thấy cứng cổ và sốt cao, để rồi ba ngày sau nó chết. Chúng tôi biết kể với mấy đứa anh của nó ra sao bây giờ? Chúng tôi biết viết thư cho lũ anh đang chiến đấu của nó như thế nào bây giờ? Một đứa trẻ mới mười hai tuổi đầu, một thằng bé không thể có ai ngoan hơn, vậy mà nó đã đi rồi. Tối đầu nó thảm lắm nên sáng hôm sau tôi cứ nghĩ là đỉnh điểm đã qua và con nguy kịch đã hết. Nhưng hóa ra thảm kịch mới chỉ bắt đầu. Ôi đấy là một ngày khốn khổ của thằng bé. Nó nóng như hòn than. Thầy xem nhiệt kế và sẽ không tin đâu - hơn bốn mươi mốt độ! Ngay khi bác sĩ đến nơi, ông ấy đã lập tức gọi xe cấp cứu, rồi ở bệnh viện họ mang ngay thằng bé đi mất - thế đấy. Chúng tôi không bao giờ còn thấy lại đứa con trai của mình nữa. Nó chết côi cút một mình. Không có cả lời chào từ biệt. Tất cả những gì còn lại của nó là tủ quần áo, sách vở, dụng cụ thể thao, và kia, ở đằng kia kìa, là bầy cá nó nuôi."
Lần đầu tiên, Bucky để ý thấy một bể cá lớn treo trên vách tường cuối phòng, chỗ đó không những tối bởi mấy tấm mành mà còn do rèm bị kéo xuống che phủ ô cửa sổ chắc hẳn trông xuống lối chạy xe và căn nhà kế bên. Một bóng đèn nê-ông rọi xuống bể cá, và trong đó anh thấy lũ cá bé xíu, sặc sỡ, cả thảy mười mấy con, con thì trốn vào trong một cái hang giả, được trang trí bằng những bụi cây xanh, hoặc sục sạo lớp cát dưới đáy tìm mồi, con thì đang ngoi lên mặt nước đớp đớp, hay chỉ bất động gần một ống sục khí màu bạc ở góc bể. Hẳn là công trình do Alan tự làm, Bucky thầm nghĩ, một bể cá đúng nghĩa đã được cậu bé chăm sóc kỹ lưỡng và cẩn thận.
"Sáng nay," Ông Michaels tiếp, nhún vai ra dấu về phía cái bể, "tôi mới nhớ cho chúng ăn. Tôi bật dậy và sực nhớ ra."
"Đó là cậu bé tuyệt vời nhất," Bucky nói, rướn người qua ghế để ông Michaels có thể nghe rõ mà không cần nói to.
"Luôn luôn làm bài tập ở trường," ông Michaels tiếp lời. "Luôn giúp mẹ. Không hề có chút ích kỷ nào trong con người nó. Tháng chín tới đây nó sẽ bắt đầu chuẩn bị cho Lễ Trưởng thành. Lễ phép. Gọn gàng ngăn nắp. Hằng tuần đều viết cho các anh nó những bức thư, nó đọc cho chúng tôi nghe bên bàn ăn tối, thư nào cũng đầy ắp tin tức. Luôn khích lệ động viên mẹ mỗi khi bà ấy lo lắng buồn phiền về hai thằng anh. Luôn làm mẹ nó bật cười. Ngay khi nó còn bé, cả nhà cũng có những khoảng thời gian vô cùng vui vẻ với nó. Nhà chúng tôi là nơi tất cả bạn bè của chúng nó tới chơi vui vẻ, nơi lúc nào cũng nhộn nhịp lũ bạn trai. Tại sao Alan lại mắc bệnh bại liệt? Tại sao nó lại bị ốm và chết cơ chứ?"
Bucky bóp chặt cốc trà đá lạnh trong tay, không uống, anh thậm chí không biết là mình đang cầm nó nữa.
