Cánh Đồng Phía Tây

Cánh Đồng Phía Tây

Lượt đọc: 53 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Tiếng sấm rền rĩ mãi ở phía Tây nhìn về nơi đó, những đỉnh núi trùng điệp như bị chìm lấp hết trong mây đen vần vụ. Chớp sáng chốc chốc lại vọt lên lằng nhằng dữ tợn. Bà Lợi, phó chủ tịch phụ nữ tỉnh X, trưởng đoàn phụ nữ lên mặt trận úy lạo binh sĩ, chép miệng nói với những người trong đoàn cùng đang tạm trú ở một chiếc lán cách đường cái không bao xa:

- Mưa! Trên ấy khéo mưa. Anh em bộ đội lại khổ lắm đây. Các chị hẳn còn nhớ Tỉnh hội mình cũng đã đi những chiến dịch như Hoàng Hoa Thám - Hà Nam Ninh. Cũng mưa. Khổ hết chỗ nói. Buồn cười, còn nhớ một cậu bộ đội còn trẻ lắm, khiêng pháo, leo đèo, giữa lúc mưa to, cứ mếu máo khóc: “Cha sinh mẹ đẻ chưa bao giờ khổ đến như thế này. Khổ ơi là khổ! Ước gì tàu bay nó bắn chết mẹ đi, cũng còn sướng”...

Mọi người cùng cười theo, tiếng cười con gái và đàn bà thật giòn giã, trong trẻo.

Trời cũng vừa nhá nhem. Bà Lợi ra hiệu cho mọi người lên đường sớm hơn thường lệ ba mươi phút:

- Ta tranh thủ, các chị, các cô ạ! Giờ này, lại tối trời, chắc mấy thằng phi công bay trở về Gia Lâm, Cát Bi ráo rồi. Còn tắm rửa, rồi mở sâm banh, ăn bữa tối và nhảy đầm nữa chứ.

Mọi người cùng nhận thấy bữa nay bà Lợi như vui vẻ khác hẳn. Phải chăng vì sắp tới Điện Biên Phủ? Tối nay đoàn sẽ vượt đèo Pha Đin. Tối mai tới Tuần Giáo. Nếu không gặp khó khăn đường sá, hoặc máy bay, bom nổ chậm... thì có lẽ có thể vào sâu địa phận Điện Biên Phủ chừng hai chục cây số...

Sấm vẫn rền rĩ phía chân trời Tây Bắc tím bầm với những tia chớp lằng nhằng dữ tợn. Một chiếc xe tải Mô-lô-tô-va cũ kỹ, rách nát đã bò tới chờ sẵn ở bên đường. Bà Lợi, là trưởng đoàn được ưu tiên lên ca bin ngồi cùng lái xe, còn toàn đoàn leo lên quầy phía sau. Một nửa quầy đã chất đầy hàng quân sự, kể cả quà biếu của đoàn: bánh, mứt, kẹo, trà, thuốc, đường, sữa... Nửa quầy còn lại được trải hai chiếc chiếu cá nhân ghép lại cho cả đoàn cùng chú phụ lái và một chú bộ đội áp tải xe, ngồi quây quần trò chuyện.

Chiếc xe bắt đầu lăn bánh. Toàn đoàn đã lên đẩy đủ. Gọi là đoàn đại biểu phụ nữ, nhưng thật ra không phải chỉ có toàn đàn bà mà còn có cả một “đấng nam nhi”, đó là đổng chí Văn Túc, trưởng ban Tuyên huấn kiêm chủ bút tờ báo Phụ nữ tỉnh. Vốn tính vui vẻ lại thêm cái bệnh nghề nghiệp hay nói, Văn Túc thường tâm sự với mọi người: “Nếu không phải là thằng đảng viên, Đảng đặt đâu ngồi đấy, thì tớ đã tếch từ lâu rồi. Các bố chán bỏ mẹ, ai đời lại bắt một thằng đàn ông vào làm việc lọt thỏm trong một thế giới toàn đàn bà!

Chẳng phải ngại “Kính thưa chị”, “Kính thưa các em”. Không phong kiến, sĩ diện đến nỗi thế! Cái chính là cứ phải luôn luôn gồng mình lên để khỏi... phạm kỷ luật. Uất lắm, cái thân mình thật chẳng kém gì thằng hoạn quan các ông ạ”...

