Sáng ra rồi. Cha Tuyên úy Trinquard mệt mỏi trỗi dậy. Mọi đêm trước, ông thường ngủ cùng hầm với bạn thân là bác sĩ Grawin ở khu quân y, nhưng nay ở đó thương binh đã quá nhiều, hôi thối nồng nặc, không chịu nổi, nên đêm qua đã phải sang ngủ nhờ bên các sĩ quan truyền tin.
Ra khỏi hầm, sương mù còn như khói tỏa trong khắp các chiến hào, ông đã nghe thấy tiếng lao xao:
- Một đêm ba mất. Đúng là một đêm ba mất!
- Chúa có lẽ bỏ rơi chúng ta chăng?
Không hiểu chuyện gì, ông nắm lấy một viên thiếu úy truyền tin vừa đi tới:
- Cái gì thế anh bạn? Cái gì mà ba mất? Mất những gì?
Anh thiếu úy nhìn cha như nhìn một người từ hành tinh khác đến.
- Vậy cha không biết chuyện gì sao?
- Thật không anh bạn trẻ ạ.
- Cha ơi, chỉ trong một đêm qua, ở đây có ba cái mất: một là mất H1, hai là mất sân bay, và ba là mất thùng đồ của Hà Nội gửi lên, trong đó có lon thiếu tướng của ngài De Castries. Nó rơi cha nó sang bên quân Việt rồi!
Trinquard đứng ngẩn. Ông thở dài. Lạy Chúa, vậy đúng là ba mất, đúng là những chuyện chẳng lành...
Viên thiếu úy đi khỏi, Trinquard cũng trở lại phía hầm quân y. Giao thông hào đầy binh sĩ, sĩ quan đi ngược đi xuôi. Tất cả đều câm lặng. Những khuôn mặt nặng nề, buồn bã. Một người cao cao, xương xương bỗng hiện ra ở một ngã ba giao thông hào: Langlais. Vốn khá thân nhau, Trinquard vội tóm anh ta lại:
- Đại tá, có phải chỉ một đêm qua mà ta có ba cái mất?
Langlais nhún vai. Bộ mặt lưỡi cày như đá đẽo, cứng cỏi và tàn bạo của anh ta không còn như mọi ngày, đã như phủ một làn khói xám. Cái nhún vai là một lời khẳng định. Anh ta nói thêm, không giấu được vẻ rầu rĩ:
- Cha ạ, chúng ta đang đi tới thảm họa. Thật đấy! Phải nhận lấy điểu đó thôi, và đấy cũng là để đền bù vào những tội lỗi và những sai lầm mà chúng ta đã phạm phải...
Trinquard bỗng có cảm tưởng như đây là những lời xưng tội của Langlais trong một buổi lễ. Langlais chào cha tuyên úy rồi đi thẳng tới hầm De Castries. Đầu óc anh ta vẫn đang trĩu nặng, mặc dầu chiều hôm qua các sĩ quan chóp bu của tập đoàn cứ điểm vừa nhận được tin vui: Hà Nội điện báo đã có quyết định của chính phủ Pháp thăng quân hàm của De Castries lên thiếu tướng, và Navarre đã cho Langlais lên đại tá, Bigeard lên trung tá. Hà Nội còn cho hay đến đêm sẽ thả dù các bộ lon mới xuống cho cả ba, kể cả rượu mừng của riêng tướng Cogni. Nhưng, chiếc dù đã bay sang trận địa đối phương, vì khu vực thả dù đã quá hẹp. Các cuộc lục soát, kiểm tra dù thu được trong buổi sáng nay đã thất lạc ấy là hoàn toàn đúng. Langlais hiểu: người ta đã muốn khích lệ tinh thần chiến đấu của “những con sư tử” ở đây, nhưng rõ ràng niềm vui chẳng đi đến đâu. Việc thất lạc các bộ lon dường như đã thầm báo ý Chúa không muốn thế, hoặc Chúa nhắn bảo trước về những điều thê thảm.
Bước vào hầm, Langlais đã thấy Bigeard ngồi đó mặt nặng trịch. Chào hỏi nhau qua loa, ba người vào việc luôn. Thiếu tướng De Castries hôm nay đã vứt bỏ cặp lon đại tá trên ve áo, nhưng cũng không có gì để thay thế vào đó. Khuôn mặt ngựa vốn đã dài của ông hôm nay càng như dài thêm, và không còn một chút hồng hào. Ông nói chậm rãi, đều đều:
- ...Các ông ạ, H1 mất, sân bay bị cắt, toàn bộ khu vực của chúng ta đã bị thu hẹp lại, chỉ còn trong phạm vi một cây số vuông. Việc tiếp tế, tiếp viện rõ ràng đã trở nên xấu, cực kỳ xấu. Chỉ may là Eliane (đồi Al) vẫn còn đang cầm cự được. Tôi mời các ông làm việc phản kích giải tỏa lại sân bay, gắn liền với việc đó là tái chiếm H1. Phải! Tái chiếm lại sân bay và H1. Có như thế chúng ta mới khỏi chết vì nghẹt thở. Bây giờ Bruno cho ý kiến đi. Ông là người chịu trách nhiệm về tất cả các cuộc phản kích mà! Mà hơn nữa vừa qua ông đã chỉ huy phản kích liên tục trên Eliane một cách thật dũng cảm và có hiệu lực...
Bigeard ở vào thế không thể không phát biểu. Anh ta khoanh hai tay trước ngực, ngồi ngửa người, dạng hai chân, bặm môi suy nghĩ. Anh ta cảm thấy có lẽ tốt nhất là phải nói lên sự thật, cái sự thật đang cưa xẻ ruột gan anh ta.
- Trình thiếu tướng, tôi rất hiểu ý đồ của thiếu tướng. Tôi có nhiệm vụ phải tuân lệnh. Nhưng cũng phải xin phép nói rằng: muốn phản kích phải có lực lượng mạnh. Có nghĩa là phải dùng tới 2e BEP (tiểu đoàn dù người ngoại quốc số 2, đơn vị đã nổi tiếng thiện chiến của Pháp). Nhưng, trình thiếu tướng: 2e BEP đang phải bám lấy Eliane để thường trực phản kích. Cũng cần nói rõ thêm: nó, cái 2e BEP ấy mới được ném xuống đây ngày 9 tháng 4 (sau những trận ác liệt ở khu đông), nay cũng đã hao mòn, chỉ còn có ba trăm tay súng, lại rất mệt mỏi. Vậy, nếu điều nó đi, để lấy H1 và sân bay, thì ai sẽ thay thế nó ở Eliane?