"Tất cả các bạn của nó đều kinh hãi," ông Michaels nói. "Chúng sợ đã nhiễm bệnh từ Alan và giờ đây chúng cũng sắp bị mắc bại liệt. Cha mẹ chúng hoảng loạn. Không ai biết phải làm gì. Làm gì chứ? Chúng tôi lẽ ra cần phải làm những gì? Tôi nặn óc nghĩ mãi. Có gia đình nào sạch sẽ hơn gia đình này? Có người phụ nữ nào giữ cho nhà cửa sạch sẽ tinh tươm hơn vợ tôi? Có người mẹ nào chăm chút sức khỏe cho con cái chu đáo hơn người mẹ của các con tôi nữa? Có đứa bé nào chăm nom phòng mình, quần áo và chính bản thân tốt hơn Alan? Mọi thứ nó làm, nó đều làm hoàn hảo ngay từ lần đầu tiên. Và lúc nào cũng vui tươi. Luôn luôn đùa cười. Vậy tại sao nó lại chết? Sự công bằng ở đâu?"
"Không có," Bucky đáp.
"Anh chỉ làm điều đúng đắn, điều đúng đắn, điều đúng đắn và điều đúng đắn, trước giờ đều thế. Anh cố gắng làm người chu đáo, người biết điều, người luôn sẵn lòng giúp đỡ người khác, và rồi chuyện này xảy đến. Lẽ đời ở đâu?" "Dường như không có," Bucky trả lời.
"Cán cân công lý ở đâu chứ?" Người đàn ông đáng thương hỏi.
"Tôi không biết, ông Michaels ạ."
"Tại sao bi kịch luôn giáng xuống đầu những người không đáng phải nhận nhất?"
"Tôi không biết câu trả lời," Bucky đáp.
"Tại sao không phải là tôi mà lại là nó chứ?"
Bucky không có bất cứ câu trả lời nào cho một câu hỏi như thế. Anh chỉ có thể nhún vai tỏ ý lấy làm tiếc.
"Một cậu bé - bi kịch nhằm đánh vào một cậu bé. Thật tàn nhẫn!" Ông Michaels thốt lên, đập mạnh lòng bàn tay xuống thành ghế. "Vô lý quá! Căn bệnh khủng khiếp từ trên trời rơi xuống và một người bị chết chỉ sau có một đêm. Một đứa trẻ, không hơn không kém!"
Bucky ước gì mình có thể nghĩ ra được một từ để thốt lên và giúp làm dịu bớt, dù chỉ trong khoảnh khắc, nỗi thống khổ của người cha này. Nhưng tất cả những gi anh có thể làm là gật đầu mà thôi.
"Cái buổi tối hôm ấy, chúng tôi ngồi ngoài đường," Ông Michaels nói. "Alan ngồi cùng với chúng tôi. Nó đã về nhà sau khi chăm nom xong mảnh đất nhỏ của nó trong khu vườn tăng gia. Nó làm việc ấy một cách chăm chỉ. Năm ngoái, thực tình chúng tôi ăn rau Alan trồng trong suốt cả mùa hè đấy. Lúc đó một cơn gió nhẹ thổi tới. Bất thình lình trời có gió. Thầy có nhớ đêm hôm ấy không? Khoảng chừng tám giờ gì đó, trời mát hẳn."
"Vâng, có ạ," Bucky nói, nhưng không còn lắng nghe nữa. Anh đang nhìn qua căn phòng chỗ những con cá nhiệt đới bơi lội trong bể và thầm nghĩ nếu không có Alan chăm sóc, chúng sẽ bị bỏ đói đến chết hoặc bị mang đi cho, hoặc, do buồn chán mà bị ai đó lúc đang nước mắt đầm đìa đem bỏ vào bồn cầu xối nước cho trôi đi.
"Nó giống như cơn gió lành sau một ngày nóng như thiêu. Anh chờ và chờ mãi một làn gió nhẹ. Anh nghĩ làn gió sẽ mang đến sự thư thái. Nhưng anh có biết tôi nghĩ nó mang đến gì không?" Ông Michaels hồi. "Tôi cho rằng làn gió ấy gieo rắc mầm bệnh bại liệt vào trong không khí, khắp nơi, khắp chốn, anh cứ nhìn lớp lá bị cuốn đi theo ngọn gió mà xem. Tôi nghĩ Alan lúc ấy ngồi kia và hít phải mầm bệnh trong cơn gió đó..." Ông không sao nói tiếp được, ông bật khóc, lúng túng, vụng về. Đó là kiểu khóc của đàn ông, những người thường thích cho rằng bản thân có thể đương đầu với bất cứ điều gì.
