Ghế bên cạnh không ai ngồi. Bucky mãi mong Alan sẽ bước vào và ngồi xuống đó. Anh muốn Alan bước vào với đôi găng bóng chày của cậu và ngồi xuống cạnh anh, như cậu vẫn thường làm vào buổi trưa trên khán đài ở sân chơi, ngồi cạnh Bucky và ăn bánh xăng-uých trong túi đựng đồ ăn trưa cậu mang theo.
Người đảm trách bài tụng ca là bác của Alan, Isadore Michaels, chủ hiệu thuốc tây lâu năm ở góc phố Wainwright cắt Chancellor mà khách hàng nào cũng gọi là bác sĩ. Ông trông vui tính, vạm vỡ và ngăm ngăm giống bố Alan, ông cũng có quầng đen nơi cặp mắt. Chỉ một mình ông nói bởi không thành viên nào trong gia đình còn cảm thấy làm chủ được cảm xúc nữa. Có rất nhiều người sụt sùi, không chỉ ở khu vực dành cho phụ nữ.
"Chúa ban ân cho chúng ta có Alan Avram Michaels trong mười hai năm," ông bác Isadore nói, mỉm cười với vẻ can đảm. "Và Chúa đã ban ân cho tôi có một đứa cháu mà tôi yêu quý như chính con ruột mình từ ngày nó lọt lòng. Hằng ngày, trên đường đi học về, Alan thường ghé vào cửa hiệu của tôi, ngồi ở quầy và xin một cốc sữa mạch nha pha sô-cô-la. Trong ngày khai giảng hồi mới đi học, Alan là cậu bé gầy gò nhất hạng và ước mong lúc ấy của tôi là chăm cho cháu béo lên. Nếu tôi mà rảnh rỗi, tôi sẽ đi tới máy bán nước ngọt và đích thân làm một cốc mạch nha cho cháu rồi sẽ thêm nhiều mạch nha hòng giúp cháu tăng cân. Chuyện này từ đó tới giờ, diễn ra năm này qua năm khác. Thật vui biết bao những lần ghé qua sau giờ học của đứa cháu trai tuyệt vời ấy!"
Đến đây ông phải dừng lời để trấn tĩnh lại.
"Alan," ông tiếp, "là một tay lão luyện về cá miền nhiệt đới. Cháu có thể nói như một chuyên gia về mọi thứ các vị cần để chăm sóc tất cả các loại cá nhiệt đới khác nhau. Không có gì thú vị hơn là đến chơi và ngồi với Alan cạnh bể cá của cháu, nghe cháu giải thích mọi thứ về từng con cá, rằng chúng sinh sản ra sao, vân vân. Các vị có thể ngồi với cháu một giờ mà cháu vẫn còn chưa nói xong những gì cháu biết. Các vị chia tay Alan ra về với một nụ cười, tâm hồn thư thái, và đã học được điều gì đó. Làm sao cháu làm được thế? Làm sao đứa trẻ này lại làm được những điều mà cháu đã làm với những người lớn chúng ta? Điều bí mật của Alan là gì? Đó là sống hết mình, nhìn thấy được những điều kỳ diệu trong từng sự vật và yêu thích mọi thứ, dù đó là cốc sữa mạch nha sau giờ tan học, những con cá nhiệt đới, những môn thể thao mà cháu luôn nổi trội, góp sức mình vào cuộc chiến nơi vườn tăng gia, hay những điều cháu học được hôm ấy ở trường. Alan đã sở hữu niềm vui sống trong mười hai năm nhiều hơn hầu hết những người khác gom góp cả đời. Và rồi Alan mang tới niềm vui cho mọi người nhiều hơn hầu hết những người khác trao tặng trong cả một đời. Cuộc đời của Alan đã kết thúc rồi..."
Đến đây ông phải dừng lại một lần nữa và khi ông tiếp tục, giọng của ông khàn đặc và nước mắt như chực trào khỏi khóe mắt.
"Cuộc đời của Alan đã kết thúc," ông nhắc lại, "tuy nhiên, trong nỗi buồn đau, chúng ta nên nhớ rằng khoảng thời gian cháu bé sống, đó là một cuộc đời không bao giờ kết thúc. Mỗi ngày, đối với Alan, không bao giờ là kết thúc bởi cháu rất ham học hỏi. Mỗi ngày, đối với Alan, không kết thúc bởi bản tính vui tươi nơi cháu. Mãi là một đứa trẻ hạnh phúc trong suốt cuộc đời và tất cả những điều cháu làm, cháu đều dâng hiến tất thảy. Trên đời này, có những số phận còn tồi tệ hơn thế rất nhiều."
Sau buổi lễ, Bucky đứng bên ngoài trên bậc tam cấp của giáo đường tỏ lòng tiếc nuối của mình với gia đình Alan và cảm ơn ông bác của Alan về tất cả những lời ông nói. Ai đã từng quan sát ông khoác trên người chiếc áo choàng màu trắng ở hiệu thuốc, lấy thuốc theo toa cho khách hàng, lại hình dung ra được nhà hùng biện Bác sĩ Michaels có thể diễn thuyết hùng hồn đến thế, nhất là khi mọi người từ khắp nơi trong giáo xứ, dù đứng ở trên hay dưới các bậc cầu thang, dưới tác động của những lời ông nói, đều sụt sùi thương xót? Bucky trông thấy bốn chú bé thường tới sân chơi đang cùng nhau bước ra khỏi giáo đường: Spector, Sobelsohn, Taback và Finkelstein. Cả đám mặc bộ lễ phục đen may vừa vặn, áo sơ-mi trắng, đeo cà-vạt và đi giày tây, mặt mũi đứa nào đứa nấy nhễ nhại mồ hôi. Cũng không phải không có khả năng rằng, nỗi khổ cực nhất hôm đó với chúng là bị giam hãm trong không khí nóng nực với cổ cồn trắng và cà-vạt hơn là lần đầu đối mặt với cái chết. Vậy mà, chúng đã mặc những trang phục thích hợp nhất để tới giáo đường bất kể thời tiết, Bucky bước lại gần chúng, đặt tay lên vai từng đứa một và rồi vỗ nhẹ vào lưng chúng an ủi. "Alan sẽ rất vui khi thấy các em ở đây," anh nói khẽ. "Các em thật chu đáo."
Rồi có ai đó chạm vào lưng anh. "Thầy sẽ đi cùng với ai?"
"Sao cơ ạ?"
"Đó -" Người này chỉ một chiếc xe ô-tô trông như xe tang. "Đó, đi cùng với nhà Beckerman," và anh bị đẩy ; về phía chiếc xe ô-tô bốn chỗ hiệu Plymouth đậu dưới lề đường.
Bucky không dự định đi ra nghĩa trang. Sau buổi lễ ở giáo đường, anh đã tính quay về giúp bà làm nốt những việc vặt cuối tuần. Nhưng rồi anh cũng chui vào xe khi có người đã mở và giữ cửa chờ mình, ngồi vào ghế sau cạnh một người phụ nữ đội mũ có mạng che màu đen, đang phất phất chiếc khăn tay trước mặt để tạo chút gió nhẹ, trên gương mặt trang điểm của bà có nhiều sọc phấn dài bởi mồ hôi toát ra. Trên ghế trước, cạnh người lái là một người đàn ông nhỏ và béo lẳn, mặc một bộ đồ com-lê sẫm màu, mũi của ông cũng bị gãy như của ông ngoại anh và có lẽ cũng cùng một lý do: tệ bài Do Thái. Ngồi cạnh ông là một cô gái trạc mười lăm hay mười sáu tuổi, không trang điểm, tóc đen, được giới thiệu là chị họ Meryl của Alan. Gia đình Beckerman là dì, dượng của Alan. Bucky tự giới thiệu mình là một trong những thầy giáo của Alan.
Họ phải ngồi trong chiếc xe nóng bức ấy chừng mười phút, chờ cho những người đi theo sau xe tang xếp thành hàng xong xuôi. Bucky cố gắng nhớ lại những lời Isadore Michaels đã nói trong bài tụng ca về cuộc đời của Alan; khi cậu bé còn sống, cuộc đời đối với cậu dường như kéo dài vô tận, nhưng rồi anh lại hình dung ra Alan đang bị nướng như miếng thịt trong quan tài của cậu.
Họ đổ dốc theo phố Schley xuống đại lộ Chancellor rồi rẽ trái và bắt đầu theo đại lộ Chancellor di chuyển một cách chậm chạp, ngang qua hiệu thuốc của ông bác Alan và hướng về trường tiểu học, trung học trên đỉnh đồi. Thảng hoặc mới thấy ai đó - hầu hết các cửa hàng đều đóng cửa, ngoại trừ cửa hàng thực phẩm Tabatchnick’s kinh doanh cá hun khói sáng chủ nhật, các cửa hàng bánh kẹo ở góc phố còn bán báo ra ngày Chủ Nhật, bánh mì, bánh vị cà-phê và bánh mì vòng phục vụ điểm tâm sáng Chủ Nhật. Trong mười hai năm của đời mình, Alan hẳn đã ra con phố này hàng nghìn lần, tới trường và về nhà, đến sân chơi, ra ngoài mua giúp cho mẹ thứ gì đó, gặp gỡ bạn bè ở cửa hàng Halem’s, dạo bước trên tất cả các con đường dốc lên, dốc xuống để tới công viên Weequahic câu cá, trượt băng và bơi thuyền trên hồ. Giờ đây cậu bé đang nằm trong áo quan trên chiếc xe tang dẫn đầu đám diễu hành, xuôi dọc theo đại lộ Chancellor lần cuối. Nếu như chiếc ô-tô là một cái lò nướng, Bucky nghĩ thầm, thử hình dung bên trong chiếc áo quan đó sẽ như thế nào.
Mọi người trên xe đã ngưng nói chuyện cho tới khi lên tới đỉnh đồi và đi ngang qua cửa hàng Syd’s bán hot-dog.
"Tại sao Alan phải ăn uống trong cái nơi tồi tàn, dơ dáy bẩn thỉu ấy?" bà Beckerman thốt lên. "Tại sao nó không thể chờ đến khi về nhà rồi lấy thứ gì đó trong tủ lạnh ra mà ăn? Tại sao họ lại cho phép một nơi như vậy mở cửa đối diện trường học thế? Lại còn đúng vào mùa hè nữa chứ." "Edith," ông Beckerman lên tiếng, "bình tĩnh đi em." "Kìa mẹ," Meryl em họ của Alan cũng góp lời, "Tất cả đám trẻ đều ăn ở đó. Đấy là nơi trẻ em thường lui tới mà." "Một nơi nhơ nhớp," bà Beckerman bảo. "Khi đang có dịch bại liệt, lại để một đứa trẻ non nớt như Alan tới một nơi như thế, trời thì nóng thế này
"Đủ rồi, Edith. Trời nóng. Chúng ta đều biết trời rất nóng."
"Trường thằng bé kìa," bà Beckerman bảo khi họ lên đến đỉnh đồi và chạy ngang qua mặt tiền lát đá xám của trường tiểu học nơi Bucky dạy. "Có được mấy đứa yêu thích ngôi trường giống như Alan? Ngay từ khi nhập học, nó đã yêu ngôi trường này."
Có lẽ lời nhận xét là dành cho Bucky, đại diện của trường. Anh đáp, "Cậu bé là một học sinh nổi trội." "Còn kia là Weequahic. Cháu nó sẽ là một học sinh ưu tú ở Weequahic. Nó đã có dự định học tiếng La-tinh. Tiếng La-tinh đấy! Tôi đã đặt biệt hiệu cho nó. Tôi gọi nó là Tài năng."
"Cậu bé là thế," Bucky nói, nghĩ tới cha Alan lúc ở nhà, bác cậu nơi giáo đường và giờ là dì cậu trên xe - tất thảy những điều họ thổ lộ đều vì cùng một lý do thích đáng: bởi Alan thực đáng khen. Họ xót xa biết dường nào vì đã mất cậu bé tuyệt vời này.
"Ở cao đẳng," bà Beckerman bảo, "cháu nó đã dự định học khoa tự nhiên. Nó muốn trở thành một nhà khoa học và chữa bệnh. Nó đọc một cuốn sách về Louis Pasteur và biết rõ Louis Pasteur đã phát hiện ra những mầm bệnh mà mắt thường không thể nhìn thấy như thế nào. Nó muốn làm một Louis Pasteur thứ hai," bà nói, vẽ nên toàn bộ viễn cảnh không bao giờ xảy ra. "Thay vào đó," bà kết luận, "nó lại phải đến ăn ở chỗ nhung nhúc mầm bệnh." "Edith, đủ rồi đấy," ông Beckerman bảo. "Chúng ta không rõ vì sao cháu nó ốm và bị lây từ đâu. Bại liệt xuất hiện ở khắp nơi trong thành phố. Đã là cả một trận dịch rồi. Ở đâu em cũng nhìn thấy người mắc. Ca của cháu nó bị nặng và rồi tử vong, chúng ta chỉ biết thế thôi. Mọi thứ khác bây giờ có nói cũng chẳng để làm gì. Chúng ta cũng không rõ tương lai cháu nó sẽ trở thành người ra sao." "Chúng ta biết chứ!" bà nổi nóng vặc lại. "Thằng bé có thể làm được bất cứ thứ gì!"
"Thôi được rồi, bà đúng. Tôi sẽ không tranh cãi nữa. Cứ tới nghĩa trang và làm cho cháu nó một đám tang đàng hoàng đi. Bây giờ đó là tất cả những gì chúng ta có thể làm cho nó."
"Còn hai đứa cháu trai nữa," bà Beckerman nói. "Chúa sẽ che chở chúng khỏi bất cứ tai ương nào."
"Bọn nó đã chiến đấu bấy lâu nay," ông Beckerman nói, "Chúng sẽ vượt qua quãng thời gian còn lại. Chiến tranh sẽ chóng kết thúc và Larry cùng Lenny sẽ an toàn trở về." "Rồi chúng sẽ không bao giờ còn gặp đứa em bé bỏng nữa. Alan đằng nào cũng đã ra đi," bà tiếp. "Không gì có thể mang nó trở về."
"Edith," ông bảo. "Chúng ta biết thế. Edith, bà cứ nói mãi mà bà có nói gì mới đâu cơ chứ."
"Cứ để mẹ nói, bố ạ," Meryl can.
"Nhưng mà ích lợi gì đâu," ông Beckerman than thở. "Cứ nói đi, nói lại à?"
"Thế cũng có lợi," cô gái nói. "Nó làm mẹ dễ chịu." "Cảm ơn con yêu," bà Beckerman nói.
Tất cả cửa sổ đều đã hạ xuống, nhưng Bucky cảm thấy như bị quấn kín không phải trong bộ com-lê mà là trong một cái chăn. Đoàn xe đã tới công viên và rẽ phải vào đại lộ Elizabeth rồi chạy qua Hillside và cắt ngang qua đường ray chạy trên cao vào Elizabeth, anh mong sao nhanh đến nghĩa trang. Anh hình dung nếu Alan phải nằm lâu thêm trong cái hòm nóng nực ấy, cái hòm bỗng nhiên bắt lửa và nổ tung, giống như bên trong có một quả lựu đạn bị nổ, thân thể cậu bé sẽ bắn tung tóe trong cỗ xe tang và khắp trên phố.
TẠI SAO BỆNH BẠI LIỆT chỉ tấn công người ta vào mùa hè? Đứng trong nghĩa trang, mặc dù đội mũ chỏm mà cảm thấy như đang để đầu trần, Bucky tự hỏi phải chăng căn nguyên bệnh bại liệt không chỉ bởi ánh mặt trời mùa hè? Đang giữa trưa, đâu đâu cũng nắng, nắng như đổ lửa trên đầu, nắng dường như thừa sức mạnh để gây tàn phế và giết chóc, điều này khả thi hơn là bởi một con vi trùng trong cái hot-dog.