De Castries gật đầu:
- Tôi đã tính, Bruno ạ, sẽ gom quân còn lại của các đơn vị: 2/1REI, 6e BEP, 1/2 REI (tiểu đoàn 2 trung đoàn 1 lê dương, tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 và tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn 2 lê dương) Bruno ạ, ta sẽ gom tất cả lại và đưa vào thay thế nó ở Eliane (A1).
Bigeard nhếch mép cười, cái cười ít lễ độ:
- Trình thiếu tướng, cứ cho là có thể như vậy. Nhưng vẫn còn một vấn đề nữa: giả sử tung 2e BEP sang cánh tây lấy lại được sân hay: nhưng sẽ có đơn vị nào để giữ?
De Castries còn đang tìm lời để đáp lại, Langlais đã lên tiếng:
- Trình thiếu tướng, đúng là phải quan tâm đến điều Bruno vừa nói: nếu lấy lại được liệu có giữ lại được không? Lực lượng đâu? Tung 2e BEP ra là coi như ta dốc túi.
De Castries liếc nhìn Langlais bằng đuôi con mắt. Cái thằng có tiếng ngổ ngáo và sắt đá ấy không hiểu ngổ ngáo sắt đá ở đâu, nhưng chính hắn là tên đã ngần ngại tung quân ra phản kích mạnh ở Gabrielle (Độc Lập) và Beatries (Him Lam). Bây giờ hắn lại ngần ngại nữa. Nghiêm mặt lại, với giọng đúng là của thiếu tướng, De Castri tuyên bố:
- Thôi, không bàn nữa. chúng ta phải tiến hành phản kích ở sân bay! Phản kích với tinh thần như ở Eliane (A1).
Bigeard và Langlais cùng lặng lẽ đứng dậy.
Bigeard trở về hầm của mình. Anh ta quay radio gọi Lisenfelt - thiếu tá - chỉ huy tiểu đoàn 2 dù đang ở đồi A1.
- Anh hãy về ngay gặp tôi! Có nhiệm vụ mới cấp bách cho anh.
- Trung tá có thể vui lòng cho tôi biết hơn một chút được không?
- Các anh sẽ chuyển hết sang cánh tây.
- Ủa! Ai sẽ thay thế chúng tôi ở đây?
- Các anh cứ chấp hành mệnh lệnh.
Không nghe thấy Lisenfelt nói hoặc hỏi gì nữa, chỉ thấy tiếng dập máy đánh bộp. Bigeard hiểu: Lisenfelt vốn nổi tiếng kiêu căng, hắn đã nổi cáu.
Một lúc sau, “người hùng” của e2 BEP tới, phanh áo ngực, bê-rê lệch bên tai, bước đi nghênh ngang. Ai cũng biết ở đây Lisenfelt chỉ còn nể mặt có một Bigeard. Các sĩ quan phụ trách xe tăng và pháo binh lần lượt kéo đến. Cuộc hội ý tác chiến đã diễn ra hết sức nhanh gọn. Bigeard lấy lại dáng vẻ oai dũng vốn có, đôi mắt cọp lại long lanh dữ tợn. Kế hoạch được ấn định như sau: trước hết yêu cầu đại tá Guérin ở Hà Nội tập trung cho 12 máy bay ở khu trục cường kích và bốn oanh tạc cỡ lớn B26 tiến hành một trận giội bom và bắn phá quyết liệt vào ngay trận địa quân Việt Nam trên sân bay. Sau đó đến lượt pháo Mường Thanh bắn dồn dập 1.200 quả, trong đó có một số đạn khói nhằm tạo một màn che không cho pháo Việt Nam thấy được mục tiêu quân phản kích. Liền ngay đó, cối của các cứ điểm H2, H3 bắn tiếp... Cuộc hỏa pháo bắt đầu từ 13 giờ 30 phút. Hỏa pháo chấm dứt, các đơn vị dù bắt đầu tiến ra. Có thêm hai đại đội dù ngụy tăng cường. Xe tăng gồm 4 chiếc do trung úy Mengel sẽ yểm trợ cho mũi tiến công chính diện ở hướng đường băng. Cuộc phản kích lớn này sẽ do Lisenfelt chỉ huy chung... Nghe tới đó, Lisenfelt trợn mắt hỏi lại:
- Tôi?
Bigeard gật đầu:
- Thay mặt chỉ huy trưởng toàn căn cứ, tôi trao cho thiếu tá nhiệm vụ dó. Thiếu tá hoàn toàn có đủ vinh dự đảm nhận trọng trách này, hơn nữa lực lượng phản kích chủ yếu là 2e BEP.
Lisenfelt nín thinh. Các sĩ quan khác cùng đưa mắt nhìn nhau. Họ đều không thật hiểu vì sao Bigeard không trực tiếp chỉ huy trận này. Lý do mà anh ta nêu lên chưa đủ thuyết phục. Chẳng lẽ nào con người vốn khá gan dạ, xông xáo đã từng chỉ huy phản kích liên tục và có hiệu quả trên Eliane (A1) lúc này đã thoái chí? Không có lẽ! Thật khó hiểu! Nhưng không một ai lên tiếng. Cũng như Lisenfelt, tất cả đều nín thinh.
Ngoài xa xa, ở sân bay, lực lượng còn lại ở tiểu đoàn dù ngoại quốc số 1 chưa nhận được lệnh rút vẫn đang tiếp tục đánh một cách tuyệt vọng. Tiếng súng lai rai vọng về.
*
Sau mấy ngày mưa, hôm nay trời nắng, không khí oi ả. Đúng như kế hoạch mà Bigeard đã vạch ra: 13 giờ 30 phút các máy bay khu trục và oanh tạc của quân Pháp bắt đầu ồ ạt xuất hiện trên bầu trời Điện Biên Phủ. Mặc cho các lưới cao xạ của quân ta từ bốn chung quanh cánh đồng bắn lên dày đặc, những trái bom cỡ lớn. Bom nổ suốt dọc đường băng. Bom trùm cả lên cứ điểm H1 đã bị đánh chiếm. Chỉ trong khoảng khắc, không riêng sân bay và căn cứ H1 mà dường như cả cánh đồng phía tây ngùn ngụt lửa khói. Những chiếc khu trục cường kích Hen-cát nối đuôi nhau như thoi xuyên qua các màn khói, lao xuống ném bom, xả đạn 20 lỵ điên cuồng. Những chiếc B26 chia thành tốp 2 chiếc một đan đi đan lại trên tầng cao. Cứ mỗi lần một tốp lướt qua sân bay là có bốn quả bom lớn đen sì cùng vùn vụt lao xuống, rít như quỷ hú. Một chiếc Hen-cát đang lập bằng đôi cánh để bổ nhào, chợt nổ tung thành một bó đuốc khổng lổ. Quân ta reo hò vang dậy, rất ít khi được nom thấy một cảnh tượng vô cùng đẹp mắt đến như thế. Bó đuốc mỗi lúc một to, quay đảo trên bầu trời, rồi dần dần rơi chéo về phía Hồng Cúm. Tiếp theo đó là một tiếng nổ lớn, rất nặng ở xa xa cùng cột khói đen bốc lên cao ngất.