Lúc này, một người đàn bà bước ra khỏi phòng ngủ; đó là cô em dâu đang săn sóc cho bà Michaels. Cô bước đi gượng nhẹ trên đôi giày của mình, như thể lúc ấy ở phòng trong có một đứa trẻ hiếu động rốt cuộc cũng đã lăn ra ngủ.
Cô thì thầm, "Chị muốn biết anh đang nói chuyện với ai."
"Đây là thầy Cantor," ông Michaels vừa nói vừa lau mắt. "Thầy ấy là giáo viên của trường thằng Alan học. Chị sao rồi?" Ông hỏi em dâu.
"Không khỏe," cô hạ giọng. "Cứ nói đi nói lại. ‘Không phải con tôi, không phải con tôi.’"
"Anh sẽ vào ngay." Ông trả lời.
"Tôi cũng nên đi thôi," Bucky nói và đứng dậy, để cốc trà chưa uống xuống mép bàn. "Tôi chỉ muốn bày tỏ lòng thương tiếc của mình. Xin hỏi khi nào gia đình tổ chức tang lễ ạ?"
"Ngày mai, vào lúc mười giờ. Ở giáo đường phố Schley. Alan là học trò yêu của thầy dạy giáo lý Do Thái Slavin. Ai cũng yêu thích nó. Cha Slavin đã đến đây và ngay khi biết chuyện đã nói sẽ làm lễ cầu nguyện. Đấy là một đặc ân cho Alan. Trên đời này ai cũng yêu quý thằng bé. Nó là đứa mà cả triệu người mới gặp một."
"Thầy dạy cháu nó môn gì thế ạ?" Người em dâu hỏi Bucky.
"Thể dục ạ."
"Alan thích bất cứ thứ gì dính đến thể thao," cô bảo. "Thật là một học trò mẫu mực. Thằng bé mà ai ai cũng yêu." "Tôi biết," Bucky nói. "Tôi thấy đúng vậy. Thật không sao bày tỏ hết được lòng thương tiếc của tôi."
Dưới nhà, khi anh bước xuống bậc thềm, một phụ nữ từ trong căn hộ tầng một chạy vội ra, phẫn nộ kéo tay anh lại hỏi, "Bảng hiệu cảnh báo cách ly đâu? Ở tầng trên ấy, mọi người cứ đi lên, đi xuống, vào ra, ra vào mà chả có cảnh báo cách ly gì cả? Nhà tôi có trẻ con. Tại sao không có một bảng cách ly để bảo vệ lũ trẻ nhà tôi? Anh có phải là tuần tra viên của đội vệ sinh dịch tễ không?"
"Tôi không biết gì chuyện của đội vệ sinh dịch tễ cả. Tôi làm ở sân chơi. Tôi dạy ở trường học."
"Thế ai phụ trách việc này?" Một bà da đen, người nhỏ thó, vẻ đầy lo âu, mặt bà nhăn nhó đầy kích động, trông như thể bại liệt đã hủy hoại xong cuộc đời của bà rồi chứ không phải lũ trẻ nhà bà đang chỉ tạm thời phải sống trong khu vực lây nhiễm của nó.
"Tôi cho là ủy ban Y tế chịu trách nhiệm chuyện này," Bucky đáp.
"Họ ở đang đâu?" bà căn vặn. "Mấy người có trách nhiệm đâu rồi? Mọi người sống trong khu phố thậm chí không bước đến cửa nhà chúng tôi - họ cố ý đi tránh sang bên kia đường. Thằng bé thì chết rồi," bà nói thêm, giọng đứt quãng vẻ tuyệt vọng, "mà tôi vẫn đang chờ một bảng cảnh báo cách ly!" Nói đến đây bà thét lên. Trước đây, Bucky chưa bao giờ nghe thấy một tiếng thét như thế, ngoại trừ trong phim kinh dị. Nó khác với tiếng la hét. Nó giống như được tạo ra bởi một dòng điện. Nó là một âm thanh có âm vực cao, kéo dài không giống bất kỳ âm thanh nào của con người mà anh biết, và tác động kỳ quái của nó khiến anh sởn gai ốc.