Một huyệt mộ đã được đào sẵn. Đó là cái huyệt mở thứ hai mà Bucky trông thấy từ trước tới giờ, cái đầu tiên là của ông ngoại, cách đây ba năm, ngay trước khi chiến tranh bùng nổ. Lúc ấy bà ngoại tựa vào người anh nặng trĩu còn anh thì giữ cho bà lúc nào cũng ở sát bên mình trong suốt buổi tang lễ để bà khỏi ngã quỵ. Sau đó, anh dồn hết thời gian để chăm sóc bà, ở bên cạnh bà hằng đêm và thậm chí mỗi tuần còn đưa bà ra ngoài xem phim và thưởng thức một cốc kem hoa quả, được một độ trước khi anh có thời gian để tự suy ngẫm về mọi điều mất mát. Nhưng khi áo quan của Alan được hạ xuống dưới lòng đất, khi bà Michaels lăn xả tới cái huyệt, miệng gào khóc
"Không! Không phải là con trai tôi!" thì cái chết tự để lộ cho anh thấy rằng nó có quyền năng không thua gì ngọn roi nắng mặt trời đang liên tục quất xuống chiếc mũ chỏm trên đầu anh.
Tất cả mọi người cùng hòa giọng với Cha Slavin trong bài kinh cầu, ngợi ca quyền năng tối cao của Chúa, ngợi ca một cách thái quá, quá hào phóng, với chính Đức Chúa, người đã cho phép cái chết hủy diệt mọi thứ, kể cả con trẻ. Giữa cái chết của Alan Michaels và bài kinh Kaddish ca tụng Chúa trời, gia đình Alan đã có một khoảng thời gian chừng hai mươi bốn giờ để căm ghét và ghê tởm Đức Chúa vì những gì Người đã giáng xuống đầu họ - không, đương nhiên rồi, họ đâu thể phản ứng như thế trước cái chết của Alan, bởi họ không thể không sợ hãi trước viễn cảnh phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Chúa khi Người sẽ tước đoạt nốt Larry và Lenny Michaels từ vòng tay họ.
Nhưng những gì không thể xảy ra với gia đình Michaels lại không biến mất trong suy nghĩ của Bucky. Phải thừa nhận rằng, chính anh đã không dám quay ra đối đầu với Chúa vì đã lấy đi mất ông ngoại mình khi ông lão đã tới tuổi trời. Nhưng nếu vì giết chết Alan bằng bệnh bại liệt ở tuổi mười hai thì sao? Vì chính sự tồn tại của căn bệnh bại liệt thì sao? Làm sao có thể có lòng dung thứ - huống hồ là vinh danh Chúa - và bất chấp sự tàn nhẫn điên rồ tới chừng này? Với Bucky, anh thấy dường như còn xa mới gọi là sỉ nhục khi cả đám người mặc đồ tang tụ tập để tự nhận mình là những kẻ ca tụng quyền năng của thần mặt trời, là những con dân của một vị chúa tể hằng chiếu sáng và với cung cách nhiệt thành của nền văn minh sơ khai thời cổ đại nơi bán cầu của chúng ta, cùng đắm mình trong vũ điệu tôn vinh thần mặt trời quanh nấm mộ của một cậu bé - thà như thế, thà cứ thần thánh hóa và xoa dịu những tia chiếu của Mặt Trời Cha vĩ đại còn hơn là tôn vinh một đấng chí tôn cùng bất kể tội ác ghê rợn nào mà kẻ đó gây ra chỉ cốt để làm vừa lòng Người. Đúng vậy, thà cứ ca tụng cỗ máy phát nhiệt không thể thay thế ấy, cái nguồn năng lượng duy trì sự tồn tại của chúng ta kể từ khi loài người ra đời ấy - thà rằng trong bài nguyện của mình cứ tôn vinh cái hiển hiện ngày nào cũng gặp ấy, vật thể như con mắt bằng vàng ròng ở đâu cũng nhìn thấy ấy, con mắt duy nhất trên bầu trời cao xanh cùng nguồn năng lượng nội tại thiêu đốt trái đất - thà như thế còn tốt hơn rất nhiều so với việc cam chịu chấp nhận điều dối trá rằng Chúa trời là tốt đẹp và quy lụy trước một tên giết trẻ con máu lạnh. Vì phẩm giá con người, vì nhân tính của loài người, vì tất cả giá trị cao đẹp của con người, tốt nhất hãy đừng đề cập đến suy nghĩ thường ngày của con người về điều quái đản đang diễn ra tại nơi này.
... Y'hei sh’mei raboh m’vorakh l'olam ul'olmei ol'mayoh.
Cầu cho danh xưng vĩ đại của Người che chở chúng ta mãi mãi.
Yis'borakh v’yish’tabach v’yis’po’ar v'yis’romam v’yis’nasei
Thánh ân tôn kính tôn vinh cao quý được tụng ca, v’yis’hadar v’yis’aleh v’yis'halal sh’mei d’kud’shoh
danh xưng vĩ đại của Người là nguồn khích lệ, ngợi ca.
B’rikh hu...
Người là nguồn ân sủng.
Bốn lần trong bài nguyện nơi nấm mộ cậu bé, mọi người đều đồng thanh "Omein"
Chỉ đến lúc đoàn người đã rời khu mộ phần và đi qua cổng để vào phố McClellan, Bucky mới sực nhớ tới những lần viếng nghĩa trang của người Do Thái trên phố Grove từ khi còn là một chú bé, nơi ấy mẹ anh, giờ là ông ngoại, đã được an táng và cũng sẽ là nơi đến lượt bà ngoại và anh được chôn. Lúc nhỏ, năm nào ông bà cũng dẫn anh đến đó để tưởng nhớ mẹ nhân dịp sinh nhật bà vào tháng Năm, dù ngay từ lần viếng đầu tiên lúc còn bé tí, Bucky đã không sao tin nổi việc bà đã thực sự được mai táng ở đó. Đứng giữa ông và bà đang khóc nức nở, anh luôn cảm thấy mình đang tham dự vào một trò chơi giả vờ có mẹ không đâu hơn ở nghĩa trang anh cảm thấy việc mình có mẹ là một câu chuyện được dựng lên ngay từ đầu. Và mặc dù, nghĩ rằng những lần viếng mộ hằng năm là một trò kỳ quái phải làm, anh không bao giờ từ chối. Anh làm thế như là một phần của bổn phận làm đứa con ngoan đối với một bà mẹ được thêu dệt nên mà không hề tồn tại trong ký ức, dù rằng nó giống như một buổi trình diễn rỗng tuếch.
Bên nấm mộ, mỗi khi anh tập trung để có một ý nghĩ phù hợp với dịp đó, anh sẽ nhớ tới câu chuyện mà bà ngoại đã kể cho anh nghe về mẹ và mấy con cá. Trong tất cả các câu chuyện của bà - nguồn cảm hứng cố hữu là chuyện Doris thông minh nhường nào hồi học ở trường và giỏi phụ giúp cha mẹ ra sao lúc ở nhà, rồi hồi bé, mẹ đáng yêu đến đâu khi ngồi tính tiền nơi cửa hàng, cũng giống như anh đã làm khi còn nhỏ - đó là những ý nghĩ in dấu trong tâm trí anh. Sự kiện không thể quên là vào chiều xuân xa vời trước khi mẹ anh mất và anh chào đời, khi ấy, để chuẩn bị cho lễ Passover - Lễ quá hải của người Do Thái rời bỏ Ai Cập, bà ngoại đã đi bộ lên đại lộ Avon tới cửa hàng bán cá, chọn trong bể của người bán hai con cá chép còn sống, bỏ vào cái xô, mang về nhà, rồi thả cho chúng bơi lội trong chiếc chậu sắt tây cả nhà vẫn dùng để tắm. Bà đổ đầy nước vào chậu và để cá ở đấy cho đến tận lúc cắt đầu và đuôi, lóc vẩy, và nấu món cá kho gefilte. Lúc ấy mẹ của Bucky mới năm tuổi, cô bé từ trường mẫu giáo về, chạy lên gác, thấy lũ cá đang bơi trong chậu, và sau khi lẹ làng cởi quần áo, đã nhảy vào chậu chơi với chúng. Bà bắt gặp cô bé khi từ cửa hàng đi lên gác để đưa cho cô chút đồ ăn dặm. Cả hai mẹ con đã không kể cho ông ngoại nghe chuyện vì sợ ông sẽ bắt phạt cô. Ngay cả khi chú bé Bucky được bà kể cho nghe chuyện mẹ và mấy con cá - chú cũng đang học mẫu giáo - chú cũng cẩn trọng giữ bí mật để không làm ông ngoại đau khổ; ông chú, trong những năm đầu sau khi cô con gái rượu qua đời, chỉ có thể làm dịu bớt nỗi đau bằng cách không nói bao giờ nhắc đến cô con gái.
Có vẻ kỳ quái khi Bucky nghĩ đến câu chuyện ấy lúc đứng bên mộ mẹ, nhưng liệu có còn điều đáng nhớ nào khác để mà nghĩ lúc ấy?
ĐẾN CUỐI TUẦN kế tiếp, Weequahic được ghi nhận là nơi có số ca mắc bệnh bại liệt cao nhất trong tất cả các quận có trường học ở thành phố. Riêng sân chơi, vì vị trí đặc thù của nó được cảnh báo có những ca bệnh mới. Đối diện sân chơi, bên mặt phố Hobson, cô bé mười tuổi, Lillian Sussman, đã mắc bệnh; bên mặt đại lộ Bayview là cô bé sáu tuổi, Barbara Friedman - cả hai cô bé này đều không nằm trong sổ những bé gái thường xuyên tới nhảy dây tại sân chơi cả, tuy thế lúc này chỉ còn chưa tới phân nửa đám trẻ quẩn quanh ở đó kể từ ngày căn bệnh bại liệt khiến mọi người khiếp sợ. Và xuôi theo sân chơi nơi đại lộ Vassar, hai anh em nhà Kopferman, Danny và Myron, cũng đã bị mắc bệnh. Buổi tối hôm nghe tin về hai cậu bé, anh điện thoại tới nhà Kopferman gặp mẹ của chúng. Anh giới thiệu mình là ai và lý do anh điện thoại tới.
"Thầy!" Bà Kopferman quát lớn. "Thầy có gan điện thoại cơ à?"
"Xin lỗi," Bucky ôn tồn đáp. "Tôi không hiểu ý bà ạ."
"Thầy không hiểu gì chứ? Thầy không hiểu rằng đang hè mà thầy bắt bọn trẻ chạy lòng vòng quanh trong cái nóng hầm hập à? Rằng thầy không được để chúng uống nước từ vòi nước công cộng? Rằng thầy phải trông chừng chúng khi chúng đổ mồ hôi? Thầy có biết dùng hai con mắt mà Chúa trời đã ban cho để trông chừng tụi nhỏ trong mùa bại liệt không? Không! Không có lấy đến một phút nữa!"
"Thưa bà Kopferman, tôi đảm bảo với bà, tôi rất chu đáo với các cậu bé."
"Vậy tại sao tôi có hai đứa con bị liệt bại? Cả hai thằng con tôi! Là tất cả những gì tôi có! Hãy giải thích cho tôi đi! Thầy để chúng nó chạy nhảy như những con vật ở đằng đó - và giờ thì thầy thắc mắc vì sao chúng mắc bệnh! Bởi vì thầy! Bởi vì một kẻ ngu ngốc, khinh suất, vô trách nhiệm như thầy đấy!" Và bà ngắt máy.
Bucky đã dùng điện thoại trong bếp để gọi tới nhà Kopferman sau khi đưa bà ngoại xuống dưới sân ngồi cùng với những người hàng xóm và sau khi anh dọn dẹp sạch sẽ bàn ăn tối. Cái nóng ban ngày vẫn còn rơi rớt, trong nhà thật nóng bức và ngột ngạt. Khi buông ống nghe, người anh đẫm mồ hôi, cho dù trước khi ăn tối anh đã tắm và thay đồ mới. Anh mong muốn được có ông ngoại bên mình để trò chuyện biết mấy. Anh biết bà Kopferman bị kích động; anh biết bà mất tự chủ vì nỗi thống khổ mà điên cuồng chửi mắng như tát nước vào mặt anh, nhưng anh vẫn mong có ông ngoại ở đây để trấn an rằng anh không hề đáng trách như những gì bà ta nói. Đây là lần đầu tiên Bucky phải đối mặt với một lời buộc tội gớm guốc và một sự thù ghét tột độ, nó khiến tâm trạng anh chùng hẳn xuống, tệ hơn rất nhiều so với lần phải đối mặt với mười gã người Ý đầy uy hiếp nơi sân chơi.
Qua ba tầng cầu thang gỗ mòn vẹt bên ngoài tòa nhà, anh xuống sân nói chuyện với láng giềng trong chốc lát rồi bước ra ngoài đi dạo, đã bảy giờ tối rồi mà bên ngoài trời vẫn sáng. Bà ngoại đang ngồi cùng với mọi người ở trước nhà, cạnh đó có một cây nến hương sả để đuổi muỗi. Họ ngồi trên những cái ghế bố dựng thẳng lưng và đang bàn chuyện bại liệt. Những người có tuổi, giống như bà ngoại" anh, đã sống qua dịch bệnh hồi năm 1916 ở thành phố thì than thở rằng vì sao trong suốt ngần ấy năm khoa học vẫn không tìm ra được phương thuốc trị bệnh hoặc đưa ra được cách ngăn ngừa bệnh. Hãy nhìn khu Weequahic mà xem, họ nói, sạch sẽ và vệ sinh như tất cả các khu dân cư khác trong thành phố, thế mà lại là nơi mắc bệnh nhiều nhất. Nghe đồn, ai đó nói, người ta không cho những người phụ nữ da màu làm nghề tạp vụ đến làm việc trong khu dân cư vì sợ rằng họ mang mầm bệnh bại liệt từ những khu ổ chuột tới. Một người khác thì nói rằng theo suy đoán của anh ta, căn bệnh này được lan truyền bởi tiền, vì những tờ tiền giấy được truyền từ tay người này sang tay người khác. Điều quan trọng là, anh ta nói, phải luôn rửa tay sau khi cầm hay mó vào tiền, cả tiền giấy lẫn tiền xu. Thế thư từ thì sao, một giọng khác hỏi, anh có cho rằng nó được lan truyền qua thư tín không? Cô định làm gì, có người bắt bẻ, đình chỉ việc đưa thư à? Cả thành phố sẽ ngưng trệ hết.
Nếu là sáu hay bảy tuần trước, họ hẳn sẽ bàn luận về những tin chiến sự.
Bucky nghe thấy tiếng chuông điện thoại reo và nhận ra nó vang lên từ trong căn hộ của hai bà cháu, ắt là Marcia từ trại hè gọi về. Trong năm học vừa qua, ngày nào hai người cũng trông thấy nhau ít nhất là một hoặc hai lần ở ngoài hành lang trường trong giờ học, và cuối tuần lại ở bên nhau. Đây là lần đầu họ phải xa nhau lâu đến như vậy kể từ ngày gặp mặt. Anh nhớ nàng và anh nhớ gia đình Steinberg, họ, ngay từ đầu, đã vô cùng tử tế và ân cần với anh. Cha nàng là bác sĩ và mẹ nàng từng là giáo viên tiếng Anh tại một trường trung học, cả nhà - thêm hai cô em sinh đôi của Marcia, học lớp sáu tại trường Maple Avenue - sống trong một ngôi nhà rộng rãi, tiện nghi trên đại lộ Goldsmith, cách phòng mạch của bác sĩ Steinberg ở đại lộ Elizabeth chỉ một khu nhà. Sau khi bị bà Kopferman kết tội cẩu thả, Bucky đã nghĩ tới việc đến chỗ bác sĩ Steinberg để nói chuyện với ông về bệnh dịch và tìm hiểu nhiều hơn về căn bệnh. Bác sĩ Steinberg là một người có học (không giống như ông ngoại anh, chưa bao giờ đọc sách), và khi ông nói, Bucky luôn thấy tin tưởng rằng ông hiểu rõ những điều mình đang nói. Ông Steinberg không thay thế được ông ngoại anh - và dĩ nhiên cũng không thay thế được người cha của anh - nhưng lúc này, ông là người mà anh ngưỡng mộ và tin tưởng nhất. Trong buổi hẹn hò đầu tiên với Marcia, khi anh hỏi nàng về gia đình, nàng đã nói về cha mình rằng ông không những tuyệt vời đối với bệnh nhân mà còn có tài giữ cho mọi người trong nhà chung sống hòa thuận và hạnh phúc cũng như giải quyết mọi cuộc cãi nhau vặt vãnh của hai cô em nhỏ hết sức hợp lý. Ông là vị trọng tài giỏi nhất mà nàng từng biết. "Mẹ em," nàng nói, "gọi cha là ‘cái nhiệt kế hoàn hảo đo nhiệt độ cảm xúc của gia đình.’ Không có bác sĩ nào mà em biết," nàng kể với anh, "lại nhân từ hơn cha cả."