Những chiếc máy bay đã rút hết. Đến lượt pháo, cối của Mường Thanh. Màn khói đen dày đặc trên sân bay chưa tan đi đã có một lượt khói pháo, cối bồi đắp, càng thêm dày đặc, vần vụ, tạo thành những hình thù quái gở dữ tợn như những mặt quỷ đang nhe nanh, há miệng ở trên cao. Trong lúc đó, dưới bức thành khói, là những chớp lửa thi nhau giật liên hồi như có hàng trăm ma quỷ đang cắn xé, vật lộn nhau cuồng nộ.
Rồi các loại cối và súng máy, có cả một cỗ trọng liên 4 nòng vừa được Bigeard tăng cường kéo ra cùng lên tiếng phối hợp. Nghe khẩu 4 nòng như buốt cả xương sống. Đạn nhanh và dày đặc đến nỗi không còn phân biệt từng tiếng nổ. Đạn như mưa sa...
Đã tới lúc các đại đội dù được lệnh Lisenfelt tiên ra khỏi cứ điểm H2. Chỉ có một lối nhỏ. Phải dùng thuốc nổ để phá các hàng rào dây thép gai và các bãi mìn để tiến ra cho nhanh. Nhưng cũng không phải dễ. Cuộc phá dỡ các bãi chướng ngại vật đã khá mất thì giờ. Quân địch đã bị vây bủa bởi chính những gì chúng đã rào dựng lên. Trong khi đó, hai đại đội dù ngụy ở phía sau cũng được lệnh bọc vào cánh trái trận địa quân Việt Nam. Nhưng chúng cứ loanh quanh mãi trong các hệ thống chiến hào cũng chính của bọn chúng đào từ mấy tuần nay. Chúng như lạc vào một mê cung. Thêm nữa, tinh thần chúng đã trở nên mê hoảng ngay từ giờ phút đầu của trận đánh mà chúng đã có thể hiểu là không mấy dễ dàng...
Mãi hơn 60 phút sau, 2e BEP mới ra khỏi H2 và tỏa ra thành hai mũi, tiến lên nửa sân bay phía bắc đã bị đánh chiếm. Mũi chính gồm hai đại đội, một do trung úy Biré chỉ huy, một do đại úy Lecour Grandmaison. Những tên lính 2e BEP nói chung đều cao lớn. Chúng mặc những bộ đồ kiểu Mỹ bó sát lấy người, càng có vẻ lực lưỡng, mạnh mẽ. Chúng dùng toàn tiểu liên Mỹ, những tiểu liên cho quân dù loại cực nhẹ và cực nhanh. Tên nào cũng đầy đủ dao găm, thuốc nổ, lựu đạn. Tiểu đội nào cũng có trung liên, đại đội nào cũng có đại liên và súng cối, đều là cực nhẹ và cực tốt. Hoàn toàn là một đội quân mạnh và thiện chiến. Nhưng cũng ngay tức khắc, khi chúng vừa tiến lên, được một đoạn ngắn, từ phía trước, nơi đường băng đã bị đánh chiếm và cắt đôi, nơi có xác chiếc máy bay số 4, súng trung liên của quân Việt Nam đột ngột xuất hiện. Đạn cắt reo réo là là trên đường băng và khắp mặt đất sân bay. Bắn ác nhất là ở trung liên đặt dưới bụng xác chiếc máy bay. Hai đại đội của Biré và Lecour Grandmaison phải dán bụng xuống đường băng, không sao ngóc đầu lên dược. Trời vẫn nắng gắt. Các phên sắt nóng như nung. Bụng rát bỏng, nhưng tất cả những tên lính dù vẫn cứ như bị đóng đinh tại chỗ. Dần dần đã có thương vong. Những tiếng kêu vang lên chỗ này chỗ khác. Những viên sĩ quan chốc chốc lại phải rống lên, hò hét thúc giục. Nhưng tất cả vẫn như cá phơi trên sàn tàu. Cánh quân do đại úy Boulinguez chỉ huy cũng không may mắn gì hơn hai đại đội ở chính diện tấn công.
Từ cứ điểm H2, Lisenfelt không một phút rời khỏi chiếc máy truyền tin. Một sĩ quan nào đó của đại đội 5 đã réo lên: Biré bị thương nặng. Đến lượt Lecour Grandmaison cho biết đại đội hắn thương binh khá nhiều... Và cả máy đơn vị đều báo cáo: Khẩu trung liên ở dưới bụng xác chiếc máy bay vẫn bắn ra ác liệt, ác liệt nhất...
*
Khẩu trung liên ấy chính là của Lẫm, anh chàng cao lêu đêu, có nụ cười nghịch ngợm, của đại đội Thìn. Khi trận bom và cối lớn của dịch vừa dứt, Lẫm đã kéo anh tân binh có nhiệm vụ tiếp đạn giũ đất cát, chui ra khỏi hàm ếch, nhào lên, trước mặt hai anh em cảnh tượng như vừa có một trận động đất lớn xảy ra. Mặt đất biến dạng. Hơn một chục chiếc hố bom lớn như những chiếc ao làng trải dài, đỏ rực. Những mảnh phên sắt dường băng tan tác khắp nơi, cắm như chông như mác trên các miệng công sự hoặc chiến hào. Nhiều mảnh đã bay cả về phía sau bọn Lẫm, phá tung những nắp hầm cá nhân, hoặc ụ súng. Xác chiếc máy bay không còn nguyên vẹn. Bom pháo đã bắn bay mất hẳn nửa đầu, chỉ còn lại nửa cuối với cái đuôi cũng đã cong queo, gãy nát từng đoạn. Ghê gớm hơn nữa: hai công sự của hai tổ súng máy bên trái Lẫm đã như trở thành bình địa. Không thấy người, cũng không thấy súng đâu nữa, chỉ còn lại một vài đoạn gỗ nóc hầm đã bị xé nát, quăng ra bốn chung quanh. Lẫm gào lên gọi mãi. Không một tiếng trả lời. Chỉ có tiếng đại liên, trung liên của địch ở phía trước choang choác. Anh tân binh đờ dẫn. Hồn vía như đã lên mây xanh. Lẫm tức, quát to:
- Đưa đạn dây! Sợ đéo gì chúng nó! Ngồi vãi đái ra đấy hả?
Anh tân binh làm theo Lẫm như một cái máy.