Vừa lên xe, một chị nào đó đã nhớ ngay tới Văn Túc:

- Này, Văn Túc tiên sinh, tối qua đã kể chuyện Him Lam, tối nay, kể tiếp đồi Độc Lập đi!

Mọi người cùng nhao nhao họa theo. Văn Túc làm ra bộ khiêm tốn:

- Nói vậy chứ, tôi cũng chỉ đi nhặt nhạnh tin tức thôi... Các chị, các cô cứ làm như tôi được trực tiếp chiến đấu ở trên ấy không bằng.

- Ồ, không sao? Nhưng mà anh tổng hợp giỏi đấy! Phải chịu tài con nhà tuyên huấn. - Một chị động viên.

Văn Túc vẫn còn cố làm ra vẻ ngần ngại:

- Cũng không có gì nhiều lắm đâu. Chỉ có điều là tôi phải chịu khó sang bên Tỉnh ủy nghe nhờ cái đài bên ấy. Nhưng cái của nợ ấy có lẽ sản xuất từ thời đồng chí Xit-ta-lin còn đi học cấp hai thì phải, nên cứ nói được mấy phút nó lại câm bặt. Lắc thế nào thì lắc, cứ ỳ ra. Nhưng té ra thân lừa ưa nặng các vị ạ, cứ đập cho đánh bốp một cái, thế là lại nheo nhéo: “Thưa các đồng chí và các bạn, đây là tiếng nói Việt Nam...”.

Mọi người cười bò ra.

- Thôi, thôi, lạc đề. Tán mãi, bắt đầu đi nào - Một chị xua tay. Bấy giờ Văn Túc mới trở lại nghiêm chỉnh, hắng giọng:

- Vâng, thôi được, tối qua tôi đã kể Him Lam với anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Tối nay, tôi sẽ kể tới trận thứ hai. Đó là trận tiêu diệt cụm cứ điểm trên đồi Độc Lập, cũng nhằm để mở cửa tập đoàn cứ điểm. Đây cũng là một trận cực kỳ ác liệt và oai hùng không kém gì Him Lam.

- Không biết hôm nay ở trên ấy đã đánh tiếp đến đâu rồi nhỉ? - Một chị bỗng xen vào hỏi.

Mọi người cùng ồ lên:

- Đừng ngắt lời anh ấy. Cứ kể tiếp đi anh Văn Túc.

Văn Túc gật đầu:

- Vâng, nếu như ở Him Lam có anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai, thì trong trận đồi Độc Lập cũng có các dũng sĩ Nguyễn Văn Ti và Phan Bá Tuệ đã tung hoành ở cửa mở như những thiên thần...

Trong lúc Văn Túc đang kể chuyện trên xe, thì từ những cánh rừng hai bên đường, những đoàn bộ đội nai nịt gọn gàng, cùng các đoàn dân công đã lũ lượt kéo ra, kín trên mặt đường, dài như tới vô tận. Dân công Kinh có, Tày Nùng có, Mường Thái có, H’mông, Sán Dìu, Mán đỏ, Mán tiền có, Khu ba có, Thanh - Nghệ có... và cả những đoàn xe đạp thồ với “tay ngai”, gậy chống tua tủa, nghênh ngang. Chưa hết, cũng từ các cánh rừng khe suối, từng đoàn xe hơi vận tải ầm ì tiến ra. Đủ các kiểu đủ các loại: xe Nga có, xe Trung Quốc có, cả xe GMC của Mỹ mà quân ta đã thu được qua các chiến dịch trước. Tất cả hợp thành những công-voa dài dặc cài lá ngụy trang bù xù như những đoàn voi thần thời tiền sử, hòa cùng những dòng người kĩu kịt cùng hối hả tiến về trước, nơi đang có nhiều tiếng sấm ì ầm và những tia chớp lằng nhằng dữ tợn. Nơi ấy là Điện Biên. Nơi ấy đang là rận lớn nhất trong lịch sử chiến tranh cận đại của Tổ quốc. Nơi ấy, ai cũng biết, đang là một trận đánh có thể là trận quyết chiến cuối cùng...

Trên ca bin xe, bà trưởng đoàn cứ thò đầu ra để ngắm nhìn quang cảnh “trẩy hội chiến dịch”. Bà thốt lên với anh lái xe nhưng cũng như để nói với chính mình:

- Người đâu mà lắm thế! Như cả nước ra trận vậy!