"Em đây rồi!" Bucky reo lên sau khi chạy vội lên gác và nhấc điện thoại, "ở đây như cái lò than. Hơn bảy giờ tối mà trời vẫn nóng như giữa trưa. Nhiệt kế như bị mắc kẹt. Em khỏe không?"
"Em có điều muốn nói với anh. Một tin hấp dẫn lắm anh ạ," Marcia nói. "Irv Schlanger nhận được lệnh nhập ngũ. Anh ấy sắp rời khỏi trại. Họ cần người thay. Đang rất cần một người quản lý bến tắm từ giờ đến hết hè. Em đã nói với ông Blomback về anh, em đã đưa ông ấy tất cả bằng cấp anh có, và ông ấy muốn thuê anh, không cần gặp trước." Ông Blomback là chủ sở hữu kiêm giám đốc Indian Hill và là bạn của gia đình Steinberg bấy lâu nay. Trước khi kinh doanh trại hè, ông là hiệu phó một trường tiểu học ở Newark và là cấp trên của bà Steinberg khi bà mới đi dạy.
"Marcia," Bucky nói với nàng, "Anh đã có việc làm rồi mà."
"Nhưng giờ anh có thể lánh xa vùng dịch đó. Em lo cho anh lắm, Bucky ạ. Ở trong thành phố nóng nực đó cùng với bầy trẻ. Lại tiếp xúc gần gũi dường ấy với lũ trẻ nữa chứ - rồi còn ngay giữa ổ dịch. Và cả cái nóng nữa, nóng liên tục hết ngày này sang ngày khác."
"Anh có khoảng chín mươi đứa nhỏ ở sân chơi này, mà cho tới giờ, mới chỉ có bốn đứa mắc bại liệt."
"Vâng, và có hai ca tử vong."
"Ở sân chơi, thế vẫn không phải là dịch, Marcia ạ." "Em muốn nói là ở khu Weequahic nói chung cơ. Đấy là vùng nhiễm bệnh nặng nhất thành phố. Mà hiện thời còn chưa tới tháng Tám, tháng tệ nhất. Lúc ấy Weequahic có thể có số ca nhiễm gấp mười lần. Bucky ơi, xin anh bỏ việc đi. Anh có thể làm quản lý bến tắm ở Indian Hill. Lũ trẻ thì ngoan ngoãn, nhân viên thì giỏi, ông Blomback lại tử tế - anh sẽ yêu thích công việc ở đây. Anh có thể làm quản lý bến tắm hết năm này qua năm khác. Chúng ta có thể hè nào cũng đến đây làm việc. Chúng ta có thể ở cùng nhau như một đôi uyên ương và anh sẽ an toàn."
"ở đây anh an toàn mà, Marcia."
"Không có đâu."
"Anh không thể bỏ việc. Đây là năm đầu tiên. Làm sao anh có thể bỏ rơi đám trẻ được. Anh không thể rời bỏ chúng. Chúng đang cần anh hơn bao giờ hết. Đây chính là việc anh phải làm."
"Anh yêu, anh là một giáo viên tốt và tận tụy, nhưng điều đó không có nghĩa là không thể vắng anh trong chương trình sinh hoạt hè nơi sân chơi. Em đang cần anh hơn lúc nào hết. Em yêu anh rất nhiều. Em nhớ anh lắm. Mỗi khi nghĩ có chuyện gì đang xảy đến với anh, em sợ chết đi được. Anh tự đưa mình vào vòng nguy hiểm đâu có lợi gì cho tương lai hai đứa mình?"
"Bố em thường xuyên tiếp xúc với người bệnh. Ông cũng thường xuyên ở trong vòng nguy hiểm đấy thôi. Em có lo lắng cho bố em nhiều đến thế không?"
"Hè này á? Có chứ. Tạ ơn Chúa, hai đứa em nhà em cũng ở đây trong trại hè. Vâng, em lo lắng cho bố em, mẹ em cùng tất cả những người em yêu thương."
"Và rồi em cũng trông mong bố mình sẽ cuốn gói và bỏ lại bệnh nhân của ông vì bệnh bại liệt à?"
"Bố em là một bác sĩ. Ông lựa chọn trở thành bác sĩ. Tiếp xúc với người bệnh là nghề của ông. Nó không phải là nghề của anh. Nghề của anh là làm việc với những con người khỏe mạnh, với lũ trẻ khỏe khoắn, có thể chạy nhảy và chơi thể thao cho vui. Anh sẽ là một người quản lý bến tắm giỏi giang. Mọi người nơi đây sẽ yêu mến anh. Anh là một tay bơi cừ khôi, anh là một vận động viên nhảy cầu cự phách, anh là một thầy giáo tuyệt vời. Ôi Bucky, đây là cơ hội ngàn năm mới có một. Và," nàng hạ giọng, "mình sẽ được riêng tư ở trên này. Giữa hồ có một hòn đảo. Mình sẽ bơi thuyền ra đó khi trời tối. Sẽ không phải lo lắng rằng bà anh, bố mẹ em hay các em gái em rình rập quanh nhà. Chúng mình rốt cuộc, rốt cuộc sẽ được riêng tư anh à."
Bucky có thể cởi hết quần áo trên người nàng, anh nghĩ, và hình dung cảnh nàng khỏa thân. Sẽ chỉ có một mình họ trên đảo khi trời tối và không mặc áo quần. Và rồi, sẽ không phải phập phồng vì lo ngại có người ở gần đó, anh có thể vuốt ve nàng chậm rãi hay khát khao tùy thích. Và anh sẽ được giải phóng khỏi gia đình Kopferman. Anh sẽ không còn phải nhận sự chỉ trích điên cuồng của bà Kopferman là đã khiến các con bà nhiễm bại liệt. Rồi anh có thể ngùng căm ghét Chúa bởi việc này làm xáo trộn cảm xúc và khiến anh cảm thấy vô cùng choáng váng. Trên hòn đảo của riêng hai người, anh có thể tránh xa mọi điều đang dần trở nên khó chịu và ngày càng khó chịu hơn.
"Anh không thể bỏ bà ngoại ở lại được," Bucky nói. "Làm sao bà leo được lên ba tầng cầu thang để lấy mớ đồ tạp hóa? Nếu phải khuân đồ lên gác là bà thấy tức ngực. Anh phải ở lại đây. Anh còn phải giặt giũ. Anh phải chợ búa. Anh còn phải chăm sóc bà."
"Gia đình Einneman có thể trông nom bà cho đến hết hè. Họ sẽ đi mua đồ tạp hóa hộ bà. Họ sẽ giặt hộ bà vài ba món quần áo. Họ sẽ rất sẵn lòng giúp đỡ mà anh. Bà đã trông nom họ khi còn nhỏ. Họ mê bà như điếu đổ ấy chứ." "Nhà Einneman là những người hàng xóm tuyệt vời, nhưng đó không phải là việc của họ. Đó là việc của anh. Anh không thể rời bỏ Newark."
"Thế em sẽ nói gì với ông Blomback?"
"Nói là cảm ơn ông nhưng anh không thể rời Newark, vào thời điểm như thế này lại càng không thể được."
"Em sẽ không nói gì với ông ấy đâu," Marcia đáp. "Em sẽ đợi. Em cho anh một ngày để suy nghĩ. Tối mai em sẽ gọi lại. Bucky, anh tuyệt nhiên không hề lẩn trốn trách nhiệm của người thầy. Rời bỏ Newark lúc này không phải là một việc hèn nhát. Em hiểu anh mà. Em biết anh đang nghĩ gì. Anh quả là can đảm, nhất là trong tình hình như thế này, anh yêu ạ. Em cảm thấy bủn rủn chân tay khi nghĩ về việc anh can đảm như thế nào. Nếu anh tới Indian Hill, thực ra chỉ là anh sẽ làm một công việc khác chứ không hề bớt chút tận tâm nào. Và anh sẽ thực thi một nghĩa vụ khác mà anh phải tự đáp ứng với chính mình - ấy là thấy hạnh phúc. Bucky, đây chỉ đơn thuần là một sự khôn ngoan khi đối diện với hiểm họa - ai cũng thế mà!"
"Anh sẽ không đổi ý đâu. Anh muốn ở cùng em, ngày nào anh cũng mong nhớ em, nhưng anh không thể rời bỏ nơi đây lúc này."
"Nhưng anh phải nghĩ đến sức khỏe của bản thân mình chứ. Để chuyện này đến mai nhé, anh yêu, nhé, xin anh đấy."
Bà ngoại đang ngồi ngoài trời với hai gia đình nhà Einneman và nhà Fisher. Ông Fisher là thợ điện, hai vợ chồng tuổi đều đã gần năm mươi, có một cậu con trai mười tám tuổi là lính thủy đánh bộ, đang chờ tàu khởi hành từ California đến vùng Thái Bình Dương, và một cô con gái là nhân viên bán hàng trong cửa hàng bách hóa trên phố, đó cũng là cửa hàng nơi ngày xưa bố của anh thụt két - một sự thật không thể rũ bỏ luôn hiện diện trong tâm trí Bucky mỗi khi họ tình cờ gặp nhau lúc rời nhà đi làm mỗi sáng. Cặp vợ chồng trẻ nhà Einneman mới sinh em bé, sống trong căn hộ ngay phía dưới tầng nhà Bucky. Đứa nhỏ ở ngoài cùng với bố mẹ, đang ngủ trong nôi; kể từ lúc nó chào đời, bà ngoại của Bucky phụ giúp chăm bẵm thằng bé.
Mấy người họ vẫn đang bàn tán về bệnh bại liệt, giờ đang nhắc lại những chuyện hồi xưa đáng sợ về nó. Bà đang hồi tưởng những nạn nhân mắc bệnh ho gà được yêu cầu phải đeo băng tay và trước khi vắc-xin ra đời thì bệnh bạch hầu là căn bệnh kinh hoàng nhất trong thành phố ra sao. Bà nhớ lần được tiêm một trong những mũi vắc-xin đầu tiên phòng bệnh đậu mùa. Vết tiêm bị nhiễm trùng nghiêm trọng và kết quả là trên bắp tay phải của bà có một vết sẹo lớn, tròn tròn. Bà vén cao ống tay áo lửng mặc ở nhà và chìa cho mọi người xem vết sẹo ấy.
Góp mặt được một lúc, Bucky nói anh sẽ đi dạo, và rời gót. Đầu tiên, anh ghé hiệu thuốc trên đại lộ Avon mua một cây kem ốc quế tại máy bán nước ngọt. Anh chọn một chiếc ghế đẩu bên dưới cái quạt máy và ngồi đó vừa ăn kem vừa suy nghĩ. Mỗi khi có nhiệm vụ được đặt ra trước mắt anh đều thấy có trách nhiệm phải hoàn thành, và giờ đây, việc đó là trông nom những đứa trẻ đang lâm nguy nơi sân chơi. Và nhiệm vụ của anh không chỉ đơn thuần vì lũ trẻ mà còn bởi lòng trân trọng mớ ký ức về người chủ cửa hiệu tạp hóa ngoan cường, người bất chắp tính khí nóng nảy và những hạn chế của bản thân, đã vượt qua mọi khó khăn mà ông phải đối mặt. Marcia đã hoàn toàn sai lầm - với anh, sẽ chẳng có gì đáng khinh hơn việc chuồn đến vùng núi Pocono cùng với nàng để lẩn tránh trách nhiệm đối với công việc được giao phó.
Anh nghe thấy tiếng còi văng vẳng đằng xa. Giờ đây, tiếng còi chốc chốc lại vang lên bất kể ngày hay đêm. Đó không phải là những tiếng còi báo động của hệ thống phòng không - còi này chỉ cất lên mỗi tuần một lần vào trưa thứ Bảy, và chúng mang lại niềm an ủi rằng thành phố luôn sẵn sàng cho bất cứ tình huống nào nhiều hơn là tạo ra tâm lý sợ hãi. Những tiếng còi báo động kia đến từ những chiếc xe cứu thương tới đón các nạn nhân mắc bệnh bại liệt và đưa họ tới bệnh viện, những tiếng còi rú lên đinh tai nhức óc, "Tránh đường nào - có một cuộc đời đang lâm nguy đây!" Gần đây mấy bệnh viện trong thành phố đã hết nhẵn máy trợ thở, và những bệnh nhân cần dùng đến thiết bị ấy được đưa đến những bệnh viện ở các thành phố Belleville, Kearny và Elizabeth cho tới khi chuyến hàng chuyên chở các máy trợ thở mới tới được Newark. Bucky chỉ mong sao chiếc xe cứu thương kia không hướng về khu phố Weequahic để đón đi một trong những đứa trẻ của mình.
Anh đã bắt đầu nghe thấy những lời đồn thổi rằng nếu như dịch bệnh lan rộng thêm, tất cả các sân chơi trong thành phố có thể sẽ bị đóng cửa nhằm ngăn không cho trẻ em tiếp xúc thường xuyên với nhau ở đấy. Thông thường, một quyết định kiểu như thế sẽ được ban hành bởi Ủy ban Y tế, nhưng với những trường hợp gây ra sự đảo lộn quá mức cuộc sống của các cậu bé, cô bé ở Newark trong mùa hè, thị trưởng có quyền phản đối và đích thân đưa ra quyết định cuối cùng. Ông đang làm tất cả mọi việc trong khả năng của mình để trấn an các bậc cha mẹ trong thành phố và theo báo chí đưa tin, ông đã đến từng tiểu khu để thông báo với những người dân đang âu lo về tất cả các biện pháp mà thành phố đang làm nhằm đảm bảo mọi rác rưởi, bụi bặm, đồ bẩn thỉu phải được thường xuyên dọn dẹp khỏi những nơi công cộng cũng như nhà riêng. Ông nhắc nhở mọi người dứt khoát phải dùng thùng rác có nắp đậy và tham gia chiến dịch "Đập ruồi" bằng cách sửa các tấm lưới chắn côn trùng trên cửa, đập và diệt ruồi - vật trung gian truyền bệnh luôn sinh sôi nảy nở trong điều kiện mất vệ sinh - khi thấy chúng bay vào nhà qua những cánh cửa mở hay qua những ô cửa sổ không lắp lưới. Rác thải sẽ được tăng cường lấy cách nhật và để đẩy mạnh chiến dịch diệt ruồi, vỉ đập ruồi sẽ được các "thanh tra vệ sinh dịch tễ" phát miễn phí khi đến thăm các cộng đồng dân cư để chắc chắn rằng tất cả các đường phố sạch bóng rác thải. Nhằm đảm bảo cho các bậc cha mẹ rằng mọi thứ đều trong tầm kiểm soát và nói chung vẫn an toàn, ngài thị trưởng đã đặc biệt nhấn mạnh rằng: "Các sân chơi sẽ tiếp tục mở cửa. Trẻ em trong thành phố chúng ta cần có những sân chơi trong mùa hè. Cả hai công ty bảo hiểm nhân thọ Prudential ở Newark và Metropolitan ở New York đều nói rằng không khí trong lành và ánh nắng mặt trời là những thứ vũ khí chủ yếu để tiêu trừ bệnh tật. Hãy cho con cái chúng ta tắm nắng và hít thở không khí trong lành ở các sân chơi và không một loại vi trùng nào có thể trụ lại được lâu dưới tác động của những thứ vũ khí ấy. Sau hết," ông nói với các thính giả của mình, "hãy giữ cho các khoảnh sân và các tầng hầm của quý vị luôn sạch sẽ, đừng mất bình tĩnh, rồi chúng ta sẽ sớm thấy mức độ lây lan của tai họa này giảm bớt. Và hãy đập chết ruồi không thương tiếc. Ta không thể đánh giá được hết hiểm họa mà lũ ruồi mang lại."