Khi đặt được vững khẩu trung liên, Lẫm vừa vặn trông thấy ở phía trước quân dù đang bò trườn lên như cả một bầy cá đang rạch cạn. Nghiến răng lại. Lẫm nổ từng nhịp... Dưới ánh nắng chói chang, những “con cá rạch cạn” bỗng như bị giội nước sôi, cùng giẫy lên một loạt. Lẫm sướng quá, vừa bắn vừa reo: “Chết mày! Chết mày!”. Anh tân binh cũng đã bớt sợ, tiếp đạn mỗi lúc một thêm nhanh nhẹn. Cứ như thế, nhịp ngắn, nhịp dài, Lẫm bắn hết băng này đến băng khác...
Bỗng có người nào đó từ phía sau lao tới, nằm phịch ngay xuống bên cạnh Lẫm. Quay mặt lại, Lẫm trợn mắt:
- Ôi, tiểu đoàn trưởng!
Đúng là Dũng. Toàn thân anh từ mặt mũi tới áo quần đều đỏ kè đất bụi như vừa dưới hầm lò chui lên. Cũng như Lẫm, đợt bom pháo của địch vừa dứt, anh đã nhoài ra khỏi căn hầm bị sụp đổ quá nửa. Trong đầu óc anh không còn một ý nghĩ nào khác là phải lên tuyến đầu xem có còn ai không? Trận bom quả là chưa từng có trên cánh đồng phía tây này. Từ trưa đã nhận được thông báo của mặt trận và của đại đoàn cho biết: ta bắt được điện của Mường Thanh yêu cầu Hà Nội tập trung ném bom cỡ lớn vào trận địa ta ở dọc sân bay. Trung đoàn trưởng Thâu đã chỉ thị cho Dũng phải gấp rút củng cố hầm hố và cho lính tản rộng đội hình. Nhưng tới lúc này Dũng vẫn còn thực sự choáng váng đến mức như không tin là còn có người sống sót. Anh chạy, như chạy trên mặt trăng, lúc chồm lên vượt qua đống đất cồn cồn, lúc tụt xuống những đoạn hào đã bị bom đạn địch đào sâu gần lút đầu. Đất sân bay rắn như đá, nay cũng vụn ra như cám.
Cũng còn nhớ thêm nữa: đêm qua đại đoàn trưởng Vũ Hùng đã ra tận trận địa dể quan sát xem tại sao cứ mất đi mất lại mãi. Ông đã cười: “trận địa chỉ có một tuyến thế này, nó lấy dễ là đúng. Phải đào vòng thành hình cái vợt, rồi đào các tuyến ngang, tạo thành các chiều sâu phòng ngự mới được!...”. Suốt đêm qua, Dũng đã cho anh em kiến thiết lại trận địa theo kiểu ấy...
Dần dần anh đã nhìn thấy các chiến sĩ nối tiếp nhau giũ bụi, chui lên từ các hầm hố, các đống đất. Mỗi lúc một đông. Dũng mừng quá.
Anh vượt lên chỗ Thìn. Anh đại đội trưởng này bị bom vùi, đang được chính trị viên Hào và y tá vực dậy, tiêm thuốc và làm hô hấp nhấn tạo. Dừng lại đó một chút, Dũng lại chạy lên. Nom thấy các khẩu trung liên vẫn đang bắn ra rất mạnh, anh lao thẳng tới đó, nằm xoài xuồng bên xạ thủ. Tưởng ai, té ra là Lẫm...
- Tốt lắm! Bắn mạnh nữa đi em!
- Báo cáo, anh cho thêm đạn. Sắp hết đạn rồi.
- Được, sẽ có ngay! Hai khẩu bên kia không còn nữa hả?
- Vâng. Sạch rồi!
- Tôi sẽ nói anh Thìn bổ sung ngay, để bảo vệ sườn cho cậu.
- Hay quá, em cám ơn tiểu đoàn trưởng.
Dũng quay trở lại. Thìn đã tỉnh. Anh đang nhổ phì phì đất cát từ trong miệng. Hai mắt anh đã trở thành hai cục tiết, vì đất cát nhét đầy.
Hội ý với Thìn về việc tăng cường hỏa lực lên phía trước cho Lẫm xong, Dũng quay trở lại vị trí của tiểu đoàn. Anh gọi điện về trung đoàn báo cáo ông Thâu về tình hình trận dịa.
Chưa nói được hết mọi điều, Dũng dã nghe thấy ở phía trước súng và lựu đạn lại nổ dồn dập. Anh vội quay máy gọi Thìn. Tay quay nhẹ bẫng. Đường dây lại dứt mất rồi! Báu lập tức được tung đi. Tiếng súng, nhất là tiếng tiểu liên Thompson của địch rất gay gắt. Thoáng nghe có cả tiếng hò hét. Dũng lại như ngồi trên lửa. Một lát sau, Báu hộc tốc quay lại, báo: địch có một mũi vòng cánh trái, bất ngờ xuất hiện. Nơi đó hai khẩu trung liên của ta bị bọn địch hủy diệt chưa kịp thay thế. Địch đã tràn được vào năm sáu hố bom ngay sát trận địa ta. Hai bên bấy giờ chỉ còn có cách nhau vài chục mét. Bên này nói hơi to, bên kia đã nghe thấy.
Dũng quay lại phía Bổng.
Anh lại vét lựu đạn ở phía sau đưa lên cho Thìn.
Lần này, Bổng vội vã đi luôn. Dũng nói với Báu:
- Em lên báo cho anh Thìn: tình hình này, phải dùng lối bắn tỉa đã, không cho một tên nào ló đầu lên dược. Cố kìm chân chúng lại! Chờ tiểu đoàn tổ chức lại hỏa lực...
Báu lại vọt lên phía trước. Dũng lại gọi điện về ông Thâu. Anh yêu cầu pháo cối của trung đoàn bắn cắt sau lưng địch, và pháo mặt trận bắn ngay vào những hố bom mà địch đang chiếm làm công sự để tấn công lên.
- ... Thế nào, hả? - Tiếng ông Thâu vang lên - Anh xin pháo mặt trận bắn thẳng vào các hố bom hả?
- Vâng.
- Trời ơi, anh điên ư? Như anh nói, hai bên đã gần nhau đến như thế, pháo ta bắn thì sẽ trùm cả lên các anh.
- Xin cứ bắn. Chúng tôi sẵn sàng chịu đựng mọi nguy hiểm.
- Không được! Không được!
- Đề nghị anh cứ hỏi lại pháo binh cho!
Chỉ mấy phút sau, đã có trả lời: pháo cho biết có thể bắn trúng dãy hố bom. Tuy nhiên phải có một vật chuẩn cho đài quan sát của pháo nom rõ chỉ thị mục tiêu, và tính toán các phần tử bắn cho chính xác. Pháo không thể bắn tràn lan...
- Vậy tôi lên xem lại có gì làm mục tiêu, làm vật chuẩn được không.