Anh lái xe cũng có vẻ hào hứng:

- Chắc chị mới được thấy trên đường này thôi. Còn nhiều con đường khác cũng dẫn tới Điện Biên, cũng như trẩy hội cả. Đúng là tất cả cho tiến tuyến, tất cả cho Điện Biên. Mà còn cả đường thủy nữa chị ạ. Tụi bạn em nó bảo Trung ương phái lên phía Lai Châu nhiều công binh lắm. Để phá thác mở luồng cho thuyền bè chuyên chở gạo, đạn cho Điện Biên. Nghe nói có nhiều anh em công binh rất dũng cảm đã phá được nhiều thác dữ, như anh Phan Tư, dân bản Mường đã gọi anh ấy là “Con trai của thủy thần”...

Ở quầy xe phía sau, Văn Túc vẫn đang thao thao kể chuyện đánh đồi Độc Lập. Anh nói chuyện quả là có duyên. Tuy vậy, có chị tinh ý nhận thấy, anh vẫn như chưa trổ hết tài nghệ, còn có chút dè giữ nào đó. Anh hay liếc nhìn về phía một người đàn bà còn trẻ ngồi hơi lui về phía sau mọi người. Đó là Nguyệt Lệ, thành viên trẻ nhất trong đoàn và cũng là người đẹp nhất trong đoàn. Nguyệt Lệ đã lấy chồng được hai năm nay, khi cô mới hai mươi hai tuổi. Đúng là Văn Túc có phần như không được hoàn toàn tự tin trước Nguyệt Lệ.

Sắc đẹp dễ làm cho người khác phải bối rối. Hơn nữa, Văn Túc biết chồng Nguyệt Lệ là một cán bộ cao cấp trong quân đội. Vậy rất có thể chồng cô cũng đã kể cho cô nghe hết mọi chuyện về Him Lam và đồi Độc Lập.

Tuy vậy, Nguyệt Lệ vẫn tỏ ra chăm chú như tất cả mọi người. Cô quả là rất đẹp. Nhưng rất ít nói. Dường như để thay cho những lời nói là một nụ cười rất có duyên với hai cái lúm đồng tiền nho nhỏ. Đôi mắt dài đen thăm thẳm có một sức hút thầm kín rất lạ. Tuy đã có chồng, nhưng cô vẫn để tóc thề, mái tóc đen huyền, óng ả, buông xõa trên đôi vai tròn đẹp như vai tượng. Văn Túc đã được biết đôi điều về Nguyệt Lệ: cô tốt nghiệp trung học kháng chiến thì được sang Hoa Nam (Trung Quốc) theo học sư phạm cùng một số anh chị em khác. Sau ba năm, cô trở về, và lấy chồng. Chồng cô là Hồng Đăng, lúc đó đang là một trung đoàn trưởng khá nổi tiếng. Anh đã xin cho Nguyệt Lệ về cơ quan phụ nữ tỉnh, không muốn cho cô dạy học, e vất vả. Nguyệt Lệ rất thông minh, lại biết cách ứng xử, nên được bà hội trưởng rất quý, thường dùng như thư ký riêng, mặc dầu Nguyệt Lệ ở ban nữ công. Đã hai năm, hai vợ chồng vẫn chưa có con. Hồng Đăng đang hết sức băn khoăn. Nhưng trái lại Nguyệt Lệ vẫn bình thường như không. Cô nói cô chưa muốn có con. Nghe nói hai vợ chổng không nhất trí với nhau về việc này, nhưng họ vẫn sống với nhau rất êm đẹp.

Câu chuyện về đồi Độc Lập của Văn Túc vừa kết thúc thì có tiếng thét ở phía trước rồi một người cầm một chiếc đèn pin bọc vải xanh hiện ra ở đầu mũi xe:

- Có tiếng máy bay đấy. Dừng lại!

Chiếc xe phanh cứng. Mọi người cùng vội vã nhảy xuống, chạy dạt vào cánh rừng ở bên đường. Cũng như mọi đêm, chạy máy bay hoặc phải xuống xe qua phà, qua ngẩm, hoặc chờ phá bom nổ chậm, Văn Túc thường luôn ở bên cạnh Nguyệt Lệ.