Bucky bắt đầu đi ngược đại lộ Avon lên khu trung tâm Belmont, không khí nóng hầm hập và mùi hôi thối nghẹt thở quẩn quanh anh. Trong những ngày có gió nam, từ trên phía nhà máy lọc dầu Rahway và Linden tỏa xuống mùi khét nồng, nhưng tối nay, luồng gió lại thổi về từ phía bắc, mang theo trong không khí thứ mùi hôi thối khủng khiếp, chắc chắn bốc ra từ trại nuôi lợn Secaucus nằm trên thượng lưu sông Hackensack, cách thành phố dăm cây số. Bucky không thấy có con phố nào hôi hám đến thế. Vào mỗi đợt nắng nóng, khi Newark dường như bị vắt đến cạn kiệt đến từng ngụm không khí trong lành, có những lúc, mùi hôi ấy trở nên kinh tởm đến mức chỉ cần hít phải một hơi thôi sẽ khiến người ta buồn nôn và chạy vội vào nhà. Mọi người đang đổ lỗi cho trại nuôi lợn Secaucus, được gọi một cách khinh miệt là "Thủ phủ lợn thiến của hạt Hudson", vì nằm kề thành phố, và vì những đặc tính truyền nhiễm bệnh tật - tới những khu vực theo hướng gió - với thứ chướng khí bao phủ, một hỗn hợp độc hại, truyền nhiễm có mùi kinh tởm mà chỉ có Chúa mới biết là do những thành phần thối rữa, mục nát nào tạo nên. Nếu như điều mọi người nghi ngờ là đúng thì việc hô hấp luôn cần thiết cho sự sống sẽ là một hành vi nguy hiểm ở Newark - hít một hơi thật sâu là người ta có thể tiêu đời.
Mặc tất cả những điều khó chịu trong tối ấy, vẫn có một đoàn con trai vừa đạp những chiếc xe cũ mèm hết tốc lực trên mặt đường rải đá gồ ghề giữa những đường ray tàu điện trên đại lộ Avon vừa gào vỡ họng "Húuu!" Vẫn có các cậu bé chơi đuổi bắt trước các cửa hàng bánh kẹo. Vẫn có những thanh niên ngồi chơi nơi bậc thềm trước nhà, vừa hút thuốc vừa tán gẫu. Giữa phố vẫn có những cậu trai thong dong tung bóng cho nhau dưới ánh đèn đường, ở một lô đất trống nơi góc đường, trên tường của tòa nhà bỏ hoang có một vành rổ được treo lên và một vài thanh niên đang luyện cú "ném bóng dưới vai" nhờ vào ánh đèn hắt từ quán rượu bên kia đường, chỗ những người vô gia cư đang loạng choạng vào ra. Anh đi ngang qua một góc phố khác, nơi vài cậu tụ tập quanh một thùng thư, chễm chệ trên nóc thùng là một cậu bé đang hát giọng kim để mua vui cho cả đám. Có những gia đình chuyển ra sống ở các lối thoát hiểm, dây điện của những đài thu thanh cắm lòng thòng nối vào đến trong nhà, và nhiều gia đình tụ họp trên những lối đi tối tân giữa các khối nhà. Ngang qua những khu tập thể, anh thấy phụ nữ đang phe phẩy những cái quạt giấy của một hiệu giặt khô tặng khách hàng, rồi anh thấy những người công nhân, mới về nhà sau giờ tan ca, mặc áo may-ô đang ngồi nói chuyện. Từ mà anh được nghe đi nghe lại ở những cuộc trò chuyện ấy, dĩ nhiên là "bại liệt". Chỉ có đám trẻ là dường như còn có thể nghĩ về thứ nào đó khác. Chỉ có trẻ nhỏ (ôi lũ trẻ!) là sinh hoạt như thể, ít nhất bên ngoài khu Weequahic, kỳ nghỉ hè vẫn là một cuộc vui chơi vô tư lự.
Dù là ở những phố trong khu dân cư hay phía sau hiệu thuốc tây chỗ quầy bán kem, anh không gặp bất kỳ chàng thanh niên nào đã từng cùng lớn lên, cùng chơi bóng và cùng đi học với mình. Lúc này, ngoại trừ vài người cũng bị loại vì xếp hạng sức khỏe loại 4-F giống anh - họ đang làm việc tại các quân xưởng do có bệnh van tim, dãn dây chằng bàn chân hay mắt cũng kém như anh - còn tất cả đều đã nhận được lệnh gọi nhập ngũ.
Ở Belmont, Bucky băng ngang đại lộ Hawthorne, chỗ vài quầy kẹo bánh vẫn còn sáng đèn và nơi ấy anh còn nghe thấy tiếng lũ trẻ đi chơi ngoài phố gọi nhau í ới. Từ đây anh đi về hướng phố Bergen và vào khu vực những con phố phân cách Weequahic với các khu dân cư khác, nơi những người giàu có hơn cư ngụ bên triền dốc đổ xuống công viên Weequahic. Cuối cùng anh tới đại lộ Goldsmith. Chỉ khi thực sự đến đây, anh mới nhận thấy mình ra ngoài tản bộ đến cả nửa thành phố trong một tối hè oi ả không phải là vô định mà rõ ràng là anh đang hướng bước chân mình về phía nhà của Marcia. Có lẽ ý định của anh chỉ đơn giản là nhìn ngôi nhà gạch to đứng sừng sững giữa những ngôi nhà gạch to lớn khác và nghĩ về nàng rồi quay trở về nơi chốn của mình. Nhưng sau khi đi một vòng quanh dãy nhà, anh chợt nhận ra mình vừa bước qua cửa nhà ông Steinberg, anh bèn đi theo lối đi lát đá tới bấm chuông. Gian phòng phụ với cửa trượt mở ra bãi cỏ nơi Marcia và anh vẫn ngồi ôm ấp nhau khi đi xem phim về, cho đến tận khi mẹ nàng nói vọng từ tầng trên xuống nhắc khéo rằng bây giờ chẳng phải là lúc Bucky phải đi về sao.
Chính bác sĩ Steinberg ra mở của. Giờ thì anh đã hiểu vì sao mình lại lang thang xa tuốt từ khu tập thể trên phố Barclay, hít thở bầu không khí hôi hám của thành phố để đến tận nơi này.
"Bucky, anh bạn của tôi," Bác sĩ Steinberg vừa nói vừa dang đôi tay và mỉm cười. "Thật là một sự ngạc nhiên lý thú. Vào đi, vào đi cháu."
"Cháu đi mua ít kem rồi đi bộ đến đây ạ," Bucky phân bua.
"Cháu đang nhớ người yêu đấy," Bác sĩ Steinberg cười, nói. "Bác cũng thế. Bác nhớ cả ba chị em nó."
Họ đi dọc suốt ngôi nhà ra tới gian phòng phụ ở phía sau, nơi mở cửa nhìn ra khu vườn của bà Steinberg. Bà Steinberg đang ở nhà nghỉ mát của gia đình bên bờ biển, ở đó, bác sĩ nói, ông sẽ về với bà vào cuối tuần. Bucky uống chút nước lạnh nhé, bác sĩ Steinberg mời anh. Trong tủ lạnh có nước chanh tươi. Ông liền mang cho anh một cốc.
Khi còn nhỏ, sống cùng với ông bà trong căn hộ ba buồng ở tầng ba thì ngôi nhà của gia đình Steinberg là ước mơ của Bucky: một ngôi nhà lớn có những hành lang rộng rãi, một cầu thang ở giữa nhà với rất nhiều phòng ngủ, vài phòng tắm cùng hai gian phòng phụ trước và sau, rồi lớp thảm trải kín tất cả các phòng, những tấm chớp lật làm bằng gỗ che phủ các cửa sổ thay vì những bức rèm của hãng Woolworth. Phía sau nhà có cả một vườn hoa. Trước đây anh chưa bao giờ thực sự nhìn thấy một khu vườn hoa nở rộ, trừ khu vườn hồng nổi tiếng ở công viên Weequahic, chỗ bà anh đã đưa anh tới chơi hồi còn bé. Đấy là khu vườn do sở công trình đô thị quản lý; theo anh biết thì tất cả các khu vườn đều là tài sản công cộng. Một khu vườn tư nhân xum xuê hoa trái ngay sau nhà tại Newark khiến anh sững sờ. Cái sân sau tráng xi-măng của khu nhà anh ở đã nứt nẻ, và ven rìa nơi ấy vứt đầy các mẩu gỗ vụn mà nhiều thập niên qua lũ trẻ trong khu đã chẻ ra làm tên để phóng giết lũ mèo hoang hay trêu chọc những chiếc xe đi ngang qua hoặc chọc tức lẫn nhau. Ở đó, bọn con gái trong khu nhà chơi trò nhảy lò cò cho đến lúc lũ con trai đuổi cả đám đi để lấy chỗ chơi bài; có một đống lộn xộn các vỏ thùng kim loại méo mó; ngang dọc trên đầu là mớ dây phơi quần áo, một mớ bùng nhùng những dây thừng có gắn ròng rọc nối từ cửa sổ sau của mỗi căn hộ đến một trụ điện thoại đã bị phong hóa nứt nẻ ở phía xa nơi bãi hoang. Lúc còn bé tí, mỗi khi bà ngoại vịn vào cửa sổ để phơi quần áo, Bucky lại đứng kế bên đưa cho bà những cái kẹp. Đôi khi nửa đêm anh chợt hét lên và bừng tỉnh vì trong cơn ác mộng thấy bà nhoài người ra ngoài quá xa để treo một tấm vải trải giường nên bị ngã lộn khỏi cửa sổ tầng ba. Trước khi ông bà nghĩ ra thời điểm và cách thức để giải thích cho anh là mẹ anh chết trong khi sinh nở, anh đã luôn cho rằng mẹ chết vì tự ngã lộn ra ngoài. Mảnh sân sau nhà có ý nghĩa với anh như thế cho đến khi anh đủ lớn để hiểu và đối diện với thực tế - một nơi của cái chết, một ngôi mộ nhỏ, hình chữ nhật dành cho người phụ nữ đã yêu thương anh.
Nhưng lúc này, chỉ nội việc nghĩ về khu vườn của bà Steinberg thôi đã khiến Bucky ngập tràn niềm vui thích, nó nhắc nhở anh tới tất cả những gì anh coi trọng nhất về nhà Steinberg, về cách sống của họ, và về mọi thứ anh luôn luôn thầm khao khát, những thứ mà ông bà không thể mang lại cho anh. Do vậy, với một kẻ học không cao như anh, là cả một sự kỳ quái khi xuất hiện trong căn nhà có nhiều phòng tắm như chuẩn mực của cuộc sống xa hoa này. Anh luôn bị ám ảnh bởi khát khao mãnh liệt được có gia đình vì bản thân không có được một gia đình như mọi người bình thường; thỉnh thoảng, khi chỉ có anh và Marcia ở nhà - những lúc như thế hiếm hoi lắm bởi sự hiện diện của hai cô em sinh đôi đầy hiếu động của nàng -anh tưởng tượng rằng anh và nàng đã kết hôn và căn nhà, khu vườn cùng nội thất trong nhà, cộng với số phòng tắm thừa mứa này là của họ. Anh thấy dễ chịu biết bao khi ở trong căn nhà ấy - mặc cho điều này quá là kỳ lạ bởi anh vẫn còn chưa tới nơi đó.
Bác sĩ Steinberg quay trở lại gian phòng phụ, cầm trong tay cốc nước chanh. Gian phòng tối thẫm, chỉ có ánh sáng phát ra từ chiếc đèn bàn bên cạnh chiếc ghế bành nơi bác sĩ Steinberg vừa ngồi đọc tờ tin buổi tối, vừa hút tẩu. Ông cầm tẩu thuốc lên, quẹt diêm, rít cho tới khi thuốc bắt lửa. Mùi thuốc lá ngọt và nồng làm dịu đi phần nào mùi hôi thối từ trại lợn Secaucus tỏa khắp thành phố.
Bác sĩ Steinberg người mảnh dẻ, nhanh nhẹn, hơi thấp. Ông rắn rỏi, mang kính - cũng dày nhưng không bằng kính của Bucky. Nét đặc biệt nhất của ông chính là cái mũi: gồ lên ở phía trên nhưng trở nên phẳng ở chóp mũi và sống mũi cao, sắc nét - nói tóm lại, là cái mũi trong câu chuyện dân gian, khá to, sống mũi phình, đầu mũi thõng, kiểu mũi đã trở thành đặc điểm trong suốt nhiều thế kỷ khiến người Do Thái phải chịu biết bao cam go, nhưng họ vẫn không ngừng tạo ra nó. Nét đặc trưng nơi mũi rõ nhất khi ông cười, mà ông lại rất hay cười. Ông luôn thân thiện và thuộc số các bác sĩ tư đắt khách, những người khi họ cầm trong tay hồ sơ bệnh án của ai đó và bước vào phòng chờ sẽ khiến cho các khuôn mặt bệnh nhân trở nên tươi tỉnh - mỗi khi ông tới gần bệnh nhân với ống nghe trong tay, họ thấy bản thân mình thư thái vì được quan tâm. Marcia thích cách cha nàng, một người đàn ông có dáng vẻ tự nhiên, không kiểu cách, nhắc tới bệnh nhân của mình một cách đùa giỡn nhưng cũng rất chân thành rằng họ chính là "những người thầy" của ông.
"Marcia nói với bác rằng có vài bé trong số trẻ cháu phụ trách bị chết. Bác rất buồn khi nghe tin ấy, Bucky ạ. Ở bệnh bại liệt, tử vong không quá phổ biến đến thế đâu."
"Cho đến lúc này, bốn đứa nhiễm bệnh và hai đứa đã chết. Hai cậu bé. Hai cậu bé đang học tiểu học. Cả hai mới mười hai tuổi bác ạ."
"Trách nhiệm của cháu nặng nề quá," bác sĩ Steinberg nói, "chăm nom tất cả các cậu bé, đặc biệt vào thời điểm như thế này. Bác đã hành nghề y hơn hai mươi lăm năm, vậy mà mỗi khi bị mất đi một bệnh nhân, dù đó là bởi tuổi già, bác vẫn bị sốc. Dịch bệnh lần này hẳn là một gánh nặng lớn đè lên vai cháu."
"Vấn đề ở chỗ cháu không biết liệu việc cháu để cho đám trẻ chơi bóng là đúng hay sai nữa."
"Có ai bảo là cháu đang làm sai à?"
"Vâng, mẹ của hai cậu bé, hai anh em, đều đã mắc bệnh bại liệt. Cháu biết bà ấy bị kích động. Cháu biết bà ấy chửi mắng cháu té tát trong khi thất vọng, song dường như biết thế cũng không ích gì."