VÌ CÒN CHƯA ĂN TRƯA, nên Bucky rảo bước đến cửa hàng bán đồ ăn nhanh Syd’s để mua một cái hot-dog. Anh cẩn trọng bước trên lề đường phía có bóng mát, băng nhanh qua những chỗ không gì che chắn ánh mặt trời chói chang và những chỗ anh có thể thấy lờ mờ hơi nóng lung linh bốc lên trên hè phố. Hầu hết người đi mua sắm đã mất dạng. Đó là một trong những ngày nóng nực nhất mùa hè ấy, nhiệt kế chỉ tới vạch ba mươi tám độ, và nếu như sân chơi mở cửa, anh hẳn sẽ cắt giảm các hiệp của môn bóng mềm, khuyến khích đám trẻ chơi cờ vua, cờ đam và chơi bóng bàn trong bóng mát của ngôi trường. Rất nhiều đứa trẻ uống những viên thuốc muối mẹ chúng đưa để chống chọi với cái nóng, và muốn tiếp tục chơi bất luận nhiệt độ lên cao đến cỡ nào, thậm chí ngay cả khi mặt sân trải nhựa bắt đầu có cảm giác như mềm ra và tỏa hơi nóng bên dưới những đôi giày thể thao; và nắng nóng đến mức thay vì làm đen sạm làn da, nó có thể tẩy trắng thân người trước khi thiêu rụi người ta tại chỗ. Ký ức về những lời than khóc của bố Alan vẫn còn nguyên, Bucky phân vân không biết có buộc phải ngừng mọi hoạt động thể thao trong những ngày còn lại của mùa hè khi nhiệt độ lên tới ba mươi hai độ hay không. Như thế, ít nhất, anh cũng đã cố làm gì đó, mặc dù không rõ nó có tạo ra được tí gì khác biệt đối với sự lây lan của căn bệnh bại liệt không nữa.
Ở Syd’s vắng hoe. Ai đó đang rủa cái máy chơi đánh bi trong thứ ánh sáng lờ mờ phía sâu trong cửa hàng, hai cậu học sinh trung học anh không quen mặt đang nghịch ngợm bên cạnh máy hát đang phát bài "I’ll be seeing you" (Rồi em sẽ gặp lại anh), một trong những bài hát yêu thích của mùa hè này. Đó là bài hát mà Marcia thích nghe trên đài và được ưa thích bởi tất cả những người vợ và những cô gái ở hậu phương trong khi chồng và người yêu của họ đang hiện diện ở chiến trường. Giờ đây anh nhớ lại lúc cùng Marcia nhẩy theo điệu nhạc của bài hát này ở hàng hiên phía sau nhà nàng một tuần trước khi nàng lên đường tới Indian Hill. Dìu bước chầm chậm, ôm nhau xoay vòng trong tiếng bài hát "I’ll be seeing you" khiến họ bắt đầu cảm thấy nhớ nhau ngay cả trước khi Marcia rời thành phố đi xa.
Lúc Bucky ngồi xuống ghế kế cánh cửa có lưới ngăn côn trùng và ô cửa sổ dài dùng để giao nhận trông ra đại lộ Chancellor nhằm hứng chút gió thổi từ ngoài phố thì không có ai trong các ô bàn ăn cũng như trên dãy ghế đặt quanh quầy phục vụ cả. Một cái quạt máy to tướng đang thổi gió từ đầu này đến đầu kia quầy phục vụ nhưng xem ra không có mấy tác dụng. Cửa hàng vẫn nóng và nồng nặc mùi khoai tây xắt miếng rán giòn ngập mỡ.