- Cậu đi đi! Nhất định phải có một vật chuẩn đấy nhé!
Dũng và Báu lại chạy lên phía trước.
Các chiến sĩ đại đội 3 đang liên tục di chuyển vị trí để bắn tỉa. Đúng như yêu cầu của Dũng, chỗ này chợt dùng một phát súng trường, chỗ kia bỗng rẹt một tiểu liên. Cứ như thế, quả nhiên bọn dù vẫn chưa sao ngóc đầu khỏi các hố bom... Dũng đến bên Thìn, trong một đoạn hào đã được cấp tốc sửa lại. Anh nhìn lên chỉ thấy toàn một màu đất đỏ rực.
Một vật chuẩn? Làm gì còn một vật chuẩn nào trên vùng đất bị tàn phá này? Chiếc cột đèn mọi ngày trước vẫn còn cong queo đó, nay đã biến mất, không còn một dấu vết nhỏ. Ngay cả đoạn còn lại của xác chiếc máy bay cũng vừa đổ sụp hoàn toàn, chỉ còn lại những thanh sắt tơi bời...
Dũng đứng lặng. Đầu óc anh như nứt ra. Vật chuẩn! Lấy đâu ra? Tìm đâu ra bây giờ? Một vật chuẩn...
Báu bỗng cầm tay anh lắc lắc khẽ:
- Báo cáo anh, hay là ta... cắm một chiếc sào hoặc một thanh sắt lên rồi buộc vào mảnh dù đỏ vào đấy...
- Cái gì? - Dũng mở to mắt, anh vô cùng ngạc nhiên, dường như nghe không rõ nữa. Báu rụt rè nhắc lại. Bấy giờ mới thật tin là mình đã không nghe nhầm, Dũng đập mạnh vào vai Báu reo lên:
- Hay! Trời ơi, ai xui cho cậu lại nghĩ ra được ý nghĩ này? Đúng! Hay quá Báu ơi!
Thìn cũng như ngớ ra rồi gật đầu:
- Phải! Phải! Ta phải tạo ra vật chuẩn anh ạ.
Một cây sào ở đây hoàn toàn không khó. Những thanh sắt máy bay kia, bom pháo địch hất vào tận trong trận địa của ta khá nhiều.
Như vậy vật chuẩn có thể tạo được. Tuy nhiên, ai sẽ lên, dám lên cắm cái vật chuẩn ấy? Ai sẽ lên, dám lên trước các mũi súng của địch đã gần kề? Đó vẫn là vấn đề hóc búa nhất. Dũng và Thìn nhìn nhau. Báu lại đột ngột cất tiếng:
- Em! Các anh để em lên cho!
Trời ơi Báu! Dũng muốn kêu lên một tiếng đầy xúc động. Thìn thì lắc đầu:
- Để tôi cử một chiến sĩ khác.
Báu cứng cỏi đáp lại anh “mắt cá chày”:
- Lính anh bây giờ nhiều tân binh. Cựu binh cũng chưa quen bom pháo bằng em. Chả gì em cũng đã chịu pháo Sông Đà, Nà Sản rồi. Cứ để em lên cho. Em lên được mà!
Dũng chỉ còn biết siết chặt lấy bàn tay anh chiến sĩ liên lạc thân thiết, yêu quý của mình. Báu đã nói đúng, lúc này chỉ có Báu là người có thể đảm nhiệm việc này tốt nhất.
Thế là mọi việc được quyết định, và triển khai ngay. Thìn cấp tốc tập trung các tay súng giỏi, cùng những tay chuyên ném lựu đạn để tạo thành một lưới lửa có thể trong một thời gian ngắn đè đầu bọn địch trong các hố bom, tạo thành một cái ô che cho Báu tiến lên. Trong khi đó, Báu đi nhặt các thanh sắt rồi dây lưng của mình và các đồng đội cột, nối lại thành một đoạn dài. Một chiến sĩ khác đi nhặt về một chiếc dù đỏ thắm. Dù địch không thiếu ở đây. Dù đỏ, dù trắng, dù hoa... rơi khắp sân bay, địch không sao thu về kịp.
Một lúc sau, tuyến hỏa lực để yểm trợ đã dàn ra. Báu đã tạo ra một cây cờ dặc biệt. Báu ôm cây cờ đứng trước mặt Dũng và Thìn trong chiến hào, nghiêm trang nói:
- Tôi, chiến sĩ Nguyễn Văn Báu, xin lên cắm lá cờ này. Chết thì thôi, sống nhất định tôi sẽ cắm bằng được!
Dũng một lần nữa siết chặt tay Báu. Anh không nói được lời nào nữa. Nhưng ngước nhìn đôi mắt long lanh như có ngấn lệ của tiểu đoàn trưởng, Báu đã hiểu Dũng muốn nói với mình với tất cả những gì trân trọng và thiêng liêng nhất của lòng anh...
Thìn lật đật bước lại. Anh ôm ghì lấy Báu. Rồi mặt vụt đỏ gắt, anh giơ cao nắm đấm hô đanh:
- Bắn!
Tuyến hỏa lực yểm trợ bắt đầu nhả đạn. Đến lượt Báu, ôm chiếc cột sắt có buộc mảnh vải dù đỏ, bắt đầu nhảy lên khỏi chiến hào.
Dũng, Thìn và tất cả các chiến sĩ ở phía sau cùng nín thở nhìn theo. Trong khói đạn và bụi mù, Báu thoăn thoắt trườn lên như một con rắn mối. Nhưng bọn Pháp cũng đã kịp phản ứng, dù đang bị bắn ghìm đầu xuống những quả đạn Pa-tat phóng ra như búa bổ. Lựu đạn của chúng cũng tung ra tới tấp. Khói càng mù lên. Không trông thấy Báu đâu nữa. Thìn càng cuống lên, càng thét anh em bắn mạnh. Khói bỗng loãng ra. Lại trông thấy Báu với lá cờ đặc biệt. Nhưng, kìa sao Báu không trườn lên nữa? Các khẩu trung liên ở phía sau cùng rồ lên trút đạn. Khói và bụi. Bụi và khói. Báu lại biến mất. Nhưng rồi bỗng một chiến sĩ la to:
- Ô, kia rồi! Kia rồi!
Quả nhiên, lại thấy Báu. Anh đang tiếp tục lết mình trên mặt đất, nhích dần lên. Đạn địch lại xả ra chiu chiu. Đất chung quanh Báu sủi lên từng vệt dài. Anh lại như chết lịm, khói bụi lại một lần nữa lại trùm lấy người chiến sĩ bé nhỏ.
- Chuẩn bị cho người lên thay, và đưa Báu về!
Nhưng cũng đúng lúc ấy bỗng nghe thấy hai ba tiếng lựu đạn nổ như dính vào nhau, rồi trên nền khói bụi phía trước bỗng bùng lên một ngọn cờ đỏ rực.