"Bác sĩ cũng gặp trường hợp như thế thôi. Cháu nói đúng - con người trong nỗi đau đớn khôn cùng sẽ trở nên kích động và khi phải đối mặt với bất công của bệnh tật, họ sẽ chỉ trích, đổ tội cho bất cứ ai. Nhưng việc các cậu bé chơi bóng không khiến chúng bị bại liệt. Đó là do một loại vi-rút. Chúng ta có thể không biết nhiều về bệnh bại liệt nhưng chúng ta biết điều này. Trẻ con ở khắp mọi nơi đều vui chơi thỏa thích ngoài trời trong suốt mùa hè, và ngay cả trong vùng dịch, cũng chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ bị nhiễm bệnh. Và một tỷ lệ rất nhỏ trong số những đứa trẻ ấy là bị bệnh nặng. Và chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ trong số những đứa trẻ bệnh nặng ấy là tử vong - chết vì tê liệt hệ hô hấp tương đối hiếm gặp. Vì vậy đừng thổi phồng sự nguy hiểm của căn bệnh mà cần tiếp tục sinh hoạt như bình thường, việc ấy rất quan trọng. Cháu không việc gì phải cảm thấy có lỗi về chuyện ấy cả. Đôi lúc, đó là phản ứng tự nhiên, nhưng trong trường hợp của cháu, nó không thích đáng." Chỉ ống tẩu về phía anh đầy ngụ ý, ông nhắc nhở chàng trai trẻ, "chúng ta nên phán xét bản thân khắt khe khi không gì có thể biện hộ cho điều ta làm. Một ý thức trách nhiệm đặt không đúng chỗ có thể làm suy yếu chính chúng ta đấy."
"Thưa bác sĩ Steinberg, liệu bác có nghĩ tình hình sẽ còn tệ hơn không ạ?"
"Dịch bệnh luôn có khuynh hướng diễn biến không theo quy luật. Ngay lúc này có nhiều điều dồn dập xảy ra. Ngay lúc này chúng ta phải ứng phó với những diễn biến mới trong lúc chờ đợi và xem liệu chuyện này có qua nhanh hay không. Thông thường, những ca mắc bệnh chủ yếu tập trung ở các trẻ dưới năm tuổi. Đó là hồi năm 1916. Kiểu bùng nổ bệnh mà chúng ta đang chứng kiến, ít nhất là tại Newark đây, có phần hơi khác. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng ở thành phố này, căn bệnh sẽ không bao giờ được kiểm soát. Cho đến lúc này, bác có thể nói rằng vẫn chưa có gì đáng để báo động cả."
Đã nhiều tuần nay, Bucky chưa bao giờ thấy nhẹ nhõm như bây giờ, khi anh được bác sĩ Steinberg khuyên nhủ. Không ở đâu nơi thành phố Newark này, kể cả căn hộ hai bà cháu anh đang cư ngụ - thậm chí phòng tập nơi anh dạy thể dục tại trường Chancellor Avenue - anh lại có cảm giác yên lòng như khi ở trong gian phòng phụ sau nhà Steinberg, cùng trò chuyện với bác sĩ Steinberg giờ đang ngồi trong chiếc ghế bành đan bằng sợi liễu gai có nệm và rít những hơi thuốc nhồi trong chiếc tẩu đã cũ mòn.
"Sao ở Weequahic nạn dịch lại bùng phát nhanh nhất hả bác?" Bucky hỏi. "Sao lại thế ạ?"
"Bác không biết," bác sĩ Steinberg trả lời. "Không một ai biết cả. Bệnh bại liệt vẫn còn là một căn bệnh bí ẩn. Lần này nó khởi đầu chậm. Thoạt tiên xuất hiện chủ yếu ở khu Ironbound, rồi nảy sinh đây đó trong thành phố và đột ngột dừng ở khu Weequahic rồi lại đi."
Bucky kể cho bác sĩ Steinberg nghe về chuyện rầy rà với đám choai choai dân Ý trường East Side lúc chúng lái xe từ Ironbound đến và khạc nhổ đầy ra vỉa hè chỗ cổng vào sân chơi.
"Cháu đã làm đúng," bác sĩ Steinberg bảo anh. "Cháu đã rửa sạch bằng nước và a-mô-ni-ắc. Đấy là cách tốt nhất rồi."
"Nhưng liệu có phải cháu đã diệt được mầm bệnh bại liệt, nếu quả có mầm bệnh ở đó không ạ?"
"Chúng ta không biết cái gì diệt được mầm bệnh bại liệt," bác sĩ Steinberg nói. "Chúng ta không rõ ai hay cái gì mang tới bệnh bại liệt, và người ta vẫn còn tranh luận chuyện nó xâm nhập vào cơ thể như thế nào. Nhưng điều quan trọng là cháu đã cọ rửa sạch bãi mất vệ sinh đó và khiến lũ trẻ cháu đang trông nom an tâm trở lại. Cháu đã chứng tỏ năng lực của mình, đã thể hiện một thái độ bình tĩnh - đó là điều lũ trẻ cần được chứng kiến. Bucky, cháu chấn động vì điều đang diễn ra, nhưng ngay cả những người đàn ông mạnh mẽ cũng chấn động. Cháu phải hiểu là trong ngành y rất nhiều người già hơn và đã tiếp xúc với bệnh tật nhiều hơn cháu cũng bị chấn động vì nó. Phải làm bổn phận một bác sĩ điều trị mà không thể ra tay ngăn chặn sự lan rộng của căn bệnh khủng khiếp này là nỗi đau của cánh bác sĩ chúng tôi. Một căn bệnh tấn công chủ yếu vào lũ trẻ khiến chúng bị tàn phế và làm một số tử vong -điều này khiến bất cứ người lớn nào cũng khó có thể chấp nhận. Cháu có lương tâm, và lương tâm là một phẩm chất rất đáng quý, nhưng sẽ không còn có giá trị nữa nếu nó bắt đầu làm cháu tự trách cứ mình về một việc nằm ngoài xa phạm vi trách nhiệm của cháu."
Anh định hỏi: Chúa có lương tâm không? Trách nhiệm của Người ở đâu? Có phải trí tuệ của Người là vô hạn? Nhưng thay vào đó anh lại hỏi: "Liệu có nên đóng cửa sân chơi không hả bác?"
"Cháu là người quản lý cơ mà. Thế theo cháu có nên đóng cửa không nào?" Bác sĩ Steinberg hỏi ngược trở lại. "Cháu cũng không biết phải nghĩ sao nữa."
"Trẻ con sẽ làm gì nếu chúng không thể đến sân chơi nữa? Ở nhà à? Không, chúng sẽ chơi bóng ở một chỗ khác - trên đường phố, trong các khu đất trống, chúng sẽ đi xuống công viên để chơi bóng, cháu không thể cấm chúng tụ tập bằng cách đuổi chúng khỏi sân chơi được. Chúng sẽ không ở nhà - chúng sẽ lang thang tụ tập ở góc phố nơi cửa hàng bán bánh kẹo, chơi máy đánh bi, đùa nghịch xô đẩy lẫn nhau. Chúng sẽ uống nước từ các chai nhựa của nhau, mà không bận tâm đến chuyện đã bao lần cháu nói rằng không được làm như thế. Một vài đứa sẽ quá rảnh rỗi và buồn chán để rồi sẽ vượt giới hạn và dính vào rắc rối. Chúng không phải là thiên thần - chúng là lũ trẻ. Bucky, cháu không làm điều gì tệ hại khiến tình hình xấu đi. Ngược lại, cháu đang cải thiện tình hình. Cháu đang làm những việc có ích. Cháu đang góp phần giữ gìn sức khỏe của cộng đồng. Điều quan trọng là để hoạt động của sân chơi diễn ra như bình thường - nếu không, nó sẽ không chỉ là một đòn giáng vào các gia đình, mà bản thân Weequahic cũng sẽ là một nạn nhân. Ở khu vui chơi, cháu khiến sự sợ hãi phải lùi xa bằng việc trông coi để lũ trẻ của cháu chơi những trò chúng thích. Giải pháp thay thế không phải là đưa bọn trẻ đi đến nơi nào khác mà ở đó chúng không được cháu trông coi. Giải pháp thay thế không phải là nhốt chúng trong nhà và khiến chúng hoảng sợ. Bác phản đối việc gây cho bọn trẻ Do Thái sợ hãi. Bác phản đối việc khiến người Do Thái hoảng sợ, đã qua thời ấy rồi. Đó là ở châu Âu, chính vì thế mà người Do Thái đã rời khỏi nơi đó. Đây là nước Mỹ. Càng ít sự sợ hãi càng tốt. Sợ hãi khiến chúng ta nhu nhược, ủng hộ việc giảm sợ hãi - đó chính là công việc của cháu và của bác."
Có tiếng còi văng vẳng từ hướng tây, phía bệnh viện. Trong khu vườn chỉ có lũ dế kêu inh ỏi và đám côn trùng lập lòe cùng vô số loài hoa thơm phức, những cánh hoa che lấp một bên gian phòng phụ và chắc hẳn, trong khi bà Steinberg vắng nhà để ra bờ biển, bác sĩ Steinberg đã tưới cho hoa sau mỗi bữa tối. Trên mặt kính của chiếc bàn cà-phê đan bằng thân liễu gai đặt trước chiếc ghế sô-pha cũng làm bằng liễu gai mà Bucky đang ngồi có một cái tô đựng hoa quả. Bác sĩ Steinberg với lấy một quả và bảo anh cùng lấy ăn.
Anh cắn một miếng đào ngon ngọt, quả đào to và đẹp giống quả bác sĩ Steinberg lấy từ tô, với sự có mặt của người đàn ông hết sức am tường này cũng như cách ông giúp xoa dịu cảm giác bất an, anh ăn chậm rãi, thưởng thức từng miếng đào ngọt ngào cho đến khi chỉ còn cái hột. Và rồi, hoàn toàn không chuẩn bị trước nhưng không sao kìm nén được bản thân, anh để cái hột đào vào gạt tàn thuốc lá, và rướn người về trước, hai tay nhớp nháp mồ hôi nắm chặt vào nhau, kẹp giữa hai đầu gối, nói, "Cháu muốn xin phép bác, thưa bác, được hỏi đính hôn với Marcia."
Bác sĩ Steinberg cười phá lên, giơ cao cái tẩu như một cái cúp, rồi ông đứng lên và khẽ nhún nhảy. "Cháu được phép!" ông nói. "Không gì làm bác xúc động hơn chuyện này. Mà bà vợ bác sẽ cảm động lắm đây. Để bác gọi cho bà ấy ngay. Còn cháu thì bắt tay vào việc ngay đi và báo với nó tin này. Ở Bucky, chuyện này thật tuyệt vời! Tất nhiên là các bác cho phép. Marcia không thể tìm đâu ra một anh chàng tốt hơn. Nhà này thật có phúc!"
Giật mình khi nghe bác sĩ Steinberg mô tả gia đình ông là một gia đình may mắn, Bucky cảm thấy tràn ngập niềm phấn kích. Anh nhảy bật lên, nồng nhiệt lắc tay bác sĩ Steinberg. Cho đến giờ phút ấy, anh vẫn chưa có kế hoạch sẽ đề cập chuyện đính hôn với bất kỳ ai ít nhất là đến sang năm, khi chuyện tiền nong của anh dư dả thêm chút nữa. Anh vẫn đang tiết kiệm tiền mua một cái bếp ga cho bà ngoại, để thay cái bếp than bà dùng để nấu nướng trong bếp, và anh đã tính toán sẽ đủ tiền vào tháng Mười Hai, nếu trước đấy anh không phải mua nhẫn đính hôn. Nhưng rồi với tất thảy những lời an ủi cảm thông mà anh nhận được từ người cha tốt bụng của nàng, kể cả việc họ cùng thưởng thức những quả đào ngon tuyệt nơi gian phòng phụ sau nhà, đã thúc đẩy anh xin phép ngay tại đó, vào thời điểm đó. Nguyên cớ là từ trong tiềm thức của anh, bác sĩ Steinberg, chỉ đơn thuần bằng sự có mặt của ông, dường như có thể trả lời cho câu hỏi mà không ai khác có thể giải đáp: chuyện tệ hại đang diễn ra là gì, làm sao họ có thể thoát khỏi nó? Và còn một điều cũng khiến anh bất an: tiếng còi xe cứu thương đang vang khắp Newark lúc đêm khuya.
SÁNG HÔM SAU là đỉnh điểm của tấn thảm kịch. Có thêm ba cậu bé nữa bị mắc bệnh bại liệt - Leo Feinswog, Paul Lippman và tôi, Arnie Mesnikoff. Số ca trẻ em bị nhiễm bệnh ở sân chơi nhảy từ bốn lên bảy chỉ sau một đêm. Tiếng còi hú mà thầy Cantor và bác sĩ Steinberg nghe thấy tối hôm trước rất có thể là từ những chiếc xe cứu thương mang ba đứa trẻ ấy tới bệnh viện. Thầy nghe được tin về ba ca bệnh mới từ lũ trẻ, chúng mang găng tay chơi bóng đến sân chơi vào sáng đó và vẫn sẵn sàng cho một ngày thi đấu. Thông thường vào những ngày trong tuần, thầy sẽ cho chơi hai trận, mỗi trận trên một sân bóng chày nơi góc của sân chơi, nhưng sáng nay, bọn trẻ đến sân không đủ số lượng cho bốn đội. Ngoài những đứa bị bệnh, khoảng sáu mươi đứa hình như bị các bậc phụ huynh sợ hãi giữ rịt không cho tới sân chơi. Số còn lại, thầy cho tập trung hết trên khán đài làm bằng gỗ tựa vào vách tường phía sau của trường học để trò chuyện.
"Các cậu bé, thầy rất vui khi thấy các em ở đây. Hôm nay sẽ tiếp tục là một ngày nóng như thiêu nữa - các em thấy trời đã nóng lắm rồi đấy. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta sẽ không ra sân chơi bóng mà có nghĩa là chúng ta cần phải đề phòng để không một em nào được chơi quá sức. Cứ hai hiệp rưỡi chúng ta sẽ nghỉ giải lao trong bóng mát, ngay tại đây, trên khán đài này, chừng mười lăm phút. Trong quãng thời gian ấy, không được chạy lung tung. Với tất cả mọi người đấy nhé. Từ giữa trưa cho tới hai giờ chiều, khi trời nóng nhất, không được chơi bóng. Không một ai được lai vãng trên các sàn bóng. Các em muốn chơi cờ ca-rô, cờ vua, bóng bàn, muốn ngồi nói chuyện trên khán đài, hay các em muốn mang sách, tạp chí theo để đọc trong thời gian nghỉ giải lao... Tất cả đều được cả. Đấy là thời gian biểu mới của chúng ta. Chúng ta sẽ có một mùa hè vui vẻ như mong đợi, nhưng chúng ta sẽ thực hiện mọi việc một cách vừa phải trong những ngày như thế này. Không để một ai ở đây bị say nắng ngoài kia trong cái nóng khắc nghiệt ấy hết." Thầy chèn hai chữ "say nắng" vào phút cuối, thay vì nói hai chữ "bại liệt." Không có một lời than phiền nào. Cũng không có một lời bình luận nào cả. Bọn trẻ nghiêm trang lắng nghe và gật đầu đồng ý. Đó là lần đầu tiên kể từ khi có dịch bệnh, thầy nhận thấy nỗi lo sợ của chúng. Một cách ngẫu nhiên, trong đám trẻ, đứa nào cũng quen không đứa này thì đứa khác trong ba đứa mới bị nhiễm bệnh hôm trước, và nắm được bản chất của mối đe dọa theo một cách mà bọn chúng chưa từng trải qua từ trước tới giờ, cuối cùng, chúng nhận ra nguy cơ chính mình cũng có thể bị mắc bại liệt.
Thầy Cantor chọn ra hai đội, mỗi đội mười cầu thủ và bắt đầu chơi cho trận đầu tiên. Còn lại mười đứa, thầy chia ra mỗi đội năm đứa và nói tụi nó sẽ được chơi thay sau đợt nghỉ giải lao mười lăm phút thứ nhất. Đó là cách mấy thầy trò hoạt động đến hết ngày.
"Được chưa nào?" Thầy Cantor vừa nói vừa vỗ tay một cách phấn khởi. "Sẽ là một ngày hè như bất kỳ ngày nào khác, thầy muốn các em ra ngoài sân và chơi bóng."