Anh mua một cái bánh hot-dog và một chai nước ngọt có ga làm từ rễ cây còn đọng chút sương lạnh bên ngoài, và bắt đầu nhấm nháp. Ngoài cửa sổ, đang băng ngang qua đường, chậm chạp lê bước lên dốc trong cái nóng như thiêu như đốt của thành phố vùng xích đạo Newark lại là Horace, rõ ràng đang hướng về phía sân chơi, không nhận thức được rằng hôm nay là thứ bảy và đang độ hè, sân chơi đóng cửa từ trưa thứ bảy. (Cũng không rõ liệu ông ta có hiểu được thế nào là "mùa hè" , "sân chơi" , "đóng cửa" hay "buổi trưa" không nữa, chỉ nội việc ông ta sai lầm khi đi qua lề đường bên kia là đã đủ thấy con người này không thể nhận thức được một cách sơ đẳng khái niệm bóng râm" hay thậm chí chỉ để tìm đến nó một cách bản năng, giống như bất cứ một con chó nào cũng làm trong một ngày như thế này.) Khi Horace thấy không có đứa trẻ nào ở phía sau trường học, ông ta sẽ làm gì tiếp theo? Ngồi hàng giờ trên khán đài không mái che chờ cho chúng quay trở lại, hay tiếp tục lang thang giữa các khu phố khiến ông ta trông giống như một kẻ mộng du giữa ban ngày? Phải, Alan đã chết và căn bệnh bại liệt đang là mối đe dọa đối với cuộc sống của tất cả trẻ em trong thành phố, Bucky không thể làm được gì nhưng cảm thấy ngán ngẩm khi quan sát Horace lê bước trên các con phố dưới ánh mặt trời gay gắt, đơn độc và vô tri trong một thế giới chói chang thiêu đốt.
Trong lúc bọn trẻ chơi bóng, Horace thường hoặc là ngồi lặng lẽ ở đầu băng ghế nơi đội phát bóng thường ngồi hoặc đứng lên đi vòng vòng quanh sân bóng, dùng chân cách một người chơi chừng một hay hai bước và đứng yên ở đó không nhúc nhích. Chuyện này luôn xảy ra, và ai cũng biết cách duy nhất để tống khứ Horace - và để tập trung thi đấu - là nắm lấy bàn tay vô hồn của ông khờ mà lắc rồi hỏi "Ông khỏe không, Horace?" Thế là Horace sẽ tỏ vẻ hài lòng và đi đến đứng cạnh một người chơi khác. Những gì ông ta cần từ cuộc đời chỉ có vậy - nắm tay ông và lắc. Không cậu trai nào ở sân chơi cười cợt hay chòng ghẹo ông ta - ít nhất là khi có Bucky ở đó - trừ cặp anh em hiếu động bất trị nhà Kopferman, Myron và Danny. Chúng là những cậu bé to khỏe, giỏi thể thao, Myron là đứa quá hiếu động và hiếu chiến còn Danny thì ma mãnh và ám muội. Cậu anh, Myron, mười một tuổi, có tất cả tính cách của một tay đầu gấu và cần phải được kiềm chế khi có chuyện tranh cãi giữa các cậu bé trên sân đấu hay khi cậu này quấy phá bọn con gái đang nhảy dây. Bucky đã dành không ít thời gian để cố dạy cho Myron bất trị về tinh thần thượng võ trong thi đấu cũng như cảnh cáo cậu không được trêu chọc Horace.