- Ôi, được rồi! Kia rồi! Kia rồi!
- Báu! Báu đã cắm được cờ kia rồi!
Tiếng các chiến sĩ khắp chiến hào, bên tả, hên hữu cùng như thét lên, reo lên vang dậy. Chỉ có Dũng không reo không hét; anh ra lệnh:
- Tất cả lui lại phía sau hai mươi mét! cho pháo ta bắn! Mau!
Và, thế là chỉ không đầy mười phút sau, trong lúc bọn Pháp ở trong các hố bom còn đang kinh ngạc chưa hiểu đối phương dựng lên một cây dù đỏ để làm gì và chúng bắn ra cũng chưa làm gãy đổ được thì pháo của mặt trận ta đã nã tới. Cũng trong lúc đó, như có một phép lạ không sao tin nổi, Báu lăn tròn và lao trở về được trận địa. Anh ngã nhào xuống trúng một tổ trung liên. Anh em cùng ôm chầm lấy anh. Một bên chân Báu đẫm máu.
... Pháo mặt trận chỉ dập có năm phút. Tiếng pháo vừa ngừng, đại đội trưởng Thìn đã ôm một cây tiểu liên, vươn mình dậy hét vang:
- Xung phong... o... o... ong!
Một loạt những chiếc mũ nan và những chiếc áo trấn thủ bạc phếch từ dưới các chiến hào cùng bay lên khỏi mặt đất. Lưỡi lê sáng lòe trên đầu súng...
*
Ngồi trong hầm của mình, De Castries cũng thấy dược sự ghê gớm của đợt oanh tạc ngoài sân bay với 12 chiếc khu trục cường kích cùng 4 chiếc B26 và hàng ngàn quả cối 120 ly của Mường Thanh. Căn hầm của ông ta chao đi chao lại như đưa võng. Tách cà phê do tên lính cần vụ đặt trên bàn sóng sánh trào cả ra ngoài. Nhưng De Castries không mừng. Ông ta biết dù có lấy được sân bay, thì cũng còn rất lâu mới có thể sửa chữa được đường băng đã bị cày xới đến như thế. Chỉ có thể giữ vững được diện tích thả dù mà thôi. Nhưng sau khi trận oanh tạc chấm dứt, chỉ khoảnh khắc sau ông ta đã nghe thấy, qua làn sóng đài, tiếng các viên sĩ quan chỉ huy các đại đội dù liên tiếp báo về cho Lisenfelt những tin thất thiệt và kêu gào chi viện. “... Chúng tôi đang bị đóng đinh trên đường băng, chưa sao lên được!...” -”... Biré đã bị thương nặng...” - “... Làm sao cố dập cho được những khẩu trung liên chó chết ở xác chiếc máy bay đi!...” - “... Pháo! Yêu cầu pháo bắn tiếp! Bắn mạnh nữa!...” - De Castries hiểu: tình hình đã rất xấu. Cho tới khi nghe thấy pháo cối của quân Việt Nam bắn rất dữ vào sân bay, ông ta không thể ngồi yên được nữa. Ông đứng dậy, cho gọi Bigeard. Một viên sĩ quan báo cáo: Bigeard đang ngủ. Trợn mắt, nhún vai, ông ta hỏi lại:
- Ngủ? Sao lại ngủ vào lúc này? Dựng ông ta dậy!
Như điên lên, ông ta gạt tung tách cà phê xuống đất. Nước đổ chan hòa trên mặt bàn.
Một lúc sau mới thấy tiếng Bigeard làu bàu đáp lại trong máy. Cố nén cơn tức giận, De Castries nói, hình như đang thiếu một quả đấm quyết định.
Bigeard mặt mũi tối sầm, bước ra khỏi hầm, nhảy lên chiếc xe Jeep cuối cùng của Điện Biên Phủ còn có thể chạy dược nhưng đã lỗ chỗ đầy vết dạn. Tên lái xe người da đen mở to cặp mắt đầy lo sợ nhìn Bigeard.
- Ra H2! - Bigeard quát to.
Không dám hỏi gì thêm, tên lái xe rạp mình xuống tay lái mở máy, vào số, rồi đạp mạnh ga. Chiếc xe lao vút đi như tên bắn. Càng tới gần sân bay, đạn bắn thẳng từ phía trước càng như mưa. Tên lái xe càng cúi rạp. Chiếc xe lồng lên trong bụi đỏ mù mù.
Bigeard đã vào được cứ điểm H2, nơi Lisenfelt đặt sở chỉ huy phản kích. Anh ta đi thẳng tới hầm của Lisenfelt. Căn hầm ngột ngạt, đầy mùi thuốc súng, mùi mồ hôi người và cả mùi nước hoa và thuốc lá. Lisenfelt đang ngồi đó, ngay trên chiếc radio, mắt mở trừng trừng, mồm há ra thở, như con cá trên cạn.
- Thế nào? Anh vẫn ở đây ư? - Bigeard xẵng giọng như quở trách.
Nhưng Lisenfelt dã nhướng đôi lông mày chổi sể lên, và cũng gần như quát lại:
- Phải ở đây thôi!
Bigeard hiểu lúc này không thể nổi xung với Lisenfelt. Anh ta dịu giọng xuống:
- Tình hình ra sao, thiếu tá?
- Mất mẹ nó liên lạc với các đại đội rồi. Tôi không cần biết chúng nó đang làm gì nữa. Các ông đã ném chúng tôi một cách vô tội vạ vào một lò lửa mà chúng tôi chưa hề được biết mảy may, chưa chuẩn bị được một tí gì hết...
- Lisenfelt, anh hãy bình tĩnh! Còn mấy thằng dù Việt Nam (ngụy) thế nào?
- Tụi lợn ấy ngay từ đầu đã lạc lung tung trong các giao thông hào. Đến giờ tấn công vẫn chưa thấy chúng đâu. Mãi sau mới liên lạc được. Tôi cho chúng nó vòng sang trái yểm trợ cho e2 BEP ở chính diện. Nhưng chỉ một lúc sau chúng đã kêu ầm ĩ: có lực lượng quân Việt ở dọc bờ mương đánh rất mạnh. Chúng nó thương vong quá nhiều không sao tiến lên dược...
- Còn xe tăng?
- Tụi khốn kiếp này cũng không hơn. Vừa ló đầu ra, chúng nó đã la lối: bị bắn chặn rất mạnh. Không có bộ binh, chúng nó không tiến lên độc lập.
Bigeard, mặt càng tối tăm, quay lại chiếc radio. Nhưng chiếc radio hoàn toàn hỏng. Anh ta không nén được nữa, bật lên một tiếng chửi thề hết sức tục tĩu. Rồi, ngồi phịch xuống. Anh ta lắc đầu:
- Thiếu tá, tình hình này có lẽ phải cho rút thỏi. Nếu không sẽ tiêu hết binh sĩ.