Thay vì cùng chơi với đám trẻ, thầy quyết định khởi đầu buổi sáng của mình bằng việc ngồi chung với mười cậu bé đang chờ tới lượt chơi và là những đứa có vẻ ít khi bị đánh bại. Quay nhìn lại về phía giữa sân, nơi đám con gái thường hay tụ tập trên con đường dẫn vào trường, thầy Cantor thấy trong số mười hai cô bé sáng nào cũng có mặt ở đó hồi đầu mùa hè, hôm nay chỉ còn ba - chỉ có ba bé hình như được bố mẹ cho phép rời khỏi nhà của mình ở khu lân cận vì e sợ chúng tiếp xúc với những đứa trẻ ở sân chơi. Những cô bé vắng mặt có thể nằm trong số những trẻ trong chính khu này, anh nghe nói là đã được gửi tới nhà bà con cách xa thành phố, ở những khu vực an toàn, và một vài bé nữa nằm trong số những trẻ được lôi nhanh ra khỏi mối hiểm họa để tắm mình và để ngừa bệnh dưới bầu không khí hợp vệ sinh ở bãi biển Jersey.
Lúc này, hai đứa quay dây cho một đứa nhảy - và chả còn đứa nào vỗ nhẹ vào hai chân gầy nhom của cô bé hối nó nhảy cho xong để còn tới lượt mình nữa. Có thể nghe thấy giọng non nớt cao vút của cô bé đang nhảy sáng hôm ấy từ xa vọng đến tận khán đài, nơi mấy cậu bé vẫn thường tếu táo và đùa những câu tục tĩu, ngay cả những cậu hay nói ba hoa suốt ngày dài giờ cũng chẳng nói chẳng rằng.
K, tên tôi là Kay
Còn chồng tôi tên Karl,
Chúng tôi tới từ Kansas
Và chúng tôi mang về những cây kẹo!
Cuối cùng, thầy Cantor cũng phá vỡ sự yên lặng kéo dài. "Có em nào trong số mấy em có bạn bị ốm không?" Thầy hỏi.
Bọn chúng, đứa thì gật đầu, đứa thì khẽ nói có.
"Thầy biết, với các em, điều ấy thật là nặng nề. Vô cùng nặng nề. Chúng ta phải hy vọng các bạn ấy sẽ khỏe và sẽ sớm quay trở lại sân chơi."
"Ta có thể sẽ phải nằm trong máy trợ thở mãi mãi," Bobby Finkelstein nói. Đó là một cậu bé nhút nhát, là một trong những đứa trẻ ít lời nhất trong đám, cũng là một trong mấy cậu bé mặc lễ phục mà thầy Cantor đã gặp trên bậc tam cấp giáo đường sau lễ tang của Alan Michaels.
"Ừ," thầy Cantor nói. "Nhưng đó là trường hợp đường thở bị tê liệt mà chuyện ấy thì vô cùng hiếm. Khả năng hồi phục sẽ nhiều hơn rất nhiều. Đây là một căn bệnh không thể coi thường, nó có thể gây ra nhiều tổn thương to lớn, nhưng có nhiều ca phục hồi. Có khi là phục hồi một phần, nhưng rất nhiều người phục hồi hoàn toàn. Hầu hết các ca bệnh đều khá là nhẹ." Thầy nói rất chắc chắn, dựa trên nguồn kiến thức của bác sĩ Steinberg.
"Ta có thể chết," Bobby khăng khăng, tiếp tục chủ đề theo cách mà lúc trước cậu đã truy vấn mấy đứa khác. Hầu hết mọi lần, cậu có vẻ thích nhường cho những bạn hướng ngoại khác phát biểu, song lần này cậu không thể ngăn mình không tiếp tục nói về những gì đã xảy ra với các bạn. "Alan và Herbie đã chết."
"ừ, ta có thể chết," thầy Cantor thừa nhận, "nhưng khả năng ấy là không đáng kể."
"Đáng kể với Alan và Herbie," Bobby đáp.
"Ý thầy là tính trong cả cộng đồng, trong toàn thành phố thì khả năng tử vong là không đáng kể."
"Điều ấy không giúp được Alan và Herbie," Bobby vẫn khăng khăng, giọng cậu bé run run.
"Em nói đúng, Bobby. Em nói đúng. Điều ấy không giúp gì được. Chuyện xảy ra với hai bạn ấy thật là tồi tệ. Chuyện xảy ra với tất cả các cậu bé ấy thật là tồi tệ."
Giờ thì một cậu bé khác cũng đang ngồi trên khán đài lên tiếng, Kenny Blumenfeld, dù những gì cậu nói không dễ hiểu lắm bởi giọng địa phương của cậu. Cậu cao ráo, khỏe mạnh, thông minh, ăn nói lưu loát, đã mười bốn tuổi, đang học năm thứ hai ở trường trung học Weequahic và không như phần đông các cậu trai khác, cậu đã trưởng thành vì cậu có khả năng không để cảm xúc lấn lướt trong chuyện thắng thua. Cậu ta, cùng Alan, đã từng là hai thủ lĩnh ở sân chơi, người luôn được chọn làm đội trưởng của một đội, người có đôi cánh tay, đôi chân dài nhất và đánh được bóng đi xa nhất - và đó lại là Kenny, anh chàng lớn nhất, cao to nhất và trưởng thành nhất cả bọn, tinh thần cậu ta cũng vững chãi như thể lực vậy, giờ đây con người ấy đang đấm nắm tay đeo găng xuống hai đùi trong khi những dòng nước mắt chảy dài trên mặt.
Thầy Cantor đi đến bên cạnh Kenny và ngồi xuống.
Giọng khản đặc, Kenny nói qua hàng nước mắt: "Tất cả các bạn của em đang mắc bại liệt! Tất cả các bạn của em hoặc sẽ tàn tật hoặc sẽ chết!"
Đáp lại, thầy Cantor chỉ đặt tay lên vai Kenny mà không nói gì. Thầy nhìn xuống sân đấu nơi hai đội bóng đang mải mê đua tranh chẳng hề để ý đến những gì đang diễn ra ngoài đường biên. Thầy nhớ tới lời cảnh báo của bác sĩ Steinberg rằng không được phóng đại mối nguy hiểm, nhưng rồi thầy lại nghĩ: Kenny nói phải. Từng đứa trong bọn chúng. Những cậu trai ở trên sân và những cậu trai ngồi nơi khán đài. Lũ con gái đang nhảy dây. Tất cả chúng đều còn trẻ con, mà bại liệt thì đang săn đuổi bọn trẻ, nó sẽ quét qua nơi này và hủy diệt hết thảy chúng. Mỗi sáng khi đến sân, lại có một vài đứa nữa ra đi. Không có gì ngăn chặn được chuyện ấy trừ khi người ta đóng cửa sân chơi. Và ngay cả việc đóng cửa cũng không giúp ích gì - cuối cùng nó sẽ lùng bắt cho đến đứa trẻ cuối cùng. Cộng đồng này đã đến ngày tận số. Cho dù có đứa nào sống sót thì cũng không còn nguyên vẹn nữa.
Và rồi, bỗng dưng, thầy Cantor nghĩ đến quả đào đã ăn nơi gian phòng phụ phía sau nhà bác sĩ Steinberg tối hôm trước. Thầy hầu như có thể cảm thấy nước đào đang nhỏ vào tay mình, và lần đầu tiên thấy lo sợ cho bản thân. Thật là đáng ngạc nhiên khi thầy đã có thể kìm nén nỗi sợ bị nhiễm bệnh được lâu đến thế.
Thầy nhìn Kenny Blumenfeld đang khóc thương cho những người bạn của cậu bị bại liệt bủa vây, và đột nhiên muốn chạy trốn chỗ làm giữa đám trẻ này - trốn khỏi nỗi lo sự không dứt về thứ nguy cơ dai dẳng này. Bỏ đi, như Marcia đã muốn thầy làm thế.
Nhưng thay vào đó thầy chỉ ngồi im lặng cạnh Kenny cho đến khi cơn nức nở qua đi, rồi nói với cậu: "Thầy sẽ quay lại - giờ phải ra chơi một lát đã." Rời khỏi khu khán đài vào sân, ở đó thầy nói với Barry Mittelman, hậu vệ chơi ở vị trí chốt ba: "Tránh nắng đi, vào chỗ mát, lấy nước uống đi," rồi lấy găng tay của Barry, thầy đứng vào vị trí thứ ba, hăng hái chỉnh găng để tạo túi bắt bóng.
Đến cuối ngày hôm ấy, thầy Cantor đã chơi ở tất cả các vị trí trên sân, tạo điều kiện để các cậu bé ở cả hai phe đều được ngồi nghỉ một hiệp trong bóng râm cho khỏi bị quá nóng. Thầy không biết làm gì khác để ngăn ngừa bại liệt lây lan. Chơi bóng ngoài chỗ nắng, thầy phải giơ găng tay lên chóp mũ để còn nhìn được dưới ánh mặt trời, lúc bốn giờ chiều mà mặt trời vẫn chói chang như giữa trưa. Thầy thật ngạc nhiên, khi nghe ngay phía sau mình, trên con đường dẫn vào trường, ba cô bé cháy nắng, vẫn đang say mê hát, vẫn gây thích thú bằng những giai điệu nhịp nhàng.
S, tên tôi là Sally
Còn chồng tôi tên Sam...
Vào khoảng năm giờ, khi các cậu bé bước vào lượt đấu cuối cùng trong ngày - các cầu thủ phe phòng ngự quăng bỏ những áo phông pô-lô ướt đẫm ra ngoài sân đấu tráng nhựa còn các chàng trai đứng trong khu phát bóng cũng cởi trần - thì thầy Cantor nghe thấy tiếng hét to từ khu giữa sân. Đó là tiếng Kenny Blumenfeld, cậu đang nổi khùng với Horace. Lúc đầu giờ chiều thầy Cantor đã thấy Horace ở phía dưới khu khán đài nhưng ngay sau đó không thấy đâu nữa. Có lẽ ông vừa đi vơ vẩn trong khu gần đó và chỉ mới quay lại sân chơi để rồi, quyết định như vẫn từng làm là đi vào trong sân và đứng yên lặng cạnh một ai đó trong số cầu thủ, lần này ông đã chọn tiến lại phía Kenny và đứng cạnh chàng trai cao to nhất trong cả hai đội. Lúc đầu buổi, Kenny, trái với bản tính của mình, đã đau khổ khóc nức nở vì mất mát những người bạn, thì giờ đây, một lần nữa trái với bản tính, lại đang la hét Horace và khua găng tay xua đuổi ông với vẻ hăm dọa. Kenny không chỉ là cậu bé cao lớn nhất, mà với tấm thân trần còn cho thấy cũng là người khỏe nhất. Ngược lại, Horace, trong bộ đồ mùa hè quen thuộc, áo sơ-mi tay lửng rộng thùng thình cùng quần dài, cạp bó nhăn nhúm và một đôi giày đục lỗ li ti như rây bột hai màu nâu-trắng mà kiểu dáng đã lỗi mốt từ lâu, trông ông ta có vẻ gầy gò thiếu ăn. Ngực ông hõm vào, đôi chân khẳng khiu, còn đôi cánh tay gầy nhắng, lẳng ngoẳng yếu ớt như có thể bẻ làm đôi dễ như người ta tì que lên đầu gối để bẻ. Một cơn sợ hãi cũng có thể giết chết ông ta chứ đừng nói đến một cú đấm của anh chàng lực lưỡng như Kenny.
Ngay lập tức, thầy Cantor nhảy khỏi băng ghế đang ngồi và chạy hết tốc lực vào sân trong khi tất cả các cậu bé đang thi đấu cũng như đang ngồi trên khán đài chạy theo anh và cả ba bé gái trên con phố dẫn vào trường cũng đã ngừng nhảy dây - hình như đây là lần đầu tiên kể từ hè.
"Đưa ông ta tránh xa tôi đi!" Kenny - tấm gương về sự trưởng thành của đám trẻ, người mà thầy Cantor không bao giờ thấy có một lý do nào để trách mắng vì đánh mất tự chủ - thì cũng chính là Kenny ấy giờ đang tru tréo, "Đưa ông ta tránh xa tôi ra, không thì tôi giết ông ta đấy!" "Chuyện gì thế? Sao thế?" Thầy Cantor hỏi. Horace đứng đó đầu lắc lư và nước mắt chảy dài trên mặt, rên rỉ từ sâu trong cổ họng - một âm thanh yếu ớt, ngắt quãng.
"Ngửi người ông ta mà xem!" Kenny gào lên. "Ông ta hôi thối như phân ấy! Lôi cổ ông ta ra khỏi đây đi! Chính ông ta đó! Ông ta là kẻ mang đến bại liệt!"
"Bình tĩnh nào Ken," thầy Cantor lấy giọng ôn tồn, cố gắng giữ cậu bé cách xa Horace trong lúc cậu ta có thể dễ dàng đánh bay ông khờ. Cầu thủ của cả hai đội chơi lúc này đã vây quanh hai thầy trò, và khi có vài ba cậu bé chạy ào tới nắm chặt hai cánh tay của Kenny và kéo cậu lui về sau, cách xa khỏi nơi cậu đứng chỉ trích Horace thì Kenny quay ra vung nắm đấm về phía mấy đứa trẻ khiến tất cả chúng nhảy dạt ra xa.
"Tôi sẽ không bình tĩnh!" Kenny gào to. "Đồ lót ống ta vấy đầy phân! Hai tay ông ta cũng dính đầy phân! Ông ta không rửa ráy, ông ta dơ bẩn và rồi ông ta muốn chúng ta nắm tay ông ta, lắc tay ông ta, và đó là cách mà ông ta truyền bệnh bại liệt! Ông ta là kẻ làm tàn phế mọi người! Ông ta là kẻ giết người! Cút khỏi đây, ông kia! Cút! Cút mau!" Và một lần nữa Kenny khua loạn cái găng tay hở ngón của mình như thể đang tránh cuộc tấn công của một con chó dại."
Trong khi đó, khống chế được hai cánh tay huơ đập của Kenny, thầy Cantor liền chen vào giữa cậu bé bị kích động và sinh vật đang khiếp sợ bởi cơn giận cậu đang trút lên đầu kia.
"Ông phải về nhà đi Horace," thầy Cantor khẽ nói. "Về nhà với bố mẹ đi. Đến bữa xế rồi. Đến giờ ăn rồi đấy."
Horace đúng là bốc mùi - một mùi phát gớm. Và dù thầy Cantor lặp lại lời mình lần thứ hai nhưng Horace vẫn tiếp tục khóc ròng, quỳ dưới đất, không nói năng gì.
"Đây này, Horace," thầy Cantor nói và đưa tay cho ông. Không ngẩng mặt lên, Horace đặt bàn tay yếu ớt của mình vào tay thầy, Cantor lắc nhẹ tay ông ta chân thành như lúc đã lắc tay bác sĩ Steinberg sau khi được phép đính hôn với Marcia vào đêm hôm trước.
"Ông sao rồi, Horace?" Thầy Cantor vừa thì thầm vừa lắc tay của Horace. "Cậu bé, cậu bé sao rồi?" Mất một lúc lâu hơn thường lệ, nhưng rồi, cũng như bao lần trước đây mỗi khi Horace ra ngoài la cà đến đứng bên cạnh một cầu thủ, cái lắc nhẹ tay ấy như một phép thuật, và Horace được an ủi quay đầu, rời gót, về nhà hay đến nơi nào đó khác không ai biết, có khi ngay cả Horace cũng không biết nữa. Tất cả những đứa trẻ đã nghe những lời nói khùng điên của Kenny lùi lại sau lưng Horace và quan sát ông ta đơn độc, lắc la lắc lư bước ra lối đi nóng bức sát tường nhà trên hè phố, trong khi ba đứa con gái, vừa hét the thé: "Ông ta đi theo chúng ta đấy! Ông khờ đang đuổi theo chúng ta!" vừa cầm mấy sợi dây chạy về phía đám đông trên đại lộ Chancellor chiều muộn ấy, chúng chạy hết tốc lực để khỏi phải thấy hiện thân sự tàn lụi của con người.