"Nhìn này," Myron sẽ bảo; "Nhìn này Horace. Xem cháu làm gì này." Khi Horace thấy mũi giày thể thao của Myron gõ nhịp trên các bậc khán đài, các ngón tay của ông ta sẽ bắt đầu co quắp và khuôn mặt con người ấy sẽ ửng đỏ, rồi ngay sau đó ông ta sẽ khua tay trong không khí như đang chiến đấu với một đàn ong. Trong mùa hè đó, Bucky đã vài lần phải bảo Myron Kopferman dừng trò đó lại và đừng có tái diễn nữa. "Trò gì cơ ạ? Làm trò gì cơ ạ?" Myron hỏi, toét miệng cười làm ra vẻ mình không làm gì hỗn láo cả. "Em chỉ nhịp nhịp chân, thầy Cantor - em không có quyền nhịp chân à?" "Thôi ngay đi, Myron," Bucky nạt ngang. Cậu em mười tuổi nhà Kopferman, Danny, có một khẩu súng đồ chơi bằng sắt trông giống như súng lục ổ quay mà cậu vẫn thường bỏ trong túi quần, cả khi đang chơi ở vị trí chốt hai. Mỗi khi bóp cò, khẩu súng phát ra một tiếng nổ nhỏ và chút khói giống như thật. Danny thích tới sau những đứa khác và dùng súng dọa đám bạn. Bucky từng khoan thứ cho trò nghịch ngợm này chỉ bởi nó thật ra chẳng bao giờ khiến các cậu bé sợ. Nhưng một hôm Danny lấy khẩu súng đồ chơi ra và vung vẩy nó về phía Horace rồi ra lệnh cho ông ta giơ tay lên, khi Horace không chịu làm theo, Danny liền khoái chí xả liền năm viên đạn. Tiếng nổ và khói bốc ra khiến Horace kinh hãi, ông vụng về lạch bạch chạy trốn khỏi kẻ chòng ghẹo mình. Bucky đã tịch thu khẩu súng, cất vào ngăn kéo phòng làm việc, cùng với món đồ chơi còng tay mà hồi đầu hè Danny đã dùng để dọa các bé nhỏ hơn ở sân chơi. Đây không phải là lần đầu tiên anh đuổi Danny về nhà với một thông báo gửi cho bà mẹ về hành vi của cậu con trai út. Tuy nhiên anh ngờ là bà chưa bao giờ nhận được nó cả.
Yushy, anh chàng đã làm lâu năm tại cửa hàng Syd’s, mặc chiếc tạp-dề lấm lem vết mù tạt, nói với Bucky, "Quanh đây không có ma nào cả."
"Trời nóng quá," Bucky đáp. "Đang là mùa hè. Lại là cuối tuần. Ai cũng đi ra biển hoặc ở trong nhà."
"Không, không ai đến vì chuyện thằng bé đấy."
"Alan Michaels ấy hả?"
"Ừ," Yushy trả lời. "Nó đã ăn một cái bánh hot-dog ở đây, về nhà và nhiễm bại liệt rồi chết, nên giờ ai cũng sợ đến đây. Thật nhảm nhí. Anh không thể mắc bại liệt từ một cái hot-dog. Chúng tôi bán cả ngàn cái hot-dog mà chả ai mắc bại liệt cả. Rồi một đứa trẻ mắc bại liệt và ai ai cũng nói, ‘Đó là do hot-dog ở quán Syd’s, đó là do hot-dog ờ quán Syd’s!’ Một cái hot-dog đã luộc chín rồi. Làm sao mà lây bại liệt từ một cái hot-dog đã luộc chín hả?"
"Mọi người hoảng sợ ấy mà," Bucky nói. "Họ sợ chết khiếp, nên cái gì họ cũng lo."
"Chính là lũ chó người Ý mang đến đấy," Yushy khẳng định.
"Không phải đâu," Bucky bảo.
"Đúng mà, chúng nó đấy. Chúng khạc nhổ khắp nơi."
"Lúc ấy tôi ở đó mà. Bọn tôi cọ rửa sạch đờm dãi bằng a-mô-ni-ắc rồi."
"Anh cọ sạch đờm dãi nhưng không cọ được hết mầm bại liệt. Anh không thể cọ sạch mầm bệnh được. Anh có nhìn thấy đâu. Nó bay trong không khí và anh mở mồm rồi hít vào, hậu quả là anh mắc bại liệt. Chả có liên quan gì đến những cái hot-dog."
Bucky không muốn đáp lời và trong khi nghe đến đoạn cuối của bài hát quen thuộc trên máy hát tự động - bất giác nhớ đến Marcia - anh ăn nốt suất ăn của mình.
Rồi em sẽ gặp lại anh
Trong mọi ngày hè nắng đẹp
Trong khung cảnh tất cả đều tươi sáng và rực rỡ
Em luôn nghĩ về anh như thế...
"Giả sử thằng bé đã ăn một cốc kem nước quả ở cửa hàng Halem’s," Yushy nói tiếp. "Sẽ không có ai ăn kem nước quả ở cửa hàng Halem’s nữa à? Giả sử thằng bé ăn mì xào trên phố chỗ mấy tay Tàu - thì sẽ không có ai đến đó ăn mì xào nữa à?"