- Tùy trung tá.
- Vậy anh hãy thi hành đi! Cho người đi bắt liên lạc ngay với các đại đội và truyền lệnh, còn tôi, sẽ quay trở lại, qua điện đài sẽ yêu cầu Hà Nội lại cho một đợt máy bay lên chi viện, để bảo vệ cho các anh triệt thoái được an toàn.
Lisenfelt chui ra khỏi hầm. Bigeard cũng bước ra theo, lòng nặng trĩu, nói với Lisenfelt vậy, nhưng thực ra Bigeard không tin là Hà Nội sẽ kịp tung máy bay lên chi viện. Chiều muộn mất rồi. Không quân đâu có những bộ binh bảo một cái là đi ngay được?
Bigeard đã không nhầm. Hà Nội không thể cho máy bay lên tức khắc. Trong khi đó, các đơn vị dù và ngụy cùng xe tăng đã bắt đầu rút. Chúng rút trong sự rối loạn. Lính bò, lính chạy, tung tóe như kiến vỡ tổ trên nửa phía nam sân bay còn bằng phẳng. Và đó cũng là lúc các cỡ hỏa lực của chúng ta được thả sức bắn quét.
Trên cao, trước khi chìm xuống những chỏm núi phía tây nam, mặt trời còn như cố nán lại, giương con mắt chột kinh hoàng nhìn xuống cánh đồng, cái cánh đồng trước kia mướt xanh như một giấc mơ nay đã trở thành cánh đồng địa ngục.
*
Trời vừa tối dã có điện từ trung đoàn gọi Dũng sáng mai phải về ngay sở chỉ huy có việc khẩn.
- Việc khẩn là việc gì?
Dũng đã mệt rũ. Toàn thân anh như một cây ngô sau trận bão: xác xơ, úa héo, mềm oặt, không ăn nổi một miếng. Chỉ thấy khát. Đầu óc mụ mị, nhờ nhờ. Không còn nghĩ được việc gì xa nữa, mọi cảm giác vui, buồn, mừng, giận... dường như chẳng còn. Con người rơi vào trầm lặng, và như khô lạnh. Đêm qua, sau khi tổ chức, đôn đốc các đơn vị cấp tốc sửa sang lại hầm hố đã bị đánh phá trong ngày, đồng thời đào thêm trận địa tiền duyên cho vòng rộng thêm ra, rồi nối lại phía sau thành một tầng phòng ngự mới vào một ngách hầm, lăn ra ngủ được một giấc con. Giấc ngủ mê mệt. Đến sáng bạch, Thủy lay gọi mãi anh mới trỗi dậy được. Người đau như dần. Đầu óc vẫn chưa hết nhờ nhờ, mụ mị. Anh nuôi đã đem cơm ra. Ưu tiên ban chỉ huy một bi đông nước suối để rửa mặt và súc miệng. Dũng không ăn gì hết, chỉ ngửa cổ hợp một ngụm nước rồi nhổ ra, rồi nhảy lên mặt đất, vạch quần đái một bãi khá dài. Bấy giờ mới như tỉnh ra được một chút. Anh dặn dò công việc với Thủy, rồi quay trở lại trung đoàn. Lần này không có Báu. Báu được đưa về trạm phẫu thuật từ đêm. Lúc này mới càng thấy nhớ Báu da diết. Anh cảm thấy mình hết sức cô đơn và cả yếu đuối nữa vì thiếu Báu. Anh đi thất thểu, áo quần tơi tả. Máy bay dịch đã lên, rung chuyển trên bầu trời. Nhưng anh dường như đã hoàn toàn quên trận bom hộc máu ở cửa rừng cách đây hơn nửa tháng. Không thấy sợ. Cũng chẳng thấy khó chịu. Anh cứ bình thản đi. Chỉ những tầng cây xanh của rừng hiện ra trước mắt là làm cho anh bỗng như ngỡ ngàng, tưởng chừng đã lâu, lâu lắm rồi, đi đâu đấy nay mới trở về, mới nhìn lại thấy màu xanh này. Anh ngắm từng chùm lá bên đường, từng sợi dây leo quấn quýt trên những thân cây đã bị mảnh pháo, mảnh bom găm lỗ chỗ hoặc xé rách... Tâm hồn anh như một chiếc chảo gang nung đỏ đang nguội lại dần dần.
Anh đã tới khu hầm của ông Thâu. Một anh chiến sĩ cho biết ông Thâu chạy di đâu đó, lát nữa mới về. Anh rẽ sang hầm ông Quý. Một dáng người cao cao với chiếc blouson Mỹ và khẩu côn trễ bên hông từ phía hầm ông Quý đi ra, vẻ rất hấp tấp. Dũng đã nhận ra: Hồng Đăng. Nhưng hôm nay mặt mũi Hồng Đăng không được hồng hào cường tráng như mọi khi. Anh xanh ra, cặp mắt trũng sâu, buồn bã. Hai người giáp mặt nhau. Hồng Đăng nhận ra Dũng. Anh có vẻ sững sờ. Đứng dừng lại, bắt tay Dũng, anh cất tiếng hỏi:
- Tôi tưởng anh vẫn ở ngoài ấy?
- Tôi được gọi về có việc. Anh khỏe chứ?
- Cám ơn anh. Vẫn bình thường.
Trên gương mặt Hồng Đăng càng như gì đó khác lạ. Hình như anh định hỏi, hoặc nói điều gì đó với Dũng nhưng lại thôi. Đôi mắt anh mấp máy mãi rồi anh lại hấp tấp đi tiếp. Dũng cũng cắm đầu bước thẳng, không nhìn lại. Với người này, Dũng đã hết oán ghét. Anh đã hoàn toàn là một người xa lạ, chí ít cũng chẳng có quan hệ tốt hoặc xấu, vui hoặc buồn nào với anh ta, Dũng hiểu con người đó vẫn luôn coi Dũng như một phần tử nguy hiểm đáng căm thù, ít ra cũng là kẻ đáng ghét.
Dũng vừa bước vào căn hầm, ông Quý đã vui vẻ cất tiếng trước:
- Chào chiến sĩ sân bay!
Ông thân mật kéo anh ngồi xuống. Trên chiếc bàn nứa vẫn còn đó những phong bánh chocolat, bicscuit và cả cà phê bột đã pha. Dũng hiểu Hồng Đăng vừa ở đây đi ra. Ông Quý mời anh. Dũng từ chối. Anh chỉ thấy khát. Ông Quý đưa chai bia ra. Dũng nhận ngay. Chà, bao lâu nay mới lại nom thấy chai bia, cứ như người nguyên thủy mới được đưa về thành phố. Cầm cả chai anh tu một hơi liền hết sạch. Đưa cùi tay lên chùi bọt trên mép, anh hỏi vào công việc:
- Báo cáo, tôi có nhiệm vụ gì gấp vậy?