Để Kenny trấn tĩnh lại, khi các bạn khác đã ra về, thầy Cantor bảo cậu bé ở lại giúp mình mang các thiết bị sân chơi cất vào phòng kho dưới tầng hầm. Sau đó, khi hai thầy trò thả bộ trên đường về, thầy nhỏ nhẹ trò chuyện với Kenny đến khi cả hai tới nhà cậu, dưới chân dốc trên đại lộ Hansbury.
"Tình hình hiện thời khiến ai cũng thấy nặng nề, Ken ạ. Ở đây không phải chỉ có em," thầy bảo cậu, "chịu áp lực chuyện bại liệt. Phải chịu đựng cả bại liệt và thời tiết như thế này thì không ai mà không bị căng thẳng tới đỉnh điểm cả."
"Nhưng ông ta đang khiến bệnh lan truyền, thưa thầy. Em dám đảm bảo điều ấy. Em không nên điên khùng như thế, em biết ông ta là một kẻ khờ, nhưng ông ta bẩn thỉu và ông ta đang làm lây lan bệnh. Ông ta la cà khắp mọi chốn, nhỏ nước dãi lên đủ mọi thứ, bắt tay tất cả mọi người và đó là cách ông ta lây lan mầm bệnh ra khắp nơi."
"Trước hết, Ken ạ, chúng ta không biết thứ gì làm lây lan bệnh."
"Chúng ta biết mà thầy. Rác rưởi, bụi bẩn và phân," Kenny nói, cậu lại nổi cáu. "Và ông ta tanh tưởi, bẩn thỉu, kinh tởm, chính ông ta làm lây lan bệnh. Em biết chắc là thế."
Trên hè phố, trước của nhà Kenny, thầy Cantor nắm hai vai cậu và Kenny rùng mình khiếp sợ, không ngừng vẫy vùng và la hét. "Đừng động vào em! Thầy vừa mới động vào người ông ta!"
"Vào nhà đi!" thầy Cantor nói, giọng vẫn bình tĩnh nhưng lùi lại một bước. "Hãy tắm nước lạnh, uống một cốc nước lạnh. Hãy hạ hỏa đi Ken, và thầy mong sẽ gặp lại em vào sáng ngày mai ở sân chơi."
"Nhưng thầy đang nhắm mắt làm ngơ với kẻ đang làm lây lan bệnh chỉ bởi ông ta tàn tật và cần được giúp đỡ! Ông ta không chỉ tật nguyền - ông ta còn nguy hiểm nữa! Thầy có hiểu không, thầy Cantor? Ông ta không biết cách chùi sạch phân vì vậy ông ta làm tất cả những người khác cũng bị dính phải!"
TỐI HÔM ẤY, quan sát bà ngoại đang làm bữa tối cho mình, Bucky bỗng tự hỏi phải chăng đó là hình ảnh của mẹ mình nếu bà may mắn sống thêm năm mươi năm nữa - người yếu ớt, lưng còng xuống, xương loãng, mái tóc đã bạc từ vài thập niên trước và rụng đi nhiều giờ chỉ còn thưa thớt, khuỷu tay nhăn nhúm và cằm chảy xệ, các khớp xương đau nhức mỗi sáng, mắt cá chân căng phồng và ê ẩm khi tối trời cùng lớp da mỏng mờ đục của đôi bàn tay hằn lên vô số đường vằn vện, đôi mắt kém với cặp thủy tinh thể bị đục và đã phai màu. Trên cái cổ tàn tạ, gương mặt bà giờ là một mạng lưới chi chit các nếp nhăn và đường hằn nhỏ li ti tới mức chúng giống như một bức họa tỉ mỉ hơn là dấu ấn của tuổi tác - có lẽ là một dụng cụ điêu khắc bằng a-xít, hay một dụng cụ thêu thùa đã được một bàn tay nghệ nhân thủ công bậc thầy dùng để tạo tác mặt bà sao trông cho giống với bất kỳ người bà cao tuổi nào trên trái đất.
Hẳn khi lớn lên trông mẹ anh sẽ rất giống bà ngoại. Anh thấy vậy khi nhìn những bức ảnh, trong đó, đương nhiên, anh nhận ngay ra mình cũng rất giống mẹ, đặc biệt bức chân dung mẹ chụp ở hiệu ảnh hiện được đóng khung để trên bàn trong phòng ngủ của ông bà ngoại. Bức ảnh chụp vào năm mẹ tốt nghiệp trung học khi mẹ mười tám tuổi, trong cuốn kỷ yếu niên khóa 1919 của trường South Side mà Bucky thường lật giở từ khi còn là cậu học sinh tiểu học bắt đầu nhận ra các cậu bé khác trong lớp mình không phải là cháu sống với ông bà mà là con sống với mẹ cha, điều này đã khiến anh nghĩ rằng như thế mới là "những gia đình đúng nghĩa". Anh hiểu rõ sự hiện diện bấp bênh của mình trên thế giới này từ khi người lớn dành cho anh kiểu nhìn mà anh ghét cay ghét đắng, cái nhìn thương hại mà anh rất tỏ tường, hồi ấy anh thỉnh thoảng cũng nhận được cái nhìn ấy từ những giáo viên. Cái nhìn nói lên quá rõ rằng sự chăm nom từ bậc sinh thành đã luống tuổi của mẹ anh là tất cả những gì chặn giữa anh và tòa nhà lạnh lẽo bốn tầng bằng gạch đỏ gần đại lộ Clinton, nơi có hàng rào sắt sơn đen và những cửa sổ kính sần có khung sắt che ngoài cùng cánh cửa gỗ nặng nề được trang trí một ngôi sao Do Thái màu trắng, và khoảng trống lớn phía trên khung cửa được khắc những từ cô độc nhất mà anh từng đọc: TRẠI TRẺ MỒ CÔI DO THÁI.
Dù cho bà ngoại có nói rằng tấm ảnh tốt nghiệp trên bàn trong phòng ngủ đã nắm bắt được cái hồn thánh thiện của mẹ một cách hoàn hảo, làm cho bức ảnh vô cùng sống động thì đó cũng không phải là tấm ảnh mẹ mà anh yêu thích, bởi tấm áo choàng cử nhân sẫm màu mà mẹ mặc bên ngoài, cái dấu hiệu luôn khiến anh thấy buồn, bởi tấm áo choàng trong ảnh đó là một điềm gở, một cảnh báo về tấm vải liệm của bà. Tuy nhiên, khi ở nhà một mình, lúc ông bà làm việc nơi cửa hàng, có đôi lần anh lẻn vào phòng ông bà để sờ tay lên tấm kính trên bức ảnh, lần theo khuôn mặt mẹ như thể tấm kính đã được bỏ ra và khuôn mặt ấy bằng xương bằng thịt. Anh làm thế bất chấp điều đó khiến anh cảm thấy thêm khát khao không phải chỉ sự hiện diện của người mẹ anh đang kiếm tìm mà còn bởi sự thiếu vắng một người anh chưa bao giờ gặp, trừ ở trong ảnh, người anh chưa bao giờ được nghe gọi tên mình, người có hơi ấm mẹ mà anh chưa bao giờ được đắm chìm trong đó, một người mẹ chưa bao giờ chăm nom, cho anh ăn, bế anh lên giường, đánh thức anh dậy đi học hay nhìn anh lớn lên và trở thành người đầu tiên trong nhà học cao hơn bậc phổ thông. Thật lòng anh có thể bảo rằng vẫn chưa nhận được sự chăm nom đầy đủ như vẫn dành cho một đứa trẻ? Tại sao vòng tay âu yếm thân thiết của một người bà yêu quý lại ít tạo sự mãn nguyện hơn vòng tay mẹ? Đúng ra không thế mới phải, và anh cảm thấy điều đó vẫn thật bí ẩn - cũng bí ẩn như cảm giác hổ thẹn thầm kín vì che giấu suy nghĩ ấy.
Tối đó, Bucky đột nhiên hiểu rằng lần này Chúa không chỉ đơn thuần để cho bại liệt hoành hành khắp khu Weequahic mà rằng hai mươi ba năm trước, Chúa cũng đã để cho mẹ anh, chỉ mới tốt nghiệp phổ thông được hai năm và còn trẻ hơn anh bây giờ phải chết khi sinh nở. Khi trước anh chưa bao giờ nghĩ về cái chết của mẹ theo cách này. Hồi trước, vì nhận được sự chăm sóc yêu thương của ông bà, anh luôn chỉ cảm thấy rằng việc mất mẹ ngay từ khi lọt lòng là số mệnh của mình và rằng việc ông bà chăm sóc anh chỉ là kết quả đương nhiên sau cái chết của mẹ. Cũng vậy, việc cha anh là một kẻ cờ bạc và một tên ăn cắp cũng chỉ là việc đã được định trước rồi và nó không thể khác đi được. Nhưng giờ đây khi không còn là đứa trẻ, anh đã có thể thấu hiểu rằng vì sao mọi sự không khác đi là bởi Chúa. Nếu không bởi Chúa trời, nếu không bởi bản chất cố hữu của Chúa, mọi sự chắc hẳn sẽ khác.
Anh không thể nói lại với bà loại ý nghĩ như thế, bởi cũng như ông ngoại, bà không nghĩ ngợi gì nhiều, và anh cũng không cảm thấy sẵn sàng trò chuyện về đề tài này với bác sĩ Steinberg. Mặc dù là một người rất duy lý, bác sĩ Steinberg cũng là một tín đồ Do Thái giáo và có thể sẽ phật ý với chiều hướng suy nghĩ về nạn dịch bại liệt đang túc trực trong đầu anh. Anh không muốn bất hòa với bất kỳ ai trong nhà Steinberg, chí ít là với Marcia; với nàng, mùa lễ Rosh Hashanah (hai ngày nghỉ đầu năm mới) và Yom Kippur (ngày chuộc tội) là cội nguồn của lòng sùng kính và là thời gian dành cho người cầu nguyện khi nàng thành kính dự lễ ở giáo đường cùng gia đình suốt cả ba ngày. Anh muốn tỏ rõ sự tôn trọng tất cả những gì gia đình Steinberg trân trọng, bao gồm, đương nhiên, tôn giáo mà anh cũng theo như họ, thậm chí, giống như ông ngoại - với anh bổn phận là một tín ngưỡng, chứ không phải ngược lại - anh không phải là người tích cực hành lễ. Và trước giờ với anh, thật là dễ dàng để toàn tâm thờ phụng rồi đến cái khoảnh khắc khi anh nhận thấy cơn giận của mình đang trỗi dậy bởi tất cả lũ trẻ anh bị mất vì bại liệt, kể cả cặp anh em bướng bỉnh nhà Kopferman. Cơn giận dữ nơi anh không nhắm vào đám choai choai người Ý, lũ ruồi, thư từ, bơ sữa, tiền giấy, thị trấn Secaucus hôi hám, cái nóng tàn tệ hay Horace, không nhắm vào bất kỳ nguyên nhân nào, tuy nhiên ít khi, loài người, trong cơn giận hay lúc rối trí của mình, có thể trở nên tiến bộ trong nhận thức về bệnh dịch, thậm chí không phải để kết án vi-rút bại liệt, mà là để chống lại ngọn nguồn, kẻ gây ra nó - chống lại Chúa, người tạo ra vi-rút.
"CỨ THẾ NÀY THÌ cháu phát ốm mất thôi, Eugene." Bữa tối đã xong, anh đang lau dọn còn bà ngoại thì ngồi bên bàn ăn nhấp từng ngụm nước trong bình đá. "Cháu chạy ào ào tới sân chơi," bà nói, "cháu vội vã tới thăm gia đình lũ nhỏ, Chủ Nhật cháu lại hối hả chạy tới dự lễ tang, rồi gấp rút chạy về giúp bà vào buổi tối - có lẽ cuối tuần này, trong tiết trời nóng nực thế này, cháu phải bớt công bớt việc, bắt chuyến tàu lửa xuôi xuống bờ biển và kiếm lấy một cái giường mà nghỉ cuối tuần đi cháu ạ. Nghỉ ngơi hoàn toàn. Rời bỏ nóng nực. Rời xa sân chơi. Đi bơi. Làm thế sẽ có vô khối cái tốt cho cháu đấy."
"Đấy cũng là một cách không tồi bà nhỉ."
"Vợ chồng nhà Einneman có thể phụ giúp bà mà, rồi đêm Chủ Nhật cháu sẽ trở về tươi tắn, khỏe khoắn. Dịch bệnh bại liệt nó làm cháu phát ốm mất. Cháu mà ốm thì chả có gì hay ho hết."
Trong bữa tối, anh đã kể cho bà về ba ca lây nhiễm mới ở sân chơi và rằng anh sẽ điện thoại tới nhà mấy cậu bé ấy khi gia đình họ từ bệnh viện trở về.
Trong lúc ấy, tiếng còi lại vang lên, nghe rất gần khu nhà, điều này thật khác thường, bởi cho đến lúc này chỉ có cùng lắm ba hay bốn ca bệnh trong tam giác dân cư được tạo bởi ba đại lộ Springfield, Clinton và Belmont. Số ca bệnh ở khu dân cư này là thấp nhất trong toàn thành phố. Ở đỉnh phía nam của tam giác, nơi anh sống cùng với bà ngoại và là nơi số người thuê nhà bằng một nửa so với ở khu Weequahic, mới chỉ có một ca nhiễm bệnh bại liệt - nạn nhân là một người lớn, ba mươi tuổi, một công nhân bốc vác làm việc ở cảng - trong khi ở khu Weequahic, nơi có năm trường tiểu học, chỉ tính riêng trong tuần đầu tháng Bảy đã có hơn một trăm bốn mươi ca bệnh, tất cả đều là trẻ em dưới mười bốn tuổi.
Đúng rồi, dĩ nhiên là thế - bờ biển, nơi có một vài đứa trẻ trong sân chơi của anh đã thoát ly thành phố cùng với cha mẹ đến sống những ngày hè còn lại. Anh biết một căn nhà có phòng cho thuê khá gần bãi biển trên phố Bradley, ở đó có thể kiếm được một phòng dưới hầm với giá một đô-la. Anh có thể nhảy cầu mức cao ở hồ bơi nước mặn lớn gần đó, nhảy suốt cả ngày và khi đêm tới, anh sẽ đi dạo trên lối đi lót ván dọc bờ biển tới công viên Asbury kiếm một mớ sò rán và một chai nước ngọt có ga làm từ rễ cây tại khu mái vòm, rồi anh sẽ ngồi trên băng ghế nhìn ra biển và thưởng thức bữa tiệc trong lúc ngắm những con sóng xô bờ. Có chỗ nào tránh trú khỏi dịch bệnh bại liệt ở Newark tốt hơn, có thứ gì bổ dưỡng với anh hơn là màn đêm Đại Tây Dương thăm thẳm, ầm vang tiếng sóng? Kể từ lúc chiến tranh nổ ra, đây là mùa hè đầu tiên mà sự nguy hiểm đến từ những chiếc tàu ngầm Đức xuất hiện ở những vùng biển gần đó hay lũ người nhái Đức xâm nhập vào bờ lúc đêm tối đã được coi là không còn nữa, lệnh cắt điện tạm thời đã được bãi bỏ, và - mặc dù lực lượng bảo vệ bờ biển vẫn phải đi tuần tra và những công sự bê-tông ngầm dọc bờ biển vẫn được duy trì - suốt dọc bờ biển Jersey lại sáng trưng ánh điện. Điều ấy có nghĩa rằng cả quân Đức lẫn quân Nhật đang phải hứng chịu những thất bại nặng nề và rằng sau gần ba năm kể từ ngày đầu bùng nổ, cuộc chiến của nước Mỹ đang đi tới hồi kết. Điều ấy cũng có nghĩa rằng hai người bạn học chung cao đẳng thân thiết của anh, Jake Lớn Garonzik và Dave Jacobs, sẽ trở về bình an vô sự nếu như họ có thể giữ được nguyên vẹn cơ thể trong những trận đánh còn lại trên đất châu Âu. Anh nghĩ tới bài hát mà Marcia rất thích: "Em sẽ gặp lại anh ở tất cả những nơi chốn quen thuộc ngày xưa" Sẽ tới ngày ấy, anh nghĩ, cái ngày mà anh có thể gặp Jake và Dave ở những nơi chốn quen thuộc ngày xưa!