"Có lẽ vậy," Bucky đáp.
"Thế còn thằng nhóc cũng bị chết kia thì sao?" Yushy hỏi. "Thằng nhóc nào?"
"Thằng nhóc chết sáng nay này."
"Thằng bé nào chết? Herbie Steinmark chết rồi sao" "Ừ. Nó không ăn hot-dog ở đây."
"Cậu chắc chắn là nó chết rồi hả? Ai nói với cậu là Herbie Steinmark đã chết?"
"Có người nói. Người vừa mới đến trước anh bảo tôi thế. Hai cậu thanh niên bảo tôi."
Bucky trả tiền cho Yushy và rồi, bất kể cái nóng khủng khiếp - và thậm chí không để ý đến cái sự nóng nực nữa - từ cửa hàng Syd’s, anh chạy băng qua đại lộ Chancellor và quay trở lại sân chơi, băng qua các bậc thang tới cửa tầng hầm, mở khóa và rảo bước tới phòng làm việc của mình. Tới nơi, anh nhấc điện thoại, quay số bệnh viện Beth Israel, một trong những số điện thoại khẩn cấp được ghi trên tấm thẻ mà anh đã dùng đinh mũ đính lên tấm bảng thông báo treo phía bên trên điện thoại. Ngay phía trên tấm thẻ đó là một tấm thẻ khác, trên thẻ có một câu trích dẫn anh viết bằng bút máy lời của nhà hoạt động xã hội Joseph Lee, người khởi phát nên trào lưu sân chơi, câu này anh đọc được ở trường Panzer; anh đã treo nó lên bảng ngay từ ngày đầu tiên tới nhận việc. "Vui chơi, đối với người lớn, là giải trí, là tái tạo sự sống; vui chơi, đối với trẻ em, là phát triển, là giành lấy sự sống." Đính bên cạnh tấm thẻ này là một thông báo anh mới nhận ngày hôm qua, theo đường thư tín, của trướng ban giải trí gửi quản lý các sân chơi:
Xét thấy tính chất nguy hiểm đối với trẻ em ở thành phố Newark trong tình hình bùng phát bệnh bại liệt thời gian qua, xin hãy hết sức lưu ý những vấn đề sau đây. Nếu quý vị chưa có đủ vật tư sử dụng trong nhà vệ sinh, hãy yêu cầu ngay lập tức. Khử trùng toàn bộ các bồn rửa tay, bồn cầu, sàn nhà và tường nhà vệ sinh mỗi ngày, tất cả mọi thứ đều phải sạch sẽ một cách hoàn hảo. Mọi thiết bị vệ sinh phải được cọ rửa kỹ lưỡng dưới sự giám sát của quý vị. Hãy tự mình giám sát và không ngừng lưu ý tới những vấn đề này trong lúc sự bùng phát bệnh vẫn còn đe dọa cộng đồng dân cư.
Khi nối được đường dây với bệnh viện, anh yêu cầu nhân viên trực tổng đài cung cấp thông tin về bệnh nhân và sau đó hỏi tình hình của Herbert Steinmark. Câu trả lời là bệnh nhân này không còn nằm tại bệnh viện nữa. "Nhưng cậu bé đang nằm trong máy trợ thở cơ mà," Bucky căn vặn. "Bệnh nhân đã tử vong," nhân viên trực tổng đài trả lời.
Tử vong? Hai chữ ấy có thể nào lại gắn với Herbie tròn trĩnh, phúng phình và luôn tươi cười? Ở sân chơi, cậu là đứa phối hợp kém nhất trong đám và là cậu bé chiếm được nhiều tình cảm nhất. Đầu giờ buổi sáng, Herbie luôn nằm trong số các bé giúp Bucky bày biện trang thiết bị ra. Trong giờ thể dục ở trường Chancellor, cậu không có chút khả năng nào ở môn nhảy ngựa, xà kép, vòng treo và leo dây, nhưng bởi luôn gắng hết sức và với bản tính bền bỉ, Bucky không bao giờ cho cậu điểm dưới B. Alan là một vận động viên thiên phú và Herbie là cậu bé không có năng khiếu trở thành vận động viên, cậu thiếu hoàn toàn sự nhanh nhạy về thể chất - cả hai đều chơi trên sân trong cái ngày mà mấy gã người Ý tới quấy nhiễu, và cả hai đều đã chết, chết vì bệnh bại liệt ở tuổi mười hai.