Ông Quý nhìn anh trang trọng:
- Bộ chỉ huy mặt trận đánh giá khá cao trận sân bay của chúng ta và trung đoàn 3. Đồng chí Ngọc (Võ Nguyên Giáp) vừa có điện triệu tập trung đoàn trưởng trung đoàn 3, anh Thâu và cả cậu nữa ngay hôm nay lên báo cáo, để đồng chí Tổng chỉ huy Mặt trận nghe.
Ông vừa nói vừa để ý xem phản ứng của Dũng. Nhưng gương mặt của Dũng vẫn bình thường, chỉ bắt đầu thoáng đỏ mặt lên vì bia. Ông Quý thầm nhủ: Hắn vẫn y như vậy. Vẫn rất kiêu, cho dù là kiêu ngầm... Tuy nhiên, như tất cả các nhà chính trị khác, ông không bao giờ bộc lộ ý nghĩ của mình một cách thiếu cân nhắc. Ông vẫn giữ thái độ vui vẻ, cởi mở. Ông hỏi vắn tắt về trận đánh trên các hố bom. Rồi ông nói cho Dũng biết: Báu sẽ được khen thưởng xứng đáng. Thìn sẽ được đề bạt lên tiểu đoàn phó cho Dũng. Tới lúc đó ông Quý mới thấy Dũng tỏ rất mừng. Mắt long lanh, anh hỏi lại xem đây mới là dự định hay đã có quyết định? Anh hoàn toàn đồng ý với quyết định ấy. Ông Quý vui vẻ, như tiện thể nói sang chuyện khác:
- À này, còn cái việc... cậu đánh cậu Bổng ở trận địa thế nào thế? Anh em có xì xào. Bổng nó cũng có thư khiếu nại đấy.
Gương mặt đang tươi tắn, vẻ tươi tắn rất hiếm thấy của Dũng, bỗng như đanh cứng lại. Đôi mắt anh nhìn thẳng ông Quý:
- Tôi đánh nó thế còn là quá nhẹ.
Ông Quý ngồi im. Dũng tiếp:
- Để rõ việc này hơn, tôi sẽ triệu tập tiểu đoàn ủy, rồi mời anh xuống nghe. Và nếu các đồng chí cho phép, tôi sẽ còn cho nó cái tát tai nữa.
“Hắn lại nổi khùng rồi. Hỏng! Thái độ thế là không được. Nhưng, thôi khoan, mình cũng hơi vội. Còn phải tác chiến nhiều, không nên làm cho hắn bực bội...”. Ông Quý lại tươi cười, thân mật và dịu dàng:
- Thôi, nói qua vậy thôi. Chuyện ấy ta sẽ rút kinh nghiệm sau. Mà thằng Bổng cũng dáng phê phán...
Xem đồng hồ, có vẻ sốt ruột, ông Quý ngoái cổ ra bảo một chiến sĩ liên lạc chạy sang bên, xem ông Thâu đã về chưa. Ông lại quay về với Dũng:
- Nhân tiện báo cho cậu vài tin vui vui: anh Hồng Đăng vừa ngồi đây xong. Anh ấy cho biết tối qua ta bắt được điện của tụi De Castries báo về Hà Nội là tiểu đoàn dù số 2 đã bị 150 tên, coi như quỵ liệt. Không còn lực lượng dự trữ nữa. Cogni ở Hà Nội cũng điện lên nhận định đây là thất bại nghiêm trọng nhất kể từ các trận chiến đấu bên khu đông... Còn đài Mỹ thì bình luận: Điện Biên Phủ từ sau trận sân bay này sẽ bắt đầu đi vào cơn hấp hối.
Ông Quý vừa nói vừa cười, vui hể hả. Một người từ bên ngoài xồng xộc bước vào. Tham mưu phó Hà Giao. Nom thấy Dũng, Giao mỉm cười, bắt tay:
- Chúc mừng chiến thắng nhé!
Anh ta nói chúc mừng như mặt lạnh tanh và bàn tay như trơn tuột. Anh ta quay lại với ông Quý, có vẻ bực dọc:
- Báo cáo anh, theo lệnh anh tôi phải cử liên lạc dẫn ông Hồng Đăng xuống trạm phẫu trung đoàn ngay, mặc dầu hết sạch cả người. Đang bao nhiêu là việc! Nhưng, báo cáo anh, té ra ông ta chẳng phải thăm thương binh gì hết. Một anh vừa ở trên quân y mặt trận cho biết: ông ta có cô vợ làm hộ lý trên đó, cái nhà cô xinh xinh ở phái đoàn phụ nữ ấy anh ạ. Không hiểu vì sao cô ta bỗng bỏ viện trốn đi đâu mất, không ai biết. Đang nhao cả lên. Ông Hồng Đăng thì sùng sục xuống trạm phẫu đại đoàn nay lại xuống trạm phẫu trung đoàn ta để tìm. Ông ấy muốn xuống trạm phẫu e ta tìm vợ đấy!
Ông Quý ngẩn người. Nhưng Dũng còn bàng hoàng hơn. Anh như bị một cơn gió độc quất mạnh làm cho choáng váng.
- ... Người thì bảo cô ta vất vả quá không chịu nổi, bỏ về hậu phương - Hà Giao tiếp - Người lại nói, theo các cô hộ lý, thì hình như có chuyện gì đó không vui giữa hai vợ chồng, nên cô ta tránh mặt không muốn gặp nữa...
Lại một người nữa chạy vào báo cáo: ông Thâu đã về, mời Dũng cùng đi luôn: Ông Quý đứng dậy, siết chặt tay Dũng, nụ cười rạng rỡ. Ông không kịp nhận thấy vẻ khác thường trên mặt Dũng.
- Vậy đi nhé! Lên đó liệu mà báo cáo với anh Ngọc. Anh ấy hay hỏi tỉ mỉ và cụ thể lắm đấy. Chúc mừng cậu!
Dũng quay ra. Trong đầu óc anh lúc này không còn bất cứ một điều gì nữa ngoài những câu hỏi đang cháy bỏng: Nguyệt Lệ đi đâu? Vì sao em lại phải hành động như vậy? Em trốn ai? Trốn Hồng Đăng hay trốn anh? Nhưng Nguyệt Lệ ơi, thật ra em không cần phải làm như thế. Em đi đâu? Em đang trốn ở nơi đâu? Hoặc có thể em củng gặp một tai nạn bất ngờ nào đó mà không một ai biết rõ?...
Đầu óc anh mỗi lúc một thêm như có bão nổi.