Hai người cùng đứng nấp sau một thân cây cổ thụ, lắng tai, hồi hộp nghe ngóng. Tiếng máy bay ì ì ở khá xa, phía Sơn La thì phải. Giờ phút chờ đợi hơi lâu, vốn tính hay chuyện, Văn Túc lại cất tiếng hỏi:

- Này, cô Nguyệt Lệ, chắc ở nhà, trước khi đi, anh Hồng Đăng cũng đã kể cho cô nghe hết chuyện về Him Lam, Độc Lập rồi phải không?

Nguyệt Lệ lắc đầu. Trong bóng đêm lờ mờ, gương mặt cô càng đẹp một cách dịu dàng và thầm kín.

- Không. Anh Đăng nhà tôi đi từ trước Tết.

Văn Túc ngạc nhiên:

- Trước Tết? Đi chuẩn bị cho Điện Biên từ trước Tết?

Nguyệt Lệ nho nhỏ:

- Vâng, nhưng lúc đó tôi không biết anh đi đâu. Anh ấy giữ bí mật không nói. Nhưng nay thì chắc là anh ấy đang ở Điện Biên.

Văn Túc tươi cười:

- Này, giá anh Đăng vẫn còn ở đơn vị, không lên Tổng cục Hậu cần thì chắc chuyến này ông ấy chỉ huy đánh Him Lam, Độc Lập là cái chắc. Trước kia anh Đăng đã có tiếng là “húc” khá lắm mà.

Nguyệt Lệ im lặng. Câu nói của Văn Túc đã gợi lại cho cô kỷ niệm cũ: Hè 1952, vừa từ khu học xá Hoa Nam trở về, chưa nhận công tác, một hôm cô nhận được giấy mời của Sở Giáo dục Liên khu, mời tới dự nghe một buổi nói chuyện thời sự mặt trận. Người nói hôm ấy là Hồng Đăng. Trên ba mươi tuổi nhưng anh vẫn còn trẻ. Áo blu - dông Mỹ chiến lợi phẩm, dây lưng cũng Mỹ với khẩu côn bát xệ một bên hông. Một đôi giầy cao cổ với ghệt ngắn cũng của Mỹ. Một con ngựa tía rất đẹp buộc ngay ở lối vào hội trường X. Một cậu chiến sĩ khoác tiểu liên luôn đứng quanh quẩn ở gần chỗ Hồng Đăng ngồi... Anh có hoàn toàn đầy đủ dáng vẻ một “người hùng” mà nhiều cô gái trong kháng chiến thường mơ ước. Và không phải chỉ có cái dáng vẻ hấp dẫn ấy. Hồng Đăng còn tỏ ra có tài nói chuyện. Hôm ấy anh nói về trận tiêu diệt đồn Bản Toọc mà chính anh là người chỉ huy cao nhất ở đó. Khi nói xong, Hồng Đăng trở lại chỗ ngồi, mọi người vỗ tay vang dậy. Một số người còn đổ xô tới bắt tay và gần như công kênh anh lên trong những tiếng hò reo vui vẻ. Tới giây phút ra về, Hồng Đăng đã có một cử chỉ hết sức bất ngờ làm cho mọi người vừa ngạc nhiên vừa thú vị: anh rút chiếc bút máy đang gài trên túi áo ngực, tươi cười nói: “Trước khi trở về đơn vị, tôi xin các đồng chí và các bạn cho tôi một đặc ân là tặng cây bút này, cây bút mà tôi đã ký vào bản mệnh lệnh tiêu diệt đồn Bản Toọc, cho một cô gái bất kỳ nào trong cuộc họp này”. Mọi người đều vỗ tay vang dậy. Trong lúc ai ai cũng còn đang hồi hộp, kể cả Nguyệt Lệ, thì Hồng Đăng đã từ từ bước tới trước mặt cô và dùng cả hai tay đưa chiếc bút tặng cho cô... Cả hội trường như bùng nổ trong một trận sấm vỗ tay. Ai ai cũng biết anh đã tặng cây bút ấy cho cô gái đẹp nhất cuộc họp. Nhưng cũng có người còn biết rõ hơn: Ông Huyến ở Sở Giáo dục, bạn cũ của Hồng Đăng, đã bố trí một màn kịch tuyệt vời để giới thiệu Hồng Đăng với Nguyệt Lệ. Hai người đã quen nhau như thế đấy. Và, cũng không mấy ai ngờ, chỉ mấy tháng sau Nguyệt Lệ đã trở thành vợ của anh...