Bucky hối hả chạy xuống tầng hầm tới nhà vệ sinh dành cho các cậu bé trong sân chơi, lòng tràn đầy đau đớn và không biết phải làm gì với nỗi đớn đau ấy, anh chộp lấy cây lau sàn của người gác cửa, xách một xô nước và một bình hơn ba lít rưỡi thuốc khử trùng rồi lau chùi nền nhà lát gạch, mồ hôi toát ra như tắm. Kế đến, anh qua nhà vệ sinh của các bé gái, vẫn còn dư sức và trong cơn cuồng điên, lại lau sạch sàn bên đó. Rồi, với quần áo và hai tay nồng nặc mùi thuốc khử trùng, anh bắt xe buýt về nhà.
SÁNG HÔM TIẾP THEO, sau khi đã cạo râu, tắm gội, và ăn sáng, Bucky đánh bóng lại đôi giày, mặc bộ com-lê, áo sơ-mi trắng, anh chọn cái cà-vạt có màu sẫm hơn trong hai cái cà-vạt mình có, rồi đón xe buýt xuống phố Schley. Giáo đường là một ngôi nhà gạch, hình hộp có màu vàng, thấp lè tè, ảm đạm, phía đối diện bên kia phố là một lô đất lớn đã được cải tạo thành vườn tăng gia của cả khu, ở đó có lẽ Alan đã từng siêng năng chăm sóc cho luống rau của mình. Bucky thấy vài người đàn bà đội mũ rơm rộng vành để tránh nắng, đang cúi người làm cỏ trên những khoảnh đất nhỏ cạnh một tấm bảng thông cáo. Trước giáo đường đậu một dãy ô-tô, trong đó có một chiếc xe tang đen, người lái xe đứng trên hè, đang cầm khăn lau cản trước. Trong xe tang, Bucky nhìn thấy cỗ quan tài. Thật không sao tin nổi Alan đang nằm trong cái hòm gỗ thông đơn sơ xám xịt ấy chỉ bởi bị mắc một căn bệnh mùa hè. Cái hòm mà người ta không thể thoát ra được. Cái hòm mà trong đó một cậu bé mười hai tuổi sẽ mãi mãi ở tuổi mười hai. Mọi người khác sống và già theo năm tháng. Nhưng cậu sẽ mãi mười hai. Một triệu năm qua đi, và cậu vẫn chỉ mười hai tuổi.
Bucky lấy cái mũ chỏm đã được gập gọn từ trong túi quần ra, chụp vội lên đầu và bước vào, anh thấy một cái ghế trống gần hàng cuối. Anh dò trong cuốn kinh cầu theo những người đang nguyện và tụng cùng họ. Giữa chừng, có một giọng phụ nữ hét lên, "Chị ấy ngất! Cứu với!" Cha Slavin tạm ngừng buổi lễ trong khi ai đó, chắc là một bác sĩ, chạy một cách vội vàng dọc theo lối đi giữa các hàng ghế và lên cầu thang ra ban công, để tới chỗ người đã bất tỉnh trong khu vực dành cho phụ nữ. Nhiệt độ trong giáo đường lúc ấy ít nhất cũng phải ba mươi hai độ, nóng nhất có lẽ ở ban công. Có người bị ngất xỉu chẳng có gì đáng phải ngạc nhiên. Nếu buổi lễ không nhanh chóng kết thúc, mọi người sẽ bắt đầu đua nhau ngất. Ngay cả Bucky cũng cảm thấy chóng mặt trong bộ lễ phục của mình, một bộ com-lê len mặc cho mùa đông.
❀ ❀ ❀
[1] . Nguyên văn: Memorial Day - là thứ Hai cuối cùng của tháng Năm để tưởng nhớ những người đã hy sinh trong cuộc Nội chiến Mỹ (1861-1865). (Tất cả chú thích trong sách là của người dịch)