Anh không bao giờ vượt qua được nỗi tủi hổ khi không được ra chiến trường cùng hai người bạn, tất cả chỉ vì anh không thể làm gì để thực hiện được nguyện vọng ấy của mình. Họ cùng nhau lên một chuyến bay, nhảy dù xuống và lao vào cuộc chiến - là những việc anh muốn được làm, chính xác là những việc anh đã được nuôi dưỡng để thực thi. Khoảng sáu tuần trước, vào lúc tờ mờ sáng ngày D[[1]], họ cùng đại lực lượng lính dù đã nhảy xuống phía sau phòng tuyến quân Đức ở bán đảo Normandy. Do vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình hai người bạn, anh biết rằng trong cuộc tấn công đó, mặc dù bị thương nhiều lần, họ vẫn sống sót. Theo dõi các bản đồ đánh dấu những bước tiến của quân đồng minh, anh chắc rằng họ đã có một trận đánh ác liệt nhằm chiếm cho được thị trấn Cherbourg thuộc nước Pháp trong những ngày cuối tháng Sáu. Mục đầu tiên Cantor tìm kiếm đọc trên tờ Tin Tức Newark bà ngoại anh mang từ nhà Einneman về mỗi tối sau khi vợ chồng họ đã đọc xong, là bất cứ tin gì có liên quan đến chiến dịch của quân đội Mỹ tại Pháp mà anh có thể tìm thấy. Sau đó, anh đọc đến chuyên mục trên trang nhất của tờ Tin Tức có tiêu đề "Bản tin bại liệt hằng ngày" và nó xuất hiện ngay dưới bảng cảnh báo cách ly được in lặp đi lặp lại mỗi ngày. Bảng ghi: "Ủy ban Y tế thành phố Newark, bang New Jerse. Cấm vào. Căn nhà này có một ca bại liệt. Bất cứ người nào vi phạm những quy tắc và quy định về cách ly và kiểm dịch hoặc ai cố tình di dời, xóa chữ hay che khuất tấm biển này mà không được phép sẽ bị phạt 50 đô-la." Bảng tin bại liệt còn được đọc trên đài phát thanh địa phương, cập nhật cho người dân ở Newark con số ca bệnh và vị trí của mỗi ca bệnh trong thành phố. Trong hè này cho đến giờ, những gì người ta nghe thấy hay đọc được trong các bản tin chưa bao giờ là những điều họ trông mong - rằng dịch bệnh đang trên đà suy yếu - mà toàn những ghi nhận về ca bệnh mới lại tăng lên so với ngày hôm trước. Tác động của những con số dĩ nhiên là làm mọi người nản lòng, hoảng sợ và lo lắng. Vì những con số này không liên quan đến riêng ai, người ta đã quen với chúng qua đài phát thanh hay trên báo chí, như những con số cho biết địa chỉ một ngôi nhà, tuổi tác của một người hay giá của một đôi giày. Chúng là những con số đáng sợ được lập thành biểu đồ ghi nhận sự tiến triển của căn bệnh khủng khiếp trong mười sáu tiểu khu của Newark và có tác động không kém gì những con số tử vong, thương tật và mất tích trong cuộc chiến có thực. Bởi vì đây cũng là một cuộc chiến có thực, một cuộc chiến tàn sát, hủy hoại, thê lương và đáng nguyền rủa, cuộc chiến với những tàn phá của chiến tranh - cuộc chiến nhằm vào trẻ em ở Newark.
ĐÚNG THẾ, anh hoàn toàn có thể bỏ ra vài ngày nghỉ để ra bờ biển. Điều này, thật ra, anh đã lên kế hoạch thực hiện từ đầu hè - khi Marcia đã rời thành phố, đi ra bờ biển vào tất cả những ngày cuối tuần để chơi môn nhảy cầu cho hết ngày và rồi bước dọc những tấm ván lát đường, đến Asbury vào mỗi tối để ăn các món hải sản yêu thích. Tầng hầm chỗ cho thuê võng thật tối tăm, nước từ chiếc vòi hoa sen dùng chung thì rất nóng và trong vải trải cùng khăn mặt có đầy cát, nhưng, đó chỉ là thứ yếu so với trò ném lao, nhảy cầu là những môn thể thao anh mê thích. Hai ngày nhảy cầu sẽ giúp anh rũ bỏ, ít ra là tạm thời, mối bận tâm về lũ học trò bị mắc bệnh và tỉnh trí lại sau cơn cuồng điên của Kenny Blumenfeld và có cơ may giải tỏa khỏi tâm trí anh ý nghĩ hận thù đối với Chúa.
Rồi sau đó, khi bà ngoại đã ra ngoài gặp láng giềng và anh cũng vừa dọn dẹp xong xuôi, đang mặc áo may-ô, quần đùi, vừa ngồi xuống trước bàn chưa kịp uống thêm một cốc nước lạnh, thì Marcia gọi. Bác sĩ Steinberg đã đồng ý chờ để Bucky nói chuyện với Marcia trước khi ông hay bà Steinberg nói bất cứ điều gì với con gái về chuyện đính hôn, nên nàng điện thoại mà không hề biết gì về cuộc nói chuyện ở gian phòng phụ sau nhà buổi tối trước đó. Nàng gọi để nói với anh rằng nàng yêu anh, nàng nhớ anh và để xem anh đã quyết định ra sao về việc đến khu trại để tiếp quản chân quản lý bến tắm từ Irv Schlanger.
"Em phải nói gì với ông Blomback đây anh?" Nàng hỏi. "Nói là anh đồng ý," Bucky bảo, và anh bất ngờ với chính mình về điều vừa đồng ý không kém gì với việc anh hỏi xin phép bác sĩ Steinberg được đính hôn với con gái ông. "Nói với ông ấy rằng anh sẽ đến làm," anh nói. Vậy là anh đã quyết nghe lời khuyên của bà và sẽ đi ra bờ biển vào cuối tuần, sẽ gom góp lại sức lực bản thân để tươi khỏe lại khi quay về với công việc. Nếu Jake và Dave có thể nhảy dù xuống Pháp, vùng bị bọn quốc xã chiếm đóng, vào ngày D và cùng quân đồng minh trụ vững ở vị trí bàn đạp bằng cách tiến đánh Cherbourg, đè bẹp sự chống trả ngoan cố nhất của quân Đức, thì chắc chắn là anh cũng hoàn toàn có thể đối mặt với những nỗi hiểm nguy khi điều hành sân chơi nơi trường Chancellor Avenue vào giữa trận dịch bại liệt.
"Ôi, Bucky," Marcia thổn thức, "Tuyệt trần! Biết anh quá rõ nên em đã vô cùng lo sợ rằng anh sẽ nói rằng không. Ôi, anh sẽ đến, anh sẽ đến Indian Hill!"
"Anh sẽ phải điện thoại cho O’Ga-ra để nói với ông ấy, và ông ấy sẽ phải tìm người thay anh. O’Ga-ra là người phụ trách sân chơi ở văn phòng điều hành. Chắc cũng phải mất vài ngày đấy em ạ."
"Vâng, làm nhanh nhất có thể nhé anh!"
"Anh sẽ phải đích thân nói chuyện trực tiếp với ông Blomback về lương bổng. Anh phải thuê nhà và lo cho bà ngoại."
"Em tin là chuyện lương bổng không thành vấn đề đâu." "Và anh phải nói chuyện với em về chuyện đính hôn," anh nói.
"Cái gì? Anh làm gì?"
"Chúng mình sẽ đính hôn, Marcia ạ. Vì thế mà anh nhận việc này. Ở nhà em tối qua, anh đã xin phép bố em rồi. Anh sẽ đến khu trại và chúng mình sẽ đính hôn." "Chúng mình á?" Nàng thốt lên, và bật cười. "Dù em có là một cô gái dễ bảo thật, nhưng đấy có phải là lời cầu hôn theo đúng lệ thường đâu anh?"
"Thế à? Anh đã làm việc này bao giờ đâu? Em có bằng lòng làm vợ anh không?"
"Tất nhiên là có chứ! Ôi lạy Chúa tôi, Bucky, em sung sướng quá!"
"Anh cũng thế," anh đáp, "vô cùng hạnh phúc," và khi ấy, bởi niềm hạnh phúc ấy, anh hầu như đã có thể quên việc phản bội lũ trẻ nơi sân chơi; anh hầu như đã có thể quên niềm oán giận của mình với Chúa về sự khủng bố giết chóc lũ trẻ vô tội ở Weequahic. Nói với Marcia về việc đính hôn của họ, anh đã gần như có thể nhìn nhận sự việc theo cách khác và để mau chóng nắm lấy sự an toàn và tính chất ổn định, vui vẻ của một cuộc đời bình thường trong một thời đại bình thường. Nhưng khi đã gác máy, anh phải đối diện với những quan niệm của bản thân - những quan niệm về sự trung thực và sự kiên cường mà ông ngoại từng khuyến khích, những quan niệm về sự can đảm và đức hy sinh mà anh đồng cảm cùng với Jake và Dave, những quan niệm ông ngoại đã ủng hộ nơi anh thuở thiếu thời để giữ bản thân anh tránh xa thiên hướng lươn lẹo của người cha chuyên gạt gẫm - những quan niệm làm người trong anh, chúng đòi hỏi anh phải lập tức quay ngược và trở về làm ở nơi mà anh đã ký hợp đồng cho đến hết mùa hè.
Sao anh có thể làm cái điều mà anh vừa mới làm chứ?
BUỔI SÁNG, anh mang các đồ dùng, dụng cụ cần thiết từ dưới kho lên và với số lượng chưa đến hai mươi đứa tới sân, anh lập nên hai đội bóng mềm. Sau đó anh quay trở lại văn phòng của mình dưới tầng hầm gọi cho O’Ga-ra, báo với ông ta rằng anh sẽ nghỉ việc kể từ cuối tuần để tới làm quản lý bãi tắm tại một khu trại ở Pocono. Sáng hôm ấy, trước khi tới sân chơi, anh đã nghe được tin trên đài phát thanh rằng có hai mươi chín ca bệnh bại liệt mới trong thành phố, trong đó mười sáu ca ở khu Weequahic.
"Cậu là người thứ hai trong sáng nay đấy," O’Ga-ra thốt lên. "Có một cậu Do Thái ở sân chơi trên đại lộ Peshine cũng vừa mới bỏ rơi tôi." O’Ga-ra là một ông già có vẻ ngoài mệt mỏi, tính thẳng ruột ngựa và trong ông có cả hai con người trái ngược, một nhà quản lý lâu năm các sân chơi trong thành phố và một cựu cầu thủ bóng chày can đảm của đội Central High hồi chiến tranh thế giới thứ nhất, lúc ông còn ở đỉnh cao của cuộc đời mình. Câu ông nói không thô lỗ cho lắm, song nó khiến Bucky áy náy và làm anh cảm thấy có gì đó lươn lẹo, nhặt nhạnh kiểu con nít trong lời lẽ bào chữa cho quyết định của mình. Tính khí cộc cằn của O’Ga-ra không hẳn là không giống như của ông anh, có lẽ bởi nó cũng được định hình trên những đường phố khắc nghiệt ở tiểu khu ba. Ông ngoại anh, đương nhiên, là người cuối cùng anh muốn nghĩ tới trong những lúc anh làm gì đó khác quá xa với con người thực của mình. Anh muốn nghĩ tới Marcia, tới gia đình nhà Steinberg và tới tương lai, nhưng thay vào đó lại là ông ngoại đang lên án anh với chất giọng có pha chút âm điệu Ireland.
"Anh chàng mà cháu tiếp quản công việc tại trại hè đã được gọi nhập ngũ," Bucky đáp. "Thế nên cháu phải tới đó vào thứ Sáu."
"Đây là những gì tôi nhận được khi giao cho cậu một công việc béo bở ngay khi mới ra trường được có một năm đấy hả? Cậu có biết rằng không thể gạt tôi bằng cái trò mèo này không? Cậu có hiểu rằng bỏ tôi trong hoạn nạn vào tháng Bảy như thế này sẽ khiến tôi cạch hẳn cái mặt cậu ra không hả cậu Cancer?"
"Cantor chứ ạ," Bucky chỉnh lại như anh vẫn thường làm mỗi khi họ nói chuyện.
"Tôi không cần biết có bao nhiêu anh chàng sẽ nhập ngũ," O’Ga-ra nói. "Tôi không thích những kẻ bỏ rơi tôi giữa chừng trong hoạn nạn." Và rồi, ông nói thêm, "đặc biệt là những người không nhập ngũ."
"Cháu xin lỗi vì phải rời đi, ông O’Ga-ra. Và," anh nói giọng chói tai hơn dự tính, "cháu rất tiếc vì cháu không nhập ngũ - tiếc hơn nhiều so với ông nghĩ đấy." Để khiến sự việc trở nên tồi tệ hơn, anh nói thêm, "Cháu phải đi, cháu không còn lựa chọn nào khác."
"Cái gì?" O’Ga-ra lại nổi cáu. "Cậu không còn lựa chọn nào khác? Chắc chắn là cậu có một đấy. Cái cậu đang làm được gọi là một lựa chọn đấy. Cậu đang chọn cách chạy trốn khỏi căn bệnh bại liệt. Cậu ký hợp đồng làm việc, và rồi có dịch bại liệt, thì mặc xác công việc, mặc xác lời cam kết, cậu chạy bán sống bán chết. Tất cả những gì cậu đang làm chính là chạy cho xa, cậu Cancer ạ, một cậu chàng lực sĩ vô địch thế giới như cậu. Cậu là một kẻ cơ hội, Cancer. Tôi có thể dùng từ nặng nề hơn, nhưng thế cũng được rồi." Và rồi, đột ngột, ông nhắc lại, "một kẻ cơ hội," như thể từ này là đại diện cho tất cả bản tính hèn hạ có thể nêu bật được tính cách xấu xa nơi một con người.
"Vợ chưa cưới của cháu đang ở trên trại hè ấy," Bucky đáp, chẳng ăn nhập gì với lời của O’Ga-ra.
"Cậu cũng có vợ chưa cưới ở trại hè ấy khi cậu ký hợp đồng ở Chancellor."
"Không, không, cháu không có," anh vội vàng nói như thể với O’Ga-ra điều ấy sẽ làm nên được sự khác biệt. "Chúng cháu mới đính hôn trong tuần này."
"Được rồi, cậu đã có lý do để giải thích cho mọi chuyện. Giống như anh chàng ở Peshine. Mấy anh chàng Do Thái nhà các cậu ai cũng có lý do lý trấu. Không, cậu không ngốc - nhưng O’Ga-ra cũng không, Cancer nhé. Được rồi, được rồi, tôi sẽ cử người lên đó tiếp nhận công việc của cậu nếu như trong thị trấn này có ai đó phù hợp với vị trí ấy. Trong khi đó, cậu sẽ có dịp được nô giỡn, phơi nắng với cô bạn gái ở cái trại hè dành cho con nít ấy."
Không kém phần nhục nhã so với những gì anh đã hình dung nhưng anh đã nói và sự việc đã kết thúc. Giờ anh chỉ còn phải trải qua ba ngày nữa ở sân chơi và cố làm sao để không bị dính bại liệt.
❀ ❀ ❀
[1] . D-Day (Designated Day) là ngày 6/6/1944 khi lực lượng đồng minh trong đó có quân Mỹ đổ bộ lên miền bắc nước Pháp bắt đầu tham gia giải phóng châu Âu khỏi sự chiếm đóng của phe phát-xít.