- Cô Nguyệt Lệ này - Văn Túc lại nói - Lên Điện Biên chuyến này thế nào cô cũng gặp được anh ấy đấy nhỉ? Thật là thú vị đấy!

Nguyệt Lệ chỉ hơi mỉm cười, im lặng. Văn Túc hồ hởi tiếp:

- Còn tôi, chuyến này tôi cũng hy vọng gặp được mấy thằng bạn cũ ở đại đoàn 213 và cả đại đoàn 803. Lâu lắm rồi tụi tôi không gặp nhau. Nói thật, cũng tiếc cho cái thân tôi chẳng được bay nhảy, tung tẩy như chúng nó. Làm thằng con trai, thằng đàn ông thời buổi này mà chỉ nằm ở xó hậu phương, nó chẳng ra làm sao cả, cô ạ!

Nguyệt Lệ lại mỉm cười, một nụ cười rất dịu dàng và thân mật làm cho Văn Túc cũng thấy mát lòng mát ruột:

- Những số phận khác nhau. Làm sao mà ai cũng như ai cả anh? Anh Túc có nhiều cống hiến rất quý cho cơ quan đấy chứ!

Rồi cô bỗng như chăm chú:

- À, mà này, anh Túc ơi, anh là người “cái gì cũng biết”, giao du rộng, anh có biết anh Dũng Linh không nhỉ?

Văn Túc nhíu mày:

- Dũng Linh nào nhỉ? Anh ấy ở đơn vị nào mới được chứ?

- Trước kia anh ấy ở 803, còn bây giờ thì không biết ở đâu.

- Cô... quen anh ấy, hay là bà con?

- Quen. Cũng có thể gọi là... anh nuôi cũng được. Hồi 1948, 1949, ấy ở Thái Nguyên, vâng, hồi ấy gia đình tôi tản cư, ở bến Huống, tôi học trung học ở đấy. Còn đơn vị anh ấy thì đóng đâu ở Kép Le, hoặc Phúc Trìu, Phú Xuân thì phải...

Văn Túc lắc đầu:

- Thế thì tôi không biết cô ạ. Hồi đó tôi đang còn công tác ở phòng thông tin huyện Thanh Ba - Phú Thọ...

Nguyệt Lệ khép lại hai tà áo khoác, và khoanh tay trước ngực cho đỡ lạnh. Cô ngước nhìn lên vòm trời đêm Tây Bắc đen xanh thăm thẳm. Thác Huống. Quả thật cô vẫn chưa sao quên những buổi chiều anh từ đơn vị cuốc bộ ra chơi, hai người cùng đi bên dòng sông yên tĩnh, đẹp vô ngần ấy. Vẫn chưa sao quên cả những buổi học vừa tan tẩm, ra khỏi cổng trường đã thấy anh đang đứng chờ ở đó, áo quần ướt đẫm mồ hôi. “Anh tìm em có việc gì gấp vậy?”, “Không, anh chỉ muốn được gặp em, nhìn thấy em trong chốc lát”. Và đúng như vậy, anh chỉ có thể đi nói chuyện với Nguyệt Lệ được chừng mười lăm, hai mươi phút, sau đó lại hộc tốc quay trở về đơn vị, mà cô biết ở cách xa trường phải tới trên mười cây số đường rừng... Nguyệt Lệ được biết: anh đã học xong trung học, lên ban tú tài chưa trọn khóa thì kháng chiến bùng nổ. Anh trở thành bộ đội. Thoạt đầu, như anh nói, ở Hải Phòng. Sau ra Quảng Ninh, đơn vị anh đã đánh đảo Cô Tô. Hy sinh gần hết chỉ còn một tiểu đội trong đó có anh sống sót, bơi được vào bờ giữa lúc đơn vị đang làm lễ truy điệu... Khá trắng trẻo, mảnh mai. Con người hết sức tế nhị, nhưng vô cùng nồng nhiệt. Các bạn anh nói với cô: đây là chàng trai hào hoa, dễ thương nhất đơn vị. Nhưng rồi anh phải đi mặt trận và cũng dịp đó Nguyệt Lệ cùng một số học sinh được sang nước bạn học tiếp. Vẫn còn nhớ cuộc ra đi của anh vô cùng đột ngột, đến nỗi cô chỉ kịp nhận được một mẩu giấy viết hết sức vội vàng gửi lại: “Anh phải đi đây, Nguyệt Lệ ơi. Trăm ngàn lần xin lỗi em, không kịp đến để chia tay với em. Nhưng, xin hãy hiểu cho anh. Chiến tranh mà em! Biết làm sao hơn? Cũng không dám hẹn cả ngày về. Thế đấy, Nguyệt Lệ ơi, cuộc đời người lính là như vậy, mà từ nay, anh được biết chiến tranh sẽ còn gay go, tàn khốc và lâu dài. Nguyệt Lệ ơi, anh nhớ em, nhớ lắm em ơi, lòng anh như xé, nhưng làm sao được! Nhiệm vụ là phải ra đi...”. Nhận mẩu thư ấy, Nguyệt Lệ không khỏi bật khóc, và cô đã khóc mãi. Có phải đây là những dòng chữ cuối cùng của anh? Có phải đây là những lời tỏ tình bối rối và đau khổ của một chiến sĩ? Quả thật chưa một lẩn anh thổ lộ rõ tình yêu của anh, mặc dầu cô hiểu đầy đủ những gì đã xảy ra trong trái tim anh và cô đã sẵn sàng để đón nhận lấy mối tình đầu tuyệt vời ấy...

Sang tới nước Bạn, mong mòn con mắt cô mới nhận được một lá thư của anh. “... Một lần nữa thần chết đã quá ngán cái mặt anh. Anh lại được trở về Thái Nguyên. Nhưng không còn Thác Huống, không còn Kép Le, Gia Bảy nữa. Anh buồn tưởng chết. Cơn lốc chiến tranh đã cuốn đi, đã tàn phá hết cả, làm mất đi tất cả. Nhưng anh vẫn luôn luôn nghĩ tới em, vầng trăng đẹp nhất của đời anh. Anh luôn nghĩ tới em ngay cả những lúc anh như đang ở trong một lò lửa, hoặc một địa ngục...”. Nhưng rồi sau đó là sự im lặng đến kinh khủng. Nguyệt Lệ đã viết thư nhờ một số bạn tìm tin tức về anh. Nhưng phần lớn đều thất bại. Có người khẳng định anh đã hy sinh trong trận đánh đồn Non Nước - Ninh Bình, năm 1951. Có người nghe nói anh đã chết vì sốt rét ác tính trong rừng sâu Chiêm Hóa... Nhưng ngược lại có người cho biết tình cờ đã gặp anh một lần trên đỉnh đèo Khế, hè 1952. Nhưng gần như không nhận ra anh nữa, cả về phần xác cũng như phần hồn. Không còn đâu chàng trai hào hoa, mà nay là một con người bất cần đời, thậm chí cục cằn và thô lỗ. Toàn thân anh đầy thương tích. Không còn biết tin ai nữa, năm sau Lệ trở lại Thái Nguyên. Gần như còn chân ướt chân ráo, Nguyệt Lệ đã gặp Hồng Đăng như ta đã biết... Đám cưới của cô không phải đã không có những tiếng xì xầm trong đám bạn bè. “Chết mệt vì ngựa hồng côn bạt mà!”. Nguyệt Lệ đã phải cắn răng chịu đựng. Đã mấy ai hiểu cho cô: đám cưới ấy đâu có phải vì “ngựa hồng côn bạt”, mà chủ yếu là một sự đền ơn đáp nghĩa. Thật vậy, đã mấy ai hiểu được nỗi lòng và gia cảnh của cô năm đó khốn khổ và túng quẫn đến thế nào: cha hy sinh ở Hà Nội tháng Chạp 1946. Có độc một anh trai, anh Biền, Nam tiến từ 1946 cũng hy sinh nốt ở mặt trận Tuy Hòa. Cả nhà chỉ còn có Nguyệt Lệ là lớn, cùng một lũ em nhỏ lốc nhốc. Bà mẹ lại đổ xuống ốm liệt giường liệt chiếu. Không còn lấy một hạt gạo, chứ đừng nói tới thuốc thang. Tất cả ly tách, đồ dùng bán hàng, thậm chí tới cả giường phản trong nhà cũng đã phải bán dần, gần hết sạch. Từ nước Bạn trở về, Nguyệt Lệ dành dụm được chút ít, nhưng cũng chỉ cứu vãn được tình thế trong có vài tháng. Giữa lúc tối tăm, nguy ngập ấy, Hồng Đăng đã đến như một vị cứu tinh. Không những thuốc men đầy đủ mà còn cả cơm áo cho lũ trẻ ăn học nữa... Đến khi Đăng tỏ tình và xin cưới, Nguyệt Lệ chỉ còn biết cúi đầu... Và lúc đó thật ra cô không có ai để chờ đợi nữa. Mà bà mẹ thì giục giã kinh khủng. Như thế đã hai năm trôi qua...

Lúc đó, một chiếc xe gíp từ phía sau lao lên. Thấy chiếc xe tải đỗ bên đường và có người lố nhố trú ẩn trong rừng, chiếc gíp đỗ lại. Trên xe có một bộ phận điện đài đang làm việc: hai chiến sĩ đang cắm đầu quay chiếc ra-gô-nô phát điện, một người khác đang phát moóc như mưa tuôn. Trên ghế trên, một người to béo, không rõ cấp bậc gì, cất tiếng nói to:

- Này, xe nào đây? Cứ tiếp tục đi thôi! Tụi nó không tuần đường đâu. Điện đài chúng tôi vừa bắt được: chúng nó đang thả dù xuống Điện Biên. Hai tiểu đoàn dự bị chiến lược.

Rồi như phấn chấn, ông nói thêm:

- Tụi nó đang phải dốc túi đấy.

Đoạn, chiếc gíp lại vọt đi tiếp.

Bà Lợi mừng rỡ chạy ra mặt đường trước tiên, sau đó là toàn đoàn. Rồi chiếc Mô-lô-tô-va lại gầm vang, hăm hở bò đi. Văn Túc nhìn với ra phía chân trời xa đang tiếp tục ầm ì tiếng máy bay, mà nay anh đã biết rõ là chúng bay lên Điện Biên thả dù đêm. Hào hứng, anh quay lại với mọi người:

- Các chị, các cô thấy chưa? Quả là Điện Biên! Cái thung lũng xa mù kia, mấy ai ngờ nay đang trở thành bãi chiến trường quyết đấu. Nó đang ngày đêm thu hút tất cả lực lượng và tâm trí của cả đôi bên ta và địch. Chả trách mà các đồng chí bên Tỉnh ủy cho biết: Bác và Trung ương đã có nhận định: chiến dịch lớn này có thể sẽ kết thúc chiến tranh. Nếu không, cũng sẽ có sự ngã ngũ rõ rệt: ta sẽ hoàn toàn ở thế thượng phong, còn bọn Pháp sẽ hoàn toàn lâm vào thế bị động trên toàn cuộc...

Vừa lúc đó ở dưới mặt đường lại có tiếng léo nhéo:

- Chuẩn bị vượt Pha Đin nhá!

Ô, Pha Đin! Thì ra sắp tới ngọn đèo hùng vĩ nổi tiếng trên đường lên Điện Biên rồi ư? Pha Đin, ngọn đèo cao nhất, hiểm trở nay đã có biết bao sự tích như huyền thoại. Mọi người trên xe, không ai bảo ai, cùng vén bạt thò đầu ra, ngó về phía trước, nơi những ngọn núi trùng trùng che kín cả đường chân trời như một bức tường thành vĩ đại. Pha Đin kia rồi. Đó là con đường sống còn để lên Điện Biên. Đó cũng là một “cửa tử” với biết bao chuyện kinh hãi. Máy bay địch đánh phá ngày đêm ác liệt. Hết bom tấn lại bom chùm. Hết bom chùm lại bom nổ chậm. Trong trăm ngàn câu chuyện về Pha Đin có chuyện chiếc dải yếm của một cô dân công đẫm máu vương lại bên hố bom. Anh em bộ đội đã nhặt về bỏ vào một chiếc ca sắt và đặt một bát hương thờ ở ngay đỉnh đèo. Từ đó, bất cứ xe nào, đoàn bộ đội, đoàn dân công nào qua lại, đều thắp một nén nhang và cầu khấn cô gái phù hộ cho mình và cả đoàn bình an vô sự.

Nguyệt Lệ bỗng nhắm mắt lại. Cô cũng thầm khấn: “Lạy chị, xin hãy phù hộ cho chúng em chân cứng đá mềm, đi đến nơi về tới chốn. Lạy chị, xin hãy phù hộ cho đất nước ta mau vượt được qua cơn binh lửa tàn khốc, đau khổ này”.

Chiếc xe hào hển và lắc lư rất mạnh. Nó bắt đầu lên đèo...

Thực hiện ebook: hoi_ls